Tiểu
Bộ Kinh - Chuyện Tiền Thân
Chuyện
Ðại Hầu Vương
(Số
407. Tiền thân Mahàkapi)
"Chính
thân ngươi đã bắc ngang cầu khỉ …."
Bậc
Đạo Sư kể chuyện này trong lúc trú tại Kỳ Viên về các
thiện nghiệp đối với thân quyến. Hoàn cảnh chuyện này
sẽ xuất hiện trong Tiền thân Bhaddasàla số 465.X. Tăng chúng
bắt đầu bàn luận trong Chánh pháp đường, bảo nhau: "Đức
Phật toàn giác đã làm nhiều thiện sự đối với thân quyến."
Khi bậc Đạo Sư hỏi Tăng chúng và được trình bày đề
tài trên, Ngài đáp: "Này các Tỷ kheo, đây không phải lần
đầu Như Lai làm thiện nghiệp đối với thân quyến." Và
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa khi vua Brahmadatt trị vì ở Ba La Nại, Bồ tát nhập mẫu
thai loài khỉ. Khi lớn lên, ngài có vóc dáng oai nghi lực lưỡng
và cường tráng, cùng sống với một đàn tám mươi ngàn con
khỉ ở Tuyết Sơn.
Gần
bờ sông Hằng có một cây xoài (nhiều người khác bảo là
cây đa) với nhánh chồi tỏa bóng mát và lá rậm rạp như
một đỉnh núi. Trái xoài ngọt có mùi hương và vị tuyệt
diệu, to bằng các bình nước. Trái từ một cành rơi xuống
đất, từ một nhánh khác rơi xuống sông Hằng, từ hai nhành
khác rơi vào gốc cây.
Trong
lúc ăn xoài cùng với loài khỉ, Bồ tát nghĩ thầm: "Một
ngày kia tai họa sẽ xảy đến cho ta do trái xoài rơi xuống
nước."
Vì
thế không để lại trái xoài nào trên cành cây mọc trên
bờ sông, ngài bảo bọn chúng ăn hết ho8ạc ném bỏ hoa đúng
mùa ngay từ khi nụ hoa mới nhú bằng hột đậu.
Tuy
thế, một trái xoài chín nằm kín trong một tổ kiến, nên
cả tám mươi ngàn con khỉ không trông thấy, rớt xuống dòng
sông và mắc vào cái lưới ở phía trên. Vua Ba La Nại lúc
ấy đang tắm sông vui đùa với một tấm lưới ở trên và
một tấm ở dưới.
Khi
vua đã vui đùa suốt ngày và sắp ra về lúc chiều tối, bọn
người đánh cá đang kéo lưới lên, trông thấy trái cây,
nhưng không biết loại gì, liền đem dâng vua. Vua hỏi:
--
Trái gì thế?
--
Tâu Đại vương, chúng thần không biết.
--
Thế ai biết?
--
Tâu Đại vương, các người kiểm lâm.
Vua
truyền gọi bọn người kiểm lâm và khi nghe họ bảo đó
là trái xoài, vua lấy dao cắt nó ra, rồi trước hết bảo
bọn kiểm lâm ăn xoài, sau đó chính vua cũng ăn xoài. Hương
vị xoài chín thấm nhuần khắp toàn thân vua. Do lòng ham muốn
hương vị câu thúc, vua hỏi bọn kiểm lâm cây ấy ở đâu,
va khi nghe rằng cây ấy ở trên bờ sông về hướng Tuyết
Sơn, vua truyền ráp các chiếc bè lại và chèo ngược lên
thượng nguồn của sông theo lộ trình được đám kiểm lâm
hướng dẫn. Số ngày đi đường chính xác là bao nhiêu không
được nêu ra.
Theo
thời gian, họ đến nơi ấy, và nhóm kiểm lâm trình vua:
--
Tâu Đại vương, đó là cây xoài.
