XXV.
Phẩm Tỳ Kheo
1.
Giữ Gìn Ngũ Căn
Lành
thay phòng hộ mắt...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài trú tại Kỳ Viên, liên
quan đến năm thầy Tỳ-kheo.
Khi
Phật ở tại Kỳ Viên có năm thầy Tỳ-kheo, mỗi thầy tự
điều phục một trong năm giác quan. Một hôm, các thầy gặp
nhau bàn cãi. Thầy thì nói:
-
Chỉ có giác quan của tôi khó điều phục.
Thầy
khác cũng nói:
-
Chỉ có tôi là người tự chế ngự giác quan khó nhất.
Rốt
cuộc các thầy cùng nhau đến bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, mỗi người trong chúng con tự chế ngự một
giác quan, và cứ tưởng giác quan mình chế ngự khó hơn hết.
Hôm nay chúng con xin Ngài xác định người nào trong chúng con
điều phục giác quan khó nhất.
Ðức
Phật thận trọng tránh không cho biết thầy Tỳ-kheo nào kém
hơn các huynh đệ mình. Ngài dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, tất cả các căn đều khó canh phòng. Nhưng
không phải đây là lần đầu các ông thất bại trong việc
canh phòng ngũ căn. Trong một kiếp quá khứ, các ông cũng thất
bại trong việc kềm chế ngũ căn. Vì các ông không nghe lời
khuyên của bậc thiện tri thức nên đã bị hại.
Chuyện
quá khứ:
1A.
Thành Hoa Thị
Theo
lời yêu cầu của năm thầy Tỳ-kheo, đức Phật kể rằng
trong một kiếp quá khứ, Ngài là vị lãnh đạo năm ông quan
cận thần đi đến thành Hoa Thị để nhận ngôi báu, sau khi
toàn thể hoàng tộc vua bị quỷ Dạ xoa hại sạch. Trên đường
đi, bọn quỷ Dạ xoa quyến rũ họ bằng đủ mọi âm thanh,
hình ảnh, mùi hương, thức ăn ngon và gái đẹp. Bồ tát lúc
ấy khôn ngoan không để bị đắm trước và căn dặn năm
ông quan chớ bị để quyến rũ. Nhưng họ đều bỏ rơi khí
giới đầu hàng trước sức cám dỗ của Dạ xoa, và rốt
cuộc bị ám hại. Chỉ riêng Ngài kềm chế được mình, không
mềm lòng trước cạm bẫy, không màng đến con quỷ Dạ xoa
với vẻ đẹp sắc nước hương trời đeo theo Ngài bén gót,
và thẳng tiến an toàn đến thành Hoa Thị, trở thành một
vị quốc vương.
Khi
nhận lễ đăng quang, ngồi trên ngai vàng dưới chiếc lọng
trắng, nhìn lại vẻ uy nghiêm và sự vinh hiển của mình,
Ngài tự mình: "Người ta nên sử dụng sức mạnh của ý chí
mình". Ngài nói kệ:
Kiên
trì tuân phục Hiền Trí,
Lòng
can đảm chẳng lung lay,
Khỏi
bị Dạ xoa khống chế,
Vì
ta không sợ không lo.
Qua
cơn hiểm nguy gian khó,
Ðến
nơi ta được an toàn.
Phật
kết luận: "Năm ông quan thuở ấy là các ông, người đến
được thành Hoa Thị an toàn và làm vua chính là Ta".
Ngài
nói thêm:
-
Một Tỳ-kheo cần phải canh phòng cẩn mật tất cả các căn,
vì chủ thu hút căn mới thoát được khổ não.
Ngài
nói kệ:
(360)
Lành thay, phòng hộ mắt!
Lành
thay, phòng hộ tai!
Lành
thay, phòng hộ mũi!
Lành
thay, phòng hộ lưỡi!
(361)
Lành thay, phòng hộ thân!
Lành
thay, phòng hộ lời!
LÀnh
thay, phòng hộ ý!
Lành
thay, phòng tất cả!
Tỳ-
kheo phòng tất cả,
Thoát
được mọi khổ đau.
2.
Thầy Tỳ Kheo Giết Ngỗng
Người
chế ngự tay chân...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ngụ tại Kỳ Viên,
liên quan đến một thầy Tỳ-kheo giết ngỗng.
Thuở
ấy, tại Xá-vệ có hai thanh niên xuất gia, cùng ở trong tăng
đoàn và trở thành bạn thân, thường đi chung với nhau. Một
ngày nọ, hai thầy ra bờ sông Aciravati tắm,
và lên bờ đứng phơi nắng nói chuyện chơi. Lúc ấy có hai
con ngỗng bay ngang. Thầy Tỳ-kheo trẻ bèn nhặt hòn đá cuội
nói:
-
Tôi sẽ chọi trúng mắt một con ngỗng.
Thầy
Tỳ-kheo kia nói:
-
Huynh chọi không trúng đâu.
-
Rồi huynh coi, tôi sẽ chọi trúng cả hai mắt nó.
-
Huynh chẳng làm được.
-
Vậy thì huynh coi đây.
Thầy
thứ nhất lượm hòn đá ném theo con ngỗng. Nghe tiếng viên
đá bay rít trên không trung, con ngỗng quay đầu lại nhìn.
Thầy thứ hai nhặt tiếp hòn đá và ném ngay mắt con ngỗng.
Hòn đá chọi nhằm mắt bên này, xuyên qua mắt bên kia của
ngỗng. Nó kêu lên đau đớn, lộn nhào xuống đất và rơi
dưới chân hai thầy Tỳ-kheo.
Một
số thầy Tỳ-kheo khác đứng gần đấy thấy vậy bèn nói:
-
Này các huynh, sau khi từ bỏ thế gian vào cửa Phật, các huynh
đã làm việc không đúng khi sát hại sinh vật như thế.
Các
Tỳ-kheo bèn đem hai thầy đến chỗ đức Phật. Phật hỏi
thầy Tỳ-kheo giết ngỗng:
-
Có phải ông đã sát sanh?
-
Thưa vâng, bạch Thế Tôn!
