XXVI.
Phẩm Bà La Môn (2)
23.
Bốn Vị Sa Di
Thân
thiện giữa thù địch ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến bốn vị Sa-di.
Bà
vợ của người Bà-la-môn nọ sửa soạn một bữa ăn cho bốn
vị Sa-môn được đặc biệt chọn mời. Bà bảo ông chồng:
-
Ông hãy đến tinh xá và bảo họ chọn cho bốn vị Bà-la-môn
lão thành, rồi rước về nhé!
Ông
Bà-la-môn đến tinh xá, thưa:
-
Xin chọn cho bốn vị Bà-la-môn và đưa họ ra gặp tôi.
Những
vị được chọn rơi nhằm bốn chú Sa-di mới lên bảy tuổi
nhưng đã đắc quả A-la-hán, gồm các Tôn giả Samkicca,
Pandita, Sopàka và Revata. Bà vợ người Bà-la-môn chuẩn
bị các chỗ ngồi rất lộng lẫy, sang trọng và đứng chờ.
Vừa thấy bóng các Sa-di, bà đã giận sôi lên, nổ một tràng
dài nghe như muối kêu trên lò lửa:
-
Ông đến tinh xá mà đưa về bốn đứa trẻ nít chẳng lớn
bằng cháu chắt ông.
Bà
không chịu mời các chú ngồi lên chỗ đã soạn sẳn, lại
trải chỗ ngồi khác thấp hơn và kêu họ:
-
Ngồi đây này!
Xong
bà bảo ông chồng:
-
Ông ơi, ông đi mời vài vị Sa-môn lão thành về đây.
Ông
Bà-la-môn đến tinh xá, gặp Tôn giả Xá-lợi-phất, thưa:
-
Xin mời Ngài về nhà tôi.
Ông
đưa Tôn giả về nhà. Thấy các vị Sa-di ngồi đó, Tôn giả
hỏi:
-
Các Sa-môn này đã thọ trai chưa?
-
Dạ, chưa.
Khi
biết chủ nhà chỉ nấu bốn phần ăn, Tôn giả nói:
-
Xin mang trả bát cho tôi.
Rồi
Tôn giả ôm bát, rồi nhà ông Bà-la-môn. Bà vợ hỏi:
-
Thầy ấy nói gì thế?
-
Thầy nói:"Các viï Sa-môn ngồi đây đáng được thọ nhận
vật thực. Xin trả bát cho tôi". Nói xong thầy ấy cầm bát
và đi về.
Bà
vợ bảo:
-
Chắc ổng không muốn ăn, thôi ông đi mau lên, kiếm một vị
Sa-môn khác đưa về đây.
Ông
Bà-la-môn trở lại tinh xá lần nữa, và gặp Tôn giả Mục-kiền-liên,
cũng thưa như trước và dẫn Tôn giả về nhà. Ngài Ðại
Mục-kiền-liên thấy các chú Sa-di, cũng hỏi y như Tôn giả
Xá-lợi-phất và cầm bát đi thẳng. Bà vợ nói:
-
Các Tôn giả này không muốn thọ trai. Ông hãy đến tinh xá
lần nữa đi, và chỉ mời vị Sa-môn lão thành thôi.
Bấy
giời các Sa-di từ sáng sớm chưa có hột cơm nào vào bụng.
ngồi đói run rẩy. Do sức mạnh của phước đức họ, ngai
trời Ðế Thích nóng lên. Ngài tìm hiểu nguyên nhân, thấy
nhóm Sa-di ngồi từ sáng đang đói lả người đến kiệt sức,
liền nghĩ: "Ta có nhiệm vụ phải đến đấy". Ngài cải trang
thành một Sa-môn già lọm khọm, đến tinh xá và ngồi vào
chỗ dễ thấy nhất giữa các vị Sa-môn. Ông Bà-la-môn trông
thấy Ðế Thích, nghĩ: "Mụ vợ ta hẳn sẽ hài lòng". Ông
mời Ðế Thích về nhà. Bà vợ vừa trông thấy Ðế Thích
liền tươi cười hớn hở, lấy thảm và chiếu đôi phủ
lên một chỗ ngồi, mời chào rối rít:
-
Kính bạch Ðại đức tôi quí, xin mời Ngài an tọa.
Ðế
Thích vào nhà liền đến đảnh lễ bốn vị Sa-di, năm vóc
gieo sát đất, rồi Ngài kiếm chỗ ngồi kiết già dưới đất
gần mé bộ ván thấp nơi các chú đang ngồi.
Bà
vợ ông Bà-la-môn thấy thế, nói:
-
Ðúng là ông rước về nhà một vị Sa-môn thiệt đó. Ông
đưa về vị này lớn bằng cha ông mà thầy ấy lại đi chào
các chú Sa-di tuổi bằng cháu chắt ổng. Ta đâu cần người
như ổng. Ðuổi ổng ra đi!
Ông
Bà-la-môn nắm vai Ðế Thích, rồi kéo tay, đẩy lưng,ráng
sức lôi Ngài ra ngoài, nhưng Ðế Thích ngồi không nhúc nhích.
Bà vợ bảo:
-
Ông nắm một tay, tôi sẽ nắm tay kia.
