XXVI.
Phẩm Bà La Môn
1.
Bà La Môn Ðại Hỉ
Hãy
tinh tấn đoạn dòng ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên
quan đến Bà-la-môn Ðại Hỉ, Pasàdabahula.
Một
hôm, sau khi nghe Phật thuyết pháp, một vị Bà-la-môn hoan hỉ
đến nỗi từ đó đều đặn mỗi ngày ông thỉnh mười sáu
vị Tỳ-kheo đến nhà cúng dường. Mỗi khi các thầy đến,
ông ra đón, đỡ bình bát và mời:
-
Xin cung thỉnh Ngài A-la-hán vào. Xin mời Ngài A-la-hán ngồi.
Dù
thưa thỉnh với bất cứ thầy Tỳ-kheo nào, ông đều xưng
tụng là A-la-hán. Những thầy chưa chứng Sơ quả nghĩ thầm:
"Ông cư sĩ này tưởng trong chúng ta có thầy chứng A-la-hán".
Còn các thầy chứng A-la-hán lại nghĩ: "Ông cư sĩ không biết
chúng ta đắc A-la-hán". Kết quả: Tất cả các thầy đều
buồn lòng và không đến nhà ông nữa.
Ông
Bà-la-môn hết sức buồn khổ. Ông nghĩ: "Tại làm sao các
vị Tỳ-kheo cao quý ấy lại không đến nhà mình nữa kìa?".
Ông vào tinh xá đảnh lễ Phật và bạch sự việc. Ðức Thế
Tôn hỏi các thầy Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, vậy nghĩa là sao?
Các
thầy bạch Phật lý do. Phật bảo:
-
Nhưng này các Tỳ-kheo, các ông không muốn ông ấy gọi mình
là A-la-hán ư?
-
Bạch Thế Tôn, không ạ.
-
Thế nhưng đây chỉ là cách một người bày tỏ lòng hoan
hỉ, và việc biểu hiện niềm hoan hỉ ấy đâu có gì sai
trái? Tấm lòng quí mến các vị A-la-hán của ông Bà-la-môn
thật là vô bờ. Do đó, việc đúng đắn nhất đối với
các ông là phải diệt trừ tham ái và chỉ lấy việc chứng
đắc A-la-hán làm sự mong muốn duy nhất của mình.
Ngài
nói kệ:
(383)
Hỡi này Bà-la-môn
Hãy
tinh tấn đoạn dòng,
Từ
bỏ các dục lạc,
Biết
được hành đoạn diệt,
Ngươi
là bậc vô vi.
2.
Thế Nào Là "Hai Trạng Thái"?
Nhờ
thường trú hai pháp ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên
quan đến nhiều vị Tỳ-kheo.
Một
ngày nọ, có ba mươi Sa-môn ở xứ khác đến Kỳ Viên đảnh
lễ đức Phật và ngồi một bên. Tôn giả Xá-lợi-phất biết
rằng các thầy có đủ điều kiện chứng A-la-hán, bèn đến
trước đức Phật thưa:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài thường dạy về "hai trạng thái", thế
nào là "hai trạng thái?".
Ðức
Phật dạy:
-
Này Xá-lợi-phất, hai trạng thái là Thiền định và Trí tuệ.
Ngài
nói kệ:
(384)
Nhờ thường trú hai pháp,
Ðến
được bờ bên kia,
Bà-la-môn
có trí,
Mọi
kiết sử dứt sạch.
3.
Thế Nào Là Bờ Kia?
Không
bờ này bờ kia ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến ma vương.
Một
ngày nọ, ma vương giả dạng đến chỗ đức Phật và hỏi
Ngài:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài hay nhắc đến "bờ bên kia". Xin cho biết
cái gì là "bờ bên kia"?
Ðức
Phật biết đó là ma vương, Ngài bảo:
-
Này ma vương, ông liên hệ gì đến "bờ bên kia"? Chỉ có
người thoát khỏi tham dục mới đạt đến đó thôi.
Ngài
nói kệ:
(385)
Không bờ này bờ kia,
Cả
hai bờ không có,
Lìa
khổ, không trói buộc,
Ta
gọi Bà-la-môn.
4.
Thế Nào Là Bà-La-Môn?
Tu
thiền, trú ly trần ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến một người Bà-la-môn.
Ngày
nọ, một ông Bà-la-môn chợt nghĩ: "Ðức Phật thường gọi
các đệ tử là Bà-la-môn, còn ta cũng sanh trưởng trong dòng
Bà-la-môn, ta cũng đáng được gọi như thế".
Nghĩ
vậy, y bèn đến chỗ Phật và nói lên vấn đề ấy. Ðức
Phật nói:
-
Ta không gọi ai là Bà-la-môn, chỉ vì dòng dõi. Ta chỉ gọi
những người đạt đến quả vị A-la-hán là Bà-la-môn.
Ngài
nói kệ:
(386)
Tu thiền, trú ly trần
Phận
sự xong, vô lậu,
Ðạt
được đích tối thượng
Ta
gọi Bà-la-môn.
5.
Ðức Phật Sáng Ngời
Mặt
trời sáng ban ngày ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại lâu đài
Mẹ Migàra, liên
quan đến Tôn giả A-nan.
