Mục Lục
Thay
lời tựa
01
Thái Tử Nhẫn-Nhục-Khải
02
Xá-Lợi-Phất Niết Bàn Trước Phật
03
Cắt Thịt Nuôi Cha Mẹ
04
Thiện Hữu và Ác Hữu
05
Hai Nhà Vua Hiền Ðức
06
Chuyển Luân Thánh Vương
07
Vua Chuyển Luân Ðảnh-Sanh
08
Vì Hiếu Quên Thù
09
Kẻ Ngu Hay Cãi
10
Chồn Cưới Công Chúa
11
Chim Phượng Hoàng
12
Nai Cứu Người
13
Quốc Vương Hữu-Ðức
14
Tể Tướng Ðại-Ðiển-Tôn
15
Nhẫn Nhục Tiên Nhân
16
Người Ðệ Tử Cuối Cùng
Thay
Lời Tựa
Nhân-quả,
Luân-hồi, Nghiệp báo là đạo lý căn bản của Phật giáo.
Sông biển có thể cạn khô. Mặt trời mặt trăng có thể
rơi rụng. Nhưng đạo lý nầy muôn đời không sai. Dù thế
pháp hay đạo pháp, tăng hay tục, bất luận hạng người nào,
hễ còn vào ra trong sanh tử, trôi lăn trong sáu đường, đắm
chìm trong ngũ dục, lặn hụp trong lợi danh dục tình, thì
nhất định không cách nào thoát khỏi mãnh lực của luật
nhân quả, luân hồi, nghiệp báo chi phối.
Không
tin nhân quả, luần hồi, nghiệp báo là tự mình đào sâu
hố thẳm thối hóa, tự mình mở cửa tội lỗi, đi vào bóng
đêm tăm tối thăm thẳm. Không tin nhân quả, luân hồi, nghiệp
báo là đi ngược luật tiến hóa thiên nhiên, là tự nghiền
nát khả nang phát triển thánh thiện của mình. Ngày xưa, khi
đức Phật đanh tĩnh tọa dưới gốc cây, có vị thiên thần
đến hỏi Phật: "Bạch đức Thế-Tôn! Trên đời nầy cái
gì tăm tối nhất? Cái gì tội lỗi nhất?"
Ðức
Phật trả lời: "Lòng dạ ngu si không biết phân định chánh
tà là tăm tối nhất. Không tin nhân quả, luân hồi, nghiệp
báo là nguồn gốc sanh ra tội lỗi nhất".
Có
tin nhân quả, luân hồi, nghiệp báo mới thấy được cội
nguồn tội phước, mới chuyển bước hướng thiện, mới
tìm thấy ánh sáng chân lý cuộc đời, mới giải tỏa được
bao nỗi ưu tư thắc mắc của tâm thức, và mới thực sự
liễu giải mọi hiện tượng sanh diệt chuyển biến thịnh
suy của thế nhân.
Nhân
quả, luân hồi, nghiệp báo bao trùm và chi phối muôn loài
vạn vật. Thế nên tất cả những hiện tượng nhân sanh vũ
trụ thăng trầm sanh diệt không ngoài luật nhân quả. Tin hiểu
nhân quả, luân hồi, nghiệp báo là chìa khóa khai mở kho tàng
bí ẩn thầm kín thâm sâu của kiếp người, là đài gương
quán chiếu giải tích mọi hiện tượng nhân sanh vũ trụ.
Một khi đã hiểu rõ và tin sâu đạo lý nhân quả, luân hồi,
nghiệp báo, con người không còn thắc mắc về thân phận
mình và hoàn cảnh tha nhân.
Nhân
quả, luân hồi, nghiệp báo là quỹ đạo, là mấu chốt cho
những hệ quả hiện tượng dây chuyền thiên chuyển biến
dịch của các pháp, là hiện trạng hiển hóa sanh sanh diệt
diệt thăng trầm chuyển kiếp của hữu tình chúng sanh đời
này sang đời khác. Mọi hiện tượng của kiếp người trong
vũ trụ thăng trầm tan hợp chỉ là sự thay hình đổi lớp
hệ lụy theo nghiệp nhân quả báo, chứ bản chất cốt tủy
của nó không bao giờ mất. Như sóng biển lặn nơi nầy nổi
nơi khác. Nhà bác học Lavoisier (1743-1794) đã nói: "Mọi hiện
tượng trên đời không có gì còn mãi, cũng không có gì vĩnh
viễn mất".
Ðức
Phật đã thấu suốt diệu lý chơn thường của vạn pháp,
nên trên đường giáo hóa độ sanh, Ngài đã bao lần giải
đáp thắc mắc cho thính chúng đệ tử. Ngài thường dẫn
chứng đạo lý nghiệp quả, luân hồi, nhân duyên, tiền kiếp.