Hai
ông bà nắm cả hay tay Ðế Thích, hì hục đẩy sau lưng, ráng
lôi được Ngài ra khỏi cửa. Nhưng Ðế Thích hóa phép ngồi
yên chỗ cũ, hai tay vẫy lia lịa chào họ.
Hai
ông bà trở vào thấy Ngài ngồi y đó thì sợ hãi, ré lên
khủng khiếp và đề Ngài tự do. Bấy giờ Ðế Thích cho biết
Ngài là ai. Hai ông bà liền mời khách thọ trai. Xong xuôi,
năm vị khách từ giã. Một vị Sa-di bay xuyên qua nóc nhà.
Vị thứ hai xuyên qua mái trước, vị thứ ba tung mái sau, vị
thứ bốn chui xuống đất, còn Ðế Thích thì ra bằng một
ngõ khác nữa. Cứ thế, năm vị mỗi vị rời ngôi nhà kia
một kiểu. Từ đó ngôi nhà được biết đến với tên "Nhà
có năm cửa.
Các
vị Sa-di về tinh xá, các thầy Tỳ-kheo hỏi:
-
Sao? Chư huynh đi thọ trai thế nào?
-
Thôi, xin chư huynh chớ hỏi nữa! Vợ ông Bà-la-môn vừa thấy
chúng đệ đã nổi giận đùng đùng. Bà không cho chúng đệ
ngồi vào chỗ dọn sẳn, mà bảo ông chồng: "Ông mau mau đi
rước cho một vị Sa-môn lão thành". Thầy tế độ của chúng
đệ đến, thấy chúng đệ đó liền nói: "Các vị Sa-môn
đang ngồi đây cần được cúng dường cơm". Nói xong, Tôn
giả yêu cầu trả bát rồi đi. Bà vợ lại nói: "Ông làm
ơn đi rước cho một vị Sa-môn lão thành khác". Ông chồng
đưa Tôn giả Mục-kiền-liên về nhà. Khi thấy chúng đệ,
Tôn giả lại nói y như Tôn giả Xá-lợi-phất và đi luôn.
Bà vợ bảo chồng: "Các vị Tôn giả này không muốn thọ
trai. Ông Bà-la-môn ơi, ông hãy đến tinh xá và rước cho tôi
một vị Sa-môn lão thành thôi". Ông chồng lần này rước
đúng Ðế Thích cải trang Sa-môn dẫn về. Lúc ấy, hai ông
bà mới cho chúng đệ ăn.
-
Nhưng thế chư huynh không giận sao?
-
Không, chúng đệ chẳng giận.
Các
thầy Tỳ-kheo nghe họ trả lời, bèn đến bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, các Sa-di này nói "chúng tôi không giận" là
nói dối.
Ðức
Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, người đã trừ được lậu hoặc chẳng
kháng cự kẻ chống đối họ.
Ngài
nói kệ:
(406)
Thân thiện giữa thù địch,
Ôn
hòa giữa hung hăng,
Không
nhiễm, giữa nhiễm trước,
Ta
gọi Bà-la-môn.
24.
TônGiả Ðại Bàn-Ðặc Có
Còn Tham, Sân Không?
Người
bỏ rơi tham, sân ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm,
liên quan đến Tôn giả Ðại-bàn-đặc (Big Wayman)
Khi
Tôn giả Châu-lợi-bàn-đặc (Little Wayman) ba tháng không thuộc
nổi một bài kệ, anh của Ngài là Tôn giả Ðại Bàn-đặc
đuổi Ngài ra khỏi tinh xá, đóng cửa lại rồi bảo:
-
Chú thiếu khả năng, không hiểu nổi Phật pháp, còn hạnh
phúc thế gian chú cũng rời bỏ rồi. Ðâu còn lý do gì để
chú tiếp tục ở lại đây? Chú hãy đi đi.
Các
thầy Tỳ-kheo bàn tán về chuyện ấy, nói:
-
Này chư huynh, Tôn giả Ðại Bàn-đặc làm thế này thế nọ.
Chắc chắn ngay cả những vị đã xa lìa cấu nhiễm thỉnh
thoảng vẫn còn sân hận.
Lúc
ấy, đức Phật đi đến hỏi:
-
Này các Tỳ-kheo, các ông tụ hội ở đây bàn tán việc gì?
Các
thầy bạch lên Phật vấn đề. Ngài dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, không phải đâu. Những kẻ đã xa lìa cấu
nhiễm trong tâm chẳng còn các hoặc, tham, sân và si. Ông ấy
hành động như vậy chỉ vì ông đặt Phật pháp, và tinh thần
Phật pháp lên trên tất cả.
Ngài
nói kệ:
(407)
Người bỏ rơi tham, sân
Không
mạn, không ganh tị.
Như
hột cải đầu kim
Ta
gọi Bà-la-môn.
25.
Sức Mạnh Tập Khí
Nói
lên lời ôn hòa ...
Thế
Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên
quan đến Tôn giả Pilindavaccha.
Thượng
tọa Pilindavaccha dường
như có thói quen nói năng với cư sĩ và Sa-môn bằng những
lời lẽ chỉ dùng để gọi những kẻ lang thang cầu bơ cầu
bất.
-
Này đến đây, cha nội!
Hoặc:
-
Thôi đi đi, lão đê tiện.
