Chuyển
Luân Thánh Vương
Một
hôm tại thành Câu-Thi-Na, trong rừng Ta-La Song-Thọ, trước
những ngày đức Phật sắp nhật Niếp-bàn, tôn giả A-Nan
và đại chúng vô cùng buồn khổ, nhất là A-Nan tâm thần
hôn mê, hồn bất phụ thể, quên ăn bỏ ngủ, vì nghĩ rằng
Phật sắp lìa đời, như mặt trời rơi rụng, như con mắt
thế gian không còn, như con thơ mất mẹ.
Sau
khi được Phật an ủi khuyến hóa, A-Nan tỉnh ngộ, liền bạch
Phật rằng: "Kính bạch đức Thế-Tôn! Thành Câu-Thi-Na na`y
so với các thành Vương-Xá, thành Ba-La-Nại, thành Xá-Vệ,
thành Tỳ-Xá-Ly, thì Câu-Thi-Na quả là nhỏ bé, kém văn hóa
không khác gì nơi biên địa. Ngài nhập Niết-bàn nơi đây
chúng sanh không được lợi ích nhiều. Con nay trộm nghĩ, tốt
hơn, đức Thế-Tôn nên rời Câu-Thi-Na nầy, để đến các
thành lớn kia nhập Niết-bàn. Nơi đó dân chúng đông đúc,
trình độ văn hóa cao, lòng tin nơi đạo Ngài sâu đậm. Như
vậy chúng sanh sẽ được nhiều lợi lạc hơn".
Nghe
tôn giả A-Nan trình bày xong, đức Phật từ hòa dẫn giải:
"Nầy A-Nan! Ông không nên nói như thế! Ông đâu có biết rằng,
thuở quá khứ thành Câu-Thi-Na nầy có một vị Chuyển-luân
Thánh-vương tên là Ðại-Thiện-Kiến ngự trị, đem chánh
pháp thống nhiếp bốn châu thiên hạ. Lúc bấy giờ vương
thành mỗi bề rộng trên mười cây số, có bảy lớp thành
bao bọc chung quanh. Lớp thành thứ nhất bằng vàng. Lớp thành
thứ hai bằng bạc. Lớp thành thứ ba bằng lưu ly. Lớp thành
thứ tư bằng pha lê. Lớp thành thứ năm bằng xa cừ. Lớp
thành thứ sáu bằng mã não. Lớp thành thứ bảy tổng hợp
tất cả các thứ châu báu trên đời làm thành. Cứ mỗi lớp
thành là có ao nước tám công đức bao bọc.
Ðền
đài lầu các bao lơn đều làm toàn bằng bảy thứ bảo châu,
điêu khắc chạm trổ huy hoàng trang nghiêm rực rỡ. Bốn cửa
thành mỗi cửa đều có chín từng lớp chạm trổ sơn son
thếp vàng ngời sáng thật là hoa lệ. Cây cối trong thành
xanh tươi mát mẻ quanh năm. Có đủ thứ chim quý ngày ngày
reo hót thanh thót trên cành cây, bay lượn trên mặt nước
hồ. Trong vườn muôn thứ hoa thơm cỏ lạ rộn nở bốn mùa.
Khắp hoàng thành, gió thoảng cành cây, các loài chim quý hòa
tấu tạo thành âm thanh thiên nhạc. Nhân dân trong thành đều
phú quý giàu sang, hưởng đầy đủ ngũ dục lạc như cõi
trời Ðao-Lợi. Hai bên đường xa trong thành treo đầy ngọc
minh châu sáng chói không phân ngày đêm. Âm nhạc dịu dàng
phát ra từ cành cây hoa lá khuyến khích khen ngợi mọi người
trì trai giữ giới tu niệm, hòa với tiếng thuyết pháp, khiến
cho người làm lành hướng thiện.
