XXIII.
Phẩm Voi
1.
Phật Bị Lăng Nhục
Ta
như voi giữa trận...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở Kỳ Viên, trong trường
hợp của chính Ngài.
Trong
truyện tích Pháp Cú (179) đã đề cập đến trường hợp Màgandiyà bị
Phật từ chối, và cô bị chạm tự ái nặng. Khi trở thành
hoàng hậu, nàng quyết tâm trả thù Phật. Nàng tung tiền mướn
cư dân thành, bảo họ rằng:
-
Khi Sa-môn Cồ-đàm đến đây khất thực, các ngươi hãy tụ
tập những người hạ tiện đi theo chửi mắng ông ta, đuổi
ông ta đi.
Khi
đức Phật và A-nan đi đến thành, dân cư không tin Tam Bảo
đã đi theo Ngài, la hét.
-
Ông là kẻ giặc cướp, ngu dốt, khùng, ông là lạc đà, bò,
lừa, quỷ ở địa ngục, là súc sanh, không có hy vọng được
cứu rồi, ông chỉ có nước chờ bị đọa thôi...
Như
vậy, họ dùng mười cách mắng chửi để mắng chửi Phật.
Nghe các câu mạ nhục, Tôn giả A-nan bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, dân cư nơi này chửi mắng chúng ta, xin hãy
đi nơi khác.
-
Chúng ta sẽ đi đâu, A-nan?
-
Ði đến thành phố khác, bạch Thế Tôn.
-
Nếu như dân ở thành phố đó cũng chửi mắng ta?
-
Thì chúng ta lại đi đến thành phố khác, bạch Thế Tôn.
-
Nếu như đến nơi kia cũng bị mắng chửi?
-
Ði đến chỗ khác nữa, bạch Thế Tôn.
-
Này A-nan! Chúng ta không nên làm như thế. Bất cứ nơi nào
có rắc rối, phiền não nổi lên, chúng ta nên ở lại đó
cho đến khi chúng lắng dịu hẳn, và chỉ khi đó chúng ta
mới nên đi nơi khác. Nhưng ai đã chửi mắng chúng ta?
-
Bạch Thế Tôn, những kẻ hạ tiện, nô tỳ, tất cả đều
chửi mắng.
-
Này A-nan! Ta như con voi đã ra trận. Và như con voi giữa trận
hứng chịu tên bay từ bốn phía, bổn phận ta phải nhẫn
nại nghe những lời ác độc thốt ra.
Và
Ngài lấy mình làm tiêu đề giảng pháp với các câu:
(320)
Ta như voi giữa trận,
Hứng
chịu cung tên rơi,
Chịu
đựng mọi phỉ báng,
Ác
giới rất nhiều người.
(321)
Voi luyện, đưa dự hội,
Ngựa
luyện, được vua cưỡi,
Người
luyện, bậc tối thượng,
Chịu
đựng mọi phỉ báng.
(322)
Tốt thay, con la thuần,
Thuần
chủng loài ngựa Sindh
[*]
Ðại tượng, voi có ngà,
Tự điều mới tối thượng.
[*]
loài ngựa đẹp ở vùng sông Sindha, Ấn Ðộ
Nghe
xong, quần chúng ở hai bên đường, ở ngã ba, ngã tư, những
kẻ ăn tiền chửi mướn Phật đều chứng từ Sơ quả đến
Tam quả.
2.
Thầy Sa Môn Luyện Voi
Chẳng
phải loài cưỡi ấy...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ
đến một Tỳ-kheo từng là quản tượng.
Một
ngày nọ, một vị Tỳ-kheo trước kia từng là quản tượng,
đứng bên bờ sông Acirvatì
thấy một người quản tượng đang cố gắng huấn luyện
một con voi. Thấy người ấy không đạt kết quả, thầy muốn
mách nước, bèn nói với các thầy Tỳ-kheo đứng gần:
-
Nếu đánh con voi ở chỗ này, chỗ này... nó sẽ nghe lời
ngay thôi.
Người
quản tượng nghe được, làm theo lời, và chẳng bao lâu con
voi tuân theo ý ông...
Các
Tỳ-kheo bạch Phật câu chuyện. Phật cho gọi thầy Tỳ-kheo
ấy lên hỏi:
-
Có phải thật ông nói như thế?
-
Bạch Thế Tôn, vâng!