Phật
quở:
-
Này Tỳ-kheo, sao đã xuất gia từ bỏ gia đình theo Ta để
cầu đạo giải thoát mà ông lại làm như thế? Người trí
thời Phật chưa ra đời, dù sống ở thế gian, cũng còn e
dè thận trọng từng việc nhỏ nhặt. Các ông đã xuất gia
theo Phật, lại không lo dè dặt chút nào vậy.
Rồi
Ngài kể chuyện tiền thân.
Chuyện
quá khứ:
2A.
Chuyện Tiền Thân Kuradhamma.
Vào
thuở lâu xa, dưới triều vua Dhananjaya
của vương quốc Kuru,
Ngài là thái tử con vua. Ðến tuổi trưởng thành, thái học
tử học nghề bắn tên tại thành Hoa Thị. Khi thành nghề,
thái tử trở về vương quốc, được vua cha phong làm phó
vương. Khi vua cha băng hà, thái tử lên nối ngôi. Nhà vua nghiêm
trì năm giới cấm và tuân theo mười đức của một vị vua.
Ngay cả những người trong hoàng cung như hoàng thái hậu, hoàng
hậu, hoàng đệ, phó vương, thầy tử tế, quan cận thần,
người đánh xe, quan chưởng khố, quan coi kho, người canh cổng
và cả thứ phi nữa, mười một người đều giữ ngũ giới
nghiêm túc.
Lúc
ấy, tại thành Dantapura
của vương quốc Kalinga,
trời hạn hán nhiều năm không một giọt mưa. Dân chúng ở
vương quốc này biết nhà vua xứ Kuru có
một thớt tượng tên Anjanasannibha thật
đầy đủ ân đức. Họ tin rằng xin được Anjanasannibha về
nước, chắc sẽ mưa. Vì thế, vua Kalinga cho
gởi các vị Bà-la-môn sang Kuru để
xin thớt tượng ấy. Họ sang yết kiến vua xứ Kuru và
trình bày lời yêu cầu, xưng tụng đức hạnh của nhà vua.
Nhưng dù có tượng Anjanasannibha,
trong xứ kalinga vẫn
không có mưa. Vua kalinga thầm
nghĩ: Vua Kuru đã
giữ năm giới nên trong nước thường được mưa. Vua bèn
ra lệnh cho các thầy Bà-la-môn và các quan cận thần sang Kuru khắc
năm giới cấm lên một dĩa vàng về nước.
Khi
những người này sang Kuru một
lần nữa, cả triều đình từ vua trở xuống đều tự do,
chối rằng:
-
Chúng tôi không giữ được năm giới cấm toàn vẹn.
-
Các vị đã không làm điều gì xâm phạm đến năm giới cấm
đâu.
Họ
năn nỉ mãi, cuối cùng nhà vua Kuru
dạy họ năm giới. Khi mang về vương quốc Kalinga cũng
tuân giữ thành kính năm điều cấm, và lập tức trời mưa.
Trong nước lại thịnh vượng, ấm no.
Ðức
Phật kết luận: "Lúc ấy thứ phi là Liên Hoa Sắc, người
canh cổng là Punna,
người giữ ngựa là Kaccàna,
quan giữ kho là Kolita,
quan chưởng khố là Xá-lợi-phất, người đánh xe là A-na-luật,
thầy Bà-la-môn là Trưởng Lão Ca-diếp, hoàng đệ phó vương
là Nan Ðà, hoàng hậu là mẹ của La-hầu-la, hoàng thái hậu
là bà Ma-da và vua Kuru
là Ta".
Ðức
Phật nói tiếp:
-
Này các Tỳ-kheo, người trí thời xưa, dù một lỗi nhỏ họ
cũng cảm thấy ái ngại. Còn các ông, đã xuất gia vào đạo
của Phật đà lại chấp nhận một lỗi lơn là sát hại sanh
vật. Một Tỳ-kheo phải hằng kiểm soát được tay chân, và
ngôn ngữ của mình.
Ngài
nói kệ:
(363)
Người chế ngự tay chân,
Chế
ngự lời và đầu,
Vui
thích nội thiền định,
Ðộc
thân, biết vừa đủ,
Thật
xứng gọi Tỳ-kheo.
3.
Thầy Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Mồm Miệng
Tỳ-kheo
chế ngự miệng...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang trú tại Kỳ Viên,
liên quan đến Kokàlika.
Trong bài kinh Kokàlika,
câu chuyện bắt đầu với dòng chữ: "Lúc bấy giờ thầy
Tỳ-kheo Kokãlika đến gần đức Ðạo Sư", ý nghĩa câu chuyện
được giải thích trong tập chú giải liên quan đến bài kinh.
Thuở
Phật còn ở Kỳ Viên, có thầy Tỳ-kheo tên Kokàlika vì
đã phỉ báng hai đại đệ tử Phật là Tôn giả Xá-lợi-phất
và Tôn giả Mục-kiền-liên nên bị đọa địa ngục. Câu
chuyện bắt đầu khi các vị Tỳ-kheo tụ họp ở Pháp đường,
bàn tán:
-
Trời ơi! Thầy Tỳ-kheo Kokàlika
bị trầm luân vĩnh kiếp vì đã không giữ gìn miệng mồm.
Ngay khi thầy chửi rủa hai vị Tôn giả lãnh chúng, đã bị
đất chôn xuống địa ngục.
Lúc
ấy đức Phật đến và hỏi:
-
Các ông tụ họp ở đây bàn tán chuyện gì?
Khi
các thầy thuật lại, Phật bảo:
Không
phải lần đầu Kokàlika bị
đọa vì không giữ gìn khẩu nghiệp. Trong quá khứ cũng đã
xảy ra chuyện ấy.
Các
Tỳ-kheo muốn nghe Phật thuật lại câu chuyện. Phật kể:
Chuyện
quá khứ:
3A.
Con Rùa Ham Nói
Hồi
xưa, có con rùa kia ở tại cái hồ nước trên vùng núi Hy
Mã. Một ngày nọ có đôi ngỗng đi lang thang tìm thức ăn,
gặp rùa ta và vài ngày sau chúng kết tình thân hữu. Có lần
ngỗng khoe với rùa:
-
Bác ạ, chúng tôi ở trên ngọn Cittakuta,
trong một động vàng. Thật là một nơi ở thích thú. Bác
có muốn đi với chúng tôi không?
-
Làm sao tôi có thể đi đến đó?
