XV.
Phẩm Hạnh Phúc
1.
Mối Tranh Chấp Giữa Hai Lân Bang
Vui
thay, chúng ta sống ...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn đang ngự gần
thân tộc Thích-ca, liên quan đến việc chấm dứt sự tranh
chấp giữa các bộ tộc lân bang.
Dân
cư trong thành Ca-tỳ-la-vệ và dân cư thành Câu-lợi (Koliya) có
chung một con sông. Sông Rohinì bắt
nguồn từ một đập nước giữa hai thành phố, và cung cấp
nước cho hai cánh đồng của cả hai bên. Vào tháng Jetthamùla,
lúa bắt đầu chín, nông dân hai bên họp lại, dân thành Câu-lợi
nói:
-
Nếu nước sông chia đôi cho hai bên sẽ không đủ, lúa chúng
tôi cần nước để chín. Hãy nhường nước cho chúng tôi.
Phía
Thích-ca trả lời:
-
Sau khi các anh đã thâu hoạch đầy bồ, chúng tôi chỉ còn
nước chết đói và xách túi đi xin ăn các anh. Lúa của chúng
tôi cũng cần nước để chín. Bây giờ hãy để chúng tôi
lấy nước.
-
Không, chúng tôi không để các anh lấy nước.
-
Hừm! Chúng tôi không bao giờ nhường nước cho các anh.
Cuộc
bàn cãi trở nên gay cấn, đến lúc bên này đấm bên kia một
đấm, bên kia đấm trả lại và do đó có hận thù. Cuộc
tranh cãi gay cấn hơn khi đôi bên bắt đầu nói xấu về cội
nguồn của nhau.
Nông
dân thành Câu-lợi nói:
-
Hỡi dân thành Ca-tỳ-la-vệ, hãy cõng vợ bồng con đi nơi
khác. Chúng ta không muốn sử dụng voi, ngựa, khí giới với
lũ các người đê tiện như lang sói, cưới chị làm vợ.
Dân
chủng tộc Thích-ca gào lên:
-
Ðồ cùi, hãy mang vợ con đi khuất mắt. Các người tưởng
rằng chúng ta thích đem khí giới, voi ngựa để đánh lại
lũ ngươi, chỉ sống dưới cây táo như súc vật?
Ðán
nông dân hai bên trình bày câu chuyện lên quan Tổng Trấn của
họ, và các quan Tổng Trấn tâu lên vua của họ. Dòng Thích-ca
chuẩn bị khí giới và la lên:
-
Chúng ta sẽ chứng tỏ sức mạnh của những kẻ kết hôn
với chị em bà con.
Dòng
Câu-lợi cũng sửa soạn chiến tranh và đáp trả:
-
Chúng ta sẽ chứng tỏ thế nào là sức mạnh của kẻ sống
dưới cây táo.
Khi
đức Thế Tôn quan sát thế gian vào mỗi sáng sớm, Ngài thấy
sự kiện trên và nghĩ thầm: "Nếu Ta không đến giảng hòa,
họ sẽ giết hại lẫn nhau mất". Ngài bay lên hư không, ngay
trên chỗ tụ họp của hoàng gia Thích-ca, và ngồi kiết già
trên khoảng không của sông Rohinì
. Hoàng tộc Thích-ca thấy Ngài, họ ném khí giới và đảnh
lễ Phật. Thế Tôn hỏi:
-
Ðại vương! Gây hấn vì chuyện gì thế?
-
Bạch Thế Tôn, con không biết.
-
Vậy thì ai biết?
-
Có lẽ thống tướng quân binh biết.
Ông
thống tướng trả lời:
-
Có lẽ phó vương biết.
Cứ
thế, Phật hỏi tuần tự, đến đám nông dân, và họ trả
lời:
-
Bạch Thế Tôn, cuộc chiến tranh này là vì con sông.
Ðức
Phật hỏi nhà vua dòng Thích-ca:
-
Ðại vương! Giá trị của một chút nước ruộng là ra sao?
-
Bạch Thế Tôn! Chẳng đáng gì.
-
Giá trị của các chiến sĩ dòng Sát-lợi như thế nào?
-
Dòng Sát-lợi vô giá, bạch Thế Tôn!
-
Không có gì vô lý bằng chỉ vì chút nước mà các ông tiêu
diệt dòng Sát-lợi như thế.