Vua
dừng bè lại và cùng đám quần thần đông đảo đi bộ đến
nơi, rồi truyền trải sàng tọa ngay dưới gốc cây, vua nằm
ngủ sau khi đã ăn xoài và hưởng đủ mọi thứ hương vị
tuyệt hảo. Khắp mọi phía quân lính canh gác cẩn thận và
nhóm lửa lên. Khi mọi người đã ngủ yên, Bồ bát cùng bầy
khỉ đến đó lúc nửa đêm.
Tám
mươi ngàn con khỉ chuyền từ cành nọ sang cành kia ăn xoài.
Vua tỉnh giấc thấy bầy khỉ, liền đánh thức quân hầu
và gọi đám xạ thủ đến bảo:
--
Hãy bao vây loài khỉ đang ăn xoài để chúng không thoát được,
rồi bắn cả đi. Ngày mai ta muốn ăn xoài với thịt khỉ.
Đám
xạ thủ tuân lệnh, đồng đáp:
--
Muôn tâu, được lắm.
Rồi
họ bao vây cả cây với cung tên sẵn sàng. Bầy khỉ thấy
họ, sợ chết vì chúng không thể trốn được, liền nhảy
đến Bồ tát và thưa:
--
Tâu Chúa công, các xạ thủ đang vây quanh cây và bảo: "Ta
sẽ bắn chết loài khỉ lang thang trộm cắp này." Chúng con
phải làm gì bây giờ? Chúng vừa đứng vừa run rẩy.
Bồ
tát bảo:
--
Đừng sợ, ta sẽ cứu mạng các con.
Vừa
an ủi bầy khỉ như vậy xong, ngài leo lên một cành mọc thẳng
đứng, rồi đi qua một cành khác trải dài về phía sông Hằng,
xong lại nhảy vọt về cuối cành ấy, vượt qua một trăm
tầm cung và hạ xuống một bụi cây trên bờ.
Khi
xuống đến nơi, ngài đánh dấu khoảng cách và nói: "Đó
là khoảng cách ta đã vượt qua." Rồi cắt một đọt tre sát
gốc, lột vỏ và nói: "Phần này sẽ được buộc vào cây
ấy, và phần kia sẽ ở trên không." Khi tính hai chiều dài
như vậy, ngài quên phần buộc vào thắt lưng mình. Ngài cầm
đọt tre buộc một đầu vào thân cây trên bờ sông Hằng
và phần kia vào thắt lưng, sau đó nhảy vọt qua khoảng cách
một trăm tầm cung ấy với tốc độ của mây bay theo gió
cuốn [1].
Do
không tính phần tre buộc vào thân mình, ngài không thể tới
tận cây ấy. Vì vậy ngài lấy hai tay nắm chặt cành cây
và ra hiệu cho đàn khỉ:
--
Cầu chúc các con may mắn, qua nhanh lên, bước trên lưng ta
mà đi dọc theo cây tre.
Cả
tám mươi ngàn con khỉ trốn thoát được theo cách ấy, sau
khi cung kính đảnh lễ Bồ tát, và xin phép ngài ra đi.
Thời
ấy Devadatta (Bồ Đề Đạt Đa) là một con khỉ trong đàn
kia, tự nhủ: "Đây là cơ hội để ta thanh toán kẻ thù."
Vì
thế vừa trèo lên cành cây, nó nhảy vọt và ngã trên lưng
Bồ tát. Tim Bồ tát vỡ nát, vô cùng đau đớn. Sau khi gây
ra nỗi đau khổ thống thiết cho ngài như vậy, nó liền bỏ
đi, chỉ còn Bồ tát một mình.
Lúc
ấy vua tỉnh giấc thấy rõ mọi việc bầy khỉ đã làm cùng
Bồ tát, vua lại nằm xuống suy nghĩ: "Con vật này không kể
đến tính mạng mình, đã cứu thoát cho cả đàn bình an."