Nhờ đó mà thính chúng thấu rõ mọi hiện tượng sinh sinh
hóa hóa, giải tỏa nghi hoặc, tiến tu, thể nhập diệu lý
Ðại-thừa.
Do
công đức tu hành mà đức Phật có được trí huệ giác ngộ,
thấu suốt chân lý vũ trụ nhân sanh. Nhờ giới thể thanh
tịnh mà đức Phật có huệ nhãn suốt thấy các kiếp chúng
sanh biến chuyển đổi dời từ thời quá khứ sang thời hiện
tại và tiếp diễn đến đời vị lai. Ngài là người bộ
hành đã lên đến đỉnh núi giác ngộ, ngồi thưởng thức
trăng thanh gió mát với quãng trời giải thoát bao la, rồi
nhìn lại quãng đời đầy sông núi suối đèo ghềnh thác
chông gai mà mình đã trải qua. Ngài thấu suốt tất cả ngọn
ngành uẩn khúc của kiếp chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi.
Trong lúc đó, chúng sanh nghiệp chướng sâu dày, sống trong
vô minh vọng thức, tội lỗi chất chồng. Do tà tâm vọng
tưởng, nên phiền não dày vò, phàm tánh cuốn lôi, lạc lối
trong rừng núi thâm u đầy bất trắc. Kiếp người như thuyền
nan trong biển cả đầy hiểm nguy không địa bàn để tìm
ra định hướng.
Tuy
đức Phật đời đời thương xót gọi kêu chúng sanh thức
tỉnh, tiếng pháp âm không ngừng vang vọng, nhưng chúng sanh
không thúc liễm thân tâm, cứ mải mê say đắm trong ngũ dục
lạc trần gian mông huyễn. Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm, đức Phật
nói: "Mười phương các đức Như-Lai đời đời thương xót
chúng sanh như mẹ hiền thương con nhỏ, lúc nào cũng muốn
giúp đỡ cho con nên người sáng suốt an vui. Nhưng con cứ
tìm cách trốn tránh mẹ, thì cho dù mẹ có thương con đến
mấy đi nữa, cũng không cách nào giúp đỡ con được. Mẹ
tìm con mà con cứ mãi trốn mẹ, thì mẹ con đời đời xa
cách!" Chư Phật Bồ-Tát luôn luôn mang từ bi trí huệ an lành
hướng về chúng sanh, như mặt trời lúc nào cũng trải nguồn
sáng ấm cho vạn vật. Nhưng có những võ cây sanh trong kẹt
đá, những sinh vật sống trong rừng thẳm biển sâu thì không
thể nào tiếp nhận được nguồn sáng ấm của mặt trời.
Kiếp
người diễn biến từ đời này sang đời khác vô cùng tận,
như lượn sóng trên đại dương, chỉ có trí huệ giác ngộ
của Phật mới kiểm chứng được số lượng kiếp kiếp.
Và chỉ khi nào đạt quả Vô-thượng Bồ-đề mới chấm dứt
kiếp luân lưu sanh tử từ thời quá khứ sang thời hiện tại.
Bàng
bạc khắp trong tam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện,
đức Phật thường nhắc đến sự liên hệ giữa Ngài và
các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá
khứ.
Trong
tâm nguyện đền ơn giáo hóa muôn một của đức từ phụ
Thế-Tôn và cũng để giúp tư liệu cho những ai muốn biết
phần nào về những kiếp quá khứ của đức Phật, do vậy,
tỳ kheo Quê Mùa tôi không ngài tài hèn đức bạc, mạo muội
soạn dịch một ít truyện trong muôn ngàn truyện tiền thân
của đức Phật, để cống hiến quý hiền giả.
Nơi
đây, tôi chân thành tán thán công đức Phật tử Trần-Hải-Hùng
- Pháp danh Chơn Lạc, và Vương-Mỹ-Linh - Pháp danh Diệu Tâm,
đã phát tâm Bồ-đề hiến cúng tịnh tài để cho tậpLược
Truyện Tiền Thân Ðức Phật nầy đủ duyên tái bản hầu
kết thiện duyên Bồ-đề cùng bạn lành bốn phương.
Nguyện
đem công đức nầy cầu nguyện Phật tử Chơn Lạc và Diệu
Tâm cùng gia đình thường được bình an, đồng thời hồi
hướng đến tứ trọng ân và pháp giới chúng sanh đều được
an lành, sớm phát tâm Bồ-đề quy-y Tam-Bảo, liễu ngộ chánh
pháp Ðại-thừa, đạt thành đạo quả giải thoát.
Hoa-Kỳ,
Vu-Lan Mậu Dần - 1998
Thích
Ðức Niệm