Họ
im lặng. Ðức Phật khuyên dạy:
-
Chư đại vương! Vì sao chư đại vương hành động như thế?
Nếu Ta không đến đây hôm nay, các ông sẽ cho máu chảy thành
sông. Các ông hành động thật sai lầm. Các ông sống trong
hận thù, nuôi dưỡng sân giận. Ta đã thoát khỏi sân hận.
Các ông sống trong sự hèn yếu của dục vọng. Ta đã thoát
khỏi dục vọng. Các ông say mê theo đuổi ngũ dục. Ta đã
thoát ngoài ngũ dục.
Phật
nói kệ:
(197)
Vui thay, chúng ta sống,
Không
hận, giữa hận thù.
Giữa
những người thù hận,
Ta
sống không hận thù.
(198)
Vui thay, chúng ta sống,
Không
bệnh giữa ốm đau,
Giữa
những người bệnh hoạn,
Ta
sống không ốm đau.
(199)
Vui thay chúng ta sống,
Không
rộn giữa rộn ràng.
Giữa
những người rộn ràng,
Ta
sống không rộn ràng.
2.
Ma Vương Chế Ngự Thôn Dân
Vui
thay, chúng ta sống...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại ngôi
làng Bà-la-môn Pancasala,
liên hệ đến Ma vương.
Một
hôm, đức Phật quan sát căn cơ dân làng Ba-la-môn nọ và nhận
thấy có năm trăm cô gái trong làng có khả năng chứng quả
Tu-đà-hoàn, Ngài bèn đi đến gần làng ấy. Bấy giờ vào
ngày lễ, các thôn nữ đi đến gần bờ sông tắm, tắm xong
các cô trang sức nhiều vòng tay vòng chân, đi về làng. Ngay
lúc đó, đức Thế Tôn đi vào làng khất thực, Ma vương khống
chế toàn bộ dân làng khiến không ai cúng dường Thế Tôn
dù chỉ một muỗng nhỏ, Phật ra khỏi làng với cái bát rỗng.
Ma vương đứng ở cổng làng hỏi:
-
Sa-môn, ông không nhận được gì ư?
-
Này hiện thân của xấu ác! Vì sao ông sắp đặt để Ta không
khất thực được gì?
-
Tốt lắm! Sa-môn hãy trở vào làng.
Khi
nói như thế, Ma vương thầm nghĩ: "Nếu Cồ-đàm trở vào
trong làng, ta sẽ dùng quyền lực khiến dân chúng vỗ tay,
cười vào mặt ông ấy, và làm mọi trò chế giễu".
Khi
đó các cô gái về đến cổng thấy đức Phật, họ dùng
lại đảnh lễ và đứng qua một bên. Ma vương nói với đức
Phật:
-
Bạch Thế Tôn, Ngài không xin được chút thức ăn nào, chắc
là đói bụng lắm.
-
Này Ma vương, dù cho ngày hôm nay Ta bị quấy rầy, Ta vẫn
an lạc như ở cõi trời Quang Âm.
Ngài
nói kệ:
(200)
Vui thay, chúng ta sống,
Không
gì, gọi của ta.
Ta
sẽ hưởng hỷ lạc,
Như
chư thiên Quang Âm.
3.
Vua Ba-Tư-Nặc Bại Trận
Chiến
thắng sinh thù oán...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ
Viên, liên quan đến vua Ba-tư-nặc nước Kosala.
Chuyện
kể rằng, vua Ba-tư-nặc đánh nhau với A-xà-thế, gần làng Kasika và
ba lần bại trận. Trở về sau lần thất bại thứ ba, nhà
vua nghĩ thầm: "Nếu không thắng được tên miệng còn hôi
sữa ấy, ta sống làm gì?". Nhà vua bỏ ăn nằm dài trên long
sàng. Tin tức bay đi khắp thành và đến tinh xá.
Các
Tỳ-kheo thuật lại chuyện cho đức Thế Tôn nghe:
-
Bạch Thế Tôn, nhà vua sau ba lần chiến bại ở gần làng Kasika,
đã trở về bỏ ăn, nằm dã dượi trên giường, nói: "Nếu
ta không thắng được tên vua trẻ tuổi kia, ta sống làm gì?".
Sau
khi nghe kể, Phật dạy:
-
Này các Tỳ-kheo, kẻ thắng bị oán ghét, người thua phải
buồn rầu.
Ngài
nói kệ:
(201)
Chiến thắng sinh thù oán,
Thất
bại chịu khổ đau.
