XXI.
Phẩm Tạp Lục
1.
Sông Hằng Dâng Nước
Nhờ
từ bỏ lạc nhỏ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan
những hành động quá khứ của Ngài.
Một
thuở, thành Tỳ-xá-ly là một đô thị giàu mạnh, dân cư
đông đúc. Có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy hoàng tử nối
nhau trị vì. Mỗi ông hoàng có cung điện riêng, nhiều đền
chùa, lâu đài, công viên, hồ tắm ở khắp nơi trong xứ.
Tóm lại đó là một thành phố sung túc.
Nhưng
ít lâu sau nguồn lương thực bị cạn dần, rồi mất mùa,
kế đến là nạn đói. Những người nghèo đói chết trước
nhất, tử thi của họ bị vất khắp nơi, mùi hôi thúi xông
lên quyến rũ một số ác quỷ. Bọn này tung hoành làm một
số người chết thêm, mùi hôi xác chết kinh khiếp đưa đến
bệnh dịch. Như vậy có ba thiên tai xảy ra: nạn đói, ác
thần và bệnh dịch.
Dân
cư trong thành họp lại dâng kiến nghị lên nhà vua:
-
Ðại vương! Trong thành chúng ta đang bị ba thiên tai, trong
thời bảy vua quá khứ không hề xảy ra điều này. Thời của
vị minh quân nào đã qua cũng không có thiên tai đến như thế.
Nhà
vua họp đại hội toàn quốc, tuyên bố:
-
Có thể ta phạm một vài lỗi lầm, hãy phán xét ta.
Dân
chúng tìm tòi những hành vi của nhà vua từ trước đến giờ,
không thấy lỗi gì.
-
Ðại vương, chúng tôi không tìm thấy lỗi nơi ngài.
Họ
họp nhau, tìm cách giảm bớt những thiên tai đang xảy ra.
Một số người đề nghị tế lễ, cầu cúng, hội hè, nhưng
thiên tai không giảm bớt. Số người khác đưa kế hoạch:
-
Hiện đang có sáu vị giáo chủ nhiều quyền năng, chúng ta
mời các vị ấy đến xem may ra có giảm bớt thiên tai.
Người
khác nói:
-
Ðấng Toàn Giác đã hiện ra nơi đời, Ngài là đấng Thế
Tôn giảng dạy giáo lý cứu khổ cho chúng sanh. Ngài có nhiều
thần thông và quyền lực siêu nhiên. Nếu Ngài đến đây,
thiên tai sẽ giảm.
Mọi
người tán thành ý kiến sau cùng.
-
Hiện nay Thế Tôn đang ở đâu?
Lúc
ấy, gần đến ngày an cư, đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm,
theo lời hứa với vua Tần-bà-sa-la. Và lúc đó, có một ông
hoàng dòng Licchavi tên
là Mahàli, là người
trong hội đồng hoàng tộc của vua Tần-bà-sa-la, đã chứng
quả Dự-lưu, có mặt trong hội nghị. Dân Tỳ-xá-ly sắm sửa
phẩm vật long trọng gởi kèm theo ông hoàng Mahàli,
cùng với con trai của vị tư tế, đến thành Vương-xá để
xin thỉnh Phật.
Hoàng
tử Mahàli và con
trai thầy tư tế đến gặp vua Tần-bà-sa-la dâng phẩm vật,
nói rõ lý do và thỉnh cầu:
-
Ðại vương! Hãy để đức Thế Tôn đến thành phố chúng
tôi.
Nhà
vua chỉ nói:
-
Các ông là những người thông minh, có thể tự thỉnh lấy.
Họ
bèn đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, tại thành phố chúng con có ba thiên tai tàn
phá. Nếu Ngài đi đến đó chúng sẽ giảm bớt. Xin Ngài đến
với chúng con.
Ðức
Phật nghe xong lời thỉnh cầu, quan sát và dự biết rằng,
ngay khi câu kinh Kim Cương được đọc tụng tại Tỳ-xá-ly,
sẽ làm chấn động tam thiên thế giới. Khi bài kinh kết thúc,
sẽ có tám muôn bốn ngàn người được Pháp nhãn, và thiên
tai giảm thiểu Ngài nhận lời.
Vua
Tần-bà-sa-la nghe tin Phật nhận lời đến Tỳ-xá-ly, bèn ra
lệnh báo tin khắp thành Vương-xá, còn vua đến chỗ Phật,
thưa:
-
Bạch Thế Tôn, có phải Ngài sắp đi đến Tỳ-xá-ly.
-
Ðúng vậy, đại vương!
-
Nếu thế, xin hãy đợi con dọn dẹp đường.
Nhà
vua ra lệnh dọn con đường dài năm dặm, từ thành Vương-xá
đến bờ sông Hằng, mỗi dặm đặt một trạm nghỉ chân.
Khi đâu đó xong xuôi, nhà vua báo tin cho Phật biết rằng Ngài
có thể lên đường. Ðức Phật ra đi, dắt theo năm trăm vị
Tỳ-kheo. Trên mỗi dặm đường, nhà vua ra lệnh trải hoa ngũ
sắc ngập đến đầu gối, cờ lọng giăng đầy, hai lọng
trắng che trên đức Thế Tôn, còn mỗi vị Tỳ-kheo một lọng
trắng. Chung quanh Phật và các Tỳ-kheo, nhà vua tung hoa, rắc
hương, mỗi trạm nghỉ đêm nhà vua cúng dường vật thực
thật nhiều. Trong năm ngày, nhà vua đưa Phật ra đến bờ
sông, trang hoàng một chiếc thuyền lộng lẫy rồi nhắn tin
cho dân thành Tỳ-xá-ly:
-
Hãy sửa soạn đường sá và cung nghinh đức Thế Tôn.
Dân
Tỳ-xá-ly tự nhủ: "Chúng ta sẽ đón tiếp Thế Tôn long trong
gấp hai lần vua Tần-bà-sa-la". Vì thế, từ bờ sông Hằng
đến Tỳ-xá-ly dài ba dặm, họ dọn đất bằng phẳng dựng
cờ lọng dãy cao dãy thấp, dành riêng cho Phật bốn lọng,
các Tỳ-kheo mỗi vị hai lọng. Chuẩn bị xong, họ đứng chờ
bên này bờ sông.