Vua
Ðại-Thiện-Kiến là bậc vua hiền đức, tướng mạo đoan
trang, dân chúng trong thành ai nấy đều quý mến ngưỡng mộ
như bậc cha mẹ. Một hôm nhà vua muốn đi du ngoạn để xem
dân tình, liền hạ lệnh cho quan chủ binh chuẩn bị tám vạn
bốn ngàn xe ngựa để cho cung phi mỹ nữ và Bà-La-Môn, trưởng
giả, cư sĩ đồng tham dự cuộc du ngoạn này. Riêng vua Ðại-Thiện-Kiến
cưỡi trên lưng con bạch tượng đi giữa quân hầu. Dân chúng
nghe vua xuất thành, đồng nhau kéo đến đứng hai bên đường
hàng hàng lớp lớp để được nhìn dung nhan của đức vua.
Khắp nơi, vua Ðại-Thiện-Kiến đều thấy cỏ cây hoa lá
xanh tốt đầy đầy, dân chúng đâu đâu cũng được hưởng
thái bình âu ca lạc nghiệp. Nhà vua lại còn hạ lệnh xây
thêm hồ ao ở những nơi ngã tư đường, trông cây mát hoa
thơm để cho dân chúng đến tắm rửa thưởng ngoạn. Ðồng
thời vua Ðại-Thiện-Kiến còn sắc chỉ cho các quan địa
phương nên đem của cải tiền vàng bạc trong kho ra bố thí
để tùy sở thích của dân chúng lấy dùng.
Sau
ngày du ngoạn trở về hoàng cung, khoảng tuần lễ sau, những
người Bà-la-môn, trưởng giả , cư sĩ đem đủ loại vàng
bạc của báu đến tặng cho vua. Vua Ðại-Thiện-Kiến nói:
"Ta đã ra lệnh khắp nơi mở cửa kho bố thí cho nhân dân.
Ta đâu cần thiết bạc tiền mà các khanh đem đến tặng ta
làm gì?"
Các
vị Bà-la-môn, trưởng giả đồng loạt tâu vua rằng: "Muôn
tâu Thánh-thượng! Cung điện Thánh-thượng quá nhỏ. Mỗi
lần hạ thần chúng tôi vào ra mắt Thánh-thượng thì không
đủ chỗ để cho thân quyến tùy tùng của chúng tôi đứng.
Xin Thánh-thượng vì lợi ích muôn dân mà mở mang cung điện
lớn thêm".
Nghe
lời tâu hữu lý, nhà vua im lặng suy nghĩ: "Họ tâu có lý
lắm. Nay ta nên mở rộng trụ xứ này".
Bấy
giờ trời Ðế-Thích biết rõ tâm niệm của vua Chuyển-luân
Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến, liền gọi vị thiên tử tên
Tỳ-Thủ Kiến-Ma là vị kiến trúc tài ba khéo léo nhất, bảo
rằng: "Nay vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến ở
cõi Diêm-phù-đề muốn mở mang cung điện, nhà ngươi nên
xuống đó giúp đỡ để cho cung thành nhà vua ấy cũng được
trang nghiêm tuyệt mỹ như cung điện của ta đây vậy".
Thiên
tử Tỳ-Thủ Kiến-Ma vâng lệnh, liền vận dụng thần thông
co duỗi cánh tay trong nháy mắt đã biến thành một trang tráng
sĩ đến cõi nhân gian đứng trước nhà vua Ðại-Thiện-Kiến.
Lúc
đó, nhà vua trông thấy hình dáng đặc biệt của vị tráng
sĩ, biết không phải là người thường, nên hỏi rằng: "Ngài
là ai, bỗng nhiên hiện trước ta đây?"
Vị
thiên tử đáp: "Tôi tên là Tỳ-Thủ Kiến-Ma vâng lệnh trời
Ðế-Thích đến đây giúp Ðại-vương mở mang cung điện".
Vua Ðại-Thiện-Kiến nghe xong rất đỗi vui mừng ưng thuận
ngay.
Nhờ
sự giúp đỡ thần diệu của Tỳ-Thủ Kiến-Ma, chẳng bao
lâu đền đài cung điện vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến
được xây xong bằng thất bảo, cực kỳ lộng lẫy rộng
lớn trang nghiêm, nguy nga tráng lệ. Ðặc biệt trong cung điện
mới này có điện thuyết pháp, giữa điện thuyết pháp có
tòa sư tử làm bằng bảy thứ châu báu và chung quanh tòa có
tám vạn bốn ngàn chỗ ngồi nghe pháp.