Một
hôm, nhiều thầy Tỳ-kheo đến phàn nàn với đức Phật về
hành vi của Tôn giả. Các thầy nói:
-
Bạch Thế Tôn, Thượng tọa Pilindavaccha gọi
các thầy Tỳ-kheo bằng những từ chỉ dùng cho hạng đầu
đường xó chợ.
Ðức
Phật cho gọi Tôn giả đến, hỏi:
-
Có người nói lỗi ông là đã gọi các Tỳ-kheo bằng những
cử chỉ dùng cho hạng đầu đường xó chợ. Có không, Vaccha?
-
Bạch Thế Tôn, có ạ! Con có lỗi ấy.
Ðức
Phật nhớ lại xem các kiếp trước vị Thượng tọa đó đã
ở đâu, rồi Ngài bảo các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, các ông đừng giận Tỳ-kheo Vaccha.
Chẳng phải ông Vaccha còn
nuôi lòng hận ghét bên trong mà nói năng với Tỳ-kheo huynh
đệ như thế đâu. Thực tế là ông ấy đã qua năm trăm kiếp
tái sanh vào nhà một người Bà-la-môn, và ông ấy đã sử
dụng loại ngôn từ này quen thuộc trong suốt một thời gian
lâu dài đến nỗi giờ đây nói với ai cũng thế, chỉ do
sức mạnh của tập khí thôi. Người đã trừ được lậu
hoặc chẳng bao giờ dùng lời lẽ thô bỉ, độc ác, chẳng
bao giờ nói những lời khiến người vừa nghe liền thấy
tổn thương. Chi do sức mạnh tập khí mà người đệ tử
ấy của Ta nói năng kiểu ấy.
Ngài
nói kệ:
(408)
Nói lên lời ôn hòa,
Lợi
ích và chân thật,
Không
mất lòng một ai,
Ta
gọi Bà-la-môn.
26.
Thầy Tỳ Kheo Bị Kết Tội Trộm Cắp
Ở
đời vật dài, ngắn ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến một thầy Tỳ-kheo.
Tại
thành Xá-vệ, có một người Bà-la-môn mang nặng tà kiến,
một hôm vì sợ tấm vải choàng ngoài của mình có mùi mồ
hôi, bèn cởi ra để ở ngoài, rồi ngồi quay mặt vào nhà
mình. Lúc ấy, có một vị Sa-môn đã đắc A-la-hán, sau khi
thọ trai đang đi về tinh xá , thấy tấm vải và nhìn quanh
không có ai, thầy nghĩ nó vô chủ liền lượm nó như thầy
từng lượm vải rách bị liệng bỏ, và cầm đi. Ông Bà-la-môn
trông thấy liền đi đến mắng chửi Tôn giả:
-
Này lão Tỳ-kheo đầu trọc kia, ngươi lấy tấm vải của
ta đấy.
-
Này Bà-la-môn, tấm vải này của ông ư?
-
Ðúng.
-
Tôi nhìn quanh không thấy ai, tưởng nó là đồ bỏ đi liền
nhặt lấy. Ðây, trả ông.
Nói
rồi Tôn giả đưa tấm vải cho ông Bà-la-môn. Khi về tinh
xá, thầy kể chuyện cho các thầy Tỳ-kheo nghe. Các thầy bèn
trêu Tôn giả:
-
Này huynh, tấm vải huynh nhặt dài hay ngắn, thô hay mịn?
-
Thưa chư huynh, tôi chẳng cần biết nó dài hay ngắn, thô hay
mịn. Tôi không tham đắm nó. Tôi nhặt chỉ vì nghĩ nó là
đồ người ta bỏ, thế thôi.
Các
thầy nghe nói vậy bèn bạch Phật câu chuyện, và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, thầy Tỳ-kheo này nói dối.
Ðức
Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, không phải đâu. Tỳ-kheo này đã nói rất
thật. Kẻ nào trừ được lậu hoặc không lấy vật người
khác.
Ngài
nói kệ:
(409)
Ở đời, vật dài, ngắn,
Nhỏ,
lớn, đẹp hay xấu,
Phàm
không cho không lấy,
Ta
gọi Bà-la-môn.
27.
Tôn Giả Xá Lợi Phất Bị Hiểu Lầm.
Người
không có hy cầu ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Xá-lợi-phất.
Một
thời nọ, Tôn giả Xá-lợi-phất cùng năm trăm Tỳ-kheo đến
kiết hạ an cư tại một tinh xá và ở đấy suốt ba tháng
an cư. Dân chúng trông thấy Tôn giả liền đến hứa xin cúng
dường tứ sự. Nhưng sau khi Tôn giả cử hành xong lễ Tự
tứ rồi, các vật dụng cúng dường vẫn chưa được mang
đến hết. Trước lúc lên đường về gặp đức Thế Tôn,
Tôn giả dặn dò các Tỳ-kheo ở lại:
-
Khi nào người ta đem các món cúng dường kia đến cho các
Tỳ-kheo trẻ và Sa-di, xin các thầy nhận và gởi đi dùm. Còn
nếu họ không đem đến, cũng xin các thầy làm ơn nhắn giúp
tôi một tiếng.
Xong,
Tôn giả đi về chỗ đức Phật ở.