Vua
Tần-bà-sa-la cột hai chiếc thuyền lại với nhau, dựng mái
che ở trên, trang hoàng đầy hoa rực rỡ, đặt một chiếc
ghế bằng các loại ngọc cho Phật ngồi. Ðức Thế Tôn ngồi
vào ghế, chư Tỳ-kheo bước xuống thuyền, ngồi vây quanh
đức Phật. Nhà vua đi theo thuyền, lội xuống nước tận
đến cổ, và bạch Phật.
-
Bạch đức Thế Tôn, con sẽ ở lại bên bờ sông này, đợi
Ngài trở về.
Nói
xong, vua đẩy thuyền ra giữa dòng và trở vào. Sau khi thuyền
bơi được một dặm, Phật đến giang phận thành Tỳ-xá-ly.
Các
hoàng tử dòng Licchavi đến
đón đức Phật, họ cũng lội xuống nước ngang cổ, kéo
thuyền vào bờ và đưa đức Phật rời thuyền lên bờ. Khi
Phật vừa đặt chân lên bờ, một cơn bão lớn nổi lên,
mưa như trút, nước dâng lên cao, cuốn sạch các tử thi xuống
sông, và toàn thể thành phố trở nên sạch sẽ tinh khiết.
Các hoàng tử Licchavi mời
Phật nghỉ chân từng dặm đường, dâng cúng phẩm vật gấp
đôi số phẩm vật của vua Tần-bà-sa-la. Sau ba ngày, Phật
đến Tỳ-xá-ly.
Thiên
chủ Ðế Thích bay xuống đấy, cả chư thiên tùy tùng; với
ảnh hưởng quyền lực rộng lớn như thế, các ác thần chạy
trốn gần hết. Vào buổi chiều, đức Phật đứng ở cổng
thành, ra lệnh cho Tôn giả A-nan.
-
Này A-nan, hãy nghe ta nói kinh Kim Cương và đi quanh thành trùng
tụng lại để tạo năng lực bảo hộ trên ba lớp thành Tỳ-xá-ly,
thành phố của các hoàng tử Licchavi.
Tôn
giả A-nan tiếp nhận kinh từ kim khẩu Thế Tôn, lấy nước
trong bình bát của Phật, rồi đi ra đứng tại cổng thành
Tỳ-xá-ly. Tôn giả quán tưởng về tất cả công hạnh của
Phật "Bắt đầu từ ý chí quyết thành Phật, đến mười
Ba-la-mật của Như Lai, năm pháp đại thí, ba ân đức, là
vì lợi lạc cho thế giới, vì lợi lạc cho thân quyến và
cho sự tìm cầu giác ngộ; Bồ-tát vào thai mẹ trong đời
sống cuối cùng, Ðản Sanh, Xuất Gia, hành Khổ Hạnh, hàng
phục Ma vương, đạt Tam Minh và chín tầng Thiền Ðịnh". Quán
tưởng như thế xong, Tôn giả đi vào thành, suốt ba canh trong
đêm đi kinh thành trong ba lớp thành, vừa đi vừa tụng đọc
kinh Kim Cương như một năng lực bảo hộ.
Khi
Tôn giả đọc đến đoạn thứ ba và rải nước, những giọt
nước rơi trúng các ác ma. Từ đoạn thứ ba trở đi, những
giọt nước kết tụ thành những quả cầu bằng bạc nhỏ
tí, bay trên không trung đến nơi trên các người bệnh. Lập
tức họ lành bệnh, trỗi dậy khắp mọi nơi và vây quanh
Tôn giả. Cũng thế, khi câu kinh đoạn ba vừa đọc lên, các
loài ác ma chui núp trong đống củi, đống rác, kẹt tường,
khi chạm nhằm các giọt nước ấy đều trốn hết, chúng
chen chúc nhau chật cửa đến nỗi phải phá tường mà chui
ra.
Dân
chúng dùng đủ loại hương rảy lên trên hội trường thành
phố nằm ngay trung tâm Tỳ-xá-ly, cho dựng mái che ở trên
gắn đầy sao vàng và các thứ trang sức khác, sắp đặt chỗ
cho Thế Tôn ngồi. Ðức Thế Tôn ngồi vào tòa, các vị Tỳ-kheo
và các hoàng tử Licchavi
ngồi vây quanh thành vòng tròn, rồi thiên chủ Ðế Thích cùng
chư thiên quyến thuộc cũng đứng vào chỗ của mình. Tôn
giả A-nan đi quanh thành vừa xong, trở về cùng với số đông
các người bệnh được chữa lành, cũng đến đảnh lễ Phật,
ngồi một bên. Ðức Thế Tôn quan sát chúng hội, lặp lại
kinh Kim Cương thêm một lần nữa. Nghe xong có tám muôn bốn
ngàn người được Pháp nhãn. Ðiều này xảy ra liên tiếp
bảy hôm nữa, đức Thế Tôn vẫn dạy cùng một bài kinh trên.
Sau đó, nhận thấy tất cả thiên tai đều tiêu trừ, Ngài
giảng dạy cho các hoàng tử Licchavi
xong, rời thành Tỳ-xá-ly. Các ông hoàng tôn phụng Thế Tôn
gấp bội, và lần nữa suốt ba ngày theo sau Phật đến bờ
sông Hằng.
Các
vua rồng cư trú tại sông Hằng tự nghĩ: "Loài người đã
tôn kính Như Lai, tại sao chúng ta không làm như thế?" Bèn
hóa hiện những con thuyền bằng vàng, bạc, châu báu, trên
ấy đặt ghế trân bảo, mặt nước trải đầy hoa sen ngũ
sắc. Các vua rồng thỉnh Phật lên thuyền:
-
Bạch Thế Tôn, xin hãy ban phước cho chúng con.