Vào
ngày lễ Tự tứ, vua Ba-tư-nặc đến tinh xá, nhà vua trang
phục tô điểm thật rực rỡ, tay mang đầy hương hoa, chuỗi
ngọc. Lúc ấy Tôn giả Ca-lưu-đà-di ngồi ở vòng ngoài chúng
hội Tỳ-kheo, đang nhập định, toàn thân tỏa ra một luồng
hỷ lạc, sáng như vàng. Và mặt trời đang lặn, mặt trăng
vừa mọc. Tôn giả A-nan ngắm ánh mặt trời hoàng hôn, ngắm
ánh trăng đang lên, nhìn vẻ rực rỡ của châu ngọc trên
người vua, nhìn vàng hào quang sáng quanh Ngài Ca-lưu-đà-di,
và cuối cùng nhìn đức Như Lai. Hào quang trên thân đức Thế
Tôn vượt xa hơn tất cả.
Ngài
đến bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, hôm nay con ngắm ánh sáng của những thân và
vật ấy, chỉ có hào quang Ngài làm cho con mãn nguyện, vì
thân Ngài chiếu ánh sáng rực rỡ hơn hẳn các ánh sáng khác.
Ðức
Phật bảo:
-
Này A-nan, mặt trời chiếu sáng ban ngày, mặt trăng chiếu
sáng ban đêm, nhà vua thì sáng khi trang điểm lộng lẫy, các
vị A-la-hán thì sáng khi nhập định thoát phàm. Nhưng chỉ
có chư Phật luôn luôn chiếu sáng ngày cũng như đêm, rực
rỡ hơn gắp năm lần.
Ngài
nói kệ:
(387)
Mặt trời sáng ban ngày.
Mặt
trăng sáng ban đêm.
Khí
giới sáng Sát-lỵ.
Thiền
định sáng Phạm chí.
Còn
hào quang đức Phật,
Chói
sáng cả ngày đêm.
Chú
giải:
Giới
đức của Phật có oai lực sáng tỏ, làm lu mờ điều bất
thiện.
Ðức
hạnh của Ngài có oai lực làm lu mờ các tật xấu.
Oai
lực của trí tuệ che lấp vô minh.
Oai
lực của chánh hạnh che lấp điều bất chánh.
6.
Thế Nào Là Tỳ Kheo?
Dứt
ác gọi Phạm Chí ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến một thầy Tỳ-kheo.
Một
người Bà-la-môn nọ xuất gia theo thầy khác chứ không theo
Phật, rồi lại nghĩ: "Sa-môn Cồ-đàm gọi đệ tử là Tỳ-kheo.
Ta cũng đáng được gọi như thế". Y bèn đến gặp Phật
và nói lên vấn đề ấy.
Ðức
Phật nói:
-
Ta không gọi ai là Tỳ-kheo chỉ vì lý do ông đưa ra. Ta chỉ
gọi người đã trừ được lậu hoặc và cấu nhiễm là Tỳ-kheo,
"Người đã xa lìa".
Ngài
nói kệ:
(388)
Dứt ác gọi Phạm Chí,
Tịnh
hạnh gọi Sa-môn,
Tự
mình xuất cấu uế,
Nên
gọi bậc xuất gia.
7.
Ðức Nhẫn Nhục Chinh Phục Sự Tàn Ác.
Chớ
có đập Phạm Chí ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Xá-lợi-phất.
Một
ngày nọ, các thiện tín ngồi chung lại và ca ngợi đức hạnh
của Tôn giả Xá-lợi-phất:
-
Vị Tôn giả thầy chúng ta, thật là đức nhẫn cao đến nỗi
dù ai mắng chửi hay đánh đập, Ngài cũng không giận.
Lúc
ấy, có một Bà-la-môn ngoại đạo hỏi:
-
Ai mà không hề giận dữ?
-
Thầy chúng tôi, Tôn giả Xá-lợi-phất.
-
Chắc hẳn chưa ai chọc giận được ông ấy?
-
Chưa hề có chuyện ấy đâu, Bà-la-môn.
-
Ðược rồi, tôi sẽ chọc giận ông ta.
-
Ông cứ thử xem.
-
Tin tôi đi, tôi biết cách nên hành động như thế nào với
ông ta.
Hôm
sau, Tôn giả vào thành khất thực. Ông Bà-la-môn đi theo sau
lưng Tôn giả tống một quả đấm vũ bão vào lưng Ngài. Tôn
giả chỉ hỏi: "Cái gì thế?" mà không hề quay lại dòm và
tiếp tục đi. Trước thái độ ấy, ông Bà-la-môn cảm thấy
ân hận tràn ngập: "Ô! Thật là tôn quí thay đức hạnh của
Tôn giả!".
Ông
ta sụp xuống dưới chân Ngài:
-
Xin Ngài hãy tha lỗi cho tôi.
-
Chuyện gì vậy?
-
Tôi muốn thử Ngài nên đã đấm vào lưng Ngài.
-
Ðược, tôi không giận ông.
-
Nếu Ngài sẵn lòng tha lỗi cho tôi, xin từ đây hãy chỉ đến
nhà tôi thọ thực thôi.
Và
ông đỡ lấy bát Tôn giả, đưa Ngài về nhà cúng dường
bữa trưa. Tôn giả vui vẻ trao bát.
Vài
kẻ ngoại cuộc thấy vậy rất tức tối.
