Tiểu
Bộ Kinh - Chuyện Tiền Thân
Chuyện
Voi hiếu dưỡng mẹ
(455.
Tiền thân Màti-Posaka)
"Cho
dù voi chúa phải đi xa"
Chuyện
này bậc Đạo Sư kể trong lúc trú tại Kỳ Viên về một
Tỷ kheo còn mẹ phải cấp dưỡng.
Hoàn
cảnh của chuyện này cũng giống như chuyện Sàma (số 540
tập VI). Trong dịp này, bậc Đạo Sư nói chuyện với chúng
Tăng. Ngài bảo:
-
Này các Tỷ kheo, chớ giận Tỷ kheo này. Ngày xưa, bậc hiền
nhân, ngay cả lúc sinh ra từ bụng của loài vật, và cách
xa mẹ mình, cũng không chịu ăn uống gì trong bảy ngày, cứ
gầy héo mỏi mòn. Dù được cung cấp đồ ăn vương giả,
vị ấy cũng chỉ đáp: "Không có mẹ ta thì ta không muốn
ăn". Tuy thế, lúc gặp lại mẹ, vị ấy mới chịu ăn như
trước.
Nói
vậy xong, Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
* *
Một
thuở nọ, khi vua Brahmadatta trị vì tại Ba La Nại, Bồ tát
được sinh làm Đại tượng vương ở vùng Tuyết Sơn. Toàn
thân voi màu trắng rất hùng vĩ, là chúa đàn gồm tám mươi
ngàn con voi vây quanh ngài, song mẹ ngài bị mù. Ngài thường
đưa cho bầy voi những quả rừng thật ngon để đem về dâng
mẹ, tuy thế chúng chẳng đem gì về dâng voi mẹ, mà chúng
ăn hết. Khi ngài hỏi thăm và biết được việc ấy, ngài
bảo:
- Ta
muốn rời đàn để nuôi mẹ ta.
Thế
là một đêm thuận lợi, bầy voi không hay biết, ngài đưa
mẹ đi đến đỉnh núi Candorana (Chiên Đồ Gia), tại đó ngài
để mẹ ở trong một hang dưới đồi, gần một hồ nước
và nuôi nấng mẹ rất chu đáo.
Bấy
giờ, một người thợ rừng ở Ba La Nại đi lạc đường
và không thể nào tìm lối ra được nên bắt đầu than khóc
ầm ĩ. Nghe tiếng này, Bồ tát thầm nghĩ: "Đó là một người
đang cơn hoạn nạn, khi ta đang ở đây mà gã gặp tai họa
thật chẳng phải lẽ". Vì vậy ngài đến gần gã, song gã
bỏ chạy vì quá sợ hãi; thấy thế, chúa voi bảo gã:
- Này
người kia, anh không cần phải sợ ta, đừng chạy trốn, hãy
nói tại sao anh vừa đi vừa khóc thế?
- Tâu
chúa tể, kẻ hèn này bị lạc đường đã bảy ngày qua.
Chúa
voi đáp:
- Anh
đừng sợ nữa, và ta sẽ đưa anh ra đường đi của dân chúng.
Sau
đó ngài bảo người ấy leo lên ngồi trên lưng ngài và đưa
gã ra khỏi rừng, xong ngài quay về.
Còn
con người độc ác kia quyết vào thành phố báo tin cho vua
biết. Vì thế gã đánh dấu các cây cối, các ngọn đồi,
rồi tiến về Ba La Nại. Lúc ấy vương tượng của hoàng
đế vừa từ trần. Ngài cho truyền lệnh bằng một hồi trống.
- Nếu
kẻ nào thấy ở đâu có con voi xứng đứng để hoàng thượng
ngự du thì hãy báo ngay.
Sau
đó gã kia đến triều kiến vua và tâu:
- Tâu
Chúa thượng, tiểu thần đã thấy một con voi tuyệt mỹ,
toàn thân màu trắng, một vật tối thắng xứng đáng để
Chúa thượng ngự lên. Tiểu thần xin chỉ đường. Song xin
đưa các người quản tượng đi theo để bắt voi.
Vua
chấp thuận, bảo một người thợ rừng cùng đi với gã ấy
và một đoàn tùy tùng lên đường.