Sống
tịch tịnh an lạc,
Bỏ
sau mọi thắng bại.
4.
Ðừng Nhìn Say Ðắm Nữ Nhân
Lửa
nào sánh lửa tham ...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ
Viên, liên quan đến một cô gái dòng quý tộc.
Chuyện
kể rằng, vào ngày hôn lễ của con gái, cha mẹ cô mời đức
Thế Tôn đến nhà cúng dường. Ðức Phật cùng chúng Tỳ-kheo
đến nhà cô thọ trai, cô dâu lăng xăng tới lui để tiếp
đãi chúng Tăng. Khi đó, chú rể đứng nhìn cô chăm chăm và
lòng khởi lên tham dục. Chú không thấy đức Phật, cả đến
tám mươi vị Trưởng lão, chỉ nghĩ đến một điều duy nhất:
"Ta muốn ôm choàng lấy nàng".
Ðức
Phật biết được ý nghĩ của chàng, và Ngài làm cho chú rể
không thấy cô dâu nữa, mà quay sang chiêm ngưỡng Thế Tôn.
Khi chàng trai đứng đấy, nhìn Phật chăm chăm, Ngài nói với
chàng trai:
-
Này con, không lửa nào bằng lửa tham dục, không ác nào bằng
lòng sân hận, không khổ nào bằng khổ uẩn, không vui nào
bằng vui Niết-bàn.
Ngài
nói kệ:
(202)
Lửa nào sánh lửa tham?
Ác
nào bằng sân hận?
Khổ
nào sánh khổ uẩn?
Lạc
nào bằng tịnh lạc?
Nghe
xong, đôi vợ chồng trẻ chứng quả Tu-đà-hoàn. Vào lúc đó,
Phật cho phép họ lại nhìn thấy nhau.
5.
Phật Ban Thức Ăn Cho Người Ðói
Ðói
ăn, bệnh tối thượng ...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Thế Tôn ở tại Alavi,
liên quan đến một nam cư sĩ.
Ngày
nọ, đức Thế Tôn ngồi trong hương thất ở Kỳ Viên, Ngài
quan sát căn cơ chúng sanh, và nhận thấy một nông dân nghèo
ở Alavi có
duyên đắc quả Tu-đà-hoàn. Ngài bèn đi cùng với năm trăm
Tỳ-kheo đến Alavi.
Dân cư tại đây liền mời Phật thọ trai. Người nghèo nọ
cũng nghe tin Phật đã đến Alavi,
và định đi nghe thuyết pháp. Nhưng hôm đó, con bò của ông
đi lạc, ông suy tính: "Ta sẽ đi tìm bò hay đi nghe pháp?" Cuối
cùng ông quyết định: "Ta sẽ đi tìm bò trước, rồi đi nghe
pháp sau". Do đó, sáng sớm ông bương bả đi tìm bò.
Cư
dân của Alavi sắp
đặt cúng dường đức Phật và chư Tăng. Sau khi Phật thọ
trai xong, họ dọn cất bình bát và đợi nghe Pháp. Thế Tôn
nghĩ thầm: "Ta đi ba mươi dặm đường chỉ vì một chúng
sanh có căn cơ chứng quả, kẻ ấy đang lang thang trong rừng
tìm con bò. Khi nào người đó trở lại, Ta sẽ nói pháp".
Và Ngài ngồi làm thinh.
Ðến
trưa, người nông dân kia tìm được con bò và đánh nó về
chuồng. Ông nghĩ: "Dù chưa ăn uống gì, ít ra ta cũng đi đảnh
lễ Phật". Ngay khi đó, dù đang đói meo, ông ta cũng quyết
định không về nhà mà vội vã đi đến chỗ Phật, cung kính
đảnh lễ và ngồi một bên. Phật bèn hỏi người coi về
thức ăn:
-
Thức ăn của chư Tăng còn thừa chăng?
-
Bạch Thế Tôn, vẫn còn.
-
Tốt lắm! Hãy cho người nghèo này một phần ăn.
Và
người ta dọn chỗ cho người kia theo sự chỉ dẫn của Phật,
cung cấp đầy đủ các loại thức ăn cứng, mềm. Người
nông dân ăn xong, súc miệng.
