Tiểu
Bộ Kinh - Chuyện Tiền Thân
Chuyện
Đôi Ca thần Canda
(999.
Tiền thân Canda Kinnara)
"Chắc
hẳn đời ta sắp sửa tàn...",
Chuyện
này Bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Bồ Đề Lâm gần
Kapilapura, về thân mẫu của Ràhula (La Hầu La) khi bà còn ở
trong cung.
Đang
lúc Ngài ngồi trong cung phụ vương, suốt buổi ăn Bậc Đạo
Sư kể Tiền thân Mahàdhammàpàla (số 447) và sau khi buổi ăn
đã xong, Ngài nói:
-
Ta muốn tán thán những đức tính cao quý của mẹ Ràhula (La
Hầu La) ngay ở nội thất bà bằng cách kể Tiền thân Canda
Kinnara này.
Rồi
vừa trao bình bát cho vua cha, Ngài cùng hai vị Đại đệ tử
bước qua cung thất của mẫu thân La Hầu La. Thời ấy, có
bốn mươi ngàn cung nữ giỏi ca múa hay đến bầu bạn với
bà, trong đó có một ngàn chín mươi nàng là con gái dòng Sát
đế lỵ. Khi bà nghe báo tin Đức Như Lai đến viếng, bà ra
lệnh tất cả đám cung nữ này đắp y vàng và hội chúng
tuân lệnh.
Bậc
Đạo Sư bước vào, ngồi xuống chỗ đã được dành sẵn
cho Ngài. Lúc ấy cả hội chúng nữ nhân đều kêu lên một
tiếng và than khóc rền rĩ. Sau khi để mặc dòng lệ tuôn
tràn, bà mẹ của La Hầu La cố dẹp nỗi sầu riêng, đứng
lên đảnh lễ Bậc Đạo Sư và ngồi xuống với vẻ vô cùng
tôn kính dành cho một vị vua. Lúc ấy phụ vương Ngài bắt
đầu kể đức hạnh của bà:
-
Bạch Thế Tôn, xin hãy nghe đây. Khi nàng hay tin Thế Tôn đã
đắp y vàng, nàng cũng đắp y vàng, Thế Tôn bỏ hết các
vòng hoa và đồ trang sức, nàng cũng bỏ hết mọi thứ và
chỉ nằm ngồi dưới đất. Khi Thế Tôn đã xuất gia, nàng
liền trở thành cô phụ và từ chối mọi tặng vật mà các
vương tử khác gửi đến nàng. Lòng nàng bao giờ cũng trung
thành với Thế Tôn.
Như
thế, phụ vương của Ngài đã kể hết đức hạnh của nàng
trong nhiều cách. Bậc Đạo Sư liền bảo:
-
Thưa Phụ vương, thật không lạ gì ngày nay trong đời cuối
của Như Lai, công chúa này đã yêu thương, gìn giữ lòng trung
thành đối với Như Lai và chỉ muốn được một mình Như
Lai dìu dắt mà thôi. Quả vậy, ngay cả khi được sinh làm
loài phi nhân, bà cũng giữ dạ thủy chung với phu quân mình
mà thôi.
Rồi
theo lời thỉnh cầu của vua cha, Ngài kể một chuyện quá
khứ.
* *
*
Một
thời, khi vua Brahmadatta trị vì ở Ba La Nại, Bậc Đại sĩ
được sinh trong vùng Tuyết Sơn làm một vị Tiên Kinnara (Khẩn
Na La: Ca thần) tên là Canda hay Nguyệt Lang, vợ ngài là Candà
hay Nguyệt Nga. Cả hai vị sống cùng nhau trên một hòn núi
bạc tên là Candapabbata hay Nguyệt Quang.
Thời
ấy vua Ba La Nại giao phó việc triều chính cho các quan đại
thần, một mình vua khoác hai chiếc hoàng bào, trang bị năm
thứ vũ khí và tiến về vùng Tuyết Sơn nọ.