Khi
trời sáng, vua hoan hỷ về Bồ tát, lại suy nghĩ: "Giết hại
chúa khỉ này thật không phải đạo, ta muốn nó xuống và
săn sóc nó." Vì vậy vua quay bè xuống sông Hằng và dựng
một cầu cao ở đó để Bồ tát nhảy xuống nhẹ nhàng, truyền
đem tấm y vàng phủ trên lưng ngài và tắm rửa ngài trên
sông, cho ngài uống nước đường, lau thân thể ngài thật
sạch và tẩm dầu thơm đã lọc lỹ cả ngàn lần. Sau đó
vua trải một tấm da đã được thoa dầu lên sàng tọa và
đặt ngài nằm ở đó, còn vua ngôồ ở một chỗ thấp hơn.
Và
vua ngâm vần kệ đầu:
Chính
thân ngươi đã bắc ngang cầu khỉ
Cho
cả đàn trốn thoát được bình an,
Này
khỉ kia, ngươi với chúng họ hàng,
Hay
bọn chúng là gì ngươi đó vậy?
Nghe
lời này, Bồ tát ngâm các vần kệ khuyến giáo vua:
Tâu
Đại vương, tôi trông nom bọn ấy,
Là
Hầu vương, tôi làm chủ cả đàn,
Kia
bọn kia đầy rẫy nỗi kinh hoàng,
Vì
chư vị, lòng do buồn đau đớn.
Tôi
nhảy qua một trăm tầm cung lớn
Được
trải dài trên vị trí nằm ngang,
Rồi
khi tôi đã buộc khúc tre nan
Thật
vững chắc ở quanh sườn tôi đó.
Muốn
đến cây như vầng trăng bão tố,
Được
cuồng phong thổi bạt cực kỳ nhanh,
Song
mất đà, tôi chỉ đến đầu cành,
Cầm
lấy nó, bàn tay tôi thật vững.
Khi
tôi nằm trên cây treo lơ lửng,
Buộc
chặt vào cành với khúc tre non,
Bầy
khỉ kia đã bước cả lưng còm,
Giờ
đây chúng được an toàn thoát nạn.
Tôi
không sợ nỗi đau vì thiệt mạng,
Dẫu
giam cầu, tôi cũng chẳng đau buồn,
Khi
bình an hạnh phúc với cả đàn,
Xưa
bọn chúng, tôi đã từng ngự trị.
Một
ví dụ dành cho ngài, Đại Đế,
Nếu
ngài mong học đạo lý chánh chân:
Niềm
an vui hạnh phúc của toàn dân,
Cùng
quân đội, và kinh thành chiến mã.
Đối
với ngài đều thiết thân tất cả,
Nếu
ngài mong trị nước thật an bình.
Bồ
tát giáo giới vua như thế xong liền từ trần. Vua gọi các
đại thần đến truyền lệnh cho Hầu vương được thọ hưởng
tang lễ như một quốc vương. Rồi vua truyền bảo đám phi
tần:
--
Các nàng hãy đưa Hầu vương ra tận nghĩa địa với tư cách
là đoàn tùy tùng của Hầu vương, mặc y đỏ, xõa tóc xuống
và cầm đuốc trong tay.
Các
đại thần làm giàn hỏa táng với một trăm xe củi.
Sau
khi đã chuẩn bị tang lễ của Bồ tát theo nghi thức vua chúa,
họ đem xương sọc của ngài đến trình vua. Vua truyền xây
một đền thờ ở tại địa điểm hỏa táng Bố tát, làm
lễ đốt đuốc và dâng hương hoa cúng dường. Vua lại truyền
khảm vàng vào xương sọ, nâng nó lên cao trên đầu ngọn
giáo và đặt tại cổng thành rồi cúng dường hương hoa khi
vua đến Ba La Nại. Sau đó truyền lệnh cho cả kinh thành trang
hoàng thật trang nghiêm, vua làm lễ suy tôn xá lợi suốt bảy
ngày.
