Tiểu
Bộ Kinh - Chuyện Tiền Thân
Chuyện
vua Dalha-dhamma
(409.
Tiền thân Dalha-dhamma)
"Chính
con khuân vác tự ngày xanh..."
Bậc
đạo sư kể chuyện này trong lúc trú tại rừng Ghosita (Cù-sư-la)
gần Kosambi (Kiều thưởng di), về Bhaddavatika, con voi cái của
vua Udena.
*
Bấy
giờ cách con voi này được trang điểm vàng ngọc và chuyện
dòng họ vua Udena sẽ được nêu ra trong Tiền thân Màtanga
(số 497). Một hôm con voi này ra ngoại thành sáng sớm gặp
Đức Phật được Thánh chúng vây quanh, trong vẻ oai nghi tối
thượng của một bậc Giác ngộ, đang vào thành khất thực,
nó quỳ xuống chân Đức Như Lai, than khóc và cầu khẩn Ngài
:
-Bạch
Thế Tôn, bậc toàn tri kiến, vị cứu khổ toàn thế giới
, khi con còn trẻ và có khả năng làm việc, vua Udena, một
vị minh quân đã thương yêu con và bảo: "Đời sống của
ta cùng vương quốc và hoàng hậu đều nhờ nó tất cả."
Rồi ngài ban cho con đại vinh hiển bằng cách trang điểm mọi
thư vàng ngọc, ngài truyền trát chuồng voi với đất trộn
hương liệu, treo các đồ vật có màu sắc rực rỡ chung quanh,
thắp đèn với dầu thơm, đặt đĩa trầm xông tại đó, ngài
lại truyền đặt một chậu bằng vàng tại chỗ con đại
tiện, cho con đứng trên thảm màu và cho con ăn toàn cao lương
thượng vị của vua. Nay con đã già và không làm việc được
nữa, nên ngài tước bỏ mọi đặc ân ấy, con sống bơ vơ
khốn khổ không ai bảo vệ chăm sóc, chỉ ăn toàn quả ketaka
trong rừng, con chẳng có nơi nương tựa nào nữa. Xin Thế
tôn nói cho vua Udena nghĩ lại các công đức của con và phục
hồi mọi vinh quang cũ cho con.
Bậc
đạo sư bảo :
-Ngươi
hãy đi về, rồi ta sẽ nói với nhà vua phục hồi mọi vinh
quang cũ cho ngươi.
Sau
đó Ngài đi đến cửa hoàng cung.
Nhà
vua mời Đức Phật vào, thiết đãi trọng thể tất cả hội
chúng theo hầu Đức Phật. Khi buổi thọ thực đã xong, bậc
Đạo Sư nói lời tùy hỷ công đức và hỏi :
-Thưa
Đại vương, con voi Bhaddavatikà đâu rồi?
-Bạch
Thế Tôn, Trẫm không biết.
-Thưa
Đại vương, sau khi đã ban vinh hiển cho đám nô tỳ, ngài
tước bỏ mọi ân huệ lúc chúng già yếu là không phải đạo,
vậy cần tỏ lòng biết ân chúng mới hợp lý. Bhaddavatikà
nay đã già, mòn mỏi vì tuổi tác và không được ai bảo
vệ, chỉ sống bằng trái cây Ketaka trong rừng. Đại vương
để cho nó bơ vơ như vậy lúc già yếu là không hợp lý.
Rồi
kể các công đức của con voi Bhaddavatikà, ngài bảo:
-Đại
vương hãy phục hồi mọi vinh quang cũ của nó.
Xong
Ngài ra đi. Nhà vua làm theo lời ngài. cả kinh thành truyền
tin rằng vinh quang cũ ấy đã được phục hồi nhờ đức
Phật kể lại mọi công đức của nó.
Việc
này được Tăng chúng biết chư vị bàn luận trong lúc hội
họp. bậc Đạo sư bước vào và nghe đây là đề tài của
chư vị, Ngài bảo:
-Này
các Tì kheo, đây không phải là lần đầu Như Lai làm cho nó
được phục hồi mọi vinh quang cũ bằng cách kể chuyện công
đức của nó.