(Ðây
là trường hợp ngoại lệ duy nhất, trong ba tạng không hề
ghi lại việc Thế Tôn để tâm đến việc phân phối thức
ăn). Sau khi anh nông dân đã no lòng, tâm tư anh trở nên an
tĩnh. Ðức Phật giảng dạy Tứ đế theo thứ tự Khổ-Tập-Diệt-Ðạo.
Cuối bài pháp, anh nông dân chứng quả Tu-đà-hoàn. Ðức Thế
Tôn hồi hướng công đức và trở về tinh xa, thính chúng
theo sau Ngài một đoạn đường rồi ai về nhà nấy.
Các
Tỳ-kheo tùy tùng đức Phật hôm ấy bất mãn tột độ, xì
xào:
-
Huynh đệ nghĩ xem, Thế Tôn đã làm như thế. Một chuyện
không hề xảy ra từ xưa đến nay. Vậy mà trưa nay khi thấy
một người nghèo đói, Ngài đã hỏi thức ăn và dạy đem
cho anh ta.
Ðức
Phật dừng bước, quay lại hỏi:
-
Các Tỳ-kheo, các ông bàn tán việc gì?
Sau
khi nghe thuật lại, Ngài nói:
-
Ðúng thế! Này các Tỳ-kheo, Ta đến đây qua một đoạn đường
dài ba mươi dặm đầy nhọc nhằn, chỉ với mục đích duy
nhất, vì Ta thấy rõ người nông dân kia có khả năng chứng
quả Tu-đà-hoàn. Từ sáng sớm, ông ta vào rừng tất tả tìm
con bò, lòng không bụng đói. Ta nghĩ nếu Ta nói pháp cho người
này nghe trong khi y khổ sở vì đói, y sẽ không hiểu gì cả.
Vì thế Ta phải làm như thế. Này các Tỳ-kheo, không gì khổ
sở cho bằng đói.
Ngài
nói kệ:
(203)
Ðói ăn, bệnh tối thượng,
Các
hành ,khổ tối thượng,
Hiểu
như thực là vậy,
Niết-bàn,
lạc tối thượng.
6.
Ăn Uống Tiết Ðộ
Không
bệnh, lợi tối thượng ...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Phật ở Kỳ Viên, liên
quan đến vua Ba-tư-nặc.
Có
một lúc, vua Ba-tư-nặc có thói quen ăn uống vô độ, ăn nhiều
cơm, canh, cà-ri. Ngày kia sau khi dùng điểm tâm, nhà vua không
cưỡng nổi cơn ngầy ngật vì quá no, bèn đi đến chỗ đức
Phật và loanh quanh bên Ngài với vẻ mặt đau khổ. Nhà vua
chỉ muốn nằm ngủ, nhưng không dám, khi hiện diện bên Phật.
Cuối cùng vua đến ngồi một bên Thế Tôn. Phật hỏi:
-
Ðại vương, đến đây mà chưa ngủ nghỉ ư?
-
Bạch Thế Tôn, không phải như vậy, nhưng con luôn luôn khổ
sở sau khi ăn xong.
-
Này Ðại vương! Ăn uống quá độ thường mang lại sự khổ
nhọc.
Ngài
nói kệ:
Người
ưa ngủ, ăn lớn,
Nằm
lăn lóc qua lại,
Chẳng
khác heo no bụng,
Kẻ
ngu nhập thai mãi.
Sau
khi nói kệ khuyên vua, Phật dạy tiếp:
-
Ðại vương, cần phải giữ tiết độ khi ăn uống, đó là
điều tốt.
Ngài
nói kệ tiếp:
Người
lo chừng mực uống ăn,
Khổ
đau giảm bớt, thêm tăng tuổi trời.
Nhà
vua không tài nào nhớ hết câu kệ (Vì rất buồn ngủ). Nên
đức Phật nói với hoàng tử Sudassana
(Tu-đà-na), vừa là cháu ruột vừa theo hầu cận nhà vua:
-
Hãy ghi nhớ câu kệ này.
-
Bạch Thế Tôn, sau khi học thuộc câu kệ, con sẽ làm gì?
-
Khi nhà vua dùng cơm, ngay khi xới chén cơm cuối cùng con hãy
đọc bài kệ. Nhà vua sẽ hiểu ý và lập tức buông chén.
Hôm sau, khi nấu cơm cho nhà vua, con hãy bớt đi số gạo tương
đương chén cơm cuối cùng đó.
-
Thưa vâng! Bạch Thế Tôn!