Khi
đã nhận phần xá lợi và dựng đền thờ trong thành, vua
đến đó cúng dường hương hoa suốt đời. Được an trú
vào lời dạy của Bồ tát, vua chuyên tâm bố thí cùng làm
nhiều thiện sự khác và cai trị chân chính, nên về sau tái
sinh Thiên giới.
*
Khi
pháp thoại chấm dứt, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các Thánh
đế và nhận diện Tiền thân: "Thời ấy vua là Ànanda, đàn
khỉ là hội chúng này và Hầu vương chính là Ta vậy."
-ooOoo-
NHẬN
XÉT:
Tình
thương yêu thân quyến cũng là một đề tài thường gặp
ở bộ Chuyện Tiền thân.
Tình
thân thiết bảo vệ gia tộc, nói rộng ra là tình thương đồng
bào, đồng loại cho đến muôn loài, phát xuất từ tâm đại
bi của Bồ tát khiến ngài luôn sẵn sàng cứu khổ chúng sinh
lúc cần ngay cả khi phải hy sinh tánh mạng mình như trong chuyện
Tiền thân khỉ chúa này.
Như
vậy trong vô số hình thức tái sinh, Bồ tát đã thực hành
hạnh Bố thí Ba la mật là một trong mười công hạnh viên
mãn (Dasaparamì) mà một vị Bồ tát phát nguyện hoàn thành
trên con đường tu tập đưa đến giải thoát, giác ngộ qua
vô lượng kiếp luân hồi.
Trong
trường hợp này, bi nguyện ấy đã được thực hành trước
sự chứng kiến của một vị vua ở cõi người. Vị vua này
có tính ham vui chơi, thích của ngon vật lạ, nên đã cùng
một đám quần thần chèo thuyền bè lên đến tận vùng Tuyết
Sơn để thưởng thức món xoài quý hiếm. Do vậy vua ra lệnh
giết cả 80 ngàn con khỉ đến tranh giành món mỹ vị kia.
Nhưng bầy sinh vật bé nhỏ ấy lại là thần dân của Bồ
tát, vì sợ chết, chúng đã cầu xin ngài che chở và ngài
sẵn sàng dùng thân mình làm phương tiện giúp đồng loại
trốn thoát cung tên của vua. Như vậy tất cả đàn khỉ đã
đựơc ngài bảo vệ an toàn tính mạng, nhưng chỉ vì mối
nghịch duyên đối với Devadatta, ngài đã phải hy sinh tánh
mạng mình vào lúc hoàn thành nhiệm vụ cứu giúp đồng loại.
Sự
hy sinh cao thượng của khỉ chúa đã cảm hóa vị vua ham dục
lạc kia, khiến vua lập tức bày tỏ lòng kính trọng của
mình đối với khỉ chúa bằng cách tận tình chăm sóc ngài
trong những giờ phát cuối đời, rồi nghe ngài thuyết pháp
về phận sự của vị vua hiền đức đối với thần dân,
đó là đặt hạnh phúc muôn dân làm mục đích cai trị của
mình.
Sau
đó, vua truyền lệnh làm lễ quốc tang cho khỉ chúa và xây
đền thờ xá lợi của ngài. Rồi cũng như vị vua trong tiền
thân Lộc vương Hoan Hỷ, vị vua này cũng được thấm nhuần
đạo lý làm vua, nên đã tuân theo lời khuyến giáo của Bồ
tát thực hành Mười đức tính của một vị minh quân trị
nước đứng chánh pháp để đem lại hạnh phúc chân chính
cho bản thân thay vì chuyên tâm thọ hưởng dục lạc như thói
thường của vua chúa ở thế gian, đồng thời đem lại hạnh
phúc cho dân chúng bằng nhiều công đức thiện sự, nên sau
khi từ trần, vua được tái sinh cõi trời theo đúng qui luật
nhân quả của vạn vật.
-ooOoo-
Ghi
chú:
[1]
Một ngọn tháp ở Bharhut khắc hình khỉ chúa nhảy qua sông
Hằng trong tiền thân này.
(Trích
Nguyệt san Giác Ngộ, số 61, 04-2001)