XVIII.
Phẩm Cấu Uế
1.
Người Ðồ Tể Và Ðứa Con Trai
Ngươi
nay giống lá héo ...
Câu
chuyện này xảy ra khi Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến một đồ tể mổ bò.
Tại
Xá-vệ, có một người đồ tể mổ bò. Ông ta giết hại
biết bao nhiêu con bò, thường chọn phần thịt ngon nhất cho
mình, sai vợ nấu nướng rồi ngồi vào bàn ăn, cùng vợ con
nhậu thịt bò, phần còn lại ông bán lấy tiền. Suốt năm
mươi lăm năm ông giữ nghiệp này. Trong thời gian ấy, mặc
dù đức Thế Tôn ở tại tinh xá bên cạnh nhà, không bao giờ
ông cúng cho Thế Tôn một muỗng cháo hay muỗng cơm. Trừ thịt
bò ra, ông ta không ăn cơm.
Ngày
nọ, trời về chiều, sau khi bán vài miếng thịt, ông đưa
cho vợ miếng thịt để nấu bữa tối, và đi ra ao tắm. Một
người bạn đến nhà ông, hỏi bà vợ:
-
Hãy để cho tôi ít thịt, nhà tôi có khách.
-
Thịt bán hết rồi. Ông ấy vừa đi tắm.
-
Nếu còn miếng thịt nào, chị vui lòng để cho tôi.
-
Chẳng còn miếng thịt nào, trừ miếng thịt ông ấy dặn
tôi làm đồ ăn cho ổng.
Người
bạn nghĩ: "Nếu đã hết thịt bán, chỉ còn lại thịt dành
riêng cho bữa ăn, và ông ấy sẽ không ăn nếu không có thịt,
chắc gì ông ấy đã chịu để miếng thịt đó cho mình".
Và người này tự động xách miếng thịt ra đi.
Tắm
xong, người đồ tể trở về. Khi bà vợ dọn ăn, chỉ có
rau cải, ông hỏi:
-
Còn thịt đâu?
-
Không có ông ạ.
-
Tôi chừa cho bà một miếng thịt trước khi tôi đi sao?
-
Một người bạn đến nhà nài mua thịt vì nhà có khách. Tôi
trả lời hết thịt bán, mà ổng cứ xách miếng thịt của
ông đi về, dù tôi có nói miếng thịt đó cốt để làm thức
ăn cho ông, nếu thiếu nó ông không ăn cơm được.
-
Trừ khi có thịt tôi mới ăn. Tôi không ăn nữa, bà dẹp đi!
-
Trời ơi, làm sao bây giờ? Thôi ông chịu khó ăn cơm không
thịt một bữa.
-
Tôi đã nói là không.
Bắt
vợ dẹp mâm cơm, ông ta xách dao ra đi. Có một con bò bị
cột gần nhà, ông bước tới chỗ con bò, thò tay vào miệng
nó lôi lưỡi nó ra, xẻo luôn chiếc lưỡi rồi xách trở
vô nhà, ông nướng chiếc lưỡi bò trên lò than, xong đặt
nó trên cơm rồi mới chịu ăn uống. Ông ăn một miếng cơm
và một miếng thịt. Vừa để miếng thịt vào miệng, lưỡi
ông đứt làm đôi, và rớt xuống đĩa cơm. Ðúng lúc đó,
ông nhận hình phạt mà ông gây ra. Máu tuôn thành dòng từ
miệng, ông bò quanh sân nhà, rống lên như bò sắp chết.
Con
trai ông đứng gần đấy, nhìn cha mình giãy chết, mẹ nó
bảo:
-
Này con, hãy nhìn đó, hình phạt tương tự sẽ đến với
con. Con đừng lo cho mẹ, hãy tìm đường an ổn mà đi.
Ðứa
con sợ hãi trước cảnh tượng ấy, từ giã mẹ chạy đi,
nó đi về thành Takkasilà.
Người đồ tể, sau khi rống lên một lúc, bò quanh sân và
chết, rồi đọa vào địa ngục A-tỳ. Cả con bò cũng chết.
Ðến Takkasilà đứa
con học nghề thợ bạc. Ngày nọ, chủ của nó đi về làng,
dặn dò:
-
Hãy làm món nữ trang như thế này, thế này..
Chú
nhỏ làm theo lời dặn. Và khi người chủ về, nhìn món trang
sức làm khéo léo theo ý mình, ông nghĩ: "Chú nhỏ này sẽ
thành nghề và kiếm ăn dễ dàng". Khi chú trưởng thành được
chủ gả con gái cho, rồi sanh con trai, con gái. Các con trai của
ông lần lượt trưởng thành, làm nghề khác, dời nhà qua
thành Xá-vệ, và trở thành Phật tử thuần thành của đức
Thế Tôn. Còn ông cha của chúng (con người đồ tể ngày xưa)
ở lại Takkasilà,
để thời gian trôi qua mà không làm được chút công đức
nhỏ, rồi già nua kéo đến. Các con ông mời ông cụ trở
về nhà mình nuôi nấng.
Chúng
bàn nhau: "Chúng ta hãy cúng dường nhân danh cha chúng ta". Họ
mời đức Phật và chư Tăng về nhà thọ trai. Họ sắp đặt
bàn ghế tại nhà, dâng thức ăn lên đức Phật và chư Tăng,
hầu hạ kính cẩn. Cuối bữa ăn, họ bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, thức ăn dâng cúng hôm nay là tạo phước cho
cha già hiện đang sống của chúng con, xin Thế Tôn ban phước
cho ông cụ.
Ðức
Phật khuyên ông:
-
Này ông lão, ông đã già nua, thân thể ông như lá héo úa,
ông không tạo việc lành để làm tư lương cho đời sau. Hãy
tạo cho mình một chỗ an trụ. Hãy làm người khôn ngoan, đừng
làm kẻ si mê.
Phật
nói kệ:
(235)
Ngươi nay giống lá héo,
Diêm
sứ đang chờ ngươi,
Ngươi
đứng trước cửa chết,
Ðường
trường thiếu tư lương.
(236)
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh
cần, gấp sáng suốt,
Trừ
cấu uế, thanh tịnh,
Ðến
Thánh địa chư thiên.