Trong
lúc đang thưởng thức món sơn hào, vua chợt nhớ nơi có con
suối nhỏ, nên bắt đầu leo lên đồi. Thời bấy giờ đôi
tiên sống trên đỉnh Nguyệt Sơn thường ở trong núi vào
mùa mưa, và chỉ xuống núi vào mùa nắng. Vừa lúc ấy tiên
nam Canda cùng vợ hạ sơn và đi quanh quẩn. Đôi tiên tẩm
nước hoa, ăn phấn hoa, mặc xiêm y bên trong lẫn bên ngoài
đều bằng thứ lụa sa dệt từ bông hoa, vừa lắc lư trong
đám cây cát đằng (dây leo), vừa vui đùa ca hát bằng một
giọng ngọt ngào như mật.
Vị
tiên nam tiến dần đến con suối này và tại một chỗ dừng
chân bên suối, chàng bước xuống cùng vợ rắc hoa khắp mặt
suối vừa vui đùa dưới nước. Khi cả hai vị đã mặc lại
xiêm y bằng hoa xong, trên một khoảng cát trắng, sáng loáng
như một tấm bạc, hai vị trải hoa làm sàng tọa và nằm
xuống. Vừa lượm được một khúc cây trúc, vị tiên nam
bắt đầu thổi sáo, vừa ca hát ngọt ngào như mật rót vào
tai, trong lúc tiên nữ uốn lượn đôi tay mềm mại, vừa nhảy
vừa hát ca gần đó.
Nhà
vua nghe tiếng hát, liền đi rón rén để đừng ai nghe lọt
bước chân, vừa đến gần ngắm nghía đôi tiên từ một
nơi nấp kín đáo. Vua bỗng nhiên sinh ra si tình tiên nữ và
nghĩ thầm: "Ta muốn bắn chàng kia và sống ở đây với vợ
chàng". Sau đó vua liền nhắm bắn trọng thương vị tiên nam
Canda. Chàng đau đớn thốt lên bốn vần kệ:
1.
Chắc hẳn đời ta sắp sửa tàn,
Máu
ta đang chảy xiết, tuôn tràn,
Ta
dần mất hết nguồn sinh lực,
Hơi
thở đang thoi thóp, hỡi nàng!
2.
Ta đang chìm ngập với đau thương,
Lòng
dạ ta đang đốt cháy bừng,
Song
bởi chính nàng sầu, Nguyệt hỡi,
Mà
tim ta cảm xúc khôn lường.
3.
Như cỏ cây, ta cứ lụi tàn,
Héo
hon như suối cạn khô dần,
Lòng
đầy xúc cảm, Can-dà hỡi,
Vì
nỗi buồn đau của chính nàng.
4.
Dòng lệ tuôn từ cặp mắt ta
Như
mưa chân núi chảy vào hồ,
Bởi
vì lòng dạ đầy thương cảm,
Cho
nỗi sầu nàng, hỡi Nguyệt Nga!
Bậc
Đại sĩ than khóc như vậy qua bốn vần kệ trong khi quằn
quại trên sàng tọa bằng hoa, rồi bất tỉnh quay mặt đi.
Nhà vua vẫn đứng ở nơi đã nấp. Còn tiên nữ không biết
Bậc Đại sĩ vừa bị thương, ngay khi ngài than khóc như thế,
nàng cũng không hay biết, vì nàng đang say sưa với niềm hoan
lạc của mình. Nhưng khi thấy ngài quay đi và nằm bất động,
nàng bắt đầu tự hỏi chuyện gì đã xảy ra với vị phu
quân. Vội đến quan sát chồng, nàng thấy máu đang chảy ra
từ miệng vết thương, nên không thể nào chịu đựng nổi
cơn đau đớn khủng khiếp trước tình cảnh phu quân yêu quý
của mình, nàng kêu gào thất thanh.
"Vị
tiên nam ắt hẳn đã chết", vua thầm nghĩ và bước ra lộ
diện. Khi tiên nữ Candà thấy vua, nàng nghĩ thầm: "Đây hẳn
là kẻ cướp đã giết chồng yêu quý của ta", và nàng run
rẩy chạy trốn. Khi đã đứng trên đỉnh đồi, nàng kết
tội vua quyết liệt qua năm vần kệ:
5.