Người
thợ cùng đi với gã và trông thấy Bồ tát đang ăn uống
trong một hồ nước. Khi Bồ tát thấy gã thợ rừng, ngài
nghĩ: "Hiểm họa này chắc chắn không phát xuất từ ai khác,
ngoài kẻ kia. Song ta rất mạnh, ta có thể đánh tan tành cả
ngàn voi trong lúc thịnh nộ, ta lại đủ sức tiêu diệt cả
đàn voi ra trận của một vương quốc. Tuy nhiên, nếu ta bị
lòng phẫn nộ chi phối thì công đức của ta sẽ bị tổn
hại. Vì vậy hôm nay ta sẽ không nổi giận, cho dù có bị
gươm giáo đâm vào da thịt". Với quyết định này, ngài cúi
đầu đứng bất động.
Người
thợ rừng bước xuống hồ sen, khi thấy vẻ tuyệt mỹ của
cái chóp ngà voi, gã bảo:
- Này
con hãy đến đây.
Rồi
nắm lấy cái vòi giống như sợi dây thừng bằng bạc, gã
dẫn voi về thành Ba Na Nại trong vòng bảy ngày.
Khi
mẹ Bồ tát thấy con mình không trở về, bà đoán chắc hẳn
ngài bị quan quân nhà vua bắt rồi, bà than khóc:
- Giờ
đây cây cối vẫn mọc, song con ta đã đi xa rồi.
Và
bà đã ngâm hai vần kệ sau:
1.
Dù cho voi chúa phải đi xa,
Dược
thảo nhũ hương vẫn mọc ra,
Lúa
cỏ, trúc đào, cùng súng trắng,
Kèn
xanh chỗ khuất vẫn đơm hoa.
2.
Tượng vương hẳn đến tận phương nao
Sung
túc nhờ bao kẻ tước cao,
Trang
điểm ngọc vàng vua chúa cỡi,
Oai
hùng thắng địch thủ mang bào.
Bấy
giờ người luyện voi kia, đang lúc còn đang đi đường đã
gửi về triều một tờ sớ dâng vua. Nhà vua liền ra lệnh
cả kinh thành trang hoàng thật lộng lẫy. Người luyện voi
dẫn Bồ tát vào một cái chuồng được tô điểm bằng các
dây tua, tràng hoa và vây quanh mỗi bức màn đủ màu rực rỡ,
xong đến trình nhà vua. Vua mang các món cao lương mỹ vị ra
bảo đưa cho Bồ tát, nhưng ngài không ăn chút gì cả: "Nếu
không có mẹ ta, ta không muốn ăn gì đâu".
Vua
van nài ngài ăn và ngâm vần kệ thứ ba:
3.
Nào ăn đi một miếng, voi này,
Đừng
có buồn chi, chớ héo gầy,
Để
phụng sự vua, còn lắm việc
Mà
voi sẽ đảm trách sau này.
Nghe
vậy Bồ tát ngâm vần kệ thứ tư:
4.
Không, trên đỉnh núi Chiên Đồ Gia
Khốn
khổ bà kia, mắt lại lòa,
Dậm
một chân vào gốc cổ thụ
Vì
không voi chúa, ấy con bà.
Vua
ngâm vần kệ thứ năm để hỏi ý nghĩa lời ngài:
5.
Ai ở trên đồi Chiên Đồ Gia
Nào
ai khốn khổ, lại mù lòa?
Dậm
chân vào một gốc cây nọ,
Vì
chẳng chúa voi, con của bà?
Voi
đáp lời qua vần kệ thứ sáu:
6.
Mẹ ta trên núi Chiên Đồ Gia
Khốn
khổ, mù lòa thật xót xa,
Dậm
một chân vào gốc cổ thụ,
Bởi
vì voi chúa ấy là ta.
Khi
nghe nói vậy, vua liền cho ngài được tự do, và ngâm vần
kệ thứ bảy:
7.
Voi hùng phụng dưỡng mẫu thân mình,
Nên
thả tự do, cứ mặc tình,
Thôi
để voi đi về với mẹ
Và
cùng sum họp với gia đình.
Vần
kệ thứ tám và thứ chín là xuất phát từ Trí tuệ Tối
thắng của Đức Phật:
8.
Khỏi cảnh giam cầm được thoát thân,
Hết
dây ràng buộc, chúa voi rừng,
Vài
lời khuyên nhủ cùng vua ấy (*),
Voi
trở về nơi chốn núi ngàn.
9.
Rồi xuống hồ kia mát lạnh trong,
Nơi
này voi vẫn tới bao lần,
Dùng
vòi hút nước từ hồ ấy
Tung
vẩy khắp mình của mẫu thân.
Song
mẹ của Bồ tát tưởng là trời bắt đầu mưa, nên ngâm
vần kệ thứ mười để trách cơn mưa:
10.
Ai đó đem mưa thật trái thời
Thần
nào độc ác quá, trời ơi!