Nghe
xong, ông cụ chứng Sơ quả, chúng hội cũng được hưởng
lợi ích.
Ngày
hôm sau, các con ông cũng thỉnh Phật và chúng Tăng thọ trai.
Cuối bữa ăn, họ cũng xin hồi hướng phước báo cho cha già.
Ðức Phật chúc phước cho ông cụ, nói thêm hai bài kệ:
(237)
Ðời ngươi nay sắp tàn,
Tiến
gần đến Diêm vương,
Giữa
đường không nơi nghỉ,
Ðường
trường thiếu tư lương.
(238)
Hãy tự làm hòn đảo,
Tinh
cần, gấp sáng suốt,
Trừ
cấu uế, thanh tịnh,
Chẳng
trở lại sanh già.
2.
Dần Dà Từng Chút
Bậc
trí theo tuần tự ...
Câu
chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến một người Bà-la-môn.
Một
buổi sáng sớm, người Bà-la-môn ra khỏi thành, dừng lại
chỗ các Sa-môn thường vấn y, ông đứng quan sát. Chỗ ấy
cỏ mọc cao rậm rạp, khi một Sa-môn khoác y vào, chéo y quét
qua cỏ, dính sương đẫm ướt. Ông tự nhủ: "Ðám cỏ này
phải được dọn sạch". Hôm sau, ông đem cuốc ra rẫy cỏ,
dọn sạch chỗ đó, nó trở nên bằng phẳng quang đãng. Hôm
sau nữa, ông lại đến quan sát, khi các Tỳ-kheo khoác y vào,
chéo y quét trên đất và dính bụi. Ông nghĩ thầm: "Ta sẽ
rải cát ở đây". Ông lại đem cát đến đổ cho sạch nơi
đó.
Vào
một ngày, sáng sớm trời đã nóng bức. Dịp ấy ông thấy
các Tỳ-kheo mặc y, mồ hôi đổ giọt. Người Bà-la-môn nghĩ:
"Ta sẽ cất một cái trại nơi đây". Lập tức ông che lên
một cái lều cho các Tỳ-kheo. Lại ngày khác, sáng sớm trời
đổ mưa, dịp này ông lại thấy các Tỳ-kheo bị tạt ướt,
ông nghĩ thầm: "Mình phải cất nhà mới được". Nghĩ là
làm, và khi ngôi nhà hoàn thành, ông tổ chức lễ khánh thành.
Ông mời Phật và chúng Tăng đến đó, mời ngồi bên trong
và bên ngoài, rồi dâng thức ăn.
Sau
bữa ăn, ông cầm lấy bát của đức Phật, xin Ngài hồi hướng
công đức. Ông nói:
-
Bạch Thế Tôn, khi con đứng nơi này, đầu tiên nhìn các Tỳ-kheo
đắp y, con thấy như thế, và đã làm như thế, như thế.
Và
bắt đầu từ khởi điểm, ông kể cho Phật nghe toàn bộ
câu chuyện. Phật nghe xong nói:
-
Này Bà-la-môn, người trí làm việc lành cũng vậy, hết lúc
này đến lúc khác, từng việc một, dứt bỏ những nghiệp
xấu.
Ngài
nói kệ:
(239)
Bậc trí theo tuần tự,
Từng
sát-na trừ dần.
Như
thợ vàng lọc bụi,
Trừ
cấu uế nơi mình.
3.
Con Rận Tiếc Của
Như
sét từ sắt sinh ...
Câu
chuyện này xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến thầy Tỳ-kheo Tissa.
Ở
Xá-vệ, có một chàng trẻ tuổi con nhà quyền quý xuất gia,
làm đầy đủ bổn phận, là Thượng tọa Tissa.
Lúc thầy còn ở tinh xá trong thành, được cúng dường một
tấm vải thô dài tám thước. Sau ngày mãn hạ, thầy về nhà,
đưa vải cho chị xem. Chị thầy nghĩ thầm: "Tấm vải này
không xứng với em ta". Cô bèn lấy dao bén, rọc vải thành
từng mảnh, bỏ vào cối giả đập cho mềm, bỏ những sợi
thô, dệt thành tấm vải mới.
Vài
hôm sau, thầy Tissa,
tìm ra chỉ và kim, rủ thêm vài thầy và vài chú Sa-di biết
may y, đến nhà người chị bảo:
-
Ðưa em khúc vải, em muốn may y.
Cô
lấy khúc vải mịn dài chín mét, đưa cho thầy. Thầy từ
chối:
-
Vải kia của em là thứ thô xấu, dài tám mét, khúc này đẹp
lại dài chín mét, không phải của em. Hãy đưa khúc vải hôm
trước ấy.
-
Thưa thầy, vải này của thầy đó.
Cô
kể lại những việc làm của mình và bảo thầy hãy lấy
vải.
Thầy Tissa
đem vải về tinh xá, và tìm người may y. Chị thầy sửa soạn
cơm canh mang đến cho thợ may, và khi tấm y hoàn thành, trông
nó rất đẹp. Thầy Tissa rất
thích chiếc y mới, thầy định ngày mai sẽ đắp nó.
Nhưng
hôm ấy, thầy bị bội thực và chết, tái sanh làm một con
rận trong chiếc y mới của mình. Chị thầy nghe tin, nhào lăn
dưới chân các Tỳ-kheo khóc lóc. Các Tỳ-kheo lo tang ma xong,
bàn định:
-
Không ai hầu cận Tissa
khi thầy đau, chiếc y này thuộc Tăng chúng, chúng ta hãy chia
phần.
Con
rận la hoảng:
-
Các thầy tước đoạt tài sản của tôi.
Và
nó vừa kêu la vừa bò quanh chiếc y.
Ðức
Thế Tôn ngồi trong hương thất, biết việc xảy ra, bèn gọi
A-nan:
-
Này A-nan, hãy bảo chúng Tăng dời việc chia y bảy ngày.
Tôn
giả làm theo lời dạy. Cuối ngày thứ bảy, con rận chết
và tái sanh lên cõi trời Ðâu-suất. Ngày thứ tám, đức Phật
cho phép chúng Tăng chia y.