Lúc
ấy, chư thiên từ cõi trời Dục đến cõi trời Phạm bảo
nhau:
-
Người và rồng đã tôn kính Như Lai, tại sao chúng ta không
làm như thế?
Và
họ cùng tôn vinh Phật. Các long vương dựng những cây lọng
này kế tiếp cây lọng kia, cao một dặm và bên dưới, các
long vương khác cũng làm như thế. Các loài chư thiên ở trên
cây, trong rừng, trên núi, trên trời, từ thế giới rồng
đến cõi trời Phạm, tụ họp thành vòng tròn, mỗi vị tay
cầm lọng, giữa lọng là cờ, giữa cờ là phướn, tung hương
rải hoa, rưới nước thơm. Các thiên nam trang sức lộng lẫy
như ngày hội, bay lượn trên không, ca ngợi vang rền (Theo
truyền thống, có ba cuộc đại hội như thế: một vào dịp
Phật hoá hiện thần thông song hành, một vào dịp Ngài từ
cung trời xuống, và một vào dịp sông Hằng dâng nước).
Bên bờ sông phía thành Vương-xá, vua Tần-bà-sa-la đã chuẩn
bị phẩn vật gấp đôi số phẩm vật của các hoàng tử Licchavi và
đứng đợi đức Phật.
Khi
đức Phật nhìn thấy các phẩm vật long trọng của các vị
vua hai bờ sông Hằng, nhìn thấu tư tưởng của chư thiên,
long vương, Ngài bèn hóa thiện một hóa Phật và năm trăm
Tỳ-kheo cho mỗi chiếc thuyền. Cũng y như thế, một vị hóa
Phật ngồi dưới mỗi cây lọng trắng, một vị ngồi dưới
mỗi cội cây như ý, một vị ngồi dưới mỗi vòng hoa báu,
vây quanh là vô số rồng thần. Giữa các chư thiên cõi người
và cõi trời, cũng có một vị hoá Phật và đồ chúng. Như
là một dịp lễ hội của toàn cõi thế giới, và để tỏ
lòng chiếu cố loài rồng, trên mỗi chiếc thuyền bằng châu
báu của loài rồng có một vị hóa Phật ngồi, và để chiếu
cố chúng Tăng, trên mỗi thuyền châu báu đều có hóa Phật
ngồi.
Long
vương đưa Phật và chúng Tăng xuống long cung, nghe Phật giảng
pháp suốt đêm; ngày sau cúng dường Phật và Tăng chúng những
thức ăn thượng vị loại cứng, loại mềm. Sau khi hồi hướng
phước báo cho vua rồng, đức Phật rời long cung, cùng đoàn
thuyền năm trăm chiếc bơi ngang sông Hằng, trong sự cung nghinh
của chư thiên trời Ðế Thích. Vua Tần-bà-sa-la đến đón
Phật, thỉnh Ngài rời thuyền, cúng dường, tiếp đón Phật
long trọng gấp đôi các ông hoàng Licchavi,
và đưa Phật về thành Vương-xá.
Hôm
sau, các thầy Tỳ-kheo đi dự hội trở về, ngồi bàn tán
tại pháp đường:
-
Ôi! Thần thông của đức Thế Tôn thật phi thường. Thật
thành tín thay! Lòng thành kính tin tưởng của người và trời
đối với Thế Tôn. Suốt tám dặm trải dài dọc theo hai bờ
sông Hằng, với lòng kính tin Phật, các nhà vua đã dọn bằng
phẳng đất đai, trải cát sạch, rải hoa ngập đến đầu
gối. Còn long vương thì rắc hoa sen ngũ sắc đầy trên sông,
cờ lọng giăng từ thấp lên đến các tầng trời, toàn cõi
thế giới trang hoàng như ngày lễ.
Ðức
Phật đến gần và hỏi:
-
Các ông ngồi đây bàn tán chuyện gì?
Và
khi nghe kể lại, Ngài bảo:
-
Sự tôn kính và các phẩm vật ấy dành cho Ta không phải do
thần thông của Phật, không phải do thần thông của long vương
và chư thiên. Ðó là do một phẩm vật đơn sơ Ta đã cúng
dường từ quá khứ, mà hiện tại Ta nhận được như thế.
Các
thầy Tỳ-kheo hỏi lý do. Ðức Phật kể lại câu chuyện quá
khứ.
1A.
Bà La Môn Samkha
Thuở
xưa, cách đây rất lâu, có một người Bà-la-môn tên Samkha,
cư ngụ tại Takkasilà,
ông có một người con trai mười sáu tuổi tên Susìma.
Ngày kia Susìma nói
với cha:
-
Thưa cha, con muốn đến Ba-la-nại, học tập kinh điển.
-
Tốt lắm, ta có một người bạn Bà-la-môn ở đấy, con sẽ
học với ông ta.
Susìma
nghe lời cha, đến Ba-la-nại tìm người thầy Bà-la-môn. Người
Bà-la-môn nhận con của bạn mình làm đồ đệ. Và sau khi
đã nghỉ ngơi, chàng bắt đầu học với thầy. Chàng học
rất nhanh, rất nhiều và nhớ hết, không sót một điều gì,
như sữa sư tử đựng trong bình vàng, không chảy ra giọt
nào. Không bao lâu chàng học hết của thầy những gì đáng
học. Chàng đọc tụng thông suốt, hiểu thấu đoạn đầu,
đoạn giữa, nhưng không hiểu đoạn cuối. Chàng thưa điều
ấy với thầy, thầy bảo:
-
Này con, ta cũng không hiểu đoạn cuối.
-
Vậy ai là người hiểu đoạn cuối, thưa thầy.
-
Ở Isipatana có
những bậc hiền triết, may ra hiểu thấu, con hãy đến đấy
hỏi.
Susìma
đến chỗ các vị Phật Ðộc Giác và hỏi:
-
Có thật là các Ngài hiểu rõ đoạn này?
-
Phải, chúng ta hiểu.
-
Xin hãy dạy cho con.
-
Chúng ta không dạy cho người chưa xuất gia. Nếu con muốn
học, hãy trở thành Sa-môn.