Vì
nay con trẻ đà đi vắng,
Con
trẻ xưa thường phụng dưỡng tôi.
Lúc
ấy Bồ tát ngâm vần kệ thứ mười một để trấn an mẹ:
11.
Sao mãi nằm kia vậy, mẹ ơi!
Này
đây con mẹ đã về rồi,
Ca
Thi Đại đế, ngài Thông Tuệ
Cho
trẻ bình an được tái hồi.
Bà
mẹ liền đáp lời, cảm tạ vua qua vần kệ cuối cùng:
12.
Vạn tuế trường tồn, đấng Đại vương!
Cầu
ngài đem lại nước hùng cường,
Tự
do ngài trả cho con đó,
Với
mẹ, con tròn vẹn kính thương!
Vua
rất hoan hỷ vì đức độ của Bồ tát nên ra lệnh xây một
thị trấn không xa hồ ấy và nhà vua thường đến phụng
sự Bồ tát cùng mẹ ngài. Sau đó, khi mẹ ngài từ trần,
ngài đi thật xa đến một tinh xá tên là Karandaka. Tại đây
có năm trăm bậc trí giả an trú và vua thường đến cúng
dường các vị ấy. Vua lại truyền tạc một tượng bằng
đá có hình Bồ tát và thường đến chiêm bái để tỏ lòng
ngưỡng mộ ngài. Dần dần dân chúng khắp cõi Diêm phù đề
(Ấn Độ) tụ tập lại đó cùng nhau cử hành ngày hội gọi
là Hội Voi.
Khi
bậc Đạo Sư chấm dứt pháp thoại, Ngài tuyên thuyết các
Sự thật và nhận diện Tiền thân. (Bấy giờ lúc kết thúc
các Sự thật, vị Tỷ kheo phụng dưỡng mẹ đã an trú vào
Sơ quả (Dự lưu):
- Vào
thời ấy Ànanda là nhà vua, mẫu hậu là Mahà Màyà là mẹ
voi và chính Ta là chúa voi đã nuôi dưỡng mẹ mình.
Nhận
xét:
Hiếu
hạnh là một trong những đức tính được Đức Phật đề
cao ngay trong đời hiện tại cũng như trong các Tiền thân của
Ngài.
Mỗi
khi nghe nói có một Tỷ kheo nào phải cấp dưỡng cha mẹ già
dù đã xuất gia theo đạo giải thoát, Ngài đều tán thán
vị ấy và kể một chuyện Tiền thân để chứng minh lòng
hiếu thảo là một trong những đức tính mà Bồ tát, tiền
thân của Ngài đã thể hiện của nhiều hình thức tái sinh:
chim muông, thú vật, hay loài người: Bồ tát đã từng làm
chim anh vũ hiếu thảo trong Tiền thân Cánh đồng lúa
(số 484), là nai hiếu thảo trong Tiền thân Lộc vương hoan
hỷ (số 385), là con trai hiếu thảo trong Tiền thân Sàma
(số 540), và voi hiếu thảo trong Tiền thân này.
Qua
các Tiền thân trên, Bồ tát đã thể hiện lòng hiếu thảo
cao độ ngay khi bị bắt vào thòng lọng hay khi sắp bị bắn
hoặc đã bị trọng thương, ngài không hề nghĩ đến nỗi
đau khổ của chính bản thân, mà chỉ nghĩ đến nỗi đau
khổ của cha mẹ già yếu hoặc mù lòa không thể tự kiếm
sống nếu ngài phải chết trước.
Chính
lòng hiếu thảo đặc biệt ấy đã cảm hóa được những
vị chủ nhân hoặc vị vua bắt ngài, khiến cho lòng họ tràn
đầy xuỏc động liền thả ngài được tự do, rồi từ đó
về sau họ chuyên tâm thực hành Ngũ giới và Thập thiện
để được tái sinh cõi trời.
Nhân
dịp lễ Vu Lan, tượng trưng ngày Báo hiếu của người con
Phật và của truyền thống dân tộc, tôi xin gởi đến các
đạo hữu gần xa câu chuyện Tiền thân đầy đạo vị này,
là một trong những chuyện cổ tích khích lệ mọi người
thực hành một đức tính mà Bồ tát, tiền thân Đức Phật,
đã thể hiện qua biết bao đời sống trước khi thành Phật./.
Ghi
chú:
(*)
Bồ tát khuyên nhủ vua hành trì Ngũ giới và Thập thiện trước
khi từ giã.
(Trích
Nguyệt san Giác Ngộ, số 77, 08-2002)