Sau
khi chia xong, chư Tăng bàn tán:
-
Tại sao đức Thế Tôn ra lệnh để chiếc y của Tissa lại
bảy hôm, ngày thứ tám mới cho phân chia.
Ðức
Phật đến gần các thầy hỏi:
-
Các ông tụ họp ở đây bàn tán việc gì?
Và
khi các thầy kể lại. Ngài nói:
-
Tissa đã tái sanh làm con rận trong y mới của
mình. Khi các ông định phân chia y, con rận đã nổi giận.
Nó sẽ cự lại các ông, và sẽ đọa địa ngục. Vì lẽ
đó Ta bảo để y lại. Hiện nay thì Tissa
đã sanh lên cõi trời Ðâu-suất, Ta mới cho phép các ông lấy
y đem chia.
Các
Tỳ-kheo bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, tham ái thật là một nỗi khổ lớn.
Phật
xác nhận:
-
Tham ái thật là vấn đề lo lắng lớn của chúng sanh trên
quả đất, như gỉ sét phát sanh từ sắt, trở lại ăn mòn
sắt, tham ái phát sanh từ chúng sanh và đưa chúng sanh xuống
địa ngục.
Phật
nói kệ:
(240)
Như sét từ sắt sinh,
Sắt
sinh lại ăn sắt,
Cũng
vậy, quá lợi dưỡng,
Tự
nghiệp dẫn cõi ác.
4.
Thầy Tỳ Kheo Kiêu Ngạo
Không
tụng làm nhớp kinh ...
Câu
chuyện này xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên
hệ đến thầy Udàyi.
Tại
Xá-vệ, năm mươi triệu Phật tử thường cúng dường bữa
ăn sáng cho chư Tăng, và sau đó họ mang bơ, dầu mè, mật
ong, mật mía, hương hoa và những vật cần dùng đến tinh
xá nghe pháp. Sau khi nghe xong ra về, họ ca tụng đức hạnh
của hai Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên. Thầy Ưu-đà-di
(Udàyi) nghe thấy thế
bèn bảo họ:
-
Các ông chỉ nghe hai Tôn giả ấy thuyết pháp nên ca tụng
như thế, tôi chắc rằng nếu các ông nghe tôi nói pháp, còn
khen đến đâu.
Hôm
sau, họ thỉnh thầy Ưu-đà-di:
-
Thưa Tôn giả, hôm nay chúng con đến nghe pháp, sau khi cúng
dường chư Tăng xong, xin Tôn giả thuyết pháp cho chúng con.
Thầy
Ưu-đà-di nhận lời. Và thính chúng kéo đến bên thầy. Thầy
ngồi trên một cái ghế, phe phẩy quạt chẳng biết nói một
câu gì, chỉ bảo:
-
Ta sẽ đọc một bài chú, hãy để người khác thuyết pháp.
Thầy
bước xuống. Thính chúng mời vị khác giảng dạy, và một
lần nữa mời thầy lên ghế đọc chú. Ưu-đà-di lại hẹn:
-
Ta sẽ đọc chú vào đêm nay, hãy mời vị khác đọc chú.
Thính
chúng mời vị khác, và đêm đến họ trở lại chỗ thầy.
Thầy lại hẹn:
-
Sáng mai ta sẽ đọc.
Sáng
hôm sau, Thầy cũng chẳng đọc được câu nào. Các thiện
tín tức giận ném đất, ném gậy vào thầy, nhiếc rằng:
-
Khi chúng ta ca tụng đức hạnh của hai Tôn giả Xá-lợi-phất
và Mục-kiền-liên, thầy nói những gì? Bây giờ sao thầy
làm thinh thế?
Thầy
bỏ chạy, họ rượt theo, và thầy té xuống một hầm phân.
Các
thiện tín bàn tán về chuyện xảy ra trong ngày, nói rằng:
Khi
chúng ta ca tụng phẩm hạnh của Tôn giả Xá-lợi-phất và
Mục-kiền-liên, Ưu-đà-di sanh tâm đố kỵ, tuyên bố rằng
mình cũng là giảng sư. Thế mà khi được cung kính mời nói
pháp, thầy ấy bốn lần lên pháp tòa mà chẳng nói được
một câu. Bị rượt và với gậy gộc, ngói đá, thầy té
xuống hầm phân.
Ðức
Thế Tôn nghe được câu chuyện. Ngài bảo các Tỳ-kheo:
-
Ðây không phải là lần đầu tiên, Ưu-đà-di rơi xuống hầm
phân, đời quá khứ thầy ấy cũng đã làm như thế.
Ngài
kể chuyện (Jàtaka 153)
(Chuyện
kể rằng, có một con lợn rừng thách đấu với sư tử. Trước
ngày ấy nó lăn trong đống phân khiến cả da lông đều hôi
hám, rồi đến nơi hẹn. Sư tử không dám đến gần, để
cho nó thắng).
Sư
tử là Xá-lợi-phất, lợn rùng là Ưu-đà-di.
Phật
nói lại câu kệ giữa hai con thú:
Tôi
là thú, anh cũng thú,
Hãy
đến đây hỡi sư tử.
Vì
sao anh lại bỏ chạy.
Này
heo kia, mi hôi hám, lông dày, dơ bẩn.
Nếu
mày muốn đọ sức, ta nhường cho mi thắng cuộc.
Sau
khi dạy như thế, Phật nói:
-
Này các Tỳ-kheo, Ưu-đà-di chỉ học được một câu kinh,
nhưng không bao giờ đọc tụng là một lỗi lớn.
Ngài
nói Pháp Cú:
(241)
Không tụng làm nhớp kinh,
Không
đứng dậy, bẩn nhà,
Biếng
nhác làm nhơ sắc,
Phóng
dật uế người canh.
5.
Tà Hạnh Của Nữ Nhân
Tà
hạnh nhơ đàn bà ...
Câu
chuyện này xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên
quan đến một thanh niên quý tộc (Jàtaka
65).
Khi
đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, có một thanh niên dòng quý
tộc kết hôn với một thiếu nữ đồng giai cấp. Sau đó
không lâu, người vợ ngoại tình. Xấu hổ vì chuyện này,
người thanh niên không dám gặp ai. Ðến phiên chàng vào hầu
Phật, chàng đến đảnh lễ Thế Tôn, lui ngồi một bên. Phật
hỏi:
-
Này con, sao lâu nay con vắng mặt?
