Tiểu
Bộ Kinh - Chuyện Tiền Thân
Chuyện
Lộc Vương hoan hỷ
(
số 385, Tiền thân Nandiyamiga )
"Bà
la môn, Ngài có vào ngự uyển..."
Bậc
Đạo Sư kể chuyện này tại Kỳ Viên về một Tỳ kheo phụng
dưỡng mẹ mình. Ngài hỏi vị Tỳ kheo:
-Có
thật là ông phụng dưỡng người thế tục?
-Thưa
vâng, bạch Thế tôn.
-Họ
là ai?
-Bạch
Thế tôn, đó là cha mẹ con.
-Lành
thay, lành thay! Này Tỳ kheo, ông duy trì giới luật của các
trí nhân ngày xưa, vì chư vị ấy ngay khi được sinh làm súc
vật cũng hi sinh tính mạng vì cha mẹ.
Và
Ngài kể một câu chuyện quá khứ.
*
Ngày
xưa, lúc vua nước Kosala ngự trị dân chúng tại Saketa (tức
là Oudh), Bồ tát được sinh làm con nai. Khi lớn lên, Ngài
có tên là Nandiyamiga (Hỉ Lộc) với tính tình và đức hạnh
ưu thắng, Ngài phụng dưỡng song thân mình.
Bấy
giờ, vua Kosala có ý thích săn bắn, hàng ngày đi vào rừng
cùng một đoàn tuỳ tùng đông đảo, vì thế dân chúng không
thể làm nghề canh tác và thương mãi của họ được. Họ
tụ tập nhau bàn luận:
-Này
chư vị, đức vua của chúng ta đang huỷ hoại nghề nghiệp
của chúng ta, đời sống gia đình ta đang tàn tạ, nên chăng
là chúng ta phải rào lâm viên Anjanavana lại, làm một cổng
lớn, đào một hồ nước và gieo cỏ mọc lên, rồi vào rừng
cầm gậy trong tay, đập vào các bụi rậm, như thế đuổi
được bầy nai ra và đưa chúng vào lâm viên ở như bầy bò
trong chuồng? Sau đó chúng ta đóng cổng lại, trình đức vua
việc ấy và đi làm công việc của chúng ta?
Đó
là cách ta phải làm. Họ bảo nhau.
Và
họ đồng ý chuẩn bị lâm viên sẵn sàng, rồi vào rừng
vào một khoảng rộng, mỗi bề một dặm. Lúc ấy Nandiya đã
đem cha mẹ vào một bụi cây nhỏ và nằm xuống đất. Dân
chúng cầm khiêng mộc, vũ khí bao vây bụi rậm kề sát nhau,
một vài người bước vào tìm. Nai Nandiya thấy họ liền nghĩ:
"Thật tốt là ta sẽ hi sinh tính mạng hôm nay để cứu cha
mẹ". Như thế, nai đứng dậy cha mẹ và nói:
-Thưa
cha mẹ, đám người này sẽ trông thấy cả ba chúng ta nếu
họ vào trong bụi, cha mẹ chỉ có thể sống sót được bằng
cách duy nhất, và mạng sống cha mẹ là tối thượng: con sẽ
hi sinh tính mạng của con vì cha mẹ, bằng cách đứng bên
bờ bụi cây và chạy ra ngay khi họ đập vào bụi, sau đó
họ sẽ nghĩ rằng chỉ có mộy con nai nhỏ trong bụi cây nhỏ
này thôi, và sẽ không bước vào trong. Vậy cha mẹ hãy cố
hết sức thận trọng".
Thế
là nai xin được phép đứng lên sẵn sàng chạy ra.
Ngay
khi bụi cây bị đám người đứng bên bờ đập mạnh và
la hét, nai vụt chạy ra nên bọn họ nghĩ rằng chỉ có một
con nai trong ấy và không bước vào trong. Nandiya cùng đi với
đám nai kia, được đám người ấy xua vào trong lâm viên,
rồi họ dóng cổng lại và trình lên đức vua xong xuôi, họ
trở về nhà.
Từ
đấy, bao giờ vua cũng tự mình đi bắn nai và tự vua mang
nai về hoặc truyền người đi tìm nó và mang về.
Bầy
nai chuẩn bị chờ đến phiên mình, con nào đến phiên phải
đứng sang một bên, rồi họ mang nó đi khi nó bị bắn chết.
Nandiya cứ uống nước trong hồ và ăn cỏ, nhưng chưa đến
phiên mình. Nhiều ngày sau, cha mẹ ngài mong muốn được gặp
con, liền nghĩ: "Con ta Nandiya là lộc vương, mạnh khỏe như
voi và hoàn toàn tráng kiện. Nếu còn sống chắc chắn nó
sẽ nhảy rào về thăm chúng ta rồi".