Chàng Susìma
đồng ý xuất gia và trở thành một Sa-môn trong giáo đoàn
của các vị Ðộc Giác. Các Ngài dạy thầy Sisìma:
"Hãy mặc hạ y như thế này, hãy mặc thượng y như thế..."
Như thế, thầy học oai nghi của người sơ cơ.
Ở
lại đây như một đồ đệ ngoan ngoãn, thầy học hết những
gì được dạy, vì có khả năng đặc biệt nên không bao lâu
thầy đạt quả vị Ðộc Giác. Danh tiếng Susìma
nổi như cồn trong thành Ba-la-nại như mặt trăng tròn trên
bầu trời, Ngài nhận nhiều sự tôn kính và cúng dường.
Chẳng bao lâu, Phật Ðộc Giác Susìima nhập Niết-bàn, bởi
vì các nghiệp Ngài tạo tác chỉ đưa đến một thọ mạng
ngắn. Các vị Phật Ðộc giác và dân chúng làm lễ hỏa táng
trọng thể, thu nhập xá lợi, xây tháp thờ tại cổng thành.
Khi
ấy, người cha nghĩ thầm: "Con ta đi khá lâu, ta sẽ đi tìm
thăm xem việc gì xảy ra cho nó". Ông đến Ba-la-nại, thấy
đám đông dân chúng, ông nghĩ: "Chắc có vài người biết
về con ta". Ông bước đến hỏi:
-
Trước đây có một thanh niên tên Susìma
từng đến thành này, các vị có biết tin tức gì về chàng
ấy?
-
Chúng tôi biết! Người ấy học hết ba bộ Vệ-đà tại nhà
Bà-la-môn nọ, sau đó xuất gia làm Sa-môn, đạt quả vị Ðộc
Giác và nhập Niết-bàn. Tháp này là tháp của vị ấy.
Nghe
nói xong, Bà-la-môn đập tay xuống đất, khóc than kể lể,
đi chung quanh tháp. Ông nhổ sạch cỏ quanh tháp, dùng áo đựng
cát sạch rải chung quanh tháp, tưới nước, tung hoa để tỏ
lòng kính trọng, trải áo ra như một lá phướn và cắm cây
lọng của mình che trên tháp, xong rồi đi về.
Kể
xong chuyện, Phật kết luận:
-
Lúc ấy Ta là Bà-la-môn Samkha,
do phước báo nhổ cỏ chung quanh tháp của vị Phật Ðộc
Giác Susìma, nên
hiện tại ông hoàng dọn sạch con đường dài tám dặm, không
còn cây cỏ, đất bằng phẳng. Vì Ta trải cát quanh tháp,
nên con đường dài Ta đi hôm nay cũng được rải cát. Vì
Ta tung hoa lên tháp nên hôm nay các loại hoa được rải trên
đường, và một dặm trên sông Hằng đầy hoa sen ngũ sắc.
Vì Ta tưới nước quanh tháp nên khi ta vừa đến Tỳ-xá-ly
một trận mưa rơi xuống. Vì Ta treo cờ cắm lọng nên toàn
thể chư thiên cầm cờ lọng cao đến tận trời.
Này
các Tỳ-kheo, các phẩm vật và những sự tôn kính ấy không
phải tự nhiên đến với ta do thần lực của Ta là thật,
không do thần lực của trời, rồng. Trái lại từ thần lực
có từ những phẩm vật thô sơ Ta cúng dường từ thời quá
khứ.
Ngài
nói kệ:
(290)
Nhờ từ bỏ lạc nhỏ,
Thấy
được lạc lớn hơn,
Bậc
trí bỏ lạc nhỏ,
Thấy
được lạc lớn hơn.
2.
Không Lấy Oán Báo Oán
Gieo
khổ đau cho người...
Câu
chuyện này xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên
hệ đến một người đàn bà ăn trứng của một con gà.
Trong
một ngôi làng không xa thành Xá-vệ, có một người đánh
cá. Một hôm trên đường đi đến thành Xá-vệ, ông bắt
gặp một vài cái trứng rùa dọc theo bờ sông Aciravatì,
ông bèn nhặt lấy. Ðến Xá-vệ, ông vào nhà người quen,
luộc mấy quả trứng, khi ngồi ăn ông cho cô con gái chủ
nhà một trứng. Cô bé ăn xong, đòi ăn thêm, bà mẹ phải
lấy trứng trong ổ con gà mái luộc cho cô. Cô bé ăn trứng
gà, từ đó cô đâm thích món ăn này và thường tự lấy
trứng ăn.
Con
gà mẹ để ý rằng mỗi lần mình đẻ trứng đều bị cô
bé mang đi ăn hết; nổi cơn bất bình oán hận cô, nó thề
rằng: "Khi tôi chết, tôi sẽ tái sanh làm chằn tinh, ăn thịt
mấy đứa con cô này". Sau khi chết nó trở lại làm con mèo
của nhà này, còn cô bé trở lại làm gà mái. Gà mái đẻ
trứng đều bị mèo ăn hết, như vậy đến ba lần. Gà mái
tức quá bèn trù: "Ba lần ngươi ăn trứng của ta, còn muốn
ăn thịt cả ta. Khi ta tái sanh, ta sẽ nhai xương ngươi và
con ngươi".
Sau
đó gà mái sanh làm beo rừng, con mèo thành con nai. Khi nai có
con, beo đến ăn thịt cả mẹ lẫn con. Như thế trong năm trăm
kiếp liên tục, họ ăn nuốt lẫn nhau, gây đau khổ cho nhau.
Cuối cùng một bên làm bà chằn, một bên làm phụ nữ trong
thành Xá-vệ. Câu chuyện tiếp diễn như cũ, cho đến khi gặp
Phật, Ngài dạy câu:
(291)
Gieo khổ đau cho người,
Mong
cầu lạc cho mình,
Bị
hận thù ràng buộc,
Không
sao thoát hận thù.
Hai
kẻ thù nghe xong, bà chằn xin quy y, thọ năm giới. Không còn
hận thù, người đàn bà nọ cũng chứng Sơ quả. Hội chúng
đều được lợi ích.