-
Nếu bác chịu ngậm miệng trong lúc chúng tôi đưa đi, thì
bác sẽ đến nơi.
-
Ðược rồi, tôi sẽ ngậm chắc miệng mồm. Hãy mang tôi đi
với.
-
Tốt lắm.
Ðôi
ngỗng bảo bác rùa ngậm một cây gậy, và hai con tha hai đầu
gậy, bay lên không trung.
Vài
đứa bé ở thôn xóm dưới đất thấy rùa bay qua với ngỗng,
bèn la lên:
-
Bay ơi, ra xem hai con ngỗng mang con rùa trên cây gậy.
Rùa
nghĩ thầm: Tụi nhóc con du đãng này, bạn ta tha ta đi đâu
thì có dính dánh gì tới tụi bây mà phải la lối!
Ngay
khi nó vừa mở miệng định nói ra ý nghĩấy,
vì cặp ngỗng bay mau, nó liền rơi xuống đất và bể làm
hai mảnh ngay trong sân của một hoàng cung ở Ba-la-nại.
Rùa
tự hại vì ham nói chuyện,
Gậy
ngậm rồi miệng vẫn thày lay,
Rớt
liền xuống đất tan thây,
Người
khôn ngoan thấy gương đây giữ mình.
Lựa
lời nói đúng lúc đúng chỗ,
Xem
gương rùa chịu khổ thiệt thân.
Ðức
Phật kết luận:
-
Này các Tỳ-kheo, một Tỳ-kheo phải kiểm soát lời nói, sống
lặng thinh, không tự kiêu và thoát khỏi phiền não.
Phật
nói kệ:
(363)
Tỳ-kheo chế ngự miệng,
Vừa
lời, không cống cao.
Khi
trình bày pháp nghĩa,
Lời
lẽ dịu ngọt ngào.
4.
Bằng Sự Tinh Tấn Làm Vinh Dự Cho Phật
Vị
Tỳ-kheo thích pháp....
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài trú tại Kỳ Viên, liên
quan đến Trưởng lão Dhammarama.
Khi
đức Phật tuyên bố "Còn bốn tháng nữa, Ta sẽ vào Niết-bàn",
hằng ngàn vị Tỳ-kheo bỏ hết thì giờ để hầu cận Ngài.
Những vị chưa chứng Sơ quả thì khóc lóc, những vị chứng
A-la-hán cũng cảm động sâu xa, tất cả đều tụ năm họp
ba, bàn tán: "Chúng tan nên làm gì?"
Riêng
có một vị Tỳ-kheo tên Dhammarama (Trú
Pháp Hỷ) thì không như vậy. Thầy tự nghĩ: "Ðức Thế Tôn
đã tuyên bố bốn tháng nữa nhập Niết-bàn, mà ta chưa thoát
khỏi ràng buộc của tham ái. Ngày nào Ngài còn tại thế,
ta sẽ cố gắng chứng A-la-hán". Và thầy tự sống một mình,
tư duy, quán tưởng, ôn lại những lời dạy của Phật, chẳng
màng trả lời những câu hỏi tò mò của các Tỳ-kheo khác,
mà cũng chẳng lui tới hầu hạ Phật.
Các
Tỳ-kheo mách đức Như Lai:
-
Bạch Thế Tôn, thầy Dhammarama
không có lòng thương kính Thế Tôn. Khi nghe chúng con báo tin
"Phật sắp nhập Niết-bàn, chúng ta sẽ làm gì?", thầy chẳng
nói, chẳng hoạt động chung với chúng con.
Ðức
Phật gọi Tỳ-kheo Dhammarama
đến hỏi. Thầy thưa thật ý định của mình muốn cố gắng
chứng quả A-la-hán. Nghe xong, Phật ngợi khen thầy:
-
Lành thay! Lành thay!
Và
Ngài bảo các Tỳ-kheo:
-
Này các Tỳ-kheo, mỗi vị nên bày tỏ sự kính mến Ta như Dhammarama đã
làm. Chẳng phải dùng hương hoa, hoặc những thứ cúng dường
mà tôn kính ta. Chỉ cò người thực hành theo giáo lý mới
thật sự tôn kính Ta.
Ngài
nói kệ:
(364)
Vị Tỳ-kheo thích pháp,
Mến
pháp, suy tư pháp,
Tâm
tư niệm chánh pháp,
Không
rời bỏ chánh pháp.
Nghe
xong, thầy Trú Pháp Hỷ liền chứng quả A-la-hán, hội chúng
cũng được lợi lạc.
5.
Thầy Tỳ Kheo Lạc Bầy
Không
khinh điều mình được ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài trú tại Trúc Lâm, liên
quan đến một thầy Tỳ-kheo lạc bầy.
Khi
đức Phật ở tại Trúc Lâm, có một thầy Tỳ-kheo kết bạn
thân với một thầy Tỳ-kheo ly khai Tăng đoàn, thuộc nhóm
Ðề-bà-đạt-đa. Một ngày kia, đi khất thực về, gặp thầy
Tỳ-kheo bạn, thầy nọ hỏi thăm:
-
Huynh đi đâu thế?
-
Tôi đi thất thực về.
-
Có được ai cúng dường không?
-
Có.
-
Nơi chỗ tôi ở, có nhiều vật thực và tặng phẩm giá trị,
Hãy đến chỗ tôi vài hôm.
Thầy
Tỳ-kheo nhận lời, lưu lại nhóm của Ðề-bà-đạt-đa vài
ngày, và sau đó trở về với Tăng đoàn. Các vị Tỳ-kheo
trong Tăng đoàn đến mách Phật:
-
Bạch Thế Tôn, thầy Tỳ-kheo kia đã thọ lãnh vật thực,
tặng phẩm của nhóm Ðề-bà-đạt-đa, thầy ấy đã theo Ðề-bà-đạt-đa
rồi:
Ðức
Phật cho gọi ông thầy nọ đến và hỏi:
-
Có phải họ mách thầy như vậy là đúng?
-
Thưa vâng, bạch Thế Tôn, con ở trong nhóm Tỳ-kheo của Ðề-bà-đạt-đa
vài ngày, nhưng con không hợp với quan điểm của Ðề-bà-đạt-đa.