Sau
khi cung điện hoàn thành xong, thì cũng không còn thấy bóng
hình của người tráng sĩ tài ba kia đâu nữa. Nhà vua truyền
lệnh đánh trống thổi kèn rao khắp nhân gian rằng: "Tại
thành nội, Ðại-vương sẽ mở hội thuyết pháp bảy ngày
đêm để khánh thành cung điện mới, đồng thời bố thí
vàng bạc cơm áo, dân chúng ai thích đến nghe Phật Pháp thì
sẽ được tùy ý nhận lấy của báu về dùng".
Khi
các hàng Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ và bá quan, vạn dân
thi đua nhau vào chỗ ngồi xong, vua Chuyển-luân Thánh-vương
Ðại-Thiện-Kiến uy nghi bước lên ngồi tòa sư tử thuyết
pháp về Thập Thiện, rồi tiếp đó thuyết về những thiện
pháp khác, khiến cho mọi người đều được lợi lạc hưởng
sự vui thú của cõi trời. Vua Ðại-Thiện-Kiến tiếp tục
làm việc lợi ích như thế suốt hơn một vạn hai nghìn năm.
Nầy
A-Nan! Nhà vua ấy lại vào tịnh thất quán tưởng biết được
thời quá khứ của mình nhờ tu hạnh bố-thí, nhẫn-nhục,
từ bi mà nay được phước báu làm Chuyển-luân Thánh-vương
tôn quý nhất trên đời không ai sánh bằng. Nhà vua ấy lại
phát nguyện triệt để tinh tấn tu Tứ-vô-lượng-tâm, cung
phi mỹ nữ hoàng thân quốc thích cùng cố gắng tu tập.
Lúc
bấy giờ công chúa Thiện-Hiền cùng hoàng hậu và cung phi
mỹ nữ ngồi thiền chánh niệm trong tịnh thất đã hơn bốn
vạn năm cũng khởi niệm rằng: "Chúng ta ngồi thiền Chánh
niệm nơi đây đã lâu lắm rồi, nay chúng ta nên đến ra mắt
thăm Ðại-vương".
Trong
giây lát những người nầy hiện trước vua tâu rằng: "Muôn
tâu Thánh-thượng! Nay Thiện-Hiền cùng tám vạn bốn ngàn
thể nữ đến ra mắt vấn an Ðại-vương".
Vua
Ðại-Thiện-Kiến nghe xong, liền lên pháp tòa sư tử. Các
thể nữ kia cũng liền kéo đến trước pháp tòa đồng cung
kính chấp tay quỳ thưa: "Chị em chúng con trong tịnh thất
chánh tâm thiền quán đã hơn bốn vạn năm, nay đến đây
yết kiến vấn an Ðại-vương, và có điều muốn thưa thỉnh,
kính xin Ðại-vương thương xót thuận cho".
Vua
Ðại-Thiện-Kiến đáp: "Quý hóa thay, các ngươi cứ tùy ý
nói".
Công
chúa Thiện-Hiền tâu vua rằng: "Thiện hạ trong bốn phương:
Nam Diêm-phù-đề, Tây Cồ-da-ni, Bắc Uất-đan-việt, Ðông
Phất-bà-đề đều giàu sang, vui vẻ, yên ổn biết tu hành
thập thiện, tất cả đều nhờ đức giáo hóa của Ðại-vương.