Các
thầy Tỳ-kheo bàn tán:
-
Nghe những lời Tôn giả Xá-lợi-phất nói hôm nay, cũng thấy
lòng tham còn rơi rớt nơi ông ấy. Tôn giả còn dặn về những
món người ta cúng dường cho các Tỳ-kheo cùng đoàn mình:
"Xin các thầy gởi đi dùm, hoặc không thì làm ơn nhắn giúp
tôi một tiếng!".
Lúc
ấy đức Phật đi đến, hỏi:
-
Này các Tỳ-kheo, các ông tụ hội ở đây bàn tán chuyện
gì?
Các
thầy Tỳ-kheo thưa câu chuyện. Ðức Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, con Ta không còn tham. Trong tâm ông ấy chỉ
nghĩ: "Mong rằng các thí chủ không bị mất phước, mong rằng
các Tỳ-kheo trẻ và Sa-di không bị thất thoát những lợi
dưỡng cao quý". Do vậy ông ấy mới dặn dò như thế.
Ngài
nói kệ:
(410)
Người không có hy cầu,
Ðời
này và đời sau,
Không
hy cầu, giải thoát,
Ta
gọi Bà-la-môn.
28.
Tôn Giả Mục Kiền Liên Bị Hiểu Lầm
Người
không còn tham ái ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Mục-kiền-liên.
Câu
chuyện tương tự như chuyện trên. Kết cuộc, biết Tôn giả
Mục-kiền-liên đã dứt được tham ái, Phật nói kệ:
(411)
Người không còn tham ái,
Có
trí, không nghi hoặc,
Thế
nhập vào bất tử,
Ta
gọi Bà-la-môn.
29.
Bỏ Cả Tốt LẫnXấu
Người
sống ở đời này ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Pubbàràma,
liên quan đến Tôn giả Revata.
Câu
chuyện này đã được kể đầy đủ chi tiết trong phần chú
giải bài kệ bắt đầu với câu: "Làng mạc hay núi rừng".
Chuyện kể tiếp rằng:
Lại
một hôm các thầy Tỳ-kheo bàn tán trong pháp đường:
-
Ôi, vị Sa-di đó được lợi lạc lớn lao biết mấy! Ôi!
Phước đức của chú thật vô lượng vô biên! Tưởng tượng
một người mà xây dựng được năm trăm chỗ ở cho năm trăm
thầy Tỳ-kheo.
Lúc
ấy, đức Phật đi đến, hỏi:
-
Này các Tỳ-kheo, các ông tụ hội ở đây bàn tán việc gì?
Các
thầy bạch Phật câu chuyện. Ngài dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, Revata chẳng
có phước hay vô phước. Người ấy đã buông bỏ cả hai.
Ngài
nói kệ:
(412)
Người sống ở đời này,
Không
nhiễm cả thiện ác,
Không
sầu, sạch không bụi,
Ta
gọi Bà-la-môn.
30.
Tôn Giả Nguyệt Quang
Như
trăng, sạch không uế..
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Nguyệt Quang, Candàbhà.
Chuyện
quá khứ:
30A.
Người Thợ Rừng Cúng Dường Chiếc Ðĩa Mặt Trăng
Thuở
lâu xa thời quá khứ, có một thương gia sống ở Ba-la-nại,
một hôm tự bảo: "Ta sẽ đi về vùng biên giới kiếm gỗ
đàn hương". Ông mua thật nhiều quần áo, đồ trang sức.v.v.
dẫn theo năm trăm cỗ xe đi về vùng biên địa, dừng lại
nghỉ đêm tại một cổng làng, và hỏi các cậu bé chăn bò
trong rừng:
-
Trong làng này có ai làm nghề đi rừng không?
-
Có
-
Ông ta tên gì?
-
Tên như vậy, như vậy.
-
Vợ và con ổng tên gì?
-
Tên như thế, như thế.
-
Nhà ổng ở đâu?
-
Ở chỗ như vầy, như vầy.
Thương
gia ngồi trên cỗ xe thật êm, đi theo lời chỉ dẫn của các
chú bé, đến trước cửa nhà người thợ rừng liền xuống
xe, vào nhà hỏi thăm bà chủ nhà có phải tên nọ, tên kia
không.
Bà
chủ thầm nghĩ: "Ðây chắc bà con mình". Bà nhanh nhẩu đem
ghế mời ông ngồi. Thương gia lại nói tên ông chủ nhà,
hỏi thăm:
-
Ông bạn tôi đâu rồi?
-
Thưa Ngài, ông ấy đi rừng.
-
Các cháu A, cháu B đâu?
Ông
hỏi thăm tỉ mỉ từng người trong nhà, gọi tên đủ cả.
Xong, ông biếu tặng các thứ quần áo, đồ trang sức mang
theo, và bảo:
-
Khi nào ông bạn đi rừng về, xin trao áo quần và những món
này cho ông ấy.
Bà
chủ nhà hết sức trọng vọng, tôn kính thương gia. Chồng
vừa từ rừng về đến, bà nói:
-
Ông ơi, thương gia này mới đến thăm nhà mình đã hỏi han
đầy đủ từng người, biết hết tên tuổi, rồi tặng quà
thứ này thứ kia.