Chàng
kể lại chuyện cho đức Phật nghe. Ngài bảo:
-
Ngay trong thời quá khứ, Ta đã bảo con rằng: "Ðàn bà thay
đổi như dòng sông, và người trí chớ có hơi đâu mà giận
họ". Nhưng vì luân hồi tái sanh che mờ tâm trí con, con đã
quên điều này.
Chàng
thanh niên yêu cầu Phật kể lại chuyện trước (Jàtaka 65),
Ngài nói kệ:
Như
dòng sông, con đường, quán rượu, phòng hội, nhà kho.
Ðàn
bà trên thế gian đều như thế, không bao giờ biết được
thời tiết của chúng.
Ngài
dạy tiếp:
-
Như thế, dâm ô là uế trược của đàn bà, bỏn sẻn là
uế trược của người bố thí, ác nghiệp là uế trược
của chúng sanh ở đời này và đời sau, nhưng trong tất cả
uế trược, vô minh là uế trược nhất.
Ngày
dạy Pháp Cú:
(242)
Tà hạnh nhơ đàn bà,
Xan
tham nhớp kẻ trí,
Ác
pháp là vết nhơ,
Ðời
này và đời sau.
(243)
Trong hàng cấu uế ấy,
Vô
minh, nhơ tối thượng,
Ðoạn
nhơ ấy, Tỳ-kheo,
Thành
bậc không uế nhiễm.
6.
Lịch Sự Và Thô Lỗ
Dễ
thay, sống không hổ ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến Culla Sàri
ở chung với Tôn giả Xá-lợi-phất.
Một
ngày nọ, thầy Tỳ-kheo đó làm khán bệnh, thầy nhận được
thức ăn bổ dưỡng. Trên đường đi thầy gặp một Tôn giả
đang khất thực, bèn mời:
-
Tôn giả, tôi có ít thức ăn thượng vị được bệnh nhân
cúng dường, không dễ gì có, xin mời Tôn giả ăn. Lần khác,
nếu tôi nhận được, tôi sẽ mang cho Tôn giả.
Tôn
giả nghe nói, nhưng cứ đi không trả lời. Các Tỳ-kheo đem
câu chuyện đó bạch Phật. Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, người nào không biết xấu hổ, trơ trẻn,
bất lịch sự thì sống thoải mái. Người nào thành thật
và sợ từng lỗi nhỏ, thì sống dè dặt.Ngài
nói Pháp Cú:
(244)
Dễ thay, sống không hổ,
Sống
lỗ mãng như quạ,
Sống
công kích huênh hoang,
Sống
liều lĩnh, nhiễm ô.
(245)
Khó thay, sống xấu hổ,
Thường
thường cầu thanh tịnh,
Sống
vô tư, khiêm tốn,
Trong
sạch và sáng suốt.
7.
Tất Cả Giới Cấm Ðều Khó Giữ.
Ai
ở đời sát sinh ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến
năm trăm tín đồ.
Có
năm trăm tín đồ, người này chỉ giữ giới bất sát, người
khác chỉ giữ một giới khác.. Ngày kia họ bàn tán, người
nào cũng cho rằng giới của mình khó giữ, việc của mình
khó nhất.. và họ đến chỗ Phật kể lại câu chuyện. Phật
dạy:
-
Không có giới nào là quan trọng ít, giới nào là quan trọng
nhiều, tất cả các giới đều khó giữ.
Ngài
nói kệ:
(246)
Ai ở đời sát sinh,
Nói
láo không chân thật,
Ở
đời lấy không cho,
Qua
lại với vợ người.
(247)
Uống rượu men, rượu nấu,
Người
sống đam mê vậy,
Chính
ngay tại đời này,
Tự
đào bới gốc mình.
(248)
Vậy người, hãy nên biết,
Không
chế ngự là ác,
Chớ
để tham phi pháp,
Làm
người đau khổ dài.
8.
Kẻ Bới Lỗi Người
Do
tín tâm, hỷ tâm ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan
đến chú Sa-di Tissa.
Chuyện
kể rằng, Sa-di Tissa có
thói quen tìm kiếm lỗi lầm trong phẩm vật cúng dường của
Cấp Cô Ðộc, của tín nữ Tỳ-xá-khư, ngay cả của năm triệu
thiện tín, đến cả phẩm vật tối thắng của vua Ba-tư-nặc
cũng thấy khuyết điểm. Khi nhận được thức ăn nguội chú
phàn nàn nguội quá, khi nhận được thức ăn nóng chú phàn
nàn nóng quá. Khi nhận thức ăn ít, chú càu nhàu sao ít thế?
Và khi nhận nhiều vật thực, chú cũng nói chắc ở nhà họ
hết chỗ chứa, hoặc: "Họ chỉ cần cúng cho các thầy để
được ủng hộ, cúng nhiều cơm cháo thế này thật là lãng
phí".
Nhưng
nếu đề cập đến bà con mình, chú nói: "Ô! Nhà của bà
con tôi cung cấp đầy đủ cho các Sa-môn tứ phương".
Tissa chỉ
là một con người gác cổng. Khi đi theo những người thợ
lên Xá-vệ, chú xin xuất gia. Các Tỳ-kheo thấy chú luôn luôn
chỉ trích lỗi lầm và việc tốt của người khác, muốn
tìm sự thật về chú, các thầy hỏi thăm chỗ chú ở và
sai vài Sa-di hỏi thăm người làng:
-
Có một Sa-di tên Tissa
người ở làng này, ai là thân tộc của chú?
Dân
làng nghĩ thầm: "Ở đây không có thanh niên quý tộc nào xuất
gia, các Sa-di này muốn tìm ai?". Họ nói:
-
Ở đây, chúng nghe có con của người gác cổng đi theo thợ
mộc và xuất gia, chắc đó là người thầy muốn hỏi.
Các
Sa-di về thuật lại với các Tỳ-kheo rằng Tissa nói
khoác, các Tỳ-kheo bạch Phật. Phật dạy:
-
Ðây không phải là lần đầu tiên Tissa
hay cằn nhằn và nói khoác, đời quá khứ chú cũng đã khoe
khoang khoác lác như thế.