Phật
quở:
-
Ngươi vô tích sự, ngươi thi thố tài nghệ với người luyện
voi, luyện thú để làm gì? Không phải leo lên lưng những
con thú đó là có thể đi đến nơi muốn đến mà chưa đến
được. Chỉ có trong sự tự huấn luyện bản thân mới có
thể đến được nơi khó đến. Từ đây ngươi hãy tự điều
phục chính mình, đừng làm trò huấn luyện thú như thế nữa:
Ngài
nói kệ:
(323)
Chẳng phải loài cưỡi ấy,
Ðưa
người đến Niết-bàn,
Chỉ
có người tự điều,
Ðến
đích, nhờ điều phục.
3.
Lão Bà La Môn Và Các Con
Con
voi tên Tài Hộ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Phật ở Xá-vệ, trong trường hợp
một Bà-la-môn già bị các con hất hủi.
Tại
thành Xá-vệ, một Bà-là-môn có bốn người con trai và gia
tài tám trăm ngàn đồng tiền vàng. Khi các con đến tuổi
trưởng thành, ông cưới vợ cho chúng và cho mỗi đứa một
trăm ngàn tiền vàng. Sau đó, vợ ông chết, các người con
họp nhau lại bàn tán:
-
Nếu cha ta cưới vợ khác, gia tài sẽ bị chia cho mấy đứa
con sau và không còn gì cả. Chi bằng chúng ta săn sóc ông già
để hưởng gia tài của ông.
Chúng
bu quanh hầu hạ ông chu đáo, lo thức ăn ngon, quần áo đẹp,
tắm rửa cho ông, mọi bổn phận đều làm tròn.
Một
ngày nọ, chúng đến hầu thấy ông vẫn còn ngủ. Ngay khi
ông thức giấc, chúng rửa tay chân cho ông, và nói về sự
bất lợi của một gia đình chia hai dòng con. Chúng hứa:
-
Chúng con sẽ săn sóc cha cho tới khi cha chết, cha hãy chia cho
chúng con số tiền còn lại.
Ông
già chiều theo lời yêu cầu, chia luôn bốn trăm ngàn tiền
còn lại làm bốn phần, cho mỗi đứa một phần, riêng ông
chẳng còn gì, ngoài bộ quần áo dính da.
Vài
ngày đầu, đứa con trưởng hầu hạ ông. Một hôm, khi ông
đến nhà người này như thường lệ, mụ con dâu đứng ở
cửa vừa gặp ông liền nói:
-
Ông có cho thêm con trai ông một trăm hay một ngàn đồng không?
Rõ ràng ông cho mỗi con trai ông hai trăm ngàn đồng mà. Ông
không biết đường đi tới nhà mấy ông con kia à?
Ông
Bà-la-môn giận dữ, mắng:
-
Im đi, con đàn bà đê tiện.
Ông
đến nhà đứa con thứ hai. Nhưng chỉ vài hôm, ông lại bị
đuổi ra khỏi nhà theo cách của đứa thứ nhất, và cảnh
ấy cũng diễn ra ở tại nhà đứa út. Rốt cuộc ông không
có nhà để nương thân.
Do
đó, ông từ bỏ đời thế gian, đi tu theo giáo đoàn Pandaranga,
xin ăn từ nhà này sang nhà khác. Theo thời gian, ông trở nên
gầy ốm vì tuổi già, thân thể suy sụp vì thức ăn tồi
tệ và chỗ ngủ không đủ ấm. Một ngày nọ, sau khi đi xin
ăn về, ông nằm dài tại chỗ và ngủ thiếp đi. Mở mắt
ra ông mệt mỏi nhìn quanh chẳng thấy có đứa con nào để
nhờ cậy. Ông nghĩ thầm: "Họ nói rằng Sa-môn Cồ-đàm có
một dáng dấp từ hòa, vẻ mặt chân thật cởi mở, rằng
thái độ của Ngài hoan hỷ, rằng Ngài tiếp khách lạ với
tất cả vẻ thân thiện. Có lẽ ta nên đến với Sa-môn Cồ-đàm,
để được tiếp đãi ấm áp".
Ông
khoác áo, ôm bát, chống gậy đi đến chỗ Thế Tôn. Ðến
nơi ông ngồi qua một bên thật cung kính. Ðức Thế Tôn chào
đón ông vui vẻ và hỏi:
-
Này Bà-la-môn, vì sao ông đến nơi này với vẻ tiều tụy,
áo rách tả tơi thế kia?
-
Thưa Cồ-đàm, tôi có bốn đứa con trai, nhưng chúng bị mê
hoặc bởi mấy con vợ, rồi đuổi tôi ra khỏi nhà.