3.
Các Tỳ Kheo Phù Hoa
Việc
đáng làm không làm...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại hang động Jàtiyà
gần Bhaddiya, liên
hệ đến các Tỳ-kheo Bhaddiya.
Một
thời, đức Thế Tôn đang ở tại động Jàtiyà,
gần thành Bhaddiya.
Các Tỳ-kheo ở đây có thói quen trang trí giày dép của các
thầy, như trong Vệ-đà diễn tả "Các Tỳ-kheo ở Bhaddiya có
thói quen mang những đôi dép sặc sỡ đủ kiểu". Họ tự
làm hoặc đặt làm những đôi dép bằng vật liệu quý nhẹ,
đắt tiền, đúng mốt, hợp thời trang... Như thế họ lơ
là với học hỏi, giới luật, thiền định, trí tuệ.
Các
Tỳ-kheo
khác thấy thế rất bực tức, bèn bạch với Phật. Phật
quở trách mấy thầy ham chưng diện này:
-
Các ông đến đây vì mục đích gì, mà bây giờ đeo đuổi
chuyện vô ích như thế?
Ngài
nói kệ:
(292)
Việc đáng làm, không làm,
Không
đáng làm, lại làm,
Người
ngạo mạn, phóng dật,
Lậu
hoặc ắt tăng trưởng.
(293)
Người siêng năng cần mẫn,
Thường
thường quán thân niệm,
Không
làm việc không đáng,
Gắng
làm việc đáng làm.
Người
tư niệm giác tỉnh,
Lậu
hoặc được tiêu trừ.
Các
thầy Tỳ-kheo ưa đẹp này nghe xong, liền chứng A-la-hán, hội
chúng cũng được lợi ích.
4.
Sa-Môn Giết Cha Mẹ
Sau
khi giết mẹ cha...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến Tôn giả LakuntakaBhaddiya.
Một
thời, đức Thế Tôn đang ở tại Kỳ Viên, có một số Tỳ-kheo
đến viếng thăm Ngài. Sau khi đảnh lễ, các thầy kính cẩn
lui ngồi một bên. Khi ấy Tôn giả Lakuntaka
Bhaddiya đi ngang đấy không xa. Ðức Phật biết
tâm của các Tỳ-kheo đúng lúc, Ngài nhìn Tôn giả và nói
với các Tỳ-kheo.
-
Các ông hãy nhìn kia! Ðó là Tỳ-kheo đã giết cha, giết mẹ,
thoát khổ đau.
-
Ðức Thế Tôn nói gì thế?
Các
Tỳ-kheo kêu lên, nhìn nhau, nghi ngờ, và hỏi Phật:
-
Bạch Thế Tôn! Ngài nói gì?
Phật
bèn nói kệ:
(294)
Sau khi giết mẹ cha,
Giết
hai vua Sát-lợi,
Giết
vương quốc, quần thần,
Vô
ưu, Phạm chí sống.
Nghe
xong các thầy chứng A-la-hán.
Câu
chuyện liên quan câu kệ sau cũng giống như chuyện trên, Phật
cũng nói về Tôn giả Lakuntaka:
(295)
Sau khi giết mẹ cha,
Hai
vua Bà-la-môn,
Giết
hổ tướng thứ năm (nghi)
Vô
ưu, Phạm chí sống.
[Theo
Chú Giải: "... Mẹ (mata) là ẩn dụ cho lòng tham ái (tanha),
và cha (pita) là ẩn dụ của ngã mạn (mana). Chính vì
tham ái và ngã mạn mà ta phải tái sinh nhiều đời, nhiều
kiếp trong cõi ta bà luân hồi này. Hai vị vua chính là hai
biên kiến của vô minh: thường kiến (eternalism) và đoạn
kiến (annihilationism), thường tạo ra nhiều tranh cãi vô
ích, cần phải được phá bỏ. Vương quốc lãnh thổ kia chính
là 6 căn và 6 trần: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Vị Quốc khố đại
thần (treasurer) là để chỉ lòng tham đắm dục lạc
phát sinh và chất chứa từ 6 căn đó. Sau cùng, hổ tướng
thứ năm chính là con quỷ thứ năm làm cản trở sự định
tâm, phát tuệ. Ðó là "nghi" của 5 triền cái: tham dục,
sân hận, hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Sau khi đã đoạn
diệt tất cả các chướng ngại nầy thì hành giả mới thong
dong, tự tại, đi đến giải thoát ..."]
5.
Cậu Bé Và Quỷ Dữ
Luôn
luôn tự tỉnh giác...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan
đến một cậu bé con người bán củi.
Tại
thành Vương-xá, có hai đứa bé thường chơi banh với nhau,
một đứa là Phật tử, một đứa là con nhà ngoại đạo.
Thiếu niên Phật tử thường niệm tưởng đức Phật, mỗi
khi tung banh lên, em đọc "Nam mô Phật-đà". Em con nhà ngoại
đạo thường xưng tụng công đức các ngoại đạo, và mỗi
khi tung banh lên em đọc "Nam mô A-la-hán". Trong trò chơi, thiếu
niên Phật tử thường thắng cuộc, còn cậu bé ngoại đạo
thường thua. Quan sát đối phương, cậu bé nghĩ: "Bạn trẻ
này thường tưởng nhớ đức Phật và đọc như thế mỗi
khi tung banh, và do đó thường thắng ta. ta cũng sẽ làm như
vậy". Và em bắt đầu tập thói quen niệm tưởng Phật-đà.
Một
ngày nọ, cha em đánh xe vào rừng tìm củi, đem em đi theo.
Sau khi chất đầy xe củi, ông trở về. Trên đường về,
ông dừng lại tại một bãi đất hỏa táng ngoài thành, chọn
địa điểm sạch sẽ, đủ nước, cỏ rồi đem cơm ra ăn.
Chiều đến, con bò kéo xe của ông đi theo một bầy trâu bò
vào thành. Người cha chạy theo bắt bò lại, trở ra thì trời
đã tối, cổng thành đóng ông không ra được. Ðêm ấy, cậu
bé ở ngoài bãi tha ma ngủ một mình dưới chiếc xe.