Vì
thế hai vị đứng bên vệ đường, vừa thấy một Bà la môn
liền hỏi bằng giọng người:
-Thưa
Tôn giả, Ngài đi đâu thế?
-Đi
Sàketa. Vị ấy đáp.
Nghe
vậy, hai vị muốn nhắn đôi lời cho con bèn ngâm vần kệ
đầu:
Bà
la môn, Ngài có vào ngự uyển,
Khi
ngài đi qua sứ Oudh, kinh đô,
Xin
tìm Nan-di yêu dấu của ta,
Và
nhắn gửi một đôi lời chân thật,
Qua
tháng năm cha mẹ vì kiệt lực,
Lòng
khao khát mong mỏi đợi con về.
Vị Bà
la môn bảo:
-Được
lắm! Và nhận lời.
Ngày
hôm sau, vị ấy đi đến Sàketa, vào vườn ngự uyển hỏi
lớn:
-Nai
nào là Nandiya?
Nai
chúa đến gần vị ấy, bảo:
-Ta
đây.
Vị
Bà la môn nói lại lời nhắn kia, Nandiya nghe vậy đáp:
-Này
Bà la môn, ta có thể ra đi. chắc chắn ta có thể nhảy rào
trốn đi. Song ta thọ hưởng thức ăn nước uống của đức
vua và việc ấy đối với ta như một món nợ. Ngoài ra, ta
đã sống lâu nay với bầy nai này, thật không hợp lí nếu
ta đi mà không làm lợi ích cho đức vua và bầy nai nữa, hoặc
không chứng tỏ sức mạnh của ta. Vậy khi nào đến phiên
ta, ta sẽ làm lợ ích cho cả người lẫn vật, rồi an vui
trở về.
Để
giải thích điều này ngài ngâm hai vần kệ:
Ta
đội ơn vua, ăn uống tràn trề,
Chưa
đi được, chờ khi làm ích lợi
Trước
cung vua, ta sẽ giơ sườn đợi,
Rồi
về thăm cha mẹ để thanh minh.
Vị Bà
la môn nghe lời này bèn bỏ đi.
Sau
đó, vào ngày đến lượt nai chúa, vua cùng đoàn tuỳ tùng
đông đảo vào vườn ngự uyển. Bồ tát đứng sang một bên.
Vua bảo:
-Ta
sẽ bắn nai này.
Và
vua lắp một mũi tên nhọn vào dây cung.
Bồ
tát chẳng bỏ chạy như các con nai khác khi sợ chết, mà lòng
đầy can đảm và lấy từ ái làm kim chỉ nam. Ngài đứng
yên phô bày bộ xương sườn thật cường tráng.
Do
động lực của từ tâm, vua không thể thả mũi tên ra. Bồ
tát bảo:
-Tâu
đại vương, tại sao đại vương không bắn? Xin hãy bắn đi.
-Này
lộc vương, trẫm không thể bắn được.
-Tâu
đại vương, thế thì xin hãy xem các công đức của vị giữ
giới hạnh.
Sau
đó vua hoan hỉ với lời bồ tát, liền thả cung xuống và
bảo:
-Khúc
gỗ vô tri giác này không biết đức độ của ngươi, chứ
trẫm là người có tri giác lẽ nào alị không hiểu? hãy tha
thứ cho trẫm, nay trẫm cho ngươi được bình an.
-Tâu
đại vương, ngài cho ta được bình an, song còn cả đàn nai
trong ngự viên này thì sao?
-Trẫm
cũng sẽ cho chúng bình an nữa.
Như
vậy, sau khi tạo được bình an cho tất cả bầy nai trong lâm
viên, chim muông trên trời và bầy cá dưới nước, theo cách
được miêu tả trong tiền thân Nigrodhamiga (số12), Bồ tát
làm cho vua an trú vào ngũ giới và bảo:
-Tâu
đại vương, tốt lành thay cho một đức vua cai trị quốc
độ bằng cách từ bỏ mọi ác đạo, không xâm phạm "Thập
vương pháp" (mười đức tính của vi vua) và hành động chân
chánh:
Bố
thí, nhân từ, đức hạnh, công bình,
Thân
ái, nhu mì, ôn hoà, nhẫn nhục,
Ăn
năn, bi mẫn là mười giới giới đức
Ta
thấy luôn vững chắc ở trong tâm.
Từ
đó khởi sinh cả một từ ân
Thật
hoàn thiện và nội thân an lạc.
Cùng
với những lời này, ngài nêu rõ mọi đức tính của vị
vua hiền qua hình thức một bài kệ.
Sau
vài ngày ở lại cùng nhà vua, ngài ra lệnh truyền một chiếc
trống bằng vàng đi khắp kinh thành, công bố lời hứa bình
an cho mọi loài. Sau đó ngài bảo:
-Xin
đại vương hãy cẩn trọng phòng hộ.