-
Ðược rồi, ông hãy học thuộc bài kệ này. Và khi mọi người
và các con ông đến nhà họp, ông đọc lên trước chúng.
Ngài
dạy:
Chúng
là những đứa con khi sanh ra tôi vui mừng, mong mỏi.
Vậy
mà chúng nghe lời vợ xúi giục, đuổi tôi như xua chó.
Chúng
gọi tôi "Cha thân yêu!..." thật ác độc và rỗng tuếch.
Quỷ
đội lốt con trai, chúng bỏ rơi tôi khi tuổi già, như bỏ
đói con ngựa già vô dụng.
Làm
cha một lũ ngu, phải xin ăn lang thang từng nhà.
Một
cây gậy còn tốt hơn lũ con bất hiếu.
Gậy
còn đuổi được bò rừng chó dữ.
Gậy
dẫn đường trong đêm tối, đỡ chân qua vũng nước bùn lầy.
Ông
Bà-la-môn học thuộc lòng bài dạy trên.
Một
ngày nọ, dòng Bà-la-môn họp mặt, các con trai ông cũng đến
họp. Chúng ăn mặc sang trọng, trang sức quí giá và ngồi
vào chỗ danh dự giữa những người Bà-la-môn. Ông già nhủ
thầm: "Ðây là cơ hội tốt cho ta". Ông đi vào phòng họp,
giữa mọi người ông đưa tay lên nói:
-
Tôi muốn đọc một bài thơ, xin các ngài hãy nghe cho.
-
Ông đọc đi, chúng tôi nghe.
Ông
đứng giữa hội chúng, đọc lên bài kệ đức Phật dạy.
Luật
pháp thời ấy ấn định rằng: "Nếu người nào hưởng gia
tài của cha mẹ, mà không nuôi dưỡng cha mẹ, sẽ bị tử
hình". Các con ông đã hoảng sợ, quỳ xuống dưới chân ông
van xin:
-
Cha ơi! Xin cứu chúng con.
Trái
tim người cha mềm yếu, ông bèn bảo lãnh cho chúng.
-
Xin các vị đừng xử tội chúng. Chúng sẽ nuôi nấng tôi.
Hội
chúng hăm đám con ông:
-
Từ nay, nếu các anh không săn sóc ông cụ tử tế, chúng tôi
sẽ đưa ra pháp luật đấy.
Bốn
người con trai hoảng sợ, vội khiêng ông cụ về nhà, tắm
rửa kỳ cọ, xoa dầu, bôi kem, ướp phấn... cho ông cụ, rồi
gọi vợ đến bảo:
-
Từ nay bổn phận của các bà phải săn sóc cha cho chu đáo.
Nếu thiếu sót coi chừng ăn đòn.
Chúng
dọn thức ăn thượng vị cho ông.
Từ
đó được bồi dưỡng, nghỉ ngơi êm ấm tiện nghi, ông cụ
phục hồi sức khỏe, thân thể tươi tốt. Ông tự nhủ: "Ta
được như vầy là nhờ Sa-môn Cồ-đàm". Ông bèn chọn một
cặp vải tốt, đi đến chỗ đức Phật, chào Ngài và lui
ngồi một bên, đặt vải dưới chân Phật, thưa:
-
Kính bạch Cồ-đàm, dòng Bà-la-môn chúng tôi mong ước rằng
một vị thầy nhận lễ vật, xin đức Cồ-đàm tôn kính là
thầy của tôi, nhận lễ vật này.
Phật
nhận xấp vải, và giảng pháp cho ông cụ nghe. Nghe xong, ông
quy y Phật và thưa:
-
Bạch Cồ-đàm, các con tôi thường cung cấp cho tôi một ngày
bốn bữa ăn, tôi xin cúng dường Ngài hai bữa.
-
Rất tốt đó ông lão, nhưng chúng ta chỉ đi đến nhà nào
được chọn.
Ông
cụ về nhà bảo các con:
-
Này các con, Sa-môn Cồ-đàm là bạn của ta, ta dâng Ngài hai
bữa ăn. Khi Ngài đến hãy tiếp đãi đừng thiếu sót.
Các
con đều hứa nghe lời. Ngày hôm sau, đức Phật đi khất thực,
Ngài đứng trước cửa nhà của người con trưởng. Người
này vội đỡ lấy bình bát của Ngài, mời vào nhà, soạn
ghế nệm gấm thỉnh Phật ngồi, và cúng dường thức ăn
thượng vị. Những ngày sau, đức Thế Tôn đến các người
con kế, họ đều tiếp đón Ngài nồng hậu.