Lúc
ấy, thành Vương-xá thường có vài ác quỷ lui tới, gần
bãi đất hỏa táng có hai con quỷ chú ý đến cậu bé nằm
ngủ ở đấy. Một con quỷ thường hay tìm mỗi trên bãi đất
hỏa táng và theo tà đạo, con quỷ kia thì chân chánh. Quỷ
tà bảo quỷ chánh:
-
Ðứa bé này là mồi ngon, chúng ta hãy ăn thịt nó.
Quỷ
chánh bảo;
-
Thôi đi! Ðừng nghĩ bậy.
Mặc
dù nó cố gắng cản ngăn, quỷ tà cứ làm theo ý mình, nó
nắm chân cậu bé định xé đôi. Lúc ấy, theo thói quen tưởng
niệm Phật, cậu bé trong giấc ngủ chợt nói: "Nam mô Phật",
con quỷ tà kinh sợ thối lui. Quỷ chánh nói:
-
Chúng ta làm điều không nên làm, chúng ta sẽ bị phạt.
Và
để chuộc lỗi, nó đứng canh cho cậu bé, còn quỷ tà vào
thành, lấy một cái dĩa bằng vàng ròng trong cung vua, đựng
đầy thức ăn đem về. Cả hai con quỷ săn sóc cậu bé như
cha mẹ, đánh thức cậu dậy và đưa thức ăn cho cậu. Sau
đó chúng dùng quyền lực khắc thư lên dĩa kể lại câu chuyện
xảy ra, bảo nhau: "Hãy để nhà vua đọc thư này, người khác
không thể đọc". Ðể dĩa lên chiếc xe, chúng đứng canh suốt
đêm, và đến sáng mới đi.
Ngày
sau đó, tin truyền rằng ăn trộm lấy mất dĩa vàng của nhà
vua. Dân chúng đóng cửa thành và lục tìm. Tìm không thấy,
họ ra ngoài thành, lục lọi khắp nơi, họ thấy chiếc dĩa
trên xe của cậu bé. Họ túm lấy cậu và điệu về trình
vua:
-
Ðây là ăn trộm.
Nhà
vua nhận chiếc dĩa, đọc xong câu chuyện viết trên ấy, hỏi:
-
Này con, thế này nghĩa là gì?
-
Thưa đại vương, con không biết. Ðêm rồi, cha mẹ con mang
thức ăn đến cho con và canh chừng cho con ngủ. Con yên chí
có cha mẹ nên không sợ và ngủ ngon. Ðó là những gì con
biết.
Ðúng
lúc ấy, cha mẹ cậu bé vừa đến. Nghe họ bảo rằng đã
để con một mình ngoài thành... Nhà vua đưa cả ba đến chỗ
Phật, kể lại câu chuyện và hỏi:
-
Bạch Thế Tôn, có phải niệm tưởng Phật là một sự che
chở, hay niệm tưởng Pháp và những điều khác cũng được
hộ trì?
Ðức
Phật trả lời:
-
Này đại vương, niệm tưởng Phật-đà không phải chỉ là
cách duy nhất có ý nghĩa được bảo hộ, nhưng người Phật
tử chân chánh thực hành thâm sâu niệm tưởng một trong sáu
đề mục thì không cần bất cứ sự bảo hộ nào, phương
cách bảo hộ nào, câu thần chú nào, hay dược thảo nào cả.
Ngài
nói kệ:
(296)
Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Thường
tưởng niệm Phật Ðà.
(297)
Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Thường
tưởng niệm Chánh pháp.
(298)
Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Thường
tưởng niệm Tăng-già.
(299)
Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm
Thường
tưởng niệm sắc thân.
(300)
Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Ý
vui niềm bất hại.
(301)
Ðệ tử Gotama,
Luôn
luôn tự tỉnh giác,
Vô
luận ngày hay đêm,
Ý
vui tu thiền quán.
6.
Hoàng Tử Bạt Kỳ Làm Sa Môn
Vui
hạnh xuất gia khó...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại tinh xá Ðại Lâm
(Mahàvàna) gần thành
Tỳ-xá-ly, liên quan đến một ông hoàng dòng Bạt-kỳ (Vajjian)
đã xuất gia thành Sa-môn. câu chuyện như sau:
Một
ông hoàng dòng Bạt-kỳ xuất gia làm Sa-môn. Thầy Sa-môn vương
giả này sống ẩn cư trong một khu rừng gần thành Tỳ-xá-ly.
Thành phố tổ chức đại lễ tưng bừng suốt đêm. Thầy
Sa-môn hoàng tử nọ nghe tiếng xôn xao, tiếng trống tiếng
nhạc từ thành Tỳ-xá-ly vọng lại, thầy nổi cơn sầu muộn,
bèn buồn khóc rên rỉ:
Ta
cô đơn trong rừng,
Như
khúc cây bị bỏ.
Trong
đêm như đêm nay,
Có
ai bằng ta khổ.
Nguyên
Sa-môn này đã từng là hoàng tử trong vương quốc Bạt-kỳ,
khi đến phiên mình trị nước, đã từ bỏ hoàng cung xuất
gia làm Sa-môn. Vào ngày trăng tròn tháng Kattika,
toàn thể phố xá thành Tỳ-xá-ly treo cờ kết lọng, tổ chức
hội hè. Dạ hội kéo dài tận đêm, thầy Sa-môn nghe tiếng
trống, tiếng kèn, tiếng âm nhạc, đàn lục huyền... Khi bảy
ngàn bảy trăm lẻ bảy hoàng tử Vesàli cũng
như bao nhiêu hoàng tử, đại thần trang sức lộng lẫy, đổ
xô ra đường dự hội, thì thầy một mình đi kinh hành trong
hành lang rộng sáu mét, trên đầu chỉ có một vầng trăng.
Thầy đến ngồi trên ghế, suy nghĩ về thân phận mình, thiếu
cả hội hè, thiếu cả quần aó trang sức, như khúc gỗ bị
ném bỏ trong rừng. Thầy tự nghĩ: "Có ai bất hạnh hơn ta
không?"