Rồi
ngài ra về thăm cha mẹ.
Xưa
ta chính là lộc vương trong xứ Oudh,
Tánh
và danh Hoan hỉ, Nan-di
Muốn
giết ta trong ngự uyển, ngày kia
Đức
vua đến, tên nằm yên trên dây sẵn,
Ta
phơi sườn trước tên vua đòi bắn
Rồi
về thăm cha mẹ để thanh minh.
Đây
là những vần thi kệ phát sinh từ Tối Thắng Trí của đức
Phật.
*
Khi
chấm dứt pháp thoại, bậc Đạo Sư tuyên thuyết các thánh
đế và nhận diện tiền thân. Lúc kết thúc các thánh đế,
vị Tỳ kheo phụng dưỡng cha mẹ đã được an trú vào sơ
quả(Dự lưu).
Thời
ấy, song thân là phụ vương và mẫu hậu trong hoàng gia, vị
Bà la môn là Sàriputta (Xá lợi phất), vua là Ànanda(A nan) và
ta chính là Lộc vương ấy.
-ooOoo-
Nhận
xét:
Lòng
hiếu thảo đối với cha mẹ là một trong những đề tài
chính của bộ Jàtaka được đức Phật đề cao qua nhiều
chuyện quá khứ lẫn hiện tại.
Thông
thường, một Tỳ kheo xuất gia từ giã gia đình không còn
những hệ luỵ của thế gian để vị ấy có thể chuyên tâm
tu tập con đường giải thoát giác ngộ. Tuy nhiên, nếu vị
ấy còn cha mẹ già không nơi nương tựa, thì vị ấy cũng
có thể phụng dưỡng cha mẹ mình mà không bị đức Phật
khiển trách như nhiều người lầm tưởng và đem rình ngài
câu chuyện ấy. Trái lại, khi nghe thuật lại việc một Tỳ
kheo còn phụng dưỡng cha mẹ già, Ngài còn tán thán hiếu
hạnh ấy cùng khuyên can các vị đồng phạm hạnh của vị
ấy chớ nên bất mãn, và sau đó, Ngài kể những chuyện quá
khứ chứng minh hiếu hạnh là một trong những đức tính tốt
đẹp nhất của các loài hữu tình có trí tuệ, và ngay khi
còn ở kiếp xúc sinh, Bồ tát cũng đã từng nêu tấm gương
cao cả sáng ngời để cảm hoá mọi loài, đặc biệt là loài
người.
Lòng
hiếu thảo quả thật là đặc tính của những chúng sinh có
trí tuệ, vì thế rất hiếm thấy ở loài vật thông thường
chỉ có bản năng thương yêu con của chúng mà thôi. Tuy nhiên,
Bồ tát tiền thân đưc Phật với hạnh nguyện đại bi cứu
độ muôn loài chúng sinh, đã thể hiện đặc tính ấy qua
nhiều hình thức tái sinh khác nhau, điển hình là hình thức
nai chúa Hoan Hỉ trong tiền thân này.
Với
bản tính và danh xưng đều là hoan hỉ, Bồ tát sẵn sàng
hi sinh thân mạng để cứu cha mẹ và muôn loài theo khả năng
kì diệu của mình.
Khi
nghe vua muốn bắn nai để ăn thịt, Bồ tát tìm cách đánh
lừa thợ săn để cha mẹ được thoát nạn, còn ngài vẫn
an vui đợi ngày bị hành hình chứ không bỏ trốn. Dù nai
chúa có đủ tài trí và sức mạnh để thoát khỏi vòng vây
trong ngự uyển, ngài vẫn ở lại đó để đợi dịp trả
ân vua đã cho mình ăn uống trong một thời gian, đồng thời
có thể dùng tâm từ giáo hoá vua và cứu cả bầy nai.
Do
động lực từ tâm của Bồ tát đối với muôn loài, Ngài
tỏ ra vô cùng can đảm trước mũi tên của vua đang sẵn sàng
lao tới, vua không thể nào bắn nai như đã dự định. Trái
lại, vua cảm thấy ân hận vì ác tâm của mình đối với
thú vật lâu nay, nên đã ra lệnh tha chết cho muôn loài ở
trong quốc độ mình.
Sau
đó vua được Bồ tát an trú vào ngũ giới, từ bỏ ác đạo,
và vua được Ngài dạy Thập vương pháp để trị nước đúng
tư cách của bậc minh quân suốt đời làm thiện sự để
đem alị an lạc cho dân chúng tái sinh cõi lành đời sau.
Và
câu chuyện kết thúc với sự trở về an toàn của Bồ tát
bên cạnh cha mẹ mình trong niềm hoan hỉ của mọi loài.
(Trích
Nguyệt san Giác Ngộ số 60, 03-2001)