Người
thợ đi rừng cũng tiếp đãi thương gia lịch sự. Chiều tối,
thương gia nằm chơi trên chiếc chõng tre, hỏi chủ nhà:
-
Này bạn, những lúc đi quanh chân núi này, bạn có thấy gì
lạ không?
-
Không, chỉ thấy thấy có lắm cây màu đỏ.
-
Nhiều hả?
-
Vâng, nhiều.
-
Chúng ta hãy đi xem những cây đó.
Hai
người đến chân núi, chặt được vô số cây đàn hương
đỏ, chất hết lên năm trăm cỗ xe. Lúc quay về thành, thương
gia bảo anh thợ rừng:
-
Bạn ạ, nhà tôi ở Ba-la-nại, anh cứ đi như thế, như thế
sẽ kiếm ra. Thỉnh thoảng xin mời bạn hạ cố đến chơi.
Rồi
ông nói thêm:
-
Quà cáp tôi không quí gì hơn loại cây có cành màu đỏ này,
bạn nhớ mang cho tôi thứ ấy và chi thứ ấy thôi.
-
Dạ được.
Và
lâu lâu anh thợ rùng đi thăm thương gia, chỉ mang theo gỗ
đàn hương. Ðáp lại, thương gia tặng anh tiền bạc hậu
hĩ.
Khi
đức Phật Ca-diếp nhập Niết-bàn, một ngôi tháp vàng được
xây để thờ xá-lợi. Vào dịp ấy, anh thợ rừng mang thật
nhiều gỗ đàn hương đến Ba-la-nại. Ông bạn thương gia
liền lấy một số lớn gỗ ấy đem nghiền thành bột và
ông đổ đầy một đĩa bột gỗ đàn hương, bảo anh thợ
rừng:
-
Ði bạn, trong lúc chờ cơm chín, ta hãy đến chỗ đang xây
tháp.
Hai
người đến tháp thành kính dâng bột gỗ đàn hương cúng
dường xá-lợi Phật. Anh thợ rừng thì làm một chiếc đĩa
mặt trăng cũng bằng gỗ đàn hương và đặt trong tháp.
Chuyện
hiện tại:
30B.
Sa Môn Nguyệt Qauang
Khi
hết kiếp, anh thợ rừng được sanh lên cõi trời trong khoảng
thời gian giữa hai vị Phật Ca-diếp và Thích-ca. Vào thời
Phật hiện tại, anh thọ sanh ở Vương Xá, trong nhà một người
Bà-la-môn giàu có. Từ rốn cậu bé phát ra vòng hào quang lớn
bằng chiếc đĩa mặt trăng nên cậu được đặt tên Nguyệt
Quang, Candàhà.
Người ta nói đây là phước báo do anh đã cúng dường chiếc
đĩa mặt trăng kia ở trong tháp Phật.
Một
số Bà-la-môn nghĩ thầm: "Nếu chúng ta mang người này đi
theo sẽ chinh phục được cả thế giới". Thế rồi họ cho
anh ngồi lên một cỗ xe, mang đi khắp nơi, gặp ai cũng bảo:
"Kẻ nào lấy tay sờ vào thân người Bà-la-môn này sẽ nhận
được những quyền lực và những sự vinh hiển như thế,
như thế".
Người
ta trả một trăm đồng hoặc một ngàn đồng để được
đặc ân sờ vào người Nguyệt Quang. Cứ lang thang như thế,
một hôm họ vào thành Xá-vệ và nghỉ tại một nơi gần
tinh xá Kỳ Viên.
Lúc
ấy năm chục triệu thiện tín thành Xá-vệ đang cúng dường
chư Tăng trước bữa điểm tâm. Sau bữa điểm tâm họ mang
hương hoa, áo quần, thuốc men đến nghe Phật thuyết pháp.
Các người Bà-la-môn thấy, hỏi:
-
Các bạn đi đâu đó?
-
Ðến nghe đức Thế Tôn thuyết pháp.
-
Lại đây này! Ðến đằng kia được ích gì? Không có thần
thông nào hơn thần thông của Bà-la-môn Nguyệt Quang của chúng
tôi đây. Kẻ nào sờ vào thân vị ấy sẽ có những quyền
lực và những sự vinh hiển như thế, như thế. Hãy đến
chiêm ngưỡng.
-
Thần thông của ông Bà-la-môn các người thì thấm vào đâu.
Chỉ có đức Thế Tôn mới có đại thần thông thôi.
Hai
bên tranh cãi kịch liệt một hồi, rốt cuộc chẳng phe nào
thắng. Nhóm người Bà-la-môn đề nghị:
-
Chúng ta hãy đến tinh xá xem Nguyệt Quanh hay đức Thế Tôn
của các người, ai có đại thần thông.
Ðức
Phật vừa thấy Nguyệt Quang liền khiến cho vòng hào quang
biến mất, cho nên trước mặt đức Phật, anh chàng chẳng
hơn gì một con quạ nằm trong thúng than. Những người Bà-la-môn
vừa kéo Nguyệt Quang ra xa, vòng hào quang sáng rực trở lại
như trước. Họ mang anh đến trước Phật, vòng hào quang biến
mất. Cứ thế đến lần thứ ba, Nguyệt Quang thầm nghĩ: "Chắc
chắn vị này giở huyễn thuật làm cho vòng hào quang của
ta mất đi". Anh hỏi Phật:
-
Có phải Ngài biết chú thuật làm hào quang của tôi mất đi
không?