Và
Ngài kể một chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa có một vị vua mệnh danh là Dalhadhamma cai trị tai Ba la
nại. thời ấy Bồ tát được sanh vào gia đình một đại
thần quan trọng nhất trong triều. vua có một con voi cái rất
dũng mãnh, lực lưỡng. Nó đi một trăm dặm một ngày, làm
mọi phận sự sứ thần của vua, khi ra trận nó chiến đấu
oanh liệt, dẫm nát quân thù. Vua thường bảo:
-Con
voi này thật hữu ích đối với ta.
Rồi
vua ban cho nó mọi đồ vật trang điểm và vinh quang giống
như vua Udena ban cho Bhaddavatikà ngày nay. Sau đó khi nó già yếu,
vua tước hết mọi đặc ân trên.
Từ
đó nó không được ai bảo vệ và chỉ sống bằng các thứ
cỏ lá trong rừng. Một hôm, các loại đồ gốm sứ trong cung
điện vua không đủ dùng, vua truyền thợ gốm lại phán:
-Đồ
gốm không đủ dùng.
-Tâu
đại vương, tiểu thần không có bò kéo xe để mang phân bò
về nung đất sét.
Vua
nghe chuyện liền phán:
-Con
voi cái của ta đâu rồi?
-Tâu
đại vương, nó đang phiêu bạt tuỳ ý.
Vua
bảo đem nó cho người thợ gốm:
-Từ
nay ngươi buộc nó vào xe rồi đưa đi chở phân.
Người
thợ gốm đáp:
-Tâu
đại vương tốt quá.
Rồi
gã làm theo lời dặn. một hôm, ra ngoại thành, voi cái chợt
thấy Bồ tát đi đến, liền quì xuống chân Ngài vừa than
khóc vừa nói:
-Thưa
tể tướng, thời con còn trẻ, đức vua xem con rất hữu dụng
và ban cho con đại vinh hiển, nay con già yếu, ngài tước bỏ
mọi đặc ân và không còn nghĩ đến con nữa, con không được
ai bảo vệ và chỉ sống bằng cỏ lá trong rừng, con gặp
cảnh khốn cùng thế này, ngài lại đem con cho người thợ
gốm buộc vào xe chở phân; trừ tể tướng ra, con không còn
nơi nương tựa nào cả, chính tể tướng đã biết mọi công
lao con phục vụ đức vua, xin ngài cho con được phục hồi
mọi vinh hiển đã mẩt.
Rồi
voi cái ngâm ba vần kệ :
Chính
con khuân vác tự ngày xanh
Như
vậy đức vua đã thoả tình?
Vũ
khí con mang đầy trước ngực
Xông
pha chiến trận, bước hùng anh.
Con
đã lập nên lắm chiến công.
Đức
vua giờ hẳn có quên chăng.
Bao
lần phục vụ nhiều công trạng
Như
đã định cho các sứ thần?
Nay
con cô độc, quá bơ vơ.
Chắc
chắn mạng chung đã đến giờ.
Phục
vụ cho nhà người thợ gốm
Con
đành làm vật kéo phân dơ.
Bồ tát
nghe chuyện, liền an ủi nó và bảo :
-Thôi
đừng buồn khổ nữa, ta sẽ đi trình đức vua và phục hồi
mọi vinh dự cho ngươi.
Vì
thế khi vào thành, ngài đi đến chầu vua sau buổi điểm tâm
và bắt đầu câu chuyện, ngài bảo :
-Tâu
đại vương, có phải con voi cái mang tên kia đã ra trận chiến
tại những nơi nọ với các vũ khí buộc đầy ngực, rồi
ngày khác nó lại mang quốc thư ở cổ đi cả trăm dặm làm
sứ giả cho đại vương, và đại vương đã ban cho nó nhiều
vinh hiển chăng, nay nó đâu rồi?
-Trẫm
đã giao nó cho người thợ gốm chở phân bò.
Bồ
tát liền đáp :
-Có
hợp đạo lý chăng, tâu đại vương, khi giao nó cho người
thợ gốm buộc vào xe chở phân?
Rồi
để khuýến giáo, ngài ngâm bốn vần kệ :
Do
mong cầu ích kỷ cá nhân,
Người
ta ban phát mọi vinhquang
Như
ngài đối với con voi nọ,
Ném
bỏ như nô lệ yếu tàn
Khi
người quên hết các huân công.