Ngày
nọ sắp đến lễ hội, người con trưởng hỏi ông:
-
Thưa cha, ai là ân nhân danh dự của chúng ta?
-
Chỉ có Sa-môn Cồ-đàm thôi, không ai khác.
-
Như thế, ngày mai xin mời Ngài và năm trăm vị Sa-môn.
Ông
cụ thỉnh Phật và năm trăm Tăng chúng. Ngày hôm sau, Phật
cùng chúng Tăng đến nhà ông. Ngôi nhà trang hoàng theo nghi
thức lễ hội, ông Bà-la-môn dọn chỗ ngồi cho Phật và chúng
Tăng, dâng cúng các thức ăn thượng vị loại cứng, loại
mềm. Bốn người con ngồi trước Phật, bạch rằng:
-
Thưa Ngài Cồ-đàm, chúng tôi săn sóc ông già chu đáo, không
dám lơ là. Ngài hãy nhìn ông cụ xem.
Phật
dạy:
-
Các ngươi làm như thế tốt lắm. Người khôn ngoan bao giờ
cũng nuôi dưỡng cha mẹ chu đáo.
Ngài
nói kệ:
(324)
Con voi tên Tài Hộ,
Phát
dục, khó điều phục,
Trói
buộc không ăn uống,
Voi
nhớ đến rừng voi.
Ðức
Phật kể chuyện con voi Tài Hộ (Dhanapàla)
dù được vua săn sóc, cho ăn ngon, ở nơi đẹp, vẫn nhớ
mẹ nơi rừng voi. Không chịu ăn uống vì nghĩ đến bổn phận
làm con đối với cha mẹ. Nghe xong, mấy người con đều rơi
lệ. Ðức Phật biết rằng họ đã thấm nhuần bèn giảng
pháp. Cuối cùng, cả ông cụ, các con trai, con dâu, đều chứng
Sơ quả.
4.
An Uống Ðiều Ðộ
Người
ưa ngủ, ăn lớn...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến vua Ba-tư-nặc.
Có
một lúc, vua Ba-tư-nặc thường ăn rất nhiều cơm nấu với
cà ri, nước sốt gia vị. Ngày kia, sau bữa điểm tâm dồi
dào quá độ, cơ thể và tâm tư ngầy ngật, nhà vua đến
chỗ Phật, đi tới đi lui trước mặt Ngài với vẻ thật
mệt mỏi. Nhà vua chỉ muốn nằm lăn ra ngủ mà không được
nên đến ngồi xuống một bên Phật. Ðức Phật thấy thế
bèn hỏi:
-
Ðại vương, trước khi đến đây Ngài chưa được ngủ nghĩ
chăng?
-
Bạch Thế Tôn, không phải. Con luôn khó chịu sau khi ăn no.
-
Này Ðại vương! Ăn uống vô độ thường đưa đến sự mệt
mỏi.
Ngài
nói kệ:
(325)
Người ưa ngủ, ăn lớn,
Nằm
lăn lóc qua lại,
Chẳng
khác heo no bụng,
Kẻ
ngu nhập thai mãi.
Muốn
giúp nhà vua, Phật dạy thêm:
Người
khôn ăn uống vừa chừng
Thân
tâm nhẹ nhỏm, lâu già, sống vui.
Phật
bảo hoàng tử Uttara
(Uất-đà):
-
Con hãy học thuộc bài kệ này, và mỗi khi nhà vua ngự yến,
con đọc lên theo cách sau và nhà vua sẽ tự ngừng.
Xong,
đức Phật bày cho hoàng tử cách làm. Hoàng tử tuân theo lời
Phật dạy. Và sau một thời gian nhà vua ăn uống nhỏ nhẹ,
giảm bớt trọng lượng và trở nên dễ chịu. Nhà vua thường
xuyên đến thăm Phật, tổ chức lễ hội dâng cúng phẩm vật
tối thắng trong bảy ngày. Khi đức Thế Tôn nói lên lời
hồi hướng, cả hội chúng triều đình đều được ích lợi
lớn.
5.
Chú Tiểu Và Dạ Xoa
Trước
tâm này buông lung...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan tới
chú tiểu Sànu.
Sànu
là con trai duy nhất của một gia đình mộ đạo, chú được
nhận vào Tăng đoàn khi còn rất bé. Hồi ấy chú rất nhiệt
tâm và đạo hạnh. Chú làm tròn bổn phận một cách trung
hậu với thầy Tế độ, với Giáo thọ và các khách tăng.