Phật
kể chuyện quá khứ (Jàtaka Katàhaka).
Ngài dạy tiếp:
-
Này các Tỳ-kheo, người nào hay than phiền về vật thực cúng
dâng ít quá hay nhiều quá, ngon hay dở, hoặc không cúng dường
ta mà cúng dường người khác, người ấy không bao giờ chứng
quả.
Ngài
nói Pháp Cú:
(249)
Do tín tâm, hỷ tâm
Loài
người mới bố thí,
Ở
đây ai bất mãn,
Người
khác được ăn uống,
Người
ấy ngày hoặc đêm,
Không
đạt được tâm định.
(250)
Ai cắt được, phá được,
Tận
gốc, nhổ tâm ấy,
Người
ấy, ngày hoặc đêm,
Tất
đến được tâm định.
9.
Những Người Lơ Ðễnh
Lửa
nào bằng lửa tham ...
Câu
chuyện này xảy ra khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên
quan đến năm người thiện tín.
Khi
đức Phật ở tại tinh xá Kỳ Hoàn, có năm tín đồ nghe Ngài
giảng pháp, họ đảnh lễ Phật và lui ngồi một bên. Phật
không hề nghĩ rằng: "Người này dòng Sát-lợi, người kia
dòng Bà-la-môn, người nay giàu, người kia nghèo. Ta giảng
rộng cho người này, không giảng rộng cho người kia". Những
việc này không liên quan đến đề tài Phật thuyết giảng,
mọi người đều bình đẳng trước pháp, và Phật giảng
dạy như nhau.
Nhưng
năm người ngồi trước Phật, kẻ thì ngủ gục, người thì
lấy ngón tay bươi trên đất, người đong đưa cành cây, người
thì ngó lên trời. Chỉ có một người chăm chú nghe. Tôn giả
A-nan đứng quạt hầu Phật, quan sát cử chỉ của năm người
ấy, và sau đó bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài giảng dạy như tiếng sấm rền, mà những
người ngồi nghe như thế, như thế.
-
Này A-nan, ông có biết họ không?
-
Bạch Thế Tôn, không.
-
Người ngủ gục ấy, đã từng làm rắn trong năm trăm kiếp,
thường cuộn mình lại ngủ say nên kiếp này cũng ưa ngủ,
không có lời nào của Ta lọt vào tai.
-
Bạch Thế Tôn, việc ấy xảy ra trong nhiều kiếp liên tục
hay đứt quãng?
-
Một lần, người này làm người, một lần khoác áo chư thiên,
và lần khác làm rắn. Không thể dùng trí biết được số
kiếp luân hồi của hắn. Nhưng trong năm trăm kiếp liên tục,
hắn làm rắn và ngủ không bao giờ chán.
Người
dùng tay bươi đất, là đã năm trăm kiếp làm côn trùng chui
trong đất, nên bây giờ cứ bới đất, chẳng nghe lời Ta.
Người
hay lay cành cây, là đã năm trăm kiếp làm khỉ, và vì thói
quen chuyền cành, nên hiện tại cứ nắm cành cây, không nghe
lời Ta nói.
Người
nhìn lên trời, là đã năm trăm kiếp làm chiêm tinh gia, nên
ngày nay cũng nhìn lên trời, không nghe Ta nói gì.
Người
ngồi nghe chăm chú, là đã năm trăm kiếp làm Bà-la-môn đọc
tụng Vệ-đà nên hôm nay cũng chăm chú như đang đọc Mật
thư.
-
Bạch Thế Tôn, Ngài giảng dạy thấm sâu như chẻ da xương,
vì sao những người này không chăm chú nghe?
-
A-nan, ông tưởng giáo lý Ta dễ nghe được sao?
-
Bạch Thế Tôn, Ngài cho rằng khó nghe được?
-
Ðúng vậy.
-
Tại sao, bạch Thế Tôn?
-
Này A-nan, những chúng sanh này trong vòng luân hồi vô tận
không nghe tên Tam Bảo, nên bây giờ không thể nghe giáo pháp.
Những chúng sanh này trong vòng sanh tử vô cùng ấy chỉ quen
nghe tiếng nói của súc sinh. Hơn nữa, họ tiêu phí thời giờ
trong việc ăn uống, vui chơi, múa hát, nên không thể nghe giáo
pháp.
-
Bạch Thế Tôn, vì lý do gì họ không thể nghe pháp?
-
Này A-nan, vì tham ái, vì sân hận, vì si mê. Vì vậy, không
lửa nào bằng lửa tham ái, đốt cháy hữu tình không một
chút tro. Vào thời kiếp hỏa, hỏa tai thiêu rụi toàn thế
giới không chừa một tí nào, nhưng lửa này chỉ cháy trong
vòng bảy mặt trời, và chỉ cháy trong thời tiết nào thôi.
Còn lửa tham ái không lúc nào không bốc cháy. Cho nên Ta nói
không lửa nào bằng lửa tham ái, không kìm kẹp nào bằng
sân hận, không lưới nào bằng si mê, không sông nào bằng
ái dục.
Ngài
nói Pháp Cú:
(251)
Lửa nào bằng lửa tham!
Chấp
nào bằng sân hận!
Lưới
nào bằng lưới si!
Sông
nào bằng sông ái!
10.
Trưởng Giả Ram
Dễ
thay thấy lỗi người ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Thế Tôn ở Jàtiyàvana
gần thành Bạt-đề (Bhaddiya), liên
quan đến Trưởng giả Ram.
Bối
cảnh:
10A.
Thế Tôn Thăm Trưởng Giả Ram
Thuở
nọ, khi đức Phật du hành qua xứ Anguttaras,
Ngài nhận thấy những người trong gia đình Trưởng giả Ram
đều có duyên chứng quả Tu-đà-hoàn. Ông trưởng giả vợ
ông là Candapadumà,
con trai là Trưởng giả Dhananjiya,
con dâu Sumanà Devì,
cháu nội Visàkhà,
tớ gái Punna. Nhận
thấy như thế, Ngài đi đến thành Bhaddiya,
ngụ tại rừng Jàtiyà (Jàtiyàvana). Trưởng
giả Ram nghe
Phật đến bèn đi thăm. Nhưng tại sao ông có tên là Ram?