-
Tên ngoại đạo ấy đã đánh thầy chúng ta, một vị đáng
lý không ai được xúc phạm, tội ấy không thể tha thứ.
Chúng ta phải giết hắn.
Họ
nắm đất, đá, gậy gộc, kéo đến đứng trước cửa nhà
người Bà-la-môn. Khi Tôn giả thọ thực xong trở ra, Ngài
để bát cho người Bà-la-môn ôm, những người kia thấy ông
ta đi ra với Tôn giả, bèn kêu:
-
Bạch Tôn giả, xin Ngài ra lệnh cho ông Bà-la-môn trở lại.
-
Này các đạo hữu, các ông muốn gì?
-
Tên Bà-la-môn ấy đã đánh Ngài, và chúng con muốn xử hắn
đích đáng.
-
Sao? Ông ấy đánh ta hay đánh các ông?
-
Thưa, đánh Ngài.
-
Nếu vậy, ông ấy đã xin lỗi ta, các ông về đi.
Tôn
giả khuyên các Phật tử, và cho phép ông Bà-la-môn về, Tôn
giả trở lại tinh xá.
Các
vị Tỳ-kheo hết sức bất bình.
-
Thế này là sao? Một người Bà-la-môn đánh Tôn giả Xá-lợi-phất
mà Ngài lại đến chính nhà của người ấy thọ thực! Ông
ta đánh cả Tôn giả rồi thì còn kính trọng ai nữa? Ông
sẽ đánh người này người nọ lung tung cho coi.
Ðức
Thế Tôn nghe chuyện, bảo các thầy Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, không có việc người Bà-la-môn đánh Bà-la-môn,
chỉ có Bà-la-môn phàm tục đánh vị Bà-la-môn thánh quả.
Bởi vị nào đã chứng quả A-na-hàm hoàn toàn dứt trừ hết
mọi giận dữ.
Ngài
nói kệ:
(389)
Chớ có đập Phạm Chí!
Phạm
Chí chớ đập lại!
Xấu
thay đập Phạm Chí!
Ðập
trả lại xấu hơn!
(390)
Ðối vị Bà-la-môn,
Ðây
không lợi ích nhỏ,
Khi
ý không ái luyến,
Tâm
hại được chặn đứng,
Chỉ
khi ấy khổ diệt.
8.
Ngài Di Mẫu Thọ Giới
Với
người thân, miệng, ý ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến ngài Ma-ha Ba-xà-ba-đề.
Trước
khi công khai công bố Bát kỉnh pháp, đức Phật đã nói riêng
cho Ngài Di Mẫu hay, và Ngài cúi đầu thọ lãnh giới pháp
ấy, giống như người đã quen thuộc với việc được trang
sức cúi đầu nhận vòng hoa thơm. Tất cả các vị trong nhóm
của Ngài cũng làm y như vậy. Thầy Tế độ và Thân giáo
sư của Ngài không ai khác hơn là chính đức Thế Tôn. Ngài
đã được gia nhập Tăng đoàn của Phật.
Về
sau, một số Tỳ-kheo ni trong nhóm Ngài lại bàn tán về việc
Ngài được thọ giới:
-
Bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề không có thầy Tế độ, không có Thân
giáo sư. Bà tự tay lãnh thọ y vàng một mình.
Nghe
thế, các Tỳ-kheo ni khác bất mãn không chịu làm lễ Bố
tát và lễ Tự tứ với bà. Họ đến bạch Phật câu chuyện,
Ngài dạy:
-
Chính ta trao Bát kỉnh pháp cho bà, ta là thầy Tế độ, là
Giáo sư của bà. Kẻ đã từ bỏ được những lỗi lầm cả
về thân, miệng, ý, đã thoát mọi tham dục, với nhũng người
như thế không nên nuôi dưỡng tư tưởng bất mãn.
Ngài
nói kệ:
(391)
Với người thân, miệng, ý,
Không
làm các ác hạnh,
Ba
nghiệp được phòng hộ,
Ta
gọi Bà-la-môn.
9.
Tôn Kính Người Ðáng Tôn Kính
Từ
ai, biết chánh pháp ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Xá-lợi-phất.
Tôn
giả Xá-lợi-phất được nghe bài kệ Phật pháp đầu tiên
từ Tôn giả Ác Bệ, và từ ngày chứng quả Tu đà hoàn, Tôn
giả khi nghe ngài Ác Bệ nơi nào, luôn luôn hướng về phía
ấy chấp tay cung kính, và luôn nằm xây đầu về hướng ấy.
Các thầy Tỳ-kheo bàn tán:
-
Tôn giả Xá-lợi-phất theo tà đạo, mỗi ngày đều lễ tứ
phương.
Và
họ đến bạch Phật. Phật gọi Tôn giả đến hỏi:
-
Này Xá-lợi-phất, họ báo cáo ông kính lễ tứ phương, có
đúng không?
-
Bạch Thế Tôn! Ngài biết con, Ngài biết rằng con có hay không
có kính lễ phương hướng.
Ðức
Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
-
Xá-lợi-phất không hề kính lễ phương hướng. Chỉ vì kính
lễ Tôn giả Ác Bệ, người đầu tiên mà Xá-lợi-phất được
nghe pháp nên mới làm thế. Một vị Sa-môn kính trọng người
dạy pháp như người Bà-la-môn kính thờ lửa thiêng.