-
Ta thừa nhận rằng ông không theo tà kiến, nhưng ông không
có lập trường nhất định nên hay bị lung lạc bởi ý kiến
người khác. Trong thuở quá khứ ông cũng đã làm như vậy.
Theo
lời các vị Tỳ-kheo yêu cầu, Phật bèn kể chuyện con Voi
Damsel-face:
Voi
Damsel-face rất ngoan, nhưng khi đi đường nghe một nhóm trộm
cướp du đãng nói chuyện thô lỗ với nhau, nó cũng đâm ra
hung hăng, bất trị và chạy bậy, giết người. Rồi sau đo,
nghe các vị Bà-la-môn luận đạo, nó trở lại ngoan ngoãn.
Voi Damsel-face thuở ấy là thầy Tỳ-kheo dễ tin hôm nay.
Ðức
Phật kết luận:
-
Là một Tỳ-kheo, nên hài lòng với những gì mình nhận được,
và không ham muốn những gì người khác có. Nếu ham muốn
như vậy chẳng bao giờ đắc Thiền định, Trí tuệ, hoặc
Thánh quả. Nếu hài lòng với những gì đang có, ông sẽ có
tất cả.
Ngài
nói kệ:
(365)
Không khinh điều mình được,
Không
ganh người khác được,
Tỳ-kheo
ganh tỵ người
Không
sao chứng thiền định.
(366)
Tỳ-kheo dầu được ít,
Không
khinh điều mình được,
Sống
thanh tịnh không nhác,
Chư
thiên khen vị này.
6.
Người Bà La Môn Cúng Dường Năm Lần Thành Quả Ðầu Tiên
Hoàn
toàn, đối danh sắc ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến người Bà-la-môn cúng dường năm lần thành
quả đầu tiên.
Khi
Phật ở Kỳ Viên, có một người Bà-la-môn làm ruộng. Lúc
lúa chín, ông cúng dường những bông lúa cắt đầu tiên ngoài
đồng. Lúa đem về đập, ông cúng dường những hạt lúa
đập xong trước tiên. Khi cất lúa vào bồ, ông lại cúng
dường phần lúa đổ trong bồ đầu tiên. Khi dược nấu thành
cơm, ông cúng dường bát cơm đầ tiên bới trong nồi. Khi
dọn ra dĩa, ông lại cúng dường những hạt cơm đầu tiên
múc ra dĩa. Cúng dường năm lần như vậy cho người nào hiện
diện lúc ấy, ông không hề nếm một miếng cho đến lúc
cúng xong, do đó được gọi là"người cúng năm ần thành
quả đầu tiên".
Ðức
Phật quan sát căn cơ biết hai vợ chồng ông có thể chứng
A-na-hàm bèn đi đến nhà ông khất thực. Lúc ấy, ông Bà-la-môn
ngồi ăn cơm trong nhà, xây lưng ra ngoài cửa, do đó không
thấy đức Thế Tôn. Bà vợ ông ta đang dọn ăn cho chồng,
thấy đức Phật bèn nghĩ thầm:
-
Chồng ta sau khi cúng dường năm lần,bây
giờ đang ăn cơm. Nếu thấy Sa-môn Cồ-đàm, ông sẽ cúng
hết phần cơm của mình, mà ta thì không thể nấu cơm cho
ông được nữa.
Nghĩ
vậy bà bèn đứng sau lưng chồng, muốn che hình ảnh đức
Phật không cho chồng thấy, tưởng như lấy tay che được
mặt trăng tròn. Bà đứng vậy rồi liếc mắt trông chừng
Thế Tôn, tự nói thầm: "Ông đã đi hay chưa?" Ðức Thế Tôn
vẫn đứng yên một chỗ. Bà vợ ráng không thốt thành tiếng:
"Ông đi đi chứ", sợ chồng mình nghe được. Nhưng một lát
sau, bà bước lui và nói thật khẽ: "Ông đi đi".
-
Ta không đi.
Ðức
Phật khởi nghĩ như thế và lắc đầu. Khi đức Phật, bậc
Ðạo sư của trời người, nghĩ thầm: "Ta không đi" và lắc
đầu, bà vợ ông Bà-la-môn không nén nổi, bật cười lớn.
Ðức Phật liền phóng một đạo hào quang, hiện hình Ngài
trong nhà. Người Bà-la-môn đang ngồi quay lưng về phía Phật,
vừa nghe tiếng cười của vợ, thì cũng thấy cả đạo hào
quang sáu sắc và hình ảnh Phật. Bởi vì chư Phật, dù ở
làng mạc hay rừng sâu, không bao giờ đi khỏi khi chưa hiện
thân trước những người có cơ duyên đắc đạo. Người
Bà-la-môn trông thấy Phật rồi, ông lật đật rầy vợ:
-
Bà này hại tôi! Khi Thái tử đứng trước nhà ta, sao bà không
báo trước cho tôi biết? Bà có lỗi lớn đa nghe!
Và
ông mang đĩa cơm đang ăn dở, đem ra trước Phật nói:
-
Thưa Sa-môn Cù-đàm, sau khi cúng dường năm thành quả đầu
tiên, tôi dùng bữa trưa. Ðây là phần cơm của tôi, tôi chia
làm hai, và ăn một nửa, Ngài có thể nhận phần cơm này
không?
Thay
vì trả lời:
-
Ta không nhận cơm ông ăn dư.
Ðức
Phật nói:
-
Này Bà-la-môn, dù là phần còn lại hay đầu tiên cũng được,
chúng ta cũng giống như quỷ thần, sống bằng những thức
ăn bố thí.
Ngài
nói kệ:
Dù
phần đầu, phần giữa, phần dư,
Người
khất thực đều vui lòng nhận,
Không
phiền hà, trách móc dư thừa,
Người
khôn ấy chính bậc chánh trí.
Ông
Bà-la-môn nghe Phật nói như vậy trong lòng rất vui mừng, liền
xưng tụng:
-
Thái tử thật kỳ diệu, Ngài ở địa vị vua của thế gian,
thay vì nói "Ta không ăn cơm thừa của ông", lại nói như trên.
Và
vẫn đứng ở cửa, ông hỏi tiếp:
-
Thưa Ngài, Ngài gọi các đệ tử là "Tỳ-kheo". Vậy những
điều gì làm nên một Tỳ-kheo?