Ngoài
đề:
10B.
Trưởng Giả Ram Và Những Con Cừu Bằng Vàng.
Ðằng
sau nhà ông, trong khoảng sân rộng tám mẫu, có những con cừu
bằng vàng to bằng con voi, ngựa hoặc trâu nước. Chúng phi
tới phi lui, cày đất tứ tung, thụi lưng vào nhau. Khi Trưởng
giả Ram cần
bơ, dầu, mật ong, hay mật mía, hoặc thức ăn, hoặc ông cần
y phục, hoặc vàng bạc, ông chỉ cần đặt một trái banh
bằng chỉ ngũ sắc vào miệng mấy con cừu, từ miệng chúng
sẽ tuôn ra đủ tất cả các thứ cần dùng cho mọi người
trên khắp cõi Diêm-phù-đề, dù chỉ lấy ở một con thôi.
Ðó là lý do ông được gọi là Ram (Cừu).
Nhưng ông đã làm gì trong quá khứ?
Chuyện
quá khứ:
10C.
Bằng Cách Nào Trưởng Giả Ram Có
Ðược Cừu Bằng Vàng?
Vào
thời Phật Tỳ-bà-thi, ông là cháu của một người tên Avaroja,
ông cũng tên Avaroja.
Người cậu dự định xây cất hương thất cho Phật, Avaroja
cháu đến gặp Avaroja
cậu, đề nghị:
-
Thưa cậu, chúng ta hợp tác để xây cất hương thất.
-
Ta không muốn chia sẻ công việc cho ai cả.
Người
cậu trả lời như thế. Cháu nghĩ thầm: "Ngay khi hương thất
xây xong, sẽ có một chuồng voi tại đây". Chàng đặt thợ
rừng cưa gỗ, dựng cột, cất một trại voi với tất cả
rui mè, kèo, đòn tay, cửa cái, cửa sổ, sàn nhà, nóc đều
cẩn đầy vàng bạc, châu báu. Như thế, đối diện với hương
thất của Như Lai là một chuồng voi dành cho Ngài, trang hoàng
bằng thất bảo. Trên nóc chuồng có một cái tháp bằng vàng
ròng, đỉnh tháp bằng san hô. Chính giữa lều chàng đặt
một cây lọng bằng ngọc, che trên tòa ngồi. Tòa ấy có bốn
chân bằng vàng ròng, dưới bốn chân ghế có bốn con cừu
bằng vàng đỡ chân, hai cừu vàng kê chân. Sáu cừu vàng vây
quanh lọng. Mặt ghế trải thảm bằng chỉ vàng, chỉ bạc,
lưng ghế bằng gỗ chiên đàn.
Khi
hoàn thành lều voi, chàng mở tiệc ăn mừng, chàng thỉnh Phật
và sáu trăm tám mươi ngàn vị Tỳ-kheo cúng dường tám tháng.
Ngày cuối cùng, chàng cúng dâng mỗi vị Tỳ-kheo ba y, và chỉ
một y cho mỗi vị Sa-di cũng đã đáng giá trăm ngàn đồng
vàng. Sau khi làm những công đức như thế trong thời Phật
Tỳ-bà-thi, Avaroja
cháu đã tái sinh cõi trời, cõi người. Và kiếp này nổi
tiếng là Trưởng giả giàu có của thành Ba-la-nại.
Chuyện
quá khứ
10D.
Vì Sao Trưởng Giả Ram Và
Gia Quyến Ðược Phép Màu?
Một
ngày kia, Trưởng giả Ram
đến hoàng cung chầu vua, gặp thầy Tư tế của hoàng gia,
ông hỏi:
-
Thưa thầy, thầy có xem thiên văn không?
-
Ðược chứ, ông cần gì?
-
Xin cho biết vận mệnh của xứ này.
-
Sẽ có thiên tai.
-
Chừng nào xảy ra?
-
Ba năm nữa sẽ có nạn đói.
Trưởng
giả nghe nói thế, bèn về nhà ra lệnh trồng thật nhiều
lúa, đem hết tài sản mua lúa, xây cất một ngàn hai trăm
năm mươi vựa đựng thóc lúa, đổ đầy tràn, còn đổ thêm
vào lu hũ chôn dưới đất, còn bao nhiêu ông cho trộn với
đất sét, xây thành bức tường.
Thời
gian sau, nạn đói xảy ra, ông đem số lúa dự trữ ra ăn.
Khi ăn cạn hết lương thực, ông gọi thân quyến đến và
bảo:
-
Các người hãy đi vào núi mà kiếm thức ăn. Khi nạn đói
qua hãy trở về. Nếu không muốn về cứ ở lại nơi nào
mình thích.
Tất
cả thân bằng quyến thuộc ra đi, chỉ còn lại vợ Trưởng
giả, con trai, con dâu, và người giúp việc Punna
ở lại với ông, cả thảy năm người. Sau khi ăn hết lúa
chôn dưới đất, họ cạy bức tường, ngầm từng mảng vào
nước, lượm lúa ra ăn. Nạn đói hoành hành rộng lớn và
tường lúa cũng hết. Chỉ còn lại một lít lúa cuối cùng,
bà Trưởng giả sợ trộm vét, bèn bỏ vào trong bình, đậy
nắp lại chôn dưới đất.
Khi
ông Trưởng giả ở cung vua về, hỏi vợ:
-
Này bà, tôi đói bụng, còn gì để ăn không?
-
Còn một ít lúa chôn dưới đất.
-
Hãy đào lên và nấu ăn.
-
Nếu tôi nấu cháo thì ăn được hai bữa, nếu nấu cơm thì
chỉ một bữa thôi. Làm theo cách nào?
-
Bây giờ chúng ta chẳng còn gì, chỉ ăn bữa cơm rồi chờ
chết, thôi nấu cơm đi.
Bà
vợ nấu cơm, chia làm năm phần, và đặt phần của ông Trưởng
giả trước mắt ông.