Bình
thường, thầy có đủ công hạnh, và đức tính của một
vị ẩn tu, nhưng trong lúc này vì bất mãn thầy đã nói như
thế. Một vị lâm thần ở khu rừng ấy biết được nên
tự nhủ: "Ta sẽ khuyến khích thầy", và thần nói kệ:
Ngài
cô đơn trong rừng,
Như
khúc cây bị bỏ.
Nhiều
người ước được thế,
Như
kẻ đoạ địa ngục,
Ganh
người ở thiên đàng.
Vị
Sa-môn nghe kệ, ngày hôm sau đến chỗ đức Phật, đảnh lễ
và cung kính ngồi một bên. Phật đã dự biết, và muốn nói
cho thầy biết đầy đủ về khổ đau của đời sống thế
gian. Ngài nói về năm thứ đau khổ trong bài kệ:
(302)
Vui hạnh xuất gia khó,
Tại
gia sinh hoạt khó,
Sống
bạn không đồng, khổ,
Trôi
lăn luân hồi, khổ,
Vậy
chớ sống luân hồi,
Chớ
chạy theo đau khổ.
7.
Cư sĩ Tâm - Người Thành Tín
Tín
tâm, sống giới hạnh...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến
cư sĩ Tâm (Citta).
Citta là
một nam cư sĩ giàu tâm đạo, chàng luôn được quý trọng
mỗi khi đến hầu Phật. Tôn giả A-nan thấy thế bèn hỏi
Phật:
-
Bạch Thế Tôn! Chỉ khi nào Citta đến
viếng Phật mới được trọng vọng như thế? Hay cũng được
quý trọng khi đến thăm các người khác?
Phật
dạy:
-
Này A-nan! Ông ấy luôn được quý trọng như vậy, dù cho đến
viếng Ta hay viếng ai. Vì cư sĩ ấy đầy niềm tin, tâm đạo
và đức hạnh. Người như thế, dù đi đến nơi nào cũng
được tôn kính.
Ngài
nói kệ:
(303)
Tín tâm, sống giới hạnh,
Ðủ
danh xưng, tài sản,
Chỗ
nào người ấy đến,
Chỗ
ấy được cung kính.
8.
Cô Gái Ðức Hạnh
Người
lành dù ở xa...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến Cullà Subhaddà,
con gái ông Cấp Cô Ðộc.
Thời
còn niên thiếu, Cấp Cô Ðộc có một người bạn thân tên
Úc-già, cũng con nhà Trưởng giả, họ cùng học chung một
thầy, và cùng hứa hẹn rằng sau này khi thành gia thất, cả
hai sẽ gả con cho nhau để kết thêm tình thân ái. Và sau đó
Cấp Cô Ðộc cùng Úc-già đều trở thành trưởng giả tại
thành phố của mình.
Trong
một chuyến buôn xa, Trưởng giả Úc-già đến thành Xá-vệ
với năm trăm cỗ xe. Ông Cấp Cô Ðộc bèn kêu con gái, cô Cullà
Subhaddà, đến dặn dò:
-
Này con, cha con - ông Úc-già - đến viếng nhà, con hãy săn
sóc ông thật đầy đủ.
-
Thưa cha, vâng.
Và
khi ông Úc-già đến, cô đích thân sửa soạn thức ăn với
đầy đủ hương liệu, chuẩn bị phấn, kem, nước thơm, dầu
xức... tất cả tiện nghi cho ông. Sau khi ông dùng bữa, cô
chăm sóc phòng tắm một cách chu đáo làm tròn phận sự mình.
Trưởng
giả Úc-già nhận thấy cô hoàn toàn, nên hả dạ lắm. Trong
một buổi nói chuyện tương đắc, ông nhắc lại với Cấp
Cô Ðộc lời hứa ngày xưa, và xin cưới cô Cullà
cho con trai mình. Trưởng giả Úc-già theo ngoại đạo, nên
ông Cấp Cô Ðộc đến hỏi ý kiến Phật. Thế Tôn biết
Úc-già có duyên chứng Thánh quả nên khuyên ông nhận lời;
và Cấp Cô Ðộc sau khi bàn với vợ, đã đồng ý với Úc-già,
rồi định ngày hôn lễ.
Như
Trưởng giả Dhananiaya
khi gả cô Visàkha,
Trưởng giả Cấp Cô Ðộc cũng cho con thật nhiều của hồi
môn. Ông cũng khuyên con mười điều: "Này con, khi sống trong
nhà cha mẹ chồng, chớ đem lửa trong nhà ra ngoài...". Ông
cũng cho tám người theo đỡ đầu cho cô Cullà.
-
Nếu con gái ta có lỗi lầm gì với cha mẹ chồng, các ông
hãy chỉ dạy nó.
Ngày
hôn lễ, ông cúng dường Phật và Tăng chúng trọng thể, và
để chứng tỏ những quả báo tốt đẹp của cô trong quá
khứ, ông đưa cô về nhà chồng trong nghi lễ hết sức huy
hoàng.
Cô Cullà
đến thành của Úc-già, gia đình chồng cùng tất cả thân
quyến ra đón. Giống như Visàkha,
cô ngồi trên chiếc xe ngựa, đi chào khắp thành trong vẻ
lộng lẫy của một cô dâu. Cô nhận quà của mọi người
và đáp lại tương xứng theo sở thích mỗi người, khiến
cho tất cả thành phố ca ngợi vẻ đẹp và công hạnh của
cô.
Cha
chồng cô thường mời các đạo sĩ lõa thể đến nhà trong
các dịp lễ lớn, dịp này các thầy ấy cũng có mặt. Cha
chồng cô ra lệnh:
-
Hãy đến ra mắt và làm lễ tôn kính với các bậc thầy của
ta.
Nhưng
cô Subhaddà không
thể nhìn vào các đạo sĩ lõa thể, cô từ chối không đến
chào. Lần thứ hai, lần thứ ba, cô cũng không đến chào,
ông cha chồng của cô nổi giận:
-
Hãy đuổi con bé ấy ra khỏi nhà.