Mỗi tháng, vào ngày mùng 8, chú dậy sớm, xách nước đổ
đầy các chum vại, quét dọn giảng đường, lau chùi bàn ghế,
thắp đèn, và dùng tiếng trong thanh kêu gọi thiện tín đến
nghe pháp.
Các
thầy Tỳ-kheo thấy chú ngoan ngoãn và cần mẫn, lại thích
thú giọng chú đọc tụng kinh nên thường yêu cầu chú tụng
đọc. Chú không bao giờ từ chối, nói rằng: "Con mệt tim..."
hay "Con nhức mình..." hay tỏ ra miễn cưỡng tuân lời. Chú
ngồi trên ghế, cao tiếng tụng đọc như dòng hải triều
tuôn từ cõi chư thiên. Mỗi khi tụng đọc xong, chú tụt xuốnng
ghế và hồi hướng: "Tất cả phước báo do việc tụng đọc
kinh này, xin hồi hướng cho cha mẹ tôi".
Song
thân hiện tại chú không biết gì về sự hồi hướng ấy,
nhưng bà mẹ kiếp trước của chú, tái sanh làm quỷ Dạ-xoa.
Bà thường cùng đến nghe kinh với các vị thần. Và bà nói:
"Con yêu quí, ta cảm tạ sự hồi hướng của con". Thường
có câu: "Một vị Sa-môn giữ giới trong sạch được trời
và người quý mến". Vì thế, chư thiên kính trọng chú Sa-di,
xem ngang bằng trời Ðại Phạm, hoặc như ngọn đuốc sáng.
Cũng thế, họ tôn kính và ca ngợi bà Dạ-xoa, mẹ kiếp trước
của chú. Khi các Dạ-xoa hợp đến nghe kinh, bà được ngồi
ghế thứ nhất, uống nước trước nhất, có thức ăn trước
nhất. Ngay cả các Dạ-xoa đầy uy lực, cũng nhường bước
và nhường chỗ ngồi cho bà.
Khi Sànu
đến tuổi trưởng thành, tâm sinh lý chú phát tirển, chú
trở nên lười chán. Và không tự thắng được chính mình,
ngày kia, chú không nói với ai, để râu tóc mọc dài, y áo
nhớp nhúa, chú mang y bát trở về nhà. Bà nữ thí chủ thấy
con trở về, bà chào chú:
-
Ủa này con, lúc trước con thường về nhà với thầy con hoặc
một sư huynh hay vài Sa-di nhỏ, sao hôm nay con về một mình?
Chú
bày tỏ với mẹ nỗi khổ về sự bất mãn của mình. Nữ
cư sĩ là người mộ đạo, giảng giải cho chú những bất
lợi của cuộc sống thế tục, nhưng chú không nghe. Rốt cuộc,
mẹ chú nghĩ thầm: "Có lẽ không cần sự khuyên bảo của
ta, chú ấy sẽ nghĩ lại". Bà nói:
-
Thôi con ngồi đây, đợi mẹ làm cơm cho con ăn. Ăn xong, mẹ
đem áo quần tốt ra cho con mặc.
Bà
lo sắp chỗ ngồi, đem bánh trái ra thết đãi chú, và dọn
bánh xèo, rồi mới lo nấu cơm. Bà ngồi vo gạo cách đấy
không xa.
Lúc
ấy, bà Dạ-xoa tự hỏi: "Chú Sa-di đi đâu? Chú có khất thực
được không?". Bà quan sát thấy chú muốn hoàn tục, đang
trở về ngồi tại nhà mẹ ruột.
Bà
nghĩ: "Nếu ta khuất phục được chú Sa-di, ta sẽ được chư
thiên kính trọng. Ta sẽ ngăn cản chú ấy". Lập tức bà nhập
vào chú, khống chế tay chân, vặn cổ chú và xô té xuống
đất, chú Sa-di mắt trợn ngược, sùi bọt mép, giãy giụa.
Bà mẹ đang vo gạo, thấy thế vội ẵm chú lên, mọi người
chung quanh chạy đến, mang đồ cấp cứu.
Bà
mẹ khóc, đọc bài kệ:
Tôi
nghe chư A-la-hán
Dạy:
"Người mỗi nửa tháng
Giữ
giới Bát quan trai
Và
giới bố-tát ngày
Mồng
tám, rằm, mười bốn
Giữ
phạm hạnh như thế
Dạ
xoa không xâm hại"
Nhưng
hôm nay tôi lại
Thấy
họ phá Sànu.