-
Ðúng, ta biết chú thuật ấy.
-
Xin Ngài hãy truyền chú thuật cho tôi.
-
Chú thuật này không truyền cho người thế tục được.
Nguyệt
Quang bèn nói với các người Bà-la-môn:
-
Chừng nào ta học được chú thuật sẽ trở thành nhân vật
siêu phàm nhất Diêm-phù-đề này. Các người hãy ở lại
chờ ta xuất gia, trong vài ngày thôi sẽ học được chú thuật.
Anh
xin Phật xuất gia làm Sa-môn.
Ðức
Thế Tôn dạy đề mục thiền quán về ba mươi hai thứ cấu
tạo nên thân, Nguyệt Quang hỏi:
-
Cái này là sao ạ?
Phật
dạy:
-
Trước khi học chú thuật kia, phải học qua cái này.
Lâu
lâu, những người Bà-la-môn lại đến hỏi:
-
Anh đã học xong chú thuật chưa?
-
Chưa, tôi còn đang học.
Chỉ
vài ngày sau anh đắc quả A-la-hán.
Nhóm
người Bà-la-môn đến nữa, anh bảo:
-
Thôi, các ông hãy đi đi. Ta đã đến một nơi không bao giờ
còn trở lại.
Các
vị Tỳ-kheo bạch lên Phật câu chuyện:
-
Bạch Thế Tôn, thầy Tỳ-kheo này nói dối!
Ðức
Phật bảo:
-
Này các Tỳ-kheo, ông ấy đã nói thật. Tỳ-kheo này không
còn tham đắm các thú vụi thế gian.
Phật
nói kệ:
(413)
Như trăng, sạch không uế,
Sáng
trong và tịnh lặng,
Hữu
ái được đoạn tận,
Ta
gọi Bà-la-môn.
31.
Bảy Năm Trong Bụng Mẹ
Vượt
đường nguy hiểm này ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang trú tại Kundadhàvana,
gần Kundakoli, liên
quan đến Tôn giả Sìli.
Thuở
ấy, bà Suppavàsà thuộc
dòng Câu-lợi, mang thai một đứa bé đến bảy năm. Lúc sanh
nở, vì đứa bé nằm lệch, bà bị những cơn đau xé ruột,
liền tự bảo: "Ðức Thế Tôn thật là bậc Giác ngộ Tối
thượng. Ngài đã giảng dạy cho ta con đường thoát những
khổ não như khổ này. Chúng tăng của Tăng đoàn đức Thế
Tôn quả thật là những vị rất tinh tấn. Các Ngài đã nỗ
lực diệt những khổ não như khổ này. Niết-bàn quả thực
là an lạc, không còn những khổ não như khổ này".
Bà
nhẫn chịu cơn đau nhờ những quán tưởng ấy. Rồi bà yêu
cầu chồng đến hầu Phật, nhân danh bà xin đảnh lễ Ngài.
Ðảnh lễ xong, ông bạch Phật nguyện ước của bà. Phật
nói:
-
Chúc bà Suppavàsà,
người phụ nữ trẻ dòng Câu-lợi, dồi dào sức khỏe. Chúc
bà sanh con trai, khỏe mạnh, hạnh phúc.
Phật
vừa chúc lành xong, bà Suppavàsà
liền sanh một cậu bé trông thật hồng hào, vui tươi. Sau
đó, bà thỉnh đức Phật cùng chư Tăng đến nhà cúng dường
long trọng suốt bảy ngày. Từ khi chào đời, con bà ngày ngày
lo việc lọc nước cho chư Tăng. Thời gian sau cậu xuất gia
làm Sa-môn và đắc A-la-hán.
Một
hôm các thầy Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường:
-
Chư huynh nghĩ coi! Một vị Sa-môn cao quí như vậy, đầy đủ
khả năng chứng A-la-hán, phải chịu khổ suốt bảy năm trong
bụng mẹ. Thầy ấy quả đã trải qua những thống khổ ghê
gớm.
Lúc
ấy, đức Phật đi đến hỏi:
-
Này các Tỳ-kheo, các ông tụ hội ở đây bàn tán chuyện
gì?
Các
thầy bạch Phật câu chuyện.
Phật
dạy:
Này
các Tỳ-kheo, đúng thật như vậy. Ông ấy giờ đây đã thoát
hết các khổ, đạt đến Niết-bàn an lạc.
Ngài
nói kệ:
(414)
Vượt đường nguy hiểm này,
Nhiếp
phục luân hồi, si,
Ðến
bờ kia thiền định,
Không
dục ái, không nghi,
Không
chấp trước, tịch tịnh,
Ta
gọi Bà-la-môn.
32.
Cô Gái Giang Hồ Quyến Rũ Thầy Tỳ Kheo Sundarasamudda
Ai
ở đời, đoạn dục ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời trên khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Mỹ Hải, Sundarasamudda.
Mỹ
Hải, Sundarasamudda Kumàra,
là một thanh niên người Xá-vệ, địa vị cao sang, sanh trưởng
trong một gia đình giàu có, tài sản lên đến ức triệu.