Ngài
nói kệ:
(392)
Từ ai, biết chánh pháp,
Bậc
Chánh giác thuyết giảng,
Hãy
kính lễ vị ấy,
Như
Phạm chí thờ lửa.
10.
Thế Nào Là Bà-La-Môn?
Không
vì đầu bện tóc ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến một người Bà-la-môn bện tóc.
Chuyện
kể rằng, một ông Bà-la-môn chợt nghĩ: "Ta thuộc dòng dõi
Bà-la-môn thuần túy. Sa-môn Cồ-đàm thường gọi đệ tử
Bà-la-môn. Ta cũng đáng được gọi như thế?".
Nghĩ
rồi, y bèn đến chỗ Phật và nói lên vấn đề ấy. Ðức
Phật bảo:
-
Này Bà-la-môn, ta không gọi ai là Bà-la-môn chỉ vì người
ấy đầu bện tóc, chỉ vì dòng dõi, huyết thống. Ta chỉ
gọi người đã thâm nhập chân lý là Bà-la-môn.
Ngài
nói kệ:
(393)
Ðược gọi Bà-la-môn,
Không
vì đầu bện tóc,
Không
chủng tộc, thọ sanh,
Ai
thật chân, chánh, tịnh,
Mới
gọi Bà-la-môn.
11.
Người Bà-La-Môn Gian Xảo
Kẻ
ngu có ích gì...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Pháp đường,
liên quan đến người Bà-la-môn gian xảo, treo ngược mình
lên cây như dơi.
Tại
thành Tỳ-xá-ly, có một Bà-la-môn muốn cầu lợi dưỡng,
y bèn leo lên cây xoài gần cổng thành, móc hai chân vào cành,
lộn đầu xuống đất, la lên:
-
Hãy đem cho ta một trăm đồng vàng! Hãy cho ta xu bạc! Cho ta
một người tớ gái! Nếu các người không cho những điều
ta yêu cầu, ta sẽ buông chân ra, chết tại đây và trở thành
ác thần phá hoại thành này.
Lúc
ấy, đức Phật cùng chư tăng vào thành khất thực. Các thầy
Tỳ-kheo trông thấy người Bà-la-môn treo ngược người lên
cành cây, và khi rời thành, các thầy thấy y còn treo trên
cây. Dân cư trong thành thầm nghĩ: "Ông nội này đã treo ngược
từ sáng tới giờ, nếu để ổng chết chắc chắn chúng ta
không thể sống yên ở thành này". Và lo sợ cho thành Tỳ-xá-ly
xinh đẹp, họ đem chất dưới gốc xoài những thứ y yêu
cầu. Người Bà-la-môn leo xuống, thu chiến lợi phẩm và ra
đi.
Các
thầy Tỳ-kheo lại thấy người Bà-la-môn gian xảo kia đi lang
thang gần tinh xá đang rống lên như một con bò. Các thầy
nhận ra y ngay, bèn hỏi:
-
Này bạn, có phải bạn đã đạt được những gì yêu cầu?
-
Phải.
Các
vị đến bạch đức Phật. Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, đây không phải là lần đầu tiên người
ấy gian xảo như một tên bợm. Thời quá khứ y cũng như vậy.
Nhưng trong kiếp này y lừa gạt được những kẻ chất phác
kia, còn kiếp trước, y chẳng đánh lừa được người khôn
ngoan.
Rồi
Ngài kể chuyện:
Chuyện
quá khứ:
11A.
Nhà Ẩn Tu Giả Dối Và Kỳ Ðà Chúa
Ngày
xưa, có một nhà ẩn tu ở gần một làng sống về nghề nông,
và ông ta là một tên đạo đức giả. Lúc ấy, có một gia
đình thường hay cúng dường thức ăn cho ông ta, dù ngày hay
đêm họ đều chia sớt phần ăn cho nhà ẩn tu như họ đã
chia cho con cái họ. Một chiều nọ, họ nướng thịt kỳ đà
và để dành một phần cho nhà ẩn tu. Thầy tu nọ ngửi mùi
thịt thơm phức bèn hỏi:
-
Thịt gì đấy?
-
Thịt kỳ đà.
Hôm
sau, thầy khất thực được một mớ bơ, sữa đông và tiêu
đem về cất trong lều cỏ. Gần lều thầy, có một cái đồi,
một con kỳ đà chúa ở đấy. Nó thường viếng thầy và
rất kính trọng thầy. Nhưng hôm ấy thầy muốn giết con kỳ
đà nọ, bèn giấu một cây gậy trong áo, đến gần đồi
cát và giả vờ ngủ. Khi con kỳ đà rời hang, đến gần chỗ
thầy, thấy vẻ nằm đặc biệt khác thường, nó nghĩ thầm:
"Hôm nay Sư phụ có vẻ làm sao ấy, ta không thích", và nó
quay đầu bò trở về lại. Thầy tu thấy kỳ đà bò lui bèn
ném cây gậy theo định giết, nhưng cây gậy rơi không trúng.
Con kỳ đà lật đật nhảy vào hang, ngóc đầu ra nói:
-
Tưởng thầy tu chân thật,
Muốn
gần, tôi đến nhanh,
Gậy
cầm, thầy toan giết,
Lộ
chân tướng giả danh.