Lúc
ấy trên núi Kiền-đà (Grandhamàdana)
có một vị Phật Bích Chi nhập định, Ngài không bao giờ
bị đói, nhưng nếu Ngài ra khỏi định, chẳng bao lâu Ngài
sẽ đói vì bao tử hoạt động trở lại. Lúc ấy Ngài quan
sát xem nơi nào có thể khất thực. (Chúng sanh nào dâng cơm
cho Ngài sau khi xuất đại định sẽ được phước báo làm
tổng tư lệnh hoặc cấp ngang hàng).
Ðức
Phật Bích Chi chỉ dùng thiên nhãn quan sát thế giới, Ngài
thấy rằng một trận đói khủng khiếp đã xảy ra trên cõi
Diềm-phù-đề, và tại nhà Trưởng giả nọ chỉ còn năm
người với một lít gạo. Liệu họ có đủ thành tín để
cúng cho Ngài? Nhận thấy họ rất mực thành tín, Ngài bèn
đắp y, mang bát đến trước cửa nhà Trưởng giả.
Khi
ông Trưởng giả nhìn thấy Phật, lòng ông tràn đầy niềm
vui: "Vì quá khứ ta không hề cúng dâng nên giờ này mới chịu
nạn đói kinh khủng, phần cơm này chỉ giúp ta sống một
ngày, nếu cúng dường Phật ta sẽ thoát vòng sanh tử trong
nhiều kiếp".
Nghĩ
thế, ông mời Phật vào nhà, đảnh lễ năm vóc sát đất,
thỉnh Ngài ngồi, đem nước rửa chân, kê chân Ngài bằng
chiếc nệm vàng, và sớt cơm vào bát Phật. Khi ông sớt được
phân nửa, đức Bích Chi dùng tay che miệng bát, tỏ ý không
nhận thêm. Ông Trưởng giả bạch Phật:
-
Bạch Ngài, chúng con năm người chung một lít gạo, phần cơm
này là một trong năm phần được chia. Con không muốn sớt
làm hai, con muốn cúng dường Ngài tất cả, con không mong cầu
Ngài ban phước lành cho con hiện đời.
Nói
xong ông trút hết cơm vào bát Phật và phát lời nguyện:
-
Bạch Ngài, mong rằng nơi nào con tái sinh, con xin sẽ không
bao giờ chịu đói như hiện tại. Con sẽ có đủ thức ăn
cho mọi người trên khắp cõi Diêm-phù-đề. Con không phải
làm lụng cực nhọc để sống. con sẽ có một ngàn hai trăm
năm chục vựa lúa, sau khi quét dọn sạch sẽ, con gội đầu
và ngồi trước cửa kho, đúng lúc đó thóc lúa sẽ rơi đầy
kho lẫm. Nơi nào con tái sinh, vợ con là người vợ này, con
trai, con dâu và đầy tớ chính là những người này.
Vợ
Trưởng giả nghĩ: "Ta sẽ không ăn khi chồng ta chịu đói".
Và bà cũng dâng cúng phần cơm của mình cho Phật, với lời
nguyện:
-
Nơi nào con tái sinh, con không chịu nạn đói lần thứ hai.
Con có quyền năng dùng một bát cơm cho tất cả người trên
cõi Diêm-phù-đề, cho bao nhiêu tùy ý mà bát cơm vẫn đầy.
Nguyện những người này sẽ là chồng con, con trai, con dâu,
và là người giúp việc của con trong kiếp sau.
Con
trai ông Trưởng giả cũng cúng phần cơm của mình với lời
nguyện:
-
Con xin không bao giờ bị đói như thế này. Con sẽ có quyền
năng chỉ với một túi tiền độ một ngàn đồng mà bố
thí cho tất cả những người ở cõi Diêm-phù-đề, cho bao
nhiều tùy ý, túi tiền vẫn đầy. Cha, mẹ, vợ, người giúp
việc chính là những người này.
Con
dâu cũng cúng phần cơm của mình cho Phật với lời nguyện:
-
Con xin không bao giờ bị nạn đói. Con sẽ có một cái giỏ
đựng thóc giống cung cấp cho mọi người không hết. Nơi
nào con tái sinh, những người này là cha chồng, mẹ chồng,
chồng và người giúp việc.
Người
giúp việc Punna cũng
cúng phần cơm của mình cho Phật Bích Chi với lời nguyện:
-
Con sẽ không bao giờ bị đói. Khi con cày đất, ba luống cày
bên mặt, ba luống cày bên trái và một đường cày giữa,
cả bảy đường cày đều rộng vài sải tay.
Mặc
dù ông ta có thể ước nguyện làm tổng tư lệnh, nhưng vì
tình cảm liên hệ với gia chủ, ông cũng nguyện: "Những người
này là ông chủ, bà chủ".
Khi
mỗi người phát nguyện, Phật Bích Chi đều nói:
-
Sẽ được vậy?
Và
Ngài nói lời cảm tạ bằng những bài kệ theo cung cách một
vị Bích Chi Phật, rồi nghĩ thầm: "Bổn phận của Ta là làm
thỏa nguyện vọng của những chúng sanh này". Ngài thầm bảo:
"Hãy để những người này nhìn theo thấy Ta cho đến tận
núi Kiền-đà". Ngài bay lên hư không và họ đứng nhìn theo.
Ðến nơi, Ngài chia cơm trong bát cho năm trăm vị Bịch Chi
Phật, do thần lực của Ngài cơm đầy đủ cho tất cả. Năm
người vẫn đứng và thấy rõ.
Lúc
ấy trời đã quá trưa, vợ ông Trưởng giả rửa sạch nồi
cơm, đậy nắp lại và cất đi. Ông Trưởng giả đói meo,
nằm dài ra ngủ. Ðến chiều, ông thức dậy gọi vợ:
-
Này bà, tôi đói quá, bà xem còn sót miếng cơm cháy nào trong
nồi không?
Bà
nhớ kỹ rằng mình đã rửa sạch nồi cất đi, chắc chắn
không còn một hột cơm cháy nào, nhưng thay vì nói: "Không
còn gì hết", bà vẫn nói:
-
Tôi sẽ xem thử coi.
Bà
đi đến nơi cất nồi, giở nắp ra, và ngay lúc đó, nồi
cơm đầy nhóc, thơm ngào ngạt, hơn thế nữa, cơm tràn tận
miệng nồi đội cả nắp lên.