Ôi khổ thân ta, chúa bạo tàn!
Nhà
người đã bắn trọng thương chàng,
Nay
chàng nằm đó, trên đất lạnh,
Dưới
một gốc cây, giữa núi ngàn.
6.
Vương tử! Sầu đau xé ruột này,
Ta
mong thái hậu phải đền thay!
Mối
sầu đang bóp tim tan nát,
Khi
thấy chàng yêu đã chết đây.
7.
Vương tử! Sầu đau xé ruột này,
Ta
mong vương hậu phải đền thay!
Mối
sầu đang bóp tim tan nát
Khi
thấy chàng yêu đã chết đây.
8.
Mong thái hậu nay khóc phụ hoàng,
Và
sau lại phải khóc hoàng nam,
Kẻ
vì tham dục đang làm ác
Cho
chính chồng ta thật uổng oan.
9.
Ước mong vương hậu phải chờ trông
Tình
cảnh mất con lẫn mất chồng
Là
kẻ vì tham, làm việc ác
Cho
chàng vô tội, chính phu quân.
Sau
khi nàng kêu gào than khóc như vậy qua năm vần kệ trên, nhà
vua vừa đứng trên đỉnh núi cất tiếng an ủi nàng qua một
vần kệ khác:
10.
Thôi đừng than khóc, chớ sầu thương,
Ta
chắc rừng đêm quáng mắt nàng:
Cung
điện vua ban nàng diễm phúc,
Nàng
làm hoàng hậu của quân vương!
- Ngươi
vừa nói gì thế?
Tiên
nữ Candà thét lên khi nghe lời này, và nàng cất giọng sư
tử hống hùng hồn đáp lời:
11.
Không, ta đành kết liễu cuộc đời!
Ta
chẳng bao giờ muốn lấy ngươi,
Ngươi
giết chồng ta nào có tội,
Tất
cả vì tham ái ta thôi!
Khi
nghe lời này, lòng say mê của vua đối với nàng đều tan
hết, sau đó, vua liền ngâm một vần kệ khác nữa:
12.
Sống cho thỏa nguyện, hỡi tiên nương,
Thôi
hãy quay về đỉnh Tuyết Sơn,
Ta
biết có nhiều loài thú vật
Ăn
toàn cỏ hoa, mến rừng hoang.
Cùng
với những lời này, vua bình thản bỏ đi. Ngay khi Candà biết
vua đi rồi, nàng bước đến ôm lấy Bậc Đại sĩ đem tận
đỉnh đồi và đặt ngài nằm trên một chỗ đất bằng phẳng
tại đó; vừa kê đầu ngài lên lòng nàng, nàng vừa than thở
qua mười hai vần kệ sau:
13.
Đây giữa vùng đồi núi, đỉnh cao,
Trong
nhiều thung lũng, dưới hang sâu,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
bóng chàng nay thiếp thấy đâu?
14.
Thú rừng lang bạt khắp nơi nơi,
Lá
trải trên nhiều chốn đẹp tươi,
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
nay chàng vắng bóng trên đời?
15.
Dã thú tung hoành, hoa ngát hương
Lan
tràn bao chốn đẹp hoang đường,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
chẳng còn đâu thấy bóng chàng?
16.
Trong veo, nhiều suối chảy ven đồi,
Hoa
dại muôn ngàn, phủ khắp nơi,
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
nay chàng bỏ thiếp đơn côi?
17.
Xanh thẳm là đồi núi Tuyết San,
Khi
nhìn, đồi núi đẹp vô vàn,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
chẳng còn đâu thấy bóng chàng?
18.
Bao đỉnh Tuyết Sơn nhuộm ánh vàng,
Nhìn
xem đồi núi đẹp huy hoàng,
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
thiếp còn đâu thấy bóng chàng?
19.
Đồi núi Tuyết Sơn đỏ rực lên,
Núi
đồi tuyệt diệu lúc nhìn xem!
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
thiếp còn đâu thấy bóng tiên?
20.
Tuyết Sơn đỉnh nhọn vút trời cao,
Đồi
núi nhìn xem đẹp biết bao!