Kẻ
ngu có ích gì,
Bện
tóc với da dê,
Nội
tâm toàn phiền não,
Ngoài
mặt đánh bóng suông.
Nhà
tu còn muốn dùng các thứ vật thực để dụ kỳ đà:
-
Kỳ đà, mau quay lại!
Ðến
nếm món cháo này.
Muối,
tiêu, dầu ta có,
Muốn
gì sẽ được ngay.
Kỳ
đà đáp:
-
Càng nghe thầy nói, tôi càng muốn chạy xa.
Và
kỳ đà nói kệ:
Thật
đúng khi tôi chọn,
Chỗ
ẩn tít trên đồi,
Thầy
cho dầu, tiêu, muối,
Với
tôi, chúng ích gì!
Rồi
nó nói tiếp:
-
Rất tiếc khi trước tôi lầm tưởng thầy là nhà ẩn tu,
nhưng khi thầy cầm gậy giết tôi, lớp áo đạo đức đã
rơi xuống. Hỡi người vô tri, có ích gì khi thắt tóc bím.
Có ích gì khi mặc áo da dê mà đầy những móng vuốt? Bên
trong là dục vọng, bên ngoài lại điểm tô.
Ðức
Phật kết luận:
-
Nhà ẩn tu ấy là người Bà-la-môn hiện nay, còn kỳ đà chúa
là Ta.
Ngài
nói kệ:
(394)
Kẻ ngu có ích gì,
Bện
tóc với da dê,
Nội
tâm toàn phiền não,
Ngoài
mặt đánh bóng suông.
12.
Bà KisaGotami
, Vị Tỳ Kheo Ni Tu Hạnh Ðầu Ðà
Người
mặc áo đống rác ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ngụ tại núi Linh
Thứu, liên quan đến Tỳ-kheo ni Kisa
Gotami.
Vào
buổi đầu hôm, trời Ðế Thích cùng chư Thiên đến vây quanh
đức Phật nghe pháp. Họ kính cẩn ngồi một bên để lắng
nghe những lời dạy từ hòa của đức Thế Tôn. Lúc ấy,
Ðại Ðức Tỳ-kheo ni Kisa
Gotami chợt nghĩ: "Ta sẽ đến viếng đức Thế
Tôn". Bà bay lên không trung, đến chỗ Phật, nhưng thấy trời
Ðế Thích bèn quay lui. Ðế Thích thấy vậy hỏi Phật:
-
Bạch Thế Tôn, ai mới đến vừa thấy Ngài liền trở ra?
Ðức
Phật bảo:
-
Ðại vương, đó là đệ tử ta, Tỳ-kheo ni Kisa
Gotami, người có hạnh Ðầu đà bậc nhất.
Ngài
nói kệ:
(395)
Người mặc áo đống rác
Gầy
ốm, lộ mạch gân,
Ðộc
thân thiền trong rừng,
Ta
gọi Bà-la-môn.
13.
Thế Nào Là Bà-La-Môn?
Ta
không gọi Phạm Chí ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến một người Bà-la-môn.
Một
người Bà-la-môn thầm nghĩ: "Sa-môn Cồ-đàm thường gọi
các đệ tử là Bà-la-môn. Ta sanh trưởng trong dòng Bà-la-môn,
vậy ông ấy phải gọi ta danh hiệu Bà-là-môn". Nghĩ thế,
ông đến yêu cầu Phật điều ấy. Phật nói:
-
Ta không gọi ai là Bà-la-môn chỉ vì họ sanh ra từ một người
mẹ dòng Bà-la-môn. Người nào không sở hữu những của cải
thế gian, không chạy theo những thứ thế tục, chỉ người
ấy ta gọi Bà-la-môn.
Ngài
nói kệ:
(396)
Ta không gọi Phạm Chí,
Vì
chỗ sanh, mẹ sanh,
Chỉ
được gọi tên suông,
Nếu
tâm còn phiền não,
Không
phiền não chấp trước,
Ta
gọi Bà-la-môn.
14.
Diễn Viên Xiếc Uggasena
Ðoạn
hết các kiết sử ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm,
liên quan đến Uggasena.
Chuyện này đã được kể đầy đủ chi tiết trong phần chú
giải bài kệ bắt đầu bằng câu: "Bỏ quá, hiện, vi lai".
Lúc
ấy, các thầy Tỳ-kheo bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, Uggasena nói:
"Tôi không sợ", chắc chắn thầy ấy đã nói dối.
Ðức
Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, giống như con ta, kẻ nào đã dứt trừ mọi
ràng buộc, kẻ ấy chẳng còn sợ hãi.
Ngài
nói kệ:
(397)
Ðoạn hết các kiết sử,
Không
còn gì lo sợ,
Không
đắm trước buộc ràng,
Ta
gọi Bà-la-môn.
15.
Tranh Cãi Về Sức Kéo
Bỏ
đai da, bỏ cương ...
Ðức
Thế Tôn, dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến hai người Bà-la-môn.
Hai
người Bà-la-môn nọ có hai con bò, một tên Tiểu Hồng (Culla
Rohita), và một tên Ðại Hồng (Mahà
Rohita). Một hôm, hai ông Bà-la-môn bàn cãi, so sánh
hai con bò của nhau, ai cũng nói "Bò tôi mới là số dzách!".