Và
mỗi buổi sáng chiều khi vua Ba-tư-nặc dùng cơm, hoàng tử
làm như lời Phật dạy. Và mỗi khi nghe bài kệ trên, nhà
vua bố thí cả ngàn đồng. Nhà vua tự hài lòng với lượng
cơm giới hạn mỗi ngày. Sau một thời gian nhà vua trở nên
thon ốm và rất vui tươi.
Một
ngày khác, vua đến đảnh lễ Phật và bạch:
_
Bạch Thế Tôn, bây giờ con rất sung sướng, con có thể tham
dự cuộc săn bắn gấu rừng, ngựa rừng. Con từng giận hờn
đứa cháu, nhưng sau đó con đã gả công chúa Vajirà
cho nó, con tặng công chúa ngôi làng này để nàng có hồ tắm.
Mối giận hờn tan biến và con thấy hạnh phúc. Ngày hôm kia,
một viên ngọc quý, tài sản của hoàng cung bị mất, nhưng
rồi tìm lại được, vì thế con cảm thấy hạnh phúc. Muốn
kết tình thân với đệ tử Phật, con đã có được một
công nương trong hoàng tộc của Ngài về sống với hoàng tộc
con, và vì thế con cũng hạnh phúc.
Phật
dạy:
-
Sức khỏe là hạnh phúc lớn nhất mà mọi người mong muốn.
Bằng lòng với những gì hiện có là giàu có nhất. Trung tín
là điều tốt nhất khi giao hảo. Nhưng không có hạnh phúc
nào có thể so sánh với Niết-bàn.
Ngài
nói kệ:
(204)
Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết
đủ, tiền tối thượng.
Thành
tín đối với nhau,
Là
bà con tối thượng.
Niết-bàn,
lạc tối thượng.
7.
Sống Chân Chánh Là Tôn Kính Phật
Ðã
nếm vị độc cư ...
Câu
chuyện này kể lại khi đức Thế Tôn ở Vệ-xá-ly (Vesali) liên
quan đến một thầy Tỳ-kheo.
Khi
nghe đức Phật tuyên bố:
-
Này các Tỳ-kheo, bốn tháng nữa ta sẽ vào Niết-bàn.
Bảy
trăm thầy Tỳ-kheo tràn đầy lo sợ. Các A-la-hán chứng nghiệm
giáo lý vô thường, còn những vị chưa đắc Sơ quả thì
không ngăn nổi nước mắt. Các Tỳ-kheo, tụ tập thành từng
nhóm nhỏ, và bàn tán, hỏi han:
-
Chúng ta sẽ làm gì?
Lúc
bấy giờ, có một thầy Tỳ-kheo tên Tissa
nghĩ thầm: "Nếu quả thật bốn tháng nữa Thế Tôn vào Niết-bàn,
thì vì ta chưa thoát khỏi tham dục, ta phải đạt được quả
A-la-hán trong khi Thế Tôn còn ở tại thế". Lập tức, thầy
thúc liễm bốn oai nghi và sống riêng một mình không giao tiếp
với các thầy khác và không nói với ai lời nào. Các Tỳ-kheo
hỏi han:
-
Này huynh Tissa, tại
sao huynh làm như vậy?
Tuy
nhiên, Tissa không
lưu tâm đến lời lẽ ấy.
Các
Tỳ-kheo lặp lại câu chuyện cho đức Phật nghe:
-
Bạch Thế Tôn, Tissa không
có lòng tôn kính Ngài.
Ðức
Phật gọi thầy Tissa đến
và hỏi:
- Tissa!
Tại sao ông làm như thế?
Khi Tissa thuật
lại động cơ đã tác động thầy, đức Phật khen ngợi:
-
Lành thay, Tissa!
Và
Ngài bảo các Tỳ-kheo:
-
Các Tỳ-kheo! Chỉ có người như Tissa mới
thật sự tôn kính Ta. Dù cho mọi người tôn kính Ta với hương
hoa, cũng không phải thật sự tôn kính.
Nhưng
người nào thực hành chân lý tối thượng và giữ đúng luật
nghi, người ấy mới thật sự tôn vinh Ta.
Ngài
nói kệ:
(205)
Ðã nếm vị độc cư,
Ðược
hưởng vị nhàn tịnh,
Không
sợ hãi, không ác,
Nếm
được vị pháp hỷ.
8.
Ðế Thích Săn Sóc Thế Tôn
Lành
thay thấy thánh nhân ...