Thiếp
sẽ làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
nay thiếp chẳng thấy chàng đâu?
21.
Lấp lánh, Tuyết Sơn đỉnh trắng ngần,
Nhìn
xem đồi núi đẹp muôn phần!
Thiếp
làm gì nữa, chàng tiên hỡi,
Vì
chẳng còn trông thấy Nguyệt quân?
22.
Tuyết Sơn lại đổi sắc cầu vồng,
Tuyệt
diệu là khi đứng ngắm trông!
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
không còn được thấy lang quân?
23.
Đồi Hương thân thiết với yêu ma,
Khắp
chốn phủ đầy vạn cỏ hoa,
Thiếp
phải làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
đâu còn thấy bóng Canda?
24.
Thần tiên yêu mến ngọn đồi Hương, [1]
Cây
cỏ bao quanh khắp nẻo đường,
Thiếp
sẽ làm gì, chàng Nguyệt hỡi,
Vì
đâu còn thấy bóng chàng thương?
Nàng
cứ than thở mãi như vậy, rồi khi cầm tay Bậc Đại sĩ đặt
lên ngực nàng, nàng thấy tay ngài còn ấm. Nàng nghĩ thầm:
"Canda còn sống đây, ta quyết khiêu khích các thần linh cho
đến khi chàng được sống lại!". Rồi nàng lớn tiếng quở
trách các thần:
- Chẳng
có vị thần nào cai trị cõi trần hay sao? Các ngài đi ngao
du ở đâu cả rồi? Chắc hẳn các ngài chết hết rồi nên
chẳng còn ai cứu mạng chồng yêu quí của ta đây!
Vì
uy lực nỗi khổ đau thống thiết của nàng, chiếc ngai của
Sakka (Đế Thích) Thiên chủ nóng rực lên. Khi xét kỹ, ngài
thấy rõ nguyên nhân, liền giả dạng một vị Bà la môn đến
gần nàng, cầm bình nước thần dược rảy lên mình Bậc
Đại sĩ. Trong chốc lát, thuốc độc mất công hiệu, sắc
mặt ngài trở lại tươi tỉnh, ngài cũng không còn biết gì
đến chỗ bị thương nữa. Bậc Đại sĩ đứng dậy hoàn
toàn hồi phục.
Khi
Candà thấy vị phu quân muôn vàn yêu quí của mình đã hoàn
toàn bình an, nàng hân hoan quì xuống chân của Đế Thích Thiên
chủ, tán thán ngài qua vần kệ:
25.
La môn Thánh giả đáng tôn vinh!
Cho
phận thiếp đây kém phước lành
Được
thấy phu quân đầy ái kính,
Rảy
lên chàng thánh dược hồi sinh!
Sau
đó Đế Thích Thiên chủ khuyên nhủ:
- Từ
rày về sau hai vị đừng xuống khỏi đỉnh Nguyệt Sơn ra
giữa đường đi của loài người nữa, mà cứ ở chốn đây
thôi.
Ngài
lặp lại câu này hai lần rồi trở về cõi của ngài. Còn
Candà hỏi chồng nàng:
- Này
phu quân, sao ta lại ở chốn đầy nguy hiểm này? Ta hãy mau
về đỉnh Nguyệt Sơn.
Rồi
nàng ngâm vần kệ cuối cùng:
25.
Ta hãy lui về đỉnh Nguyệt san,
Nơi
khe suối diễm lệ tuôn tràn,
Suối
khe phủ ngập đầy hoa lá,
Mãi
mãi chốn kia, gió nhẹ nhàng
Thầm
thỉ len qua ngàn cổ thụ,
Mải
mê trò chuyện, phút bình an.
* *
*
Khi
Bậc Đạo Sư chấm dứt Pháp thoại này, Ngài bảo:
- Không
phải chỉ bây giờ, mà ngày xưa cũng thế, Công chúa luôn
luôn tận tụy và giữ lòng trung thành với Ta.
Rồi
Ngài nhận diện Tiền thân:
- Vào
thời ấy, Anuruddha (A Na Luật Đà) là vua, mẹ của La Hầu
La (Ràhulamàtà) là tiên nữ Candà và Ta chính là vị tiên nam.