Cãi
lộn hết hơi rồi, họ nghĩ ra cách thử sức kéo của bò.
Lập tức họ đánh xe bò ra bờ sông Aciravati,
thi nhau chất lên xe bò mình nào cát, đá thật đầy và bắt
bò kéo. Nhưng mặc cho họ thúc giục, chiếc xe vẫn không nhúc
nhích và thình lình dây thừng đều bị đứt. Các vị Tỳ-kheo
lúc ấy ra sông tắm, thấy vậy về bạch Phật. Ngài dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, đó là những dây bên ngoài, có thể cắt
đứt. Nhưng một vị Sa-môn phải cắt đứt những sợi dây
giận dữ và tham dục ở nội tâm.
Ngài
nói kệ:
(398)
Bỏ đai da, bỏ cương,
Bỏ
dây, đồ sở thuộc,
Bỏ
then chốt, sáng suốt,
Ta
gọi Bà-la-môn.
16.
Ðức Thế Tôn Chế Ngự Kẻ Sân Giận
Không
ác ý, nhẫn nhục ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này trong khi Ngài đang trù tại Trúc
Lâm, liên quan đến Akkosa
Bhàradvàja.
Khi
Phật ở tại Trúc Lâm, có một tín nữ Bà-la-môn đã chứng
quả Tu-đà-hoàn, mỗi khi bà hắt hơi, ho, hoặc trợt té, đều
buột miệng:
-
Nam mô Phật Ðà! Như Lai Tối tôn, Vô thượng giác!
Chồng
bà là một Bà-la-môn quạu quọ, không tin Phật, và rất bực
mình khi nghe vợ mình cứ xưng tụng đức Phật. Ngày kia, trong
khi dọn cơm cho các vị Bà-la-môn, bà trợt chân và cũng buộc
miệng niệm danh hiệu Phật rất lớn. Ông Bà-la-môn nổi giận,
nghĩ thầm: "Thiệt là hết chịu nổi. Mụ vợ ngốc của ta
mỗi lần trợt té cứ lải nhải tôn xưng ông Sa-môn đầu
trọc như là thói quen si ám".
Ông
bảo bà:
-Này,
tôi cho bà biết, tôi sẽ đánh bại ông thầy bà bằng một
cuộc tranh luận ngay bây giờ.
-
Ông cứ tự tiện, tôi chưa thấy ai có thể thắng đức Thế
Tôn cả. Ông cứ đi và hỏi Ngài một câu.
Ông
Bà-la-môn đến chỗ Phật, không cần chào, đứng một bên
và hỏi Ngài:
Muốn
được sống an tịnh,
Phải
dẹp bỏ thứ gì,
Ðể
không còn ưu bi?
Ðiều
gì nên trừ khử?
Xin
nói cho nghe thử!
Ông
giảng dạy cách nào,
Ðể
người nghe được mau,
Thực
hiện việc trừ khử?
Ðức
Phật đáp:
Sân
hận khi không còn,
Sẽ
được sống an tịnh,
Sân
hận được trừ khử,
Ưu
sầu không theo mình.
Gốc
rễ sân độc địa,
Ngọn
nhánh lại ngọt ngào,
Người
trí luôn ca ngợi,
Người
dẹp được sân hờn,
Bởi
sân khi diệt sạch,
Ưu
bi sẽ chẳng còn.
Người
Bà-la-môn nghe Phật nói, tin nhận bèn xuất gia và đắc A-la-hán.
Em trai ông nghe tin ông đã xuất gia theo Phật bèn giận dữ
đến mắng chửi Phật. Nhưng đức Phật cũng chinh phục người
này bằng thí dụ "vật thực cho khách", rồi y cũng xuất gia
theo Phật chứng A-la-hán. Hai người em út hết, cũng như hai
anh, đến rầy rà đức Phật, rốt cuộc cũng bị chinh phục,
xuất gia và chứng quả A-la-hán.
Ngày
đó, các Tỳ-kheo bàn tán ở Pháp đường:
-
Thật là kỳ diệu thay, hạnh nhẫn nhục của chư Phật. Cả
bốn anh em đến mắng chửa đức Thế Tôn mà Ngài không đáp
lời nào, còn khiến họ quy y.
Lúc
ấy, đức Phật đến gần hỏi:
-
Các ông tụ họp ở đây bàn tán chuyện gì?
Các
thầy bạch Phật. Ngài giải thích:
-
Này các Tỳ-kheo, vì Ta có sức từ nhẫn, vì ta là người
không gây tội giữa thế gian đầy lỗi lầm, nên Ta là nơi
nương tựa chân thật cho chúng sanh.
Ngài
nói kệ:
(399)
Không ác ý, nhẫn chịu,
Phỉ
báng, đánh, phạt hình,
Lấy
nhẫn làm quân lực,
Ta
gọi Bà-la-môn.
17.
Tôn Giả Xá Lợi Phất Bị Mẹ Mắng.
Không
hận, hết bổn phận ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm,
liên quan đến Tôn giả Xá-lợi-phất.
Khi
Phật ở tại tinh xá Trúc Lâm, một hôm ngài Xá-lợi-phất
dẫn năm trăm vị Tỳ-kheo đi khất thực và đến trước nhà
bà mẹ Ngài trong làng Nàlaka.