Thiện
sự ngày xưa hưởng trọn phần
Mọi
việc mà lòng đang dự tính
Ngày
sau chắc hẳn phải suy vong.
Khi
người ghi nhớ các công ơn
Thiện
sự ngày xưa hưởng trọn phần
Mọi
việc mà lòng đang dự tính
Ngày
sau chắc hẳn sẽ thành công
Ta
nói điều chân lý trọn lành
Cho
thần dân tụ tập chung quanh
Phải
luôn ghi nhớ công ơn cũ
Thiên
giới dành phần sống hiển vinh
Với
lời khởi đầu này, Bồ tát giáo giới toàn thể dân chúng
đang tụ tập ở đó. Nghe vậy, vua liền ban cho con voi già
mọi vinh hiển cũ. Và về sau được an trú vào lời dạy của
Bồ tát, vua bố thí cùng thực hành nhiều thiện sự khác,
nên được sanh lên cõi Thiên.
*
Khi
pháp thoại chấm dứt, bậc đạo sư nhận diện tiền thân:
"Thời ấy, voi cái là Bhaddavatikà, vị vua là Ànanda, vị đại
thần chính là ta vậy".
-ooOoo-
Nhận
xét :
Lòng
biết ơn là một trong những đề tài quan trọng của bộ Chuyện
Tiền thân. Lòng biết ơn người hay vật đã làm công ích
thiện sự cho ta được Đức Phật đề cao qua nhiều chuyện
tiền thân và chuyện này là một ví dụ.
Nhân
chuyện vua Udena bạc đãi và bỏ rơi con voi già yếu đã từng
lập nhiều công lao hiển hách đối với nhà vua suốt thời
kỳ nó còn trẻ và đã được vua ban nhiều vinh hiển bổng
lộc, bậc Đạo Sư khuyên vua nên cho nó được phục hồi
mọi vinh quang cũ, và Ngài lại kể một chuyện quá khứ chứng
minh trong tiền kiếp, Ngài đã từng làm một chuyện tương
tự.
Qua
các chuyện này, ta thấy Đức Phật luôn ca ngợi sự đền
ơn đáp nghĩa đối với bất cứ người hay vật làm công
ích cho mình, ngay cả khi ta có thể bị hại vì hành vi cao
đẹp ấy, như trường hợp Nai chúa Nandiyamiga muốn trả ơn
vua đã cho nai ăn uống trong vườn ngự một thời gian bằng
cách đem tính mạng mình ra thử thách lòng tốt của vua, chứ
không muốn trốn đi để khỏi chết dưới mũi tên tàn bạo.
Đức
Phật không chỉ khuyên dạy các đệ tử biết ơn cha mẹ,
thầy hay bạn tốt, những người có công lớn đối với đời
ta mà còn phải nhớ ơn cả những gia công hầu cận hay các
loài vật phục vụ ta như con voi già trong chuyện này.
Hơn
nữa, Ngài còn dạy các đệ tử nhớ ơn tất cả loài cỏ
cây có ích lợi chung quanh. Trong nhiều chuyện tiền thân khác,
Ngài dạy rằng khi ta ngồi dưới một góc cây cho ta bóng mát
dù chỉ trong chốc lát, ta cũng tỏ lòng biết ơn bằng cách
không bẻ cành hái lá, vì chỉ người ác mới làm hại bạn
lành.
Điều
này được thể hiện ngay sau khi vừa thành đạo. Trong niềm
hân hoan vô tận của giải thoát lạc, Ngài không ngừng chiêm
ngưỡng cây cổ thụ Asattha, hay cây đa (Nigrodha), một loại
cây sung, để tỏ lòng biết ơn đối với cây cao bóng cả
đã cho Ngài một nơi an trú vững chắc suốt trong cuộc chiến
đấu cuối cùng chống Ma Vương và Ma quân ào ạt tấn công
Ngài như vũ bão trước khi Ngài trở thành bậc chiến thắng
anh hùng. Theo Tôn giả Narada, một pháp sư danh tiếng trong thế
giới Phật giáo, thái độ này của Đức Phật đã gián tiếp
dạy cho loài người một bài học đạo đức vĩ đại. Về
sau theo gương Ngài, các đệ tử Ngài cũng tôn trọng cây cổ
thụ ấy cùng con cháu của nó và chúng được mệnh danh là
cây Bồ đề để tưởng niệm sự giác ngộ của Ngài.