Ðức
Phật nghĩ thầm: "Ta sẽ giảng cho người này bằng cách nào
đây để được lợi ích nhất? Vào thời Phật Ca-diếp, Ngài
giảng cho hai ông bà này nghe về Thân và Tâm, nay ta cũng sẽ
giảng cho ông như vậy".
Ngài
bảo:
-
Này Bà-la-môn, một vị Tỳ-kheo là người không bị ràng buộc,
cột trói bởi những gì thuộc về Danh (Tâm) hay Sắc (Thân).
Ngài
nói kệ:
(367)
Hoàn toàn, đối danh sắc,
Không
chấp ta, của ta,
Không
chấp, không sầu não,
Thật
xứng danh Tỳ-kheo.
7.
Ðảng Cướp Ði Tu
Tỳ-kheo
trú từ bi ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên
quan đến một nhóm lớn Tỳ-kheo.
Khi
Thượng tọaKaccana ở
trên một ngọn núi gần thành phố Kuraraghara trong
nước Avanti, có
một Phật tử tên Sona Kutikanna sau
khi thấm nhuần chân lý do Ngài giảng dạy, bèn xin xuất gia.
Ngài hai lần từ chối.
- Sona,
thật là một điều khó khăn khi sống đời tịnh hạnh, phải
cư trú đơn độc, ẩm thực đơn độc.
Nhưng Sona quyết
chí xuất gia nên xin đến lần thứ ba, và được phép gia
nhập Tăng đoàn. Vì chư Tăng ở miền nam rất hiếm, thầy
ở lại đó ba năm làm tròn bổn phận của một tăng sĩ. Và
sau đó thầy xin phép sư phụ lên đường về Kỳ Viên, với
ước mong được gặp đức Thế Tôn. Ðược sư phụ cho phép
và kèm theo lời dặn dò, thầy đến Kỳ Viên, đảnh lễ Phật,
được đức Phật đón tiếp thân mật và cho phép vào hương
thất của Ngài một mình.
Thầy Sona
đi kinh hành ngoài trời hầu như suốt đêm, gần sáng mới
vào hương thất nằm nghỉ một chút. Khi bình minh đến, đức
Phật bảo thầy hãy tụng bài kinh "Mười sáu đoạn".
Thầy
đọc xong, đức Phật cám ơn và ngợi khen "Hay thay! Hay thay!"
Chư thiên, trời, rồng, Dạ xoa cho tới cõi trời Phạm thiên
đều ca ngợi thầy vang rền. Lúc ấy, tại nhà mẹ thầy ở Avanti cách
đấy một trăm hai mươi dặm, vị thần cư ngụ trong nhà cũng
ngợi khen nhiệt liệt. Bà mẹ thầy hỏi:
-
Ai đang ca tụng vậy?
-
Dạ tôi đây, thưa chị.
-
Ông là ai?
-
Tôi là vị thần cư ngụ tại nhà chị đây.
-
Từ trước tôi chẳng được nghe ông ca ngợi, sao hôm nay ông
làm thế?
-
Không phải tôi ca ngợi bà chị đâu?
-
Vậy ông ca ngợi ai?
-
Trưởng lão Kutikanna Sona,
con trai chị đấy.
-
Con tôi đã làm được gì?
-
Hôm nay Tôn giả ở trong hương thất đức Như Lai, tụng kinh
cho Ngài, và được Ngài hài lòng ngợi khen, do đó tôi cũng
ngợi khen. Chư thiên các tầng trời từ cõi Ta-bà đến cõi
Phạm thiên nghe lời ngợi khen của đức Tối Thắng, cũng
ca ngợi Tôn giả.
-
Này, có thật ông nói rằng con tôi đọc kinh cho đức Thế
Tôn? Hay đức Thế Tôn đọc cho con tôi nghe?
-
Con chị đọc cho đức Thế Tôn nghe đó chứ.
Vị
thần nói thế làm bà cảm thấy thâm tâm hoan hỷ, nghĩ thầm:
-
Nếu con ta đã đọc kinh cho đức Thế Tôn tại hương thất
của Ngài, chắc cũng sẽ đọc kinh cho ta nghe được. Khi nào
con ta trở về, ta sẽ yêu cầu được nghe giáo lý.
Khi
được đức Thế Tôn khen ngợi, Trưởng lão Sona nghĩ
thầm, "Ðây chính là lúc mình bạch lên đức Phật lời thầy
mình đã đặn dò". Tôn giả bèn thỉnh cầu đức Phật ban
cho năm ân huệ, điều đầu tiên là xin gia nhập nhóm năm
thầy Tỳ-kheo đang ẩn cư trong rừng, trong nhóm này có một
thầy rành thông Luật tạng. Tôn giả lưu lại bên đức Thế
Tôn ít ngày nữa rồi bái biệt, rời Kỳ Viên trở về với
thầy Tế độ. Ngày hôm sau, Tôn giả theo thầy đi khất thực,
đến trước cửa nhà thân mẫu. Thấy con, bà hết sức vui
mừng, hỏi han, săn sóc chu đáo, và nói:
-
Này con, nghe đâu con được vào hương thất đức Thế Tôn
một mình và đọc kinh cho Ngài nghe phải không?
-
Thưa tín nữ, ai nói việc ấy?
-
Con à, vị thần cư ngụ tại nhà ta lớn tiếng khen ngợi,
mẹ bèn hỏi "Ai khen ngợi đó". Thần trả lời "Tôi đây",
rồi thần bảo mẹ như vầy như vầy. Sau khi nghe thần nói,
mẹ nghĩ: "Nếu con ta đã đọc kinh cho đức Thế Tôn thì nó
sẽ đọc cho ta nghe được". Con à, con đã đọc kinh cho đức
Thế Tôn thì con đọc cho mẹ nghe được chứ! Vào ngày ấy
tháng ấy mẹ sẽ chuẩn bị mọi thứ để nghe con thuyết
giảng pháp nhé!
Thầy
nhận lời. Sau đó bà cúng dường chư Tăng trọng thể, cho
xây cất một Pháp đường rộng lớn, đem tất cả gia quyến
đi nghe Tôn giả Sona
thuyết pháp, chỉ chừa lại một người tớ gái trông nhà.