Chứng
kiến việc lạ lùng này, toàn thân bà rung động vui mừng,
bà gọi chồng:
-
Này, ông dậy đi, tôi đã rửa sạch nồi cất đi, mà bây
giờ cơm lại đầy nồi, thơm nghi ngút. Ðây là quả phước
của việc thiện, quả phước của việc cúng dường. Dậy
mà ăn, ông ạ.
Bà
đem cơm cho chồng và con trai. Khi họ ăn xong, bà cùng ăn với
con dâu, và sau đó cho người giúp việc Punna.
Dù bới bao nhiêu, nồi cơm cũng không giảm, cứ xúc ra một
vá thì vá cơm khác hiện ra. Vào ngày ấy, tất cả vửa lúa
kho lẫm trong nhà ông đều đầy thóc. Ông Trưởng Giả rao
khắp thành phố: "Lúa thóc hiện đầy đủ trong nhà ông Trưởng
giả, tất cả những ai muốn dùng cứ đến lấy".
Mọi
người đổ xô đến lấy lúa, và tất cả dân chúng cõi Diêm-phù
đều được lúa thóc.
Ông
Trưởng giả sau khi chết, tái sanh vào cõi trời, cõi người,
vào thời Phật hiện tại, sanh trong gia đình giàu có ở Bhaddiya.
Vợ ông khi xưa cũng là vợ hiện tại, cả con trai, con dâu,
người giúp việc Punna.
Do phước báo kể trên, những con cừu vàng lại hiện ra trong
sân nhà ông.
10E.
Trưởng Giả Ram Và
Gia Quyến Thực Hiện Phép Màu
Một
ngày nọ, Trưởng giả Ram
muốn thử lại quyền lực của mình. Ông cho quét sạch một
ngàn hai trăm năm mươi kho lúa, gội đầu, và ngồi ở cửa
mỗi kho nhìn vào, lập tức các kho lẫm đều đầy lúa. Ông
bảo vợ, con dâu và người giúp việc hãy thử quyền lực
của mình.
Bà
vợ trang điểm lộng lẫy, ngồi ở cổng nhà, cầm một muỗng
vàng rao lên:
-
Ai cần cơm cứ đến.
Bà
sớt đầy cơm vào những bình và chậu đưa đến, tất cả
ai đến xin đều được cho. Suốt ngày giỏ cơm của bà không
vơi.
(Vào
thời chư Phật quá khứ, cũng trong dịp này, bà dâng cơm cho
chúng Tăng, với tay mặt cầm muỗng, tay trái xách giỏ cơm.
Vì thế, nơi lòng bàn tay trái của bà có dấu hoa sen, lòng
bàn tay mặt có dấu mặt trăng tròn. Khi bà dâng nước cho
chư Tăng, đi tới, đi lui, thì dấu hoa sen và dấu mặt trăng
lại hiện ở bàn chân. Vì thế bà có tên là Candapadumà (Liên
Nguyệt).
Người
con trai mang túi tiền chừng một ngàn đồng vàng, bố thí
cho tất cả mọi người, và bao giờ trong túi cũng còn đủ
một ngàn đồng vàng. Con dâu cũng trang điểm lộng lẫy, cung
cấp thóc giống cho tất cả mọi người, túi thóc vẫn không
vơi.
Người
giúp việc cũng trang điểm hết mình, bắt ách vàng, cày vàng
lên mình con bò, choàng dây vàng lên mình nó và dẫn ra ruộng.
Mỗi nhát cày là bảy đường cày, ba đường bên trái, và
một đường cày ở giữa.
Như
thế, tất cả dân chúng trên cõi Diêm-phù đều nhân thức
ăn, thóc giống, vàng bạc thỏa thích từ nhà Trưởng giả.
Kết
Thúc Của Truyện:
10F.
Trưởng Giả Ram Ðến
Gặp Phật
Khi
Trưởng giả đầy quyền lực nghe tin đức Bổn sư đến thành,
ông đi đến thăm Phật. Trên đường đi ông gặp một nhóm
ngoại đạo ngăn cản:
-
Này Trưởng giả, ông đi đâu? Ông tin có Thần Ngã mà lại
đến thăm Cồ-đàm, người không tin điều này.
Mặc
dù họ cố gắng thuyết phục, ông vẫn không màng đến lời
họ. Ông đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và kính cẩn ngồi
một bên. Phật thuyết pháp, nghe xong ông chứng quả Dự lưu.
Ông thuật lại lời chống đối, phỉ báng của ngoại đạo
cho Phật nghe. Phật dạy:
-
Này Trưởng giả, những người ấy không thấy lỗi của mình
dù là lỗi lớn, còn người khác không lỗi, họ cũng cố
gắng kẻ vạch, như quạt thóc tìm trấu.
Ngài
nói Pháp Cú:
(252)
Dễ thay thấy lỗi người,
Lỗi
mình thấy mới khó,
Lỗi
người ta phanh tìm,
Như
sàng trấu trong gạo,
Còn
lỗi mình che đậy,
Như
kẻ gian giấu bài.
11.
Tỳ Kheo Bới Lỗi
Ai
thấy lỗi của người ...
Câu
chuyện xảy ra khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến
Tôn giả tên là Người Tìm Lỗi, Ujjhànasannì.
Tôn
giả này thường dòm dỏ lỗi của các Tỳ-kheo, thầy nói:
-
Thầy này đắp thượng y thế này, thầy kia đắp hạ y như
thế kia.
Các
Tỳ-kheo đến bạch Phật:
-
Bạch Thế Tôn, Tôn giả ấy cứ như thế, như thế.
Phật
dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, người nào làm tròn bổn phận của mình
và khuyên người khác như thế, người đó không thấy lỗi
ai. Người nào có ý nhìn lỗi người, tìm lỗi người, và
đi rêu rao lỗi người, hạng người này không bao giờ đạt
được chút xíu giác ngộ, chỉ có sự ô nhiễm tăng trưởng
trong họ.
Ngài
dạy Pháp Cú:
(253)
Ai thấy lỗi của người,
Thường
sanh lòng chỉ trích,
Người
ấy lậu hoặc tăng,
Rất
xa lậu hoặc diệt.
12.
Hư Không Có