Cô
trả lời:
-
Không thể kết tội con mà không có nguyên nhân.
Cô
mời các vị bảo hộ đến, trình bày mọi việc, và họ công
nhận cô vô tội.
Ông
trưởng giả thuật chuyện với vợ và bảo:
-
Con dâu ta từ chối không làm lễ các đạo sĩ vì nó cho rằng
các thầy ấy khiếm nhã.
Bà
hỏi:
-
Tư cách của các thầy nó thế nào mà nó tôn kính đến vậy?
Bà
gọi con dâu đến hỏi:
Các
thầy con khen ngợi
Tư
cách họ ra sao?
Giới
luật gì họ giữ?
Tu
tập những hạnh nào?
Ðể
trả lời, cô Subhaddà
ca tụng ân đức của Phật và các đệ tử Phật:
Căn
các thầy thanh tịnh,
Tâm
các thầy thanh tịnh.
Thanh
tịnh khi thầy đi,
Khi
đứng cũng an định.
Mắt
thầy luôn nhìn xuống,
Miệng
ít khi nói năng,
Các
sa-môn thầy con,
Thân
khẩu ý tịch lặng,
Như
hạt ngọc không tỳ,
Trong
lẫn ngoài đều sáng.
Phẩm
hạnh luôn xứng đáng
Các
thầy con như vậy.
Thế
gian buồn khi mất,
Khi
được thì vui mừng.
Các
thầy con không thế,
Ðược
mất đều dửng dưng.
Vinh
danh thế gian vui,
Hổ
danh thế gian sầu.
Các
thầy con không vậy,
Vinh
nhục tâm chẳng màng.
Thế
gian mừng được khen
Thế
gian buồn bị chê.
Các
thầy con không thế,
Ðiềm
nhiên dù khen chê.
Thế
gian khóc cười theo,
Khổ
vui trong cuộc sống.
Các
thầy con thanh thản,
Vui
khổ chẳng động lòng.
Với
các câu trả lời như thế, Subhaddà
làm mẹ chồng hài lòng. Bà hỏi:
-
Chúng ta có thể gặp các thầy của con?
-
Thưa, được.
-
Tốt lắm, hãy sắp đặt để chúng ta được gặp.
Subhaddăa
liền chuẩn bị nhiều phẩm vật cho Phật và chúng Tăng. Cô
leo lên lầu cao, hướng về phía Thế Tôn, đảnh lễ năm vóc
sát đất, tưởng niệm ân đức Phật-đà, tôn kính Phật
bằng hương thơm, hoa và nhang trầm, cô tung lên hư không một
vốc hoa lài và thốt lên:
-
Bạch đức Thế Tôn, con thỉnh Ngài và chư Tăng ngày mai đến
nhà con. Xin để cho Ngài biết rằng con đã cung thỉnh.
Hoa
lài bay qua hư không, kết lại thành tràng, dừng trước đức
Phật, khi Ngài đang giảng pháp cho chúng hội.
Vào
lúc ấy, Trưởng giả Cấp Cô Ðộc cũng thỉnh Phật đến
nhà ngày mai. Phật trả lời:
-
Này Trưởng giả, Ta đã nhận lời mời của người khác.
-
Nhưng, đâu có ai đến trước con, Ngài đã nhận lời ai?
- Cullà
Subhaddà mời Ta.
-
Con gái con ở cách xa đây hơn một trăm hai mươi dặm, làm
sao mời được?
-
Ðúng thế, nhưng người lành dù ở xa, vẫn hiện rõ như ở
gần.
Ngài
nói kệ:
(304)
Người lành dù ở xa,
Sáng
tỏ như núi tuyết.
Người
ác dầu ở gần,
Như
tên bắn đêm đen.
Vua
trời Ðế Thích biết đức Phật nhận lời thỉnh của Subhaddà,
ra lệnh cho thần Vissakamma:
-
Hãy hoá hiện năm trăm ngôi tháp, ngày mai đưa Phật và chúng
Tăng đến thành của Úc-già.
Ngày
hôm sau, Vissakamma biến
đủ năm trăm ngôi tháp và đứng đợi ở cổng Kỳ Viên.
Ðức Phật đem theo năm trăm vị A-la-hán, và Ngài cùng chúng
Tăng ngồi vào tháp, bay đến thành Úc-già. Trưởng giả Úc-già
cùng gia quyến theo sự chỉ dẫn của Subhaddà
đứng đợi ở con đường Phật sẽ đến. Ông thấy đức
Phật và chúng Tăng đi đến trong vẻ trang nghiêm siêu phàm,
lòng tràn đầy hoan hỷ. Ông tỏ lòng cung kính rất mực, rước
Phật và chúng Tăng vào nhà, tung hương rải hoa, cúng dường
long trọng, thỉnh Phật ở lại bảy hôm. Phật thuyết pháp,
và sau đó Trưởng giả Úc-già cùng tám mươi bốn ngàn người
đều đắc Pháp nhãn. Ðặc biệt ban ân cho Subhaddà,
Phật chỉ định Tôn giả A-nậu-lâu-đà ở lại. Từ đó,
dân thành Úc-già trở nên thần thành, giàu tâm đạo.
9.
Vị Sa Môn Ðộc Cư
Ai
ngồi, nằm một mình...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ
đến Tôn giả Ðộc Cư.
Tôn
giả Ðộc Cư nổi tiếng trong bốn bộ chúng rằng Ngài là
người đi một mình, đứng một mình và ngồi một mình. Các
Tỳ-kheo đến bạch Phật về Tôn giả:
-
Bạch Thế Tôn, Trưởng lão ấy làm như thế, như thế.
Ðức
Phật khen ngợi:
-
Lành thay! Lành thay! Tỳ-kheo ấy có thể sống độc cư:
Và
khen ngợi đời sống viễn ly, đơn độc, Ngài nói kệ:
(305)
Ai ngồi nằm một mình,
Ðộc
hành không buồn chán.
Tự
điều phục một mình,
Sống
thoải mái rừng sâu.