Quỷ
Dạ xoa nghe bà đọc bài kệ, bèn đáp:
Chư
A-la-hán nói trúng
Ai
cứ mỗi nửa tháng
Giữ
giới Bát quan trai
Và
giới Bố-tát ngày
Mồng
tám, rằm, mười bốn
Giữ
phạm hạnh như thế
Dạ
xoa không xâm hại.
Rồi
Dạ xoa đọc kệ khuyên Sànu:
Sànu,
Hãy nghe
Dạ xoa nói
Ðừng xa Phật, làm ác
Lén lút hay công khai.
Nếu làm ác đời nay
Hoặc sau này, ngươi sẽ
Chẳng bao giờ thoát khổ
Dù có cánh để bay
Lên
trời tìm đường ẩn.
Nói
xong, quỷ xuất ra. Sànu
mở mắt, thấy mẹ mình tóc tai rối bù, khóc than kể lể,
mọi người chung quanh. Không biết mình mới bị quỷ nhập,
chú hỏi:
-
Vừa mới đây con còn ngồi trên ghế, mẹ vo gạo gần con.
Sao bây giờ con lại nằm dưới đất?
Và
chú nói tiếp:
Người
ta khóc kẻ chế
Hoặc
người đi không về
Con
ngồi đây sao mẹ
Lại
khóc con tỉ tê?
Bà
mẹ muốn chỉ rõ cho chú thấy hậu quả xấu của việc đã
xuất gia từ bỏ mọi thú vui thế gian, mọi lạc thú nhục
dục, lại muốn hoàn tục. Bà đáp:
Con
à, người ta khóc
Người
chết, hoặc người đi
Ði
mãi chẳng trở về.
Họ
cũng khóc nữa khi
Người
tu lại ra đời
Những
người như thế ấy
Sống
chết đâu khác gì.
Bà
tiếp tục so sánh đời sống thế tục như lò than, như hỏa
ngục, nhấn mạnh sự nguy hại của đời sống tại gia.
Than
hừng cả hai bên.
Con
có muốn ngã nào?
Ðịa
ngục từ bốn phía,
Con
có muốn rơi vào?
Bà
nói thêm:
-
Con ơi! Cầu con được may mắn! Con đã được mẹ cứu như
giựt củi khỏi đống lửa, con đã từ bỏ thế gian đi theo
Phật nay lại muốn trở lui thiêu đốt trong nhà thế gian.
Con hãy mau ra khỏi và che chở cho chúng ta!
Nói
xong, bà tự nhủ: "Không có cách nào để ta đánh thức sự
chán ghét, ghê tởm của chú hơn nữa sao?"
Ðể
chú rõ thêm, bà đọc kệ:
Hãy
tinh tấn con ơi!
Cầu
con đi đường may
Bằng
cách nào mẹ khiến
Con
gớm đời được đây?
Ðã
giựt ra khỏi lửa,
Con
là thanh củi say,
Muốn
cháy thiêu lần nữa,
Làm
sao, làm sao đây?
Chú Sànu
nghe mẹ nói xong, tri giác tự tỉnh và nói:
-
Con không hoàn tục.
-
Tốt lắm! Con yêu quý!
Bà
mẹ rất hoan hỷ, bà dọn đủ món ngon cho chú. Ăn xong, bà
hỏi tuổi chú và được biết chú đủ tuổi để thọ Tỳ-kheo
chánh thức gia nhập Tăng đoàn, bà cúng dường chú ba y. Với
y và bát đầy đủ, chú được chính thức là vị Tỳ-kheo
của Tăng đoàn.
Ðức
Thế Tôn, ngay lúc ấy đã khuyên chú nên kiểm soát tư tưởng:
-
Nếu một người để tư tưởng mình rong ruổi xa xôi, lâu
dài, suy nghĩ đủ mọi chuyện mà không cố gắng kiểm soát,
người ấy không thể đạt được Giải Thoát. Vì thế phải
nỗ lực kiểm soát tư tưởng, như người nài voi kiềm thúc
con voi trong thời phát dục bằng móc sắt.
Ngài
nói kệ:
(326)
Trước tâm này buông lung,
Chạy
theo ái, dục, lạc,
Nay
ta chánh chế ngự,
Như
cầm móc điều voi.
Nghe
xong, chư thiên cùng đến nghe pháp với Sànu,
đã chứng Pháp nhãn. Sau này, Thượng toạ Sànu
thông suốt Tam tạng, Ngài trở nên một vị giảng sư uyên
bác, sống một trăm hai chục tuổi, giáo hóa toàn cõi Diêm-phù-đề,
và sau cùng nhập Niết-bàn.