Riêng thành Câu-Thi-Na trong cõi Diêm-phù-đề này còn có đến
tám vạn bốn nghìn thành. Quốc-vương, Ðại-thần, Bà-la-môn,
Trưởng giả đều muốn yết kiến Ðại-vương, ước mong
để nhờ ơn mưa móc pháp nhũ. Nhưng Ðại-vương thiền định
trải qua nhiều năm, nên mọi người không có dịp triều kiến
chiêm ngưỡng dung nhan, lòng họ khát vọng muốn được thấy
tôn nhan Ðại-vương như con hiếu lâu năm muốn được thấy
cha hiền. Vả lại bốn phương thiên hạ cần sự vỗ về
dìu dắt của Ðại-vương. Lại nữa, voi ngựa xư cộ đều
có sẵn, Ðại-vương nên khéo dùng thời nghi để đi du ngoạn
quan sát dân tình sinh hoạt. Vả lại ngày trước Ðại-vương
thường thuyết khuyến hóa muôn dân tu Thập thiện, nhưng thời
gian gần đây Ngài lại chuyên tâm thiền định bỏ mất việc
lợi ích này. Bọn nữ nhân chúng con không làm lợi ích nhân
quần, nên chuyên tâm thiền quán. Còn Ðại-vương là bậc
ân đức của muôn dân, đâu phải vì mải mê tịnh tâm thiền
định mà ở lâu mãi trong thiền thất được, bỏ mất điều
lợi ích của muôn dân.
Vua
Ðại-Thiện-Kiến nghe xong, ôn tồn đáp: "Những lời khuyên
vừa rồi của các khanh thật không đúng ý ta. Các con nên
biết rằng, tất cả hình tướng đều là vô thường, ân
ái hội họp rồi phải biệt ly, bốn phương thiên hạ đông
đảo hưng thịnh rồi cũng suy tàn. Xưa kia ta đã từng làm
đứa trẻ thơ bốn vạn tám ngàn năm; làm vua bốn vạn tám
ngàn năm, nhờ liên tục gắng tu, sau rốt, ta làm Chuyển-luân
Thánh-vương đến tám vạn bốn ngàn năm, trị vì bốn phương
thiên hạ, cung điện dẫy đầy bảy báu, muôn dân ấm no,
hạnh phúc, thuyết pháp tám vạn bốn ngàn năm. Từ đấy đến
nay trải qua năm mươi tám vạn bốn ngàn năm. Tuy mạng sống
lâu dài, nhưng cuối cùng rồi cũng hết. Thành Câu-Thi-Na này
trước đây cũng hưng thạnh to lớn, lại còn có đến tám
vạn bốn ngàn thành lớn khác tùy thuộc, cực thịnh vô cùng,
rồi cũng suy tàn tiêu tan với thời gian. Tất cả sự đời
có hợp rồi phải tan, có thịnh rồi phải suy, còn rồi phải
mất. Biết rõ điều đó, ta đã lo chuyên cần tịnh tâm tu
mà được phần tối thắng. Ta cần phải trồng nhiều thiện
căn hơn nữa". Chẳng bao lâu, vua Chuyển-luân Ðại-Thiện-Kiến
ấy mạng chung, sanh lên cõi trời Phạm-Thiên.
A-Nan!
Vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến kia trị vì bốn
châu thiên hạ, nhưng nhà vua cũng chỉ ở một thành Câu-Thi-Na
cõi Diêm-phù-đề; voi ngựa mỗi thứ có đến hơn tám vạn
bốn ngàn con, nhưng nhà vua cũng chỉ cưỡi có một con. Tuy
có tám vạn bốn ngàn xe làm bằng thất bảo sẵn sàng cung
ứng, nhưng nhà vua cũng chỉ ngồi một chiếc. Tuy có tám vạn
bốn ngàn phu nhân, nhưng nhà vua chỉ yêu quý có một người.
Tuy có hơn tám vạn bốn ngàn lâu đài cung điện làm bằng
châu báu, mà thật sự nhà vua cũng chỉ ở một cung điện.
Thế mà nhà vua phải bận tâm lo khắp bốn châu thiên hạ,
buộc lòng vào chuyện chúng sanh, luống mệt tinh thần, mà
chính bản thân không được mấy chân lợi ích.
Ðức
Phật lại bảo tiếp A-Nan rằng: "Vua Chuyển-luân Ðại-Thiện-Kiến
tôn quý kia không phải là người nào khác lạ mà chính là
tiền thân của ta. Thành Câu-Thi-Na huy hoàng rực rỡ rộng
lớn ngày xưa, chính là thành Câu-Thi-Na nhỏ hẹp ngày nay.
Sự việc như thế, sao ông có thể nói thành Câu-Thi-Na nầy
là chỗ biên địa được ư?"