Câu
chuyện này được kể lại khi đức Phật ở tại làng Beluva,
liên quan đến trời Ðế Thích.
Vào
những ngày cuối đời, đức Phật bị bệnh kiết lỵ, nên
rất đau đớn, trời Ðế-thích lo lắng nghĩ thầm: "Ta phải
đi đến chỗ đức Phật và săn sóc Ngài trong cơn đau ốm".
Lập tức, trời Ðế-thích rời bỏ thân hình cao lớn đi đến
chỗ Phật, đảnh lễ và dùng hai tay xoa bóp chân Phật, Phật
hỏi:- Ai đấy?
-
Bạch Thế Tôn, con Ðế Thích.
-
Vì sao ông đến đây?
-
Con săn sóc Thế Tôn trong cơn đau.
-
Này Ðế Thích! Ðối với chư thiên, mùi của phàm nhân hôi
hám khó ngửi, dù cách xa một trăm dặm. Ông hãy rời khỏi
nơi đây vì Ta đã có các Tỳ-kheo săn sóc.
-
Bạch Thế Tôn, con nghe được hương thơm đức hạnh của
Ngài lan xa từ tám muôn bốn ngàn dặm. Con đến đây chỉ
là muốn được săn sóc Ngài trong cơn đau.
Ðế
Thích không cho ai mó tay đến thùng phân của đức Phật, chính
tự mình đội nó lên đầu, và không chút tỏ vẻ nhờm gớm,
như thể vua trời đang đội một bình đầy hương thơm. Cứ
như vậy Ðế Thích săn sóc Thế Tôn, và chỉ rời khỏi chỗ
khi Phật đã bớt đau.
Các
thầy Tỳ-kheo bàn tán:
-
Ôi! Thật lớn lao làm sao là lòng tôn kính của Ðế Thích
đối với Thế Tôn! Thử nghĩ Ðế Thích đã rời cung trời
lộng lẫy, để đến săn sóc Thế Tôn trong cơn đau như thế!
Thử nghĩ, ông ấy đã đội thùng phân của Thế Tôn trên
đầu như là đội bình hương, không tỏ vẻ nhờm gớm dù
chỉ một nét nhích môi!.
Nghe
thế Phật dạy:
-
Các ông nói gì? Không có gì lạ khi Ðế Thích, vua chư thiên
đã tận tâm chăm sóc Ta. Bởi vì nhờ Ta, trời Ðế Thích
này đã cởi bỏ lốt thân Ðế Thích già nua, chứng được
quả Tu-đà-hoàn và nhận một thân Ðế Thích mới, trẻ trung.
Ở thân trước, ông ấy đến viếng Ta với sự sợ hãi vì
mình sắp chết, được dự báo bởi nhạc thần Càn-thát-bà.
Khi ấy Ta ngồi trong động Indasala
giữa chư thiên, Ta trấn an ông ta bằng bài kệ:
Hãy
hỏi, Vasava
Muốn
gì cứ nói ra
Ta
sẵn sàng giải đáp
Những
gì ngươi hỏi ta.Sau đó, Ta
thuyết pháp cho Ðế Thích nghe. Cuối cùng, có một trăm bốn
mươi triệu thiên thần được Pháp nhãn. Ðế Thích chứng
quả Tu-đà-hoàn ngay sau đó và đổi thân làm Ðế Thích hiện
nay. Vì Ta đã cứu độ ông ấy nên không có gì lạ khi ông
ấy bày tỏ lòng tôn kính Ta. Này các Tỳ-kheo! Thật là hạnh
phúc khi được sống gần gũi và chăm nom chư Phật, còn sống
với người ngu chỉ đem lại đau khổ.
Phật
nói kệ:
(206)
Lành thay, thấy thánh nhân,
Sống
chung thường an lạc,
Không
thấy những người ngu,
Thường
thường được an lạc.
(207)
Sống chung với người ngu,
Lâu
dài bị lo buồn,
Khổ
thay gần người ngu,
Như
thường sống kẻ thù.
Vui
thay, gần người trí
Như
chung sống bà con.
Do
vậy:
(208)
Bậc hiền sĩ, trí tuệ,
Bậc
nghe nhiều, trì giới,
Bậc
tự chế, thánh nhân,
Hãy
gần gũi thân cận,
Thiện
nhân, trí giả ấy,
Như
trăng theo đường sao.