6.
Con Voi Sa Lầy
Hãy
vui không phóng dật...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến
voi Pàveyyaka.
Vua
Ba-tư-nặc có một con voi tên Pàveyyaka.
Khi còn nhỏ nó rất mạnh, nhưng trở về già sức lực yếu
đi. Một ngày nọ, nó lội ngang các hồ lớn, bị lún chân
xuống bùn không bước được. Dân chúng kháo nhau:
-
Xem kìa! Con voi hồi nhỏ mạnh như thế, bây giờ yếu như
thế.
Nhà
vua nghe tin, lập tức ra lệnh cho người quản tượng:
-
Hãy kéo con voi ra khỏi đám bùn,
Người
quản tượng đi đến bờ hồ, giả cách để cho voi thấy
như mình sắp ra trận, đầu đội mũ sắt, trống đánh vang
lừng.
Kiêu
khí của con voi trỗi dậy. Nó đứng lên mau mắn, và rút chân
ra khỏi sình, bước liền lên đất khô. Các vị Tỳ-kheo chứng
kiến sự việc, về bạch Phật, Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, con voi đã tự kéo mình ra khỏi sình lầy.
Nhưng các ông bị đắm nhiễm trong bãi lầy dục vọng, hãy
cố gắng với tất cả sức lực của mình để thoát ra.
Ngài
nói kệ:
(327)
Hãy vui không phóng dật,
Khéo
phòng hộ tâm ý,
Kéo
mình khỏi ác đạo,
Như
voi bị sa lầy.
7.
Voi Làm Thị Giả Phật
Nếu
được bạn hiền trí...
Câu
chuyện xảy ra khi Phật ở trong một khu rừng với voi Pàveyyaka,
liên quan đến một nhóm Tỳ-kheo.
Khi
Phật ở Kosambi, các
thầy Tỳ-kheo ở đấy đã chia phe tranh cãi nhau không dứt.
Phật dạy bảo cũng không ai nghe, Ngài bèn vào rừng nhập
hạ một mình. Ở đấy, một con voi chúa đã hầu hạ Ngài
chu đáo. Ðiều này mọi người tăng tục đều hay tin. Nơi
thành Xá-vệ, ông Cấp Cô Ðộc, bà Tỳ-xá-khư, các nhà đại
phú hộ khác đến thỉnh cầuTôn
giả A-nan:
-
Bạch Tôn giả, xin cho chúng con được gặp Phật.
Và
năm trăm thầy Tỳ-kheo ở xứ khác, sau khi an cư, đã đến
thỉnh cầu A-nan:
-
Thưa Tôn giả, đã lâu chúng tôi không được nghe pháp âm
của đức Thế Tôn. Xin Tôn giả vui lòng cho chúng tôi được
gặp Thế Tôn và nghe Ngài giảng pháp.
Tôn
giả A-nan liền dắt năm trăm Tỳ- kheo đi đến khu rừng nơi
Phật ở. Ðến cửa rừng, Ngài nghĩ thầm: "Ðức Như Lai đã
sống cô tịch trong ba tháng. Bây giờ thật không thích hợp,
nếu ta đột ngột mang hết mấy trăm người này cùng vào
với ta". Nghĩ thế, ngài bèn đi một mình đến chỗ Phật.
Khi voi chúa Pàveyyaka thấy
Tôn giả, bèn tung vòi tiến tới. Ðức Phật bảo:
-
Hãy lui, Pàveyyaka,
đừng xua đuổi người ấy. Ðó là thị giả của Như Lai.
Voi
chúa bèn cuốn vòi lại, và ngỏ ý muốn đỡ y bát của Tôn
giả, nhưng Ngài từ chối. Voi nghĩ: "Nếu người biết lễ
phép, sẽ không đặt vật dụng của mình lên phiến đá của
Như Lai ngồi". Tôn giả đặt y bát của mình xuống đất (Theo
lễ nghi không được để vật dụng của mình nơi giường
hoặc ghế của thầy). Sau khi lễ Phật, Tôn giả lui ngồi
một bên. Phật hỏi:
-
Ông đến một mình?
A-nan
thưa rằng mình đến với năm trăm Tỳ-kheo.
-
Họ ở đâu?
-
Con không biết ý của Thế Tôn nên để họ ở ngoài rừng.
-
Hãy gọi họ vào.