Nhận
xét:
Đây
là một trong những chuyện tình lãng mạn gây xúc động nhất
trong bộ Chuyện Tiền thân.
Theo
truyền thuyết kinh điển, khi vị đạo sĩ Sumedha (Thiện Tuệ),
tiền thân Đức Phật Thích Ca, được Đức Cổ Phật Dipankara
(Nhiên Đăng) thọ ký để thành Phật, có một thiện nữ phát
đại nguyện làm bạn đời của Ngài qua vô lượng kiếp cho
đến ngày Ngài đắc quả Vô thượng Giác ngộ.
Đại
nguyện này đã được thể hiện qua những mối tình chung
thủy giữa nàng và Bồ tát, tiền thân Đức Phật dưới nhiều
hình thức khác nhau: từ đôi chim bồ câu, thiên nga hay quạ,
cho đến đôi vợ chồng vương giả trong cung điện, bao giờ
nàng cũng nêu bật những đức tính cao đẹp của nàng bên
cạnh Bồ tát trong suốt cuộc sống ấy.
Đặc
biệt ở đây, Bồ tát và nàng là đôi ca thần Kinnara (Khẩn
Na La), một loài thần tiên ở núi rừng có giọng ca tuyệt
vời nhất trên thế gian và luôn sống quấn quít bên nhau không
rời ngay cả trong hiểm nguy hoạn nạn.
Đức
Phật đã kể chuyện Tiền thân này trong lúc Ngài trở về
thành Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) để thăm gia đình lần đầu
tiên khoảng năm năm sau ngày Ngài thành đạo.
Khi
nghe phụ vương Ngài (Suddhodana: Tịnh Phạn) ca ngợi đức hạnh
của công chúa Yasodhara tức bà mẹ của Tôn giả Rahula, Đức
Phật xác nhận không chỉ đời này, mà trải qua vô lượng
đời trước, dưới nhiều hình thức tái sinh, bà cũng đã
giữ lòng chung thủy đối với Ngài và chỉ muốn Ngài dìu
dắt trên đời mà thôi. Câu chuyện này là một ví dụ để
minh chứng điều ấy.
Phải
chăng lời nói ấy của Ngài ngụ ý rằng qua vô lượng đời
trước, bà đã thực hiện lời nguyện cao cả của bà là
hỗ trợ Bồ tát trong mọi cảnh đời trên con đường tầm
cầu chân lý qua mọi nẻo luân hồi, đến nay sứ mạng ấy
đã được hoàn mãn, Ngài đã đắc quả Vô thượng Giác ngộ
và trở thành Bậc Đạo Sư hướng dẫn mọi loài ở cõi trời
và cõi người, thì phần bà cũng nên đi theo con đường do
Ngài khám phá ấy để được giác ngộ, thoát ly sinh tử như
Ngài?
Chắc
hẳn về sau bà cũng đã nhận thức được lời gợi ý sâu
xa kia, cho nên khi Tôn giả Rahula đã xuất gia theo Đức Phật,
bà cũng đã cùng nhiều vị Thích nữ trong hoàng tộc xuất
gia tu tập Thánh đạo và đắc quả Giác ngộ ngay đời hiện
tại này.
Nhân
dịp Xuân về, cũng là dịp lễ Đức Phật Thành đạo theo
truyền thống Bắc tông, tôi xin gửi đến các đạo hữu gần
xa câu chuyện Tiền thân đặc biệt này để tưởng niệm
hồng ân Đức Phật đã hy sinh cuộc sống đời thường để
đi tìm chân lý và chỉ đường cho những ai muốn tu tập giải
thoát giác ngộ như Ngài.
Ghi
chú:
[1]
Gandha-madana (đồi Hương): tên một ngọn núi ở dãy Hymalaya
(Tuyết Sơn), nơi có nhiều hoa thơm cỏ lạ và nhiều loài
thần tiên ma quỷ cư ngụ.
(Trích
Nguyệt san Giác Ngộ, số 82, 01-2003)