Lúc
ấy, một đảng cướp chín trăm tên luôn luôn tìm cách lẻn
vào nhà bà. Nhưng thật khó mà vào được vì toàn thể ngôi
nhà có bảy lớp tường bao bọc, mỗi cửa thảy đều có
chó dữ canh chừng. Những đường mương dẫn nước đều
đổ đầy chì. Ban ngày chúng nóng chảy thành chất nước
sền sệt, ban đêm thì đông cứng lại. Gần các mương ấy
người ta đóng từng hàng cọc sắt kiên cố. Do đó trộm
cướp khó có thể vào nhà.
Nhưng
vào ngày đặc biệt đó, biết rằng bà đi nghe giảng pháp,
chúng đào một địa đạo xuyên qua đường mương bằng chì
và hàng cọc sắt, vào tận trong nhà. Chúng để tên đầu
đảng canh chừng nữ chủ, bàn bạc rằng nếu thấy bà chủ
trở về khi biết có cướp vào nhà thì tên đầu đảng phải
giết bà lập tức.
Hắn
bèn đi đến nhà giảng pháp, đứng kế bên bà chủ nhà. Còn
bọn cướp vào nhà được rồi thắp đèn sáng lên và mở
cưa kho tiền đồng. Người tớ gái trông thấy chúng bèn chạy
tìm nữ chủ báo tin:
-
Thưa phu nhân, bọn cướp vào nhà và đang mở kho tiền đồng.
-
Thây kệ chúng! Muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Ta đang nghe thuyết
pháp, đừng làm rộn ta. Hãy về đi.
Khi
bọn cướp hốt sạch kho tiền đồng, chúng bèn ăn sang kho
tiền bạc. Cô tớ gái lại chạy báo tin cho chủ nhân. Bà
cũng trả lời như trên và tiếp tục nghe giảng pháp. Bọn
cướp lại hốt hết kho tiền bạc, sang mở kho tiền vàng.
Cô tới gái nóng ruột chạy đến báo tin lần thứ ba, bà
cũng nói:
-
Con đã làm rộn ta hai lần rồi. Ta đã bảo cứ để bọn
cướp mang đi những gì chúng muốn, ta đang nghe pháp, đừng
làm ồn, vậy mà con không nghe. Nếu còn nói nữa ta sẽ phạt
con đích đáng đó. Hãy về nhà đi!
Tên
đầu đảng nãy giờ ở cạnh bà canh chừng, nghe thấy vậy
bèn nghĩ thầm: "Nếu chúng ta lấy tài sản của một người
như bà này, trời Ðế Thích sẽ đánh vỡ đầu chúng ta".
Hắn trở về ra lệnh cho đồng bọn trả tất cả tài sản
cho bà. Bọn cướp lại để tiền đồng, tiền bạc, tiền
vàng đầy vào kho như cũ. Người ta nói rằng kẻ nào sống
chân thật thì được chính sự chân thật ấy bảo vệ, thật
chí lý thay! Bậc Tối Thắng từng nói:
Chân
thật che chở người ngay,
Người
chân thật sống ngày ngày đều vui.
Người
ngay sẽ được lợi thôi,
Khổ
đau phiền não chẳng lôi bao giờ.
Bọn
cướp kéo đến giảng đường nghe pháp. Ðến sáng, Tôn giả
mới chấm dứt thời thuyết pháp và bước xuống tòa. Lúc
đó, tên đầu đảng quỳ dưới chân bà Phật tử mẹ Tôn
giả:
-
Xin phu nhân tha thứ cho tôi.
-
Chuyện gì vậy, đạo hữu?
-
Tôi ghét bà, và đứng gần với ý định sẽ giết bà.
-
Không sao. Tôi tha thứ cho anh.
Tất
cả bọn cướp cũng đều đến bày tỏ sự ăn năn, bà đều
tha thứ hết. Họ thưa:
-
Thưa phu nhân, xin bà cho chúng tôi được vào Tăng đoàn của
vị giảng sư con trai bà.
Bà
bèn đến bảo vị giảng sư:
-
Này con, những vị hảo hán đây cảm động vì lòng tử tế
của mẹ và bài thuyết giảng của con, muốn gia nhập Tăng
đoàn. Con hãy độ họ.
-
Rất tốt.
Vị
giảng sư cho cắt hết những chiếc váy chúng mặc lót bên
trong, còn áo ngoài thì cho nhuộm màu vàng đất, rồi truyền
giới cho chúng.
Khi
bọn họ đã hoàn tất nhiệm vụ của một Tăng sĩ giáo đoàn,
thầy cho mỗi người một đề mục thiền quán. Chín trăm
thầy Sa-môn nhận chín trăm đề mục, lên trên một ngọn
núi và mỗi người ngồi dưới một cội cây thiền định.
Lúc
ấy, đức Thế Tôn ở tại giảng đường Kỳ Viên, cách đó
một trăm hai mươi dặm, quán sát các thầy để chọn bài
pháp thích hợp căn cơ. Ngài hiện đến trước các thầy,
nói kệ:
(368)
Tỳ-kheo trú từ bi,
Tín
thành giáo pháp Phật,
Chứng
cảnh giới tịch tịnh,
Cách
hạnh an tịnh lạc.
(369)
Tỳ-kheo, tát thuyền này,
Thuyền
không, nhẹ đi mau,
Trừ
tham, diệt sân hận,
Tất
chứng đạt Niết-bàn.
(370)
Ðoạn năm, từ bỏ năm,
Tu
tập năm tối thượng,
Tỳ-kheo
vượt năm ái,
Xứng
danh "vượt bộc lưu".
(371)
Tỳ-kheo, hãy tu thiền,
Chớ
buông lung phóng dật,
Tâm
chớ đắm say dục,
Phóng
dật, nuốt sắt nóng,
Bị
đốt, chớ than khổ!
(372)
Không trí tuệ, không thiền,
Không
thiền, không trí tuệ,
Người
có thiền, có tuệ,
Nhất
định gần Niết-bàn.
(373)
Bước vào ngôi nhà trống,
Tỳ-kheo
tâm an tịnh,
Thọ
hưởng vui siêu nhân,
Tịnh
quán theo chánh pháp.
(374)
Người luôn luôn chánh niệm,
Sự
sanh diệt các uẩn,
Ðược
hoan hỷ, hân hoan,
Chỉ
bậc Bất tử biết.