Bà mẹ mời chư Tăng vào nhà, chuẩn bị chỗ ngồi và trong
khi dọn thức ăn cho Tôn giả, bà mắng Ngài:
-
Hừm! Ðồ ăn mày! Mi lang thang từ nhà này sang nhà nọ để
xin cơm thừa canh cặn không được, phải liếm láp cháo dính
trên vá, trên muỗng! Vậy mà mi cũng từ bỏ gia tài ức triệu
để làm thầy tu. Thiệt nhục nhã cho mẹ mi! Ăn đi!
Và
khi dọn thức ăn cho các thầy Tỳ-kheo, bà cũng rủa:
-
Mấy người đã rũ rê con ta để làm đầy tớ cho mấy người
đây hả? Ăn đi!
Tôn
giả Xá-lợi-phất không nói một tiếng, nhận thức ăn, và
đi về tinh xá. Khi ngài La-hầu-la đem cơm dâng Phật, đức
Thế Tôn hỏi:
-
Này La-hầu-la! Hôm nay ngươi đi tới đâu?
-
Dạ, đến nhà của bà cô con, bạch Thế Tôn!
-
Bà ấy có nói gì với thầy ngươi không?
-
Bạch Thế Tôn, bà ấy mắng chửi dữ dội.
-
Bà ấy nói những gì?
La-hầu-la
kể lại cho đức Phật nghe câu chuyện, và Ngài hỏi:
-
Rồi thầy ngươi trả lời ra sao?
-
Bạch Thế Tôn, Tôn giả chẳng trả lời gì hết.
Các
vị Tỳ-kheo nghe chuyện, bàn tán với nhau:
-
Này chư huynh! Cao quý thay đức nhẫn của Tôn giả Xá-lợi-phất!
Dù cho mẹ Ngài mắng chửi như thế đó, Ngài chẳng hề giận
một chút nào.
Ðức
Thế Tôn nghe thế bèn dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, người nào thanh trừ được mọi dục vọng
xấu, người ấy không còn sân giận.
Ngài
nói kệ:
(400)
Không hận, hết bổn phận,
Trì
giới, không tham ái,
Nhiếp
phục, thân cuối cùng,
Ta
gọi Bà-la-môn.
18.
A-La-Hán Có Phàm Thân Hay Không?
Như
nước trên lá sen ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tỳ-kheo ni Uppalavannà.
Chuyện được kể đủ chi tiết trong phần chú giải bài kệ
bắt đầu bằng câu: "Người ngu nghĩ là ngọt, khi ác chưa
chín mùi". Truyện kể tiếp rằng:
Sau
đó ít lâu các Tỳ-kheo bàn tán ở Pháp đường: "Chắc các
vị đã trừ hết lậu hoặc vẫn còn phải thỏa mãn nhục
dục. Tại sao không? Họ đâu phải cây lá hay đất cục mà
cũng mang thân người với máu thịt, do đó thế nào cũng còn
ưa khoái lạc".
Ðức
Thế Tôn nghe chuyện bèn giải thích:
-
Này các Tỳ-kheo, không bao giờ người đã thanh trừ ái dục
lại yêu thích khoái lạc hay thỏa mãn nhục dục. Như một
giọt nước rơi trên lá sen không bao giờ dính lại, nó lăn
tròn và rơi xuống, như hạt cải không bao giờ dính trên đầu
cây kim, cũng như tình ái không bao giờ ràng buộc hay còn vương
vấn nơi những vị đã tận trừ ái nhiễm.
Ngài
nói kệ:
(401)
Như nước trên lá sen,
Như
hạt cải đầu kim,
Người
không nhiễm ái dục,
Ta
gọi Bà-la-môn.
19.
Người Nô Lệ Trút Gánh Nặng
Ai
tự trên đời này ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến một người Bà-la-môn.
Khi
chưa có điều luật không cho phép nhận nô lệ trốn chủ
vào Tăng đoàn, một hôm người nô lệ của một Bà-la-môn
đến xin xuất gia. Y được nhận vào Tăng đoàn và chẳng
bao lâu chứng A-la-hán. Người Bà-la-môn tìm khắp nơi nhưng
không gặp. Một hôm đức Phật dẫn vị A-la-hán ấy vào thành
khất thực, người Bà-la-môn trông thấy ở cổng thành bèn
níu y của Tôn giả nọ. Ðức Phật quay lại hỏi:
-
Này Bà-la-môn, chuyện gì vậy?
-
Thưa Ngài Cồ-đàm, đây là kẻ tôi tớ của tôi.
-
Này Bà-la-môn, gánh nặng đã rời khỏi y.
Nghe
đức Phật nói, người Bà-la-môn lập tức hiểu rằng người
ấy đã chứng A-la-hán. Ông hỏi lại:
-
Có thật không, thưa Cồ-đàm?
Ðức
Phật xác nhận:
-
Thật vậy, gánh nặng của người ấy đã buông xuống rồi.
Ngài
nói kệ:
(402)
Ai tự trên đời này,
Giác
khổ, diệt trừ khổ,
Bỏ
gánh nặng, giải thoát,
Ta
gọi Bà-la-môn.
20. Khamà Trí
Tuệ.
Người
trí tuệ sâu xa ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại núi Linh
Thứu, liên quan đến Tỳ-kheo ni Khemà.