Khi
Đức Phật quyết định thuyết pháp độ sanh sau nhiều tuần
thọ hưởng niềm an lạc của Niểt bàn bất tử, Ngài nghĩ
ngay đến hai vị đạo sư Àlàra Kàlàma và Uddaka Ràmaputta
đã từng hướng dẫn Ngài trên con đường học đạo; rồi
tiếp theo là nhóm sáu vị khổ hạnh Komdanna, bạn đồng tu,
đã từng phục vụ Ngài suốt thời kỳ Ngài thực hành những
pháp môn khổ hạnh đệ nhất nhưng không đem lại giác ngộ
giải thoát, và họ đã rời bỏ Ngài trước khi Ngài đơn
thân theo con đường mới là thực hành thiền quán dưới gốc
cây Bồ đề ấy.
Trong
thời Ngài tại thế cũng như trong những chuyện đời xưa,
Đức Phật luôn tán thành lòng biết ơn. Ngài bài bác hành
động vong ân bội nghĩa, vì Ngài thấy rõ đó là ác nghiệp
có thể đưa đến suy vong ở đời này và tái sanh đọa xứ,
địa ngục; còn sự đền ơn đáp nghĩa là thiện nghiệp,
sẽ đưa đến hưng thịnh thành công ở đời này và tái sanh
cõi lành ở đời sau. Lời dạy của Đức Phâtẹ về lòng
tri ân đối với các thiện sự mà ta nhận được từ người
hay vật và ngay từ cỏ cây thật vô cùng cao cả và có ích
lợi thực tiễn cho loài người hiện nay.
Trong
lịch sử, chưa bao giờ con người khắp thế giới ra sức
tàn phá môi trường sống nhe trong thời hiện đại. Do lòng
tham vô tận, con người tìm mọi cách làm cạn kiệt tài nguyên
thiên nhiên qua những việc đốn cây, phá rừng, làm cháy rừng...
gây nên những trận lũ lụt nghiêm trọng cho từng vùng đất
rộng lớn hoặc săn bắn các động vật quý hiếm để lấy
lông, da, sừng, ngà, mật,... tạo nguy cơ tuyệt chủng cho một
số loài vật giống như vị vua ở chuyện Đại Hầu Vương
đã dự định hủy hoại môi trường sống và làm tuyệt chủng
cả dòng họ của 80.000 con khỉ, chỉ vì chút lòng tham vị
ngon ích kỷ của mình! Trong khi muốn thỏa mãn dục vọng không
cùng của cá nhân hay tập thể, họ không hề nghĩ đến hậu
qủa tai hại cho môi trường sống chung quanh cũng như cho bản
thân mình ở đời này và đời sau.
Phát
xuất từ lòng đại bi vô lượng đối với muôn loài, đạo
đức Phật giáo là lý tưởng đối với đạo đức môi trường
sinh thái. Chúng ta có thể khẳng định đời sống theo Phật
đạo rất thân thiết với môi trường thiên nhiên. Chưa bao
giờ như hiện tại, chúng ta cần áp dụng truyền bá lời
dạy của Đức Phật về lòng biết ơn sâu rộng như tren để
ngày càng có nhiều người ý thức sự cần thiết bảo vệ
quả đất, một hành tinh thường được ví như bà mẹ hiền
cung cấp nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cho muôn loài
sinh vật. Nếu loài người chúng ta không biết tôn trọng và
bảo vệ môi trường sống hiện tại, thì hậu quả xấu sẽ
không lường đối với các thế hệ tương lai và thảm hoạ
cho môi trường sinh thái là điều tất yếu không thể tránh
khỏi, vì cho đến nay, quả đất mẹ vẫn là hành tinh xanh
duy nhất cung cấp nguồn sống cho muôn loài sinh vật theo sự
khám phá của khoa học hiện đại.
(Trích
Nguyệt san Giác Ngộ, số 63, 06-2001)