Tôn
giả trở ra gọi năm trăm Tỳ-kheo vào. Thế Tôn hoan hỷ tiếp
đón các thầy. Và các Tỳ-kheo đã bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài là một vị Phật tôn quý, một ông hoàng
quý phái. Vậy mà Ngài phải ở một mình ba tháng tại nơi
này, thật vất vả khi đứng, khi ngồi. Không có ai giúp đỡ
Ngài trong các việc quan trọng cũng như lặt vặt, chẳng ai
múc nước cho Ngài súc miệng...
Phật
trả lời:
-
Này các Tỳ-kheo, voi chúa Pàveyyaka đã
làm giúp ta tất cả mọi việc. Ðược một người bạn như
thế, sống độc cư cũng tốt. Và nếu không có bạn như thế,
tốt hơn là nên sống một mình.
Ngài
nói kệ:
(328)
Nếu được bạn hiền trí,
Ðáng
sống chung, hạnh lành,
Nhiếp
phục mọi hiểm nguy,
Hoan
hỷ sống chánh niệm.
(329)
Không gặp bạn hiền trí,
Ðáng
sống chung, hạnh lành,
Như
vua bỏ nước bại,
Hãy
sống riêng cô độc,
Như
voi sống rừng voi.
(330)
Tốt hơn sống một mình,
Không
người ngu kết bạn,
Ðộc
thân, không ác hạnh,
Sống
vô tư vô lự,
Như
voi sống rừng voi.
8.
Ma Vương CámDỗ Phật
Vui
thay, bạn lúc cần! ...
Khi
đức Bồ-tát còn ở trong thời kỳ tu ẩn dật ở trong dãy
núi Tuyết (Himàlaya),
chế độ cai trị của các quốc vương khắc nghiệt. Và đức
Thế Tôn trông thấy dân chúng bị nhiều hình phạt độc ác,
Ngài động lòng thương xót. Ngài tự nhủ: "Tại sao không
thực hành một chế độ công bình, chính trực, không có giết
chóc, chinh phạt và đau khổ".
Khi
ấy Ma vương bắt gặp tư tưởng trên thoáng qua trong đầu
đức Phật, hắn nghĩ: "Sa-môn Cồ-đàm vừa nghĩ đến việc
cai trị. Có lẽ bây giờ ông ấy muốn làm vua, đó là một
dịp cho ông ấy tán tâm. Nếu ông ấy ra nắm quyền cai trị,
ta có thể cám dỗ ông ấy. ta sẽ đến để gợi lòng tham
ấy."
Ma
vương đến chỗ Phật và bảo:
-
Thưa Ngài, hãy để đức Thế Tôn cai trị, hãy để bậc Tối
Thắng cai trị, sẽ không có giết chóc, chinh phạt và khổ
đau, mà chỉ có công bằng và chính trực.
-
Này Ma vương! Ông thấy ta thế nào mà nói như vậy?
-
Thưa Ngài, một vị Phật có thể thi triển bốn phép mầu.
Chỉ cần Ngài ra lệnh: "Ngọn núi Himàlaya
hãy biến thành vàng", lập tức nó sẽ biến thành vàng. Tôi
cũng sẽ lấy tài lực này để thực hiện tất cả những
việc có thể thực hiện bằng tài lực. Như thế, Ngài sẽ
cai trị công bằng chánh trực.
Phật
bảo:
Lòng
tham người không thỏa
Dù
có núi tử kim
Biết
vậy, người khôn tìm
Ðường
thẳng ngay tiến bước.
Người
đã sớm vẽ trước
Người
nhân của khổ đau,
Ðâu
có thể nào giao
Ðời
mình cho lạc thú?
Hãy
để người đã thấu
Nhân
sanh tử luân hồi
Tự
tu tập điều phục
"Lưỡi
ái" buộc bao đời
Phật
cảnh cáo Ma vương:
-
Này Ma vương, ta khuyên ông một lần nữa, Ta không giống ông.
Ðó là điều Ta muốn nói.
Ngài
nói kệ:
(331)
Vui thay, bạn lúc cần!
Vui
thay, sống biết đủ!
Vui
thay, chết có đức!
Vui
thay, mọi khổ đoạn!
(332)
Vui thay, hiếu kính mẹ!
Vui
thay, hiếu kính cha!
Vui
thay, kính Sa-môn!
Vui
thay, kính Hiền Thánh!
(333)
Vui thay, già có giới!
Vui
thay, tín an trú!
Vui
thay, được trú tuệ!
Vui
thay, ác không làm!