Một hôm, sau bữa ăn sáng, trông thấy dân chúng cầm hương
hoa đến tinh xá Kỳ Viên nghe pháp, chàng hỏi:
-
Các bạn đi đâu thế?
-
Ði nghe đức Thế Tôn thuyết pháp.
-
Tôi cũng đi nữa.
Chàng
theo họ vào ngồi ở mé ngoài của chúng hội. Ðức Phật
biết được tư tưởng chàng nên giảng pháp theo thứ lớp
từ thấp đến cao. Mỹ Hải nghĩ: "Thật không thể nào làm
chủ một gia đình mà giữ được phạm hạnh trọn vẹn thanh
tịnh, bóng ngời như chiếc vỏ sò".
Bài
pháp của Phật khiến chàng nức lòng, muốn xin xuất gia. Ðợi
chúng hội giải tán hết, chàng đến xin đức Phật cho gia
nhập Tăng đoàn. Phật dạy:
-
Như Lai chỉ nhận cho vào Tăng đoàn kẻ nào đã được cha
mẹ cho phép.
Về
đến nhà, cũng giống như chàng Ratthapàla và
những người khác, chàng nỗ lực ráo riết, xoay sở đủ
cách xin cho được phép của cha mẹ để xuất gia. Và chàng
cũng được làm Sa-môn, gia nhập Tăng đoàn đức Phật. Thành
Tỳ-kheo rồi, thầy làm tròn mọi bổn phận của một Tăng
sĩ. Một hôm, thầy nghĩ: "Ta ở lại đây phỏng có ích gì?".
Thầy rời Kỳ Viên, đến thành Vương Xá, ngày ngày đi khất
thực.
Một
hôm, thành Xá-vệ mở lễ hội lớn. Cha mẹ thầy trông thấy
bạn bè xưa của thầy vui chơi thỏa thích giữa các thứ xa
hoa của ngày hội huy hoàng thì lòng buồn rười rượi. Hai
ông bà khóc lóc, than thở:
-
Ôi, con ta ngày nay đâu được hưởng những thứ vui này!.
Khi
ấy, có một cô gái giang hồ sang trọng đến nhà họ chơi,
thấy bà mẹ khóc, liền hỏi:
-
Mẹ ơi, sao mẹ khóc?
-
Tôi nghĩ đến con trai tôi hoài nên khóc.
-
Nhưng thưa mẹ, anh ấy đâu?
-
Xuất gia rồi, đang ở với các thầy Sa-môn.
-
Chúng ta không thể kêu anh ấy về lại sao mẹ?
-
Cũng được đấy. Nhưng nó có chịu đâu. Nó đã rời Xá-vệ
đi Vương Xá rồi.
-
Giả sử con kêu anh ấy về, mẹ sẽ cho con gì nào?
-
Chúng tôi sẽ để cô làm nữ chủ gia sản này.
-
Tốt lắm, mẹ hãy cho con tiền lệ phí.
Nhận
được món tiền, cô mướn thật nhiều người hầy giúp việc,
rồi lên đường đến Vương Xá.
Cô
hỏi thăm con đường Tôn giả thường đi khất thực và mua
một ngôi nhà nơi đó để ở. Từ sáng sớm, cô lo chuẩn
bị những món ăn thầy thường thích, và khi thấy thầy đi
khất thực, cô đem đến cúng dường. Sau vài ngày, cô thưa:
-
Bạch Ðại đức, xin Ngài ngồi đây để dùng bữa.
Cô
đưa tay xin bình bát và Tôn giả vui vẻ trao liền. Cô dọn
cho thầy những món thật ngon, rồi thưa tiếp:
-
Bạch Ðại đức, hằng ngày đi khất thực, xin Ðại đức
cứ ghé lại đây. Ngài sẽ được vui lòng.
Dần
dần, cô dẫn dụ được thầy đến ngồi ở hàng hiên nhà
cô, dùng những món ăn thích khẩu.
Ít
hôm sau, cô kêu vài cậu bé vào cho ăn bánh để kết thân,
rồi bảo:
-
Này, mấy cháu! Khi nào thấy Tôn giả đến đây, các cháu
kéo nhau tới nhé. Cứ tung bụi lên rõ nhiều. Cô rầy bảo
thôi, các cháu cũng đừng thèm để ý.
Ngày
mai lại, trong lúc Tôn giả đang dùng bữa, bọn trẻ đến
đá bụi bay mù mịt. Cô chủ rầy la, bọn chúng vẫn trơ trơ.
Hôm sau nữa, cô thưa:
-
Bạch Ðại đức, tụi nhỏ này tung bụi mù mịt thế này.
Con rầy tụi nó cũng chẳng nghe. Xin Ðại đức vào trong nhà
ngồi.
Từ
đó, cô mời Tôn giả vào luôn trong nhà ngồi dùng bữa. Rồi
cô lại đút lót bọn trẻ, dặn:
-
Khi Tôn giả đang dùng bữa, các cháu chơi đùa thật ồn ào
lên nhé. Cô có bảo thôi, các cháu đừng để ý.
Bọn
trẻ làm y lời cô.
Hôm
sau nữa, cô thưa:
-
Bạch Ðại đức, chỗ này ồn ào hết chịu nổi. Con đã
làm đủ cách, bọn trẻ vẫn cứ ồn. Xin thỉnh Ðại đức
lên tầng trên.