(375)
Ðây Tỳ-kheo có trí,
Tu
tập pháp căn bản,
Hộ
căn, biết vừa đủ,
Gìn
giữ căn bản giới,
Thường
gần gũi bạn lành,
Sống
thanh tịnh tinh cần.
(376)
Giao thiệp khéo thân thiện,
Cử
chỉ mực đoan trang,
Do
vậy hưởng vui nhiều,
Sẽ
dứt mọi khổ đau.
8.
Cỏ Úa, Hoa Phai
Như
hoa Vassikà ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên
quan đến năm trăm vị Tỳ-kheo.
Chuyện
kể rằng, các thầy Tỳ-kheo này sau khi khi được đức Thế
Tôn cho đề mục thiền định rồi, liền lui vào rừng sâu
và bắt đầu hành thiền. Ðang ngồi thiền, các thầy trông
thấy những bông lài mới nở tươi tắn chỉ sáng nay thôi,
chiều đã úa tàn rũ cánh gục đầu. Các thầy tự nghĩ: "Chúng
ta phải diệt trừ được thâm sân si trước khi những đóa
hoa lìa cành". Và các thầy càng nỗ lực chuyên chú vào việc
hành thiền, như vừa được tiếp thêm sức mạnh mới. Ðức
Thế Tôn quán sát các thầy Tỳ-kheo ấy và dạy rằng:
-
Này các Tỳ-kheo, cũng như đóa hoa kia thoát khỏi cành, một
vị Tỳ-kheo cần phải gắng sức thoát khỏi mối khổ sanh
tử.
Vẫn
ở tại hương thất, Ngài phóng một đạo hào quang và nói
kệ cho các thầy Tỳ-kheo:
(377)
Như hoa Vassikà,
Quăng
bỏ cánh úa tàn,
Cũng
vậy vị Tỳ-kheo,
Hãy
giải thoát tham sân.
Nghe
xong, tất cả năm trăm thầy Tỳ-kheo đều đắc quả A-la-hán.
9.
Vị Sa Môn Nhàn Tịnh
Thân
tịnh, lời an tịnh ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Trưởng lão Santakaya.
Tỳ-kheo Santakaya
là một vị Sa-môn không bao giời mắc lỗi khiếm nhã trong
cách đi đứng và mọi oai nghi cử chỉ. Thầy không bao giờ
ngáp lớn hoặc dang tay đưa chân thô tháo, luôn luôn có vẻ
điềm tĩnh, trang nhã. Chuyện kể rằng thầy vốn được sanh
ra từ bụng một con sư tử. Loài sư tử mỗi khi kiếm được
mồi, chúng thường vào trong những động vàng bạc châu báu,
mã não và nằm ở đấy bảy ngày trên một lớp bột vàng
trộn với bột hoàng thạch. Ngày thứ bảy, khi trỗi dậy,
chúng quan sát chỗ nằm, nếu thấy có dấu vết di chuyển
của đuôi, tai, hoặc bốn chân làm bụi bột tung tóe, chúng
liền tự bảo: "Thế này là chưa xứng với dòng dõi của
mình". Và ở lại nhịn đói thêm bảy ngày nữa, giữ gìn
cẩn thận hơn. Cho đến khi không thấy bụi bột dấy lên,
chúng tự nói "Ðây mới xứng với dòng dõi của ta". Chúng
mới rời ổ, ngáp và duỗi tay chân, quan sát tứ phía, rống
lên ba tiếng và đi tìm mồi. Ðược sanh từ bụng một con
sư tử như thế nên thầy luôn có vẻ điềm tĩnh.
Tư
cách trang nhã của thầy khiến các thầy khác chú ý và đến
bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, chúng con không hề thấy Sa-môn nào như thầy Santakaya.
Khi thầy đi đứng, không bao giờ thầy lúc lắc tay chân, không
hề ngáp và quơ tay, đá giò....
Ðức
Phật bảo:
-
Này các Tỳ-kheo, một vị Sa-môn nên như Trưởng lão Santakaya,
an tịnh trong khi đi đứng, trong lời nói, tư tưởng.
Ngài
nói kệ:
(378)
Thân tịnh, lời an tịnh,
An
tịnh, khéo thiền tịnh,
Tỳ-kheo
bỏ thế vật,
Xứng
danh "bậc tịch tịnh".
10.
Vị Sa Môn Và Chiếc Khố Rách
Tự
mình chỉ trích mình ...
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên,
liên quan đến Trưởng lão Nangalakula.
Thuở
ấy, có một người nghèo khổ chuyên đi làm thuê. Một ngày
kia có vị Sa-môn thấy anh đang đi trên đường, trên người
chỉ đóng chiếc khố rách, vai vác cái cày. Vị Sa-môn hỏi:
-
Nếu anh chỉ kiếm sống bằng cách ấy, sao không đi tu cho
khỏe?
-
Bạch Ngài, ai mà chịu cho con, một người làm thuê đi tu?
-
Nếu anh muốn, ta sẽ độ cho.
-
Thật là tốt phước cho con. Nếu Ngài độ con xuất gia, con
xin làm Sa-môn.
Vị
Sa-môn đem người cày thuê về tinh xá Kỳ Hoàn tự tay tắm
rửa cho y. Vị Sa-môn bảo chú Sa-di mới hãy treo chiếc khố
rách với cái cày trên một nhánh cây gần tịnh thất. Từ
đó thầy có tên là Nangalakula,
Tôn giả "Thợ Cày".
Sau
một thời gian sống trong tu viện, với những thực phẩm cúng
dường sung túc, Tôn giả "Thợ Cày" trở nên bất mãn. Không
chống chọi nổi sự dày vò, thầy nhủ thầm: "Ta không muốn
đắp chiếc y vàng do đàn việt cúng nữa". Thầy đến dưới
gốc cây, và tự sỉ nhục mình: "Mi thật xấu xa, không thành
tâm chút nào. Bộ mi muốn mặc chiếc khố rách này, trở về
thế tục để làm thuê hay sao?" Sau khi tự cảnh tỉnh mình,
thầy lại trở về tu viện, hăng hái tu hành. Vài hôm sau,
cơn bất bình lại kéo đến. Thầy cũng ra gốc cây nhìn chiếc
khố rách và tự khiển trách như trước. Cứ thế, mỗi khi
buồn bực, thầy đến gốc cây để lại lấy ý chí.