Ngày
nọ, lúc đầu hôm, vua trời Ðế Thích dẫn chư thiên đến
nghe Phật thuyết pháp, lúc ấy Tỳ-kheo ni Khemà
cũng khởi nghĩ: "Ta sẽ đến thăm đức Thế Tôn".
Bà
bay đến chỗ Phật, gặp Ðế Thích và chư thiên, bèn đảnh
lễ Phật rồi lui ra, Ðế Thích hỏi Phật:
-
Ai vậy, thưa Thế Tôn?
-
Này Ðại vương, đó là Tỳ-kheo ni Khemà,
trí tuệ đệ nhất, biết rõ đâu là đạo và đâu không phải
là đạo.
Ngài
nói kệ:
(403)
Người trí tuệ sâu xa,
Khéo
biết đạo, phi đạo,
Chứng
đạt đích vô thượng,
Ta
gọi Bà-la-môn.
21.
Vị Sa Môn Và Thiên Thần
Không
liên hệ cả hai ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Tôn giả Tissa
Pabbhàravàsì.
Ðại
đức Tissa Pabbhàravàsì
khi nhận đề mục thiền quán từ đức Phật, bèn vào rừng
cư trú. Ðại đức tìm được một cái hang kín đáo thích
hợp. Khi vừa đến hang, Ngài thấy lòng an tịnh, bèn nghĩ
thầm: "Nếu ở đây, ta sẽ đạt được mục tiêu tối thượng,
làm xong bổn phận của Sa-môn". Khi ấy vị thần ở hang cũng
nghĩ: "Một vị Sa-môn đạo hạnh đã đến ở đây, thiệt
là khó xử cho ta khi ở chung với người. Có lẽ Ngài chỉ
trú đêm, rồi đi nơi khác". Thần bèn dắt con cái rời hang.
Ngày
sau, Tôn giả vào làng khất thực. Một nữ thí chủ trông
thấy Ngài đem lòng kính ngưỡng bèn mời vào nhà cúng dường,
và phát nguyện sẽ cúng dường đầy đủ những món cần
thiết trong ba tháng an cư. Tôn giả nghĩ rằng: "Nhờ Phật
tử này ta sẽ đạt được sở nguyện", bèn nhận lời thỉnh.
Rồi Ngài trở về động cũ. Trông thấy Ngài về tới, thần
hang nghĩ: "Chắc có ai mời Ngài. Ngày mai hay mốt Ngài sẽ
đi". Như thế nửa tháng trôi qua, vị thần thất vọng: "Chắc
chắn Tôn giả sẽ ở đây suốt mùa mưa. Thiệt khó cho khi
ở chung với vị Sa-môn đạo hạnh, mà cũng không thể mời
Ngài đi nơi khác. Ta có thể tìm lỗi của Ngài không?" Nữ
thần dùng thiên nhãn quan sát cuộc đời của vị Sa-môn từ
khi xuất gia đến lúc vào rừng, chẳng thấy có tỳ vết.
"Ðức hạnh của vị này hoàn toàn tinh khiết. Ta sẽ tìm cách
kiếm chuyện và có thể nói lỗi Ngài được".
Nữ
thần đến nhà thí chủ của Tôn giả, nhập vào đứa bé
trai nhỏ nhất, và bẻ cổ nó, đứa bé tự dưng trợn mắt
và sùi bọt mép. Người mẹ hoảng sợ kêu lên:
-
Sao con tôi như thế này?
Nữ
thần nói với bà:
-
Ta đã bắt con ngươi, nhưng không làm hại gì. Ngươi chỉ
cần xin vị Tỳ-kheo hằng đến đây khất thực một ít cây
thuốc cho con ngươi uống, ta sẽ buông tha.
-
Thà con tôi chết, tôi không bao giờ xin Ngài điều ấy.
-
Nếu không xin, ngươi hãy yêu cầu Tôn giả đặt thuốc vào
mũi con ngươi.
-
Tôi cũng không thể làm như vậy.
-
Thôi được, hãy rửa chân Tôn giả, và lấy nước rảy lên
đầu con ngươi.
Khi
Tôn giả đến như thường lệ, bà dọn thức ăn ra cho Ngài
và bưng một thau nước đến cho Tôn giả rửa chân. Bà xin
Tôn giả nước rửa ấy rảy lên đầu con trai, Tôn giả bằng
lòng và đứa bé được buông tha.
Vị
thần đứng chờ ở cửa hang. Thọ trai xong, Tôn giả đứng
lên và vẫn không rời đề mục thiền quán, Ngài từ giã
nữ thí chủ trở về hang, vừa đi vừa thầm ôn ba mươi hai
thứ cấu tạo nên thân. Tôn giả mới đến cửa hang, nữ
thần đã nói:
-
Xin chào thầy lang mát tay. Ngài chớ vào đây nữa.
Tôn
giả liền dừng lại hỏi:
-
Ngươi là ai?
-
Tôi là vị thần trú ở đây.
Tôn
giả thầm nghĩ: "Ta có từng bao giờ làm thầy thuốc không?"
Ngài quán sát suốt cuộc đời mình từ lúc xuất gia vào Tăng
đoàn, thấy chẳng có một tỳ vết gì hoen ố, bèn bảo nữ
thần:
-
Ta chẳng bao giờ làm thầy thuốc cả. Tại sao ngươi nói vậy?