Tôn
giả bằng lòng. Cô liền leo lên tầng cao nhất của ngôi biệt
thự, thúc hối thầy vào trước và cô theo sau đóng cửa lại.
Từ trước, Tôn giả luôn luôn theo đúng lệ chỉ thọ nhận
thực phẩm bằng cách khất thực từ cửa nhà này qua cửa
nhà khác. Nhưng bấy giờ, thầy bị con ma tham ăn quản thúc
ghê gớm đến nỗi nghe theo lời cô gái điếm, leo lên tận
tầng chót của ngôi nhà bảy tầng ấy. Cô mang ghế đến
cho thầy ngồi.
Cô
gái giang hồ trổ hết tài nghệ, giở tất cả thủ thuật
làm duyên của các bà để quyến rũ thầy Tỳ-kheo. Sau cùng,
cô đứng trước Tôn giả, đọc một đoạn thơ:
Móng
chân sơn đỏ chót,
Dép
lê kỹ nữ mang,
Xuân
xanh chàng đang độ,
Em
cũng cùng lứa trang.
Hạnh
phúc xin chung hưởng,
Chàng
sẽ là của em,
Nô
lệ chàng, em hứa,
Cùng
nhau sống ấm êm.
Rồi
sau ngày xuân mất,
Bỏ
cuộc chơi ta về,
Gậy
cầm tay cùng chống,
Tuổi
già ôi não nề.
Tôn
giả bỗng chợt tĩnh: "Hỡi ôi! Ta đã phạm trọng giới! Ta
đã hành động thiếu suy nghĩ". Thầy bàng hoàng lo sợ. Vừa
lúc ấy, đức Phật đang ở tại Kỳ Viên cách Tôn giả bốn
mươi lăm dặm. Ngài biết hết chuyện và mỉm cười. Tôn
giả A-nan hỏi:
-
Bạch Thế Tôn, vì sao Ngài cười?
-
Này A-nan, tại tầng lầu cao nhất của một tòa biệt thự
bảy tầng trong thành Vương Xá, đang xảy ra trận chiến giữa
thầy Tỳ-kheo Mỹ hải và một cô gái giang hồ.
-
Bạch Thế Tôn, ai sẽ thắng? Ai sẽ thua?
-
A-nan, thầy Tỳ-kheo Mỹ Hải sẽ thắng, cô gái giang hồ thua.
Nói
xong, vẫn an nhiên tại chỗ, đức Phật phóng quang ảnh hiện
thân đến trước Tỳ-kheo Mỹ Hải và nói:
-
Này Tỳ-kheo, hãy xa lìa các thứ tham ái, hãy cởi bỏ mọi
dục vọng.
Rồi
Ngài nói kệ:
(415)
Ai ở đời đoạn dục,
Bỏ
nhà, sống xuất gia,
Dục
hữu được đoạn tận,
Ta
gọi Bà-la-môn.
* Chú
Giải trong Nguyên Bản:Kẻ
nào ngay trong đời này diệt trừ được hai thứ tham ái, xa
lìa thế tục, kẻ đã dập tắt lửa tham dục, đoạn dứt
sanh tử, ta gọi kẻ ấy là Bà-la-môn.
Phật
nói kệ xong, Tôn giả Mỹ Hải đắc A-la-hán, dùng thần thông
bay lên trời, xuyên qua nóc nhà cô gái điếm, trở lại thành
Xá-vệ, đảnh lễ tán thán Phật thân.
Hôm
ấy, các thầy Tỳ-kheo tụ họp bàn tán trong Pháp đường:
-
Này chư huynh, chỉ vì vị ngon ngọt của lưỡi mà Tôn giả
Mỹ Hải suýt nữa tiêu vong, may nhờ đức Thế Tôn giải cứu.
Ðức
Phật nghe vậy, bảo:
_
Này các Tỳ-kheo, đây chẳng phải lần đầu tiên ta giải
cứu ông ấy thoát khỏi dây trói buộc của vị trần. Trong
một kiếp trước cũng đã xảy ra chuyện tương tự.
Theo
lời thỉnh cầu của chúng Tỳ-kheo, muốn sáng tỏ vấn đề,
Ngài kể chuyện:
Chuyện
quá khứ:
Cơn
Linh Dương Bị Sa Bẫy Mật, Truyện Tiền Thân Vàtamiga.
(Sanjaya,
vị quan coi vườn Thượng uyển của vua xứ Ba-la-nại, bôi
mặt lên cỏ để nhử một con linh dương hoang vào vườn.
Sau đó, ông dùng mật nhử tiếp linh dương vào cung vua và
bắt được nó).
Người
đời có câu rằng:
Không
gì nguy hiểm hơn,
Cuốn
lôi của vị giác,
Dù
đang ở gia đình,
Hay
tại nhà bạn hữu.
Dùng
miếng ngon mồi bẫy,
Sanjaya
nhử luôn,
Linh
dương vô cung cấm,
Nhốt
chân, chạy hết đường.
Ðức
Phật kể xong chuyện tiền thân Vàtamiga liền
giải thích:
-
Lúc ấy Tỳ-kheo Mỹ Hải là con linh dương, vị quan đại thần
nói câu kệ khiến linh dương được thả chính là Ta.
(Xem
tiếp Phần 3)