Các
vị Sa-môn để ý thầy thường lui tới gốc cây, bèn hỏi:
-
Này huynh Thợ Cày, huynh đến đó làm gì thế?
-
Thưa chư vị, tôi đến viếng vị giáo thọ của tôi.
Vài
hôm sau, thầy chứng A-la-hán. Các vị Sa-môn thấy thầy không
đến gốc cây bèn hỏi đùa:
-
Này huynh, lâu nay không thấy huynh lui tới đường này, chắc
huynh không đến vị giáo thọ nữa?
-
Thưa vâng, khi tôi còn vướng bận thế gian, tôi thường lui
tới đường này. Nhưng nay tôi chẳng còn liên hệ gì với
thế gian nữa, tôi không cần phải đi.
Các
vị Sa-môn nghe thế đến bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, thầy ấy nói điều không thật, thầy ấy
vọng ngữ.
Ðức
Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, thầy ấy nói đúng. Thầy ấy đã tự khuyên
răn mình và đã đạt được Thánh quả.
Ngài
nói kệ:
(379)
Tự mình chỉ trích mình,
Tự
mình dò xét mình,
Tỳ-kheo
tự phòng hộ,
Chánh
niệm, trú an lạc.
(380)
Tự mình y chỉ mình,
Tự
mình đi đến mình,
Vậy
hãy tự điều phục,
Như
khách buôn ngựa hiền.
11.
Người Thấy Chánh Pháp Là Thấy Ta
Tỳ-kheo
nhiều hân hoan....
Ðức
Thế Tôn dạy những lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm,
liên quan đến Trưởng lão Vakkali.
Tại
thành Xá-vệ, có một thanh niên dòng Bà-la-môn. Một ngày nọ,
chàng thấy đức Như Lai đi và thành khất thực. Trông tướng
hảo uy nghiêm của đức Phật, chàng rất yêu thích, và chán
ghét hình ảnh của mình, chàng nghĩthầm:
"Ta sẽ tình cách để được nhìn đức Như Lai suốt ngày".
Chàng bèn theo Phật xuất gia và ở trong Tăng đoàn. Thầy Sa-môn
này cứ luôn luôn tìm chỗ đứng có thể chiêm ngưỡng đức
Thế Tôn, chẳng màng đến kinh kệ và thiền định. Ðức
Như Lai biết vậy, và đợi cho trí tuệ của thầy thuần thục,
Ngài không nói một lời. Ngày nọ, đức Phật nghĩ:
"Bây
giờ trí tuệ của thầy ấy đã thuần thục". Ngài bèn bảo:
-
Này Vakkali, đâu
có gì thích thú khi ngắm một hợp thể bất tịnh gọi là
thân Ta? Này Vakkali,
ngườii nào thấy pháp là thấy Ta.
Nhưng
mặc lời khuyên của đức Như Lai, thầy Vakkali vẫn
không thể rời tia mắt khỏi đức Phật, hoặc lìa khỏi chỗ
Phật ngồi. Cuối cùng đức Phật nghĩ:
"Thầy
Sa-môn này sẽ không bao giờ tỉnh ngộ, trừ phi gặp một
cơn xúc động lớn". Lúc ấy, mùa an cư đã đến, đức Như
Lai tìm nơi an cư. Ngài về thành Vương Xá, đuổi thầy Vakkali trở
lại Trúc Lâm. Và suốt ba mùa trăng, Vakkali
không được thấy Phật, không được nghe Ngài nói. Buồn
quá, thầy sinh ra ý tưởng muốn tự tử. Thầy bèn leo lên
ngọn Linh Thứu và định nhảy xuống chết.
Ðức
Thế Tôn biết thầy quá đau khổ và chán đời, Ngài nghĩ
thầm: "Nếu thầy Vakkali
không được sự an ủi của ta, thấy sẽ làm hỏng cả dịp
chứng quả Thánh". Lập tức Ngài bèn hiện thân trước thầy Vakkali,
lúc đó đang toan đâm đầu xuống núi. Vừa thấy đức Như
Lai, thầy liên cảm thấy yêu đời, nỗi buồn khổ tiêu tan.
Và như rót đầy nước vào một đáy hồ khô cạn, đức Như
Lai đã làm tuôn dậy mối hoan hỷ trong lòng thầy. Ngài nói
kệ:
(381)
Tỳ-kheo nhiều hân hoan,
Tịnh
tín giáo pháp Phật,
Chứng
cảnh giới tịch tịnh,
Các
hạnh an tịnh lạc.
Ðức
Như Lai đưa tay về phía thầy Vakkali
và bảo:
Ðến
đây Vakkali!
Nhìn
Như Lai chớ sợ.
Ta
sẽ đưa tay đỡ
Như
kéo voi sa lầy
Vakkali,
đến đây!
Nhìn
Như Lai chớ sợ.
Ta
giúp ngươi giải thoát,
Như
gỡ được mặt trời,
Ra
khỏi cơn nhật thực.
Ðến
đây, Vakkali
Nhìn
Như Lai chớ sợ.
Ta
sẽ giải thoát người,
Như
gỡ vầng trăn tỏ
Cho
khỏi bị nguyệt thực.
Thầy
Vakkali nghĩ thầm: "Ta vừa thấy được đấng Thập Lực, và
Ngài bảo ta hãy đến bên Ngài!" Lòng thầy tràn ngập hân
hoan. "Ta làm sao đến được?", thầy tự nghĩ thế. Ðứng
trên đỉnh núi cao, dù chẳng thấy có đường đi, thầy tung
mình nhảy vào không trung đến trước mặt đấng Thập Lực
ngay khi vừa nghe những chữ đầu của câu Pháp Cú. Và trong
lúc đang bay, suy niệm bài kệ của đức Thế Tôn, thầy chế
ngự được cơn hoan lạc và chứng A-la-hán cùng một lúc với
các thần thông. Và đầy lòng cảm thán đức Như Lai, thầy
hạ xuống đất, đảnh lễ đức Phật. Thế Tôn xếp thầy
đệ nhất trong hàng đệ tử có lòng tin chân thật.