X.
Phẩm Hình Phạt
1.
Lục Quần Tỳ Kheo
Mọi
người sợ hình phạt...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến lục quần
Tỳ-kheo.
Mười
bảy vị Tỳ-kheo vừa sửa soạn xong chỗ ở thì nhóm Lục
quần Tỳ-kheo tới bảo:
-
Chúng ta lớn hơn, chỗ này thuộc về chúng ta.
Mười
bảy vị kia không chịu vì sửa soạn trước nhất. Lục quần
Tỳ-kheo liền đánh các Tỳ-kheo huynh đệ của mình. Khủng
khiếp vì sợ chết, họ gào đến bể phổi. Thế Tôn nghe
tiếng la thét hỏi chuyện, rồi Ngài ban hành giới luật về
việc hành hung:
-
Các Tỳ-kheo! Từ nay trở đi, một Tỳ-kheo không được hành
hung. Ai làm điều này là phạm tội.
Và
Ngài dạy tiếp:
-
Này các Tỳ-kheo! Ta phải nhớ rằng cũng như ta, người khác
run rẩy trước gậy gộc và sợ chết. Do đó chớ đánh hay
giết người.
Phật
đọc Pháp Cú:
(129)
Mọi người sợ hình phạt,
Mọi
người sợ tử vong.
Lấy
mình làm ví dụ,
Không
giết, không bảo giết.
2.
Lục Quần Tỳ Kheo
Mọi
người sợ hình phạt...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, vì nhóm Lục quần Tỳ-kheo.
Câu
chuyện cũng tương tự như trên. Khi Lục quần Tỳ-kheo tấn
công nhóm mười bảy Tỳ-kheo, nhóm sau có cử chỉ đe dọa.
Thế Tôn cũng nghe tiếng gào thét, kêu đến hỏi, và ban hành
giới luật:
-
Các Tỳ-kheo! Từ nay trở đi, không Tỳ-kheo nào được làm
như thế. Ai làm điều này là phạm tội.
Và
Ngài dạy tiếp:
-
Này các Tỳ-kheo! Một Tỳ-kheo phải biết, cũng như ta người
khác cũng run sợ trước gậy gộc, và cũng như ta người khác
cũng ham sống. Nhớ nghĩ điều này trong tâm, không được
đánh hay giết người khác.
Phật
đọc Pháp Cú:
(130)
Mọi người sợ hình phạt,
Mọi
người ưa sống còn.
Lấy
mình làm ví dụ,
Không
giết, không bảo giết.
3.
Một Bầy Trẻ
Chúng
sanh cầu an lạc...
Do
chuyện bầy trẻ con, Thế Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên.
Nhân
đi vào Xá-vệ khất thực, Thế Tôn thấy một đám trẻ lấy
gậy đánh rắn. Ngài hỏi vì sao, chúng bảo vì sợ rắn cắn.
Phật liền dạy:
-
Nếu các con đánh rắn này vì nghĩ rằng như thế sẽ bảo
vệ được hạnh phúc của mình, hậu quả là sau này tái sanh
vào các nơi khác nhau các con sẽ không được hạnh phúc. Ai
tìm hạnh phúc cho mình thì không đánh đáp kẻ khác.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(131)
Chúng sanh cầu an lạc,
Ai
dùng trượng hại người,
Ðể
an lạc cho mình,
Ðời
sau không an lạc.
(132)
Chúng sanh cầu an lạc,
Không
dùng trượng hại người,
Ðể
an lạc cho mình,
Ðời
sau được an lạc.
4.
Tỳ Kheo Và Con Ma
Chớ
nói lời độc ác...
Vì
Trưởng lão Kundadhàna mà
Thế Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên.
Từ
khi Kundadhàna trở
thành Tỳ-kheo, bất cứ Ngài đi đâu cũng có một phụ nữ
đi theo. Trưởng lão không thấy, nhưng mọi người khác đều
thấy. Vào làng khất thực, dân chúng cũng dâng Ngài một phần
trước, và sau đó phần thứ hai cho cô kia.
Chuyện
quá khứ
4A.
Thiên Nữ Hiện Hình Phụ Nữ
Thời
Phật Ca-diếp, có hai Tỳ-kheo bạn rất thân nhau như hai anh
em ruột. Thời Phật Dìghàyu,
năm này qua tháng nọ, các Tỳ-kheo đều gặp nhau vào ngày
Bố-tát. Hai Tỳ-kheo ấy đều đến giảng đường Bố-tát
một lượt.
Một
thiên nữ ở cõi trời Ba mươi ba thấy vậy bỗng có ý định
tách họ ra. Ý tưởng điên rồ vừa sinh trong lòng thì một
vị tách ra đi vệ sinh. Thiên nữ liền hóa thành một phụ
nữ đi vào bụi cây với vị đó, rồi cùng đi ra, một tay
vuốt lại búi tóc, tay kia sửa y phục. Chính vị đó thì không
thấy, nhưng vị đứng chờ thì thấy. Khi đã biết thế, cô
liền biến mất. Vì thế Tỳ-kheo bạn vừa đứng vào chỗ
mình thì vị đang đứng nghiêm sắc mặt bảo:
-
Này huynh, huynh đã phạm giới dâm.
-
Trời, tôi đâu có làm việc đó!
-
Không à? Thế cô nào đi sau huynh đó, vừa đi vừa sửa quần
áo.
Trưởng
lão như bị sét đánh, Ngài lắp bắp:
-
Này huynh, chớ hại tôi, tôi không hề làm như thế!
-
Ðiều gì tôi thấy, tôi thấy bằng chính mắt tôi. Ðừng
mong tôi tin huynh!
Rồi
ông bẻ đầu gậy đi chỗ khác.
Trong
giảng đường Bố-tát, ông không chịu Bố-tát chung với bạn
mình. Thiên nữ thấy thế, biết mình đã phạm lỗi lầm nghiêm
trọng, cô liền thú thật:
-
Tôn giả! Vị Trưởng lão thật sự không phạm giới. Tôi
làm như thế chỉ cốt thử ông ta. Xin hãy bố-tát chung với
ông ta như thường lệ.
Thấy
thiên nữ đứng trên hư không nói như thế, Tỳ-kheo này tin
theo, chịu bố-tát chung, nhưng không còn thân thiện với bạn
cũ nữa.
Mạng
chung, hai Trưởng lão tái sanh theo thiện nghiệp của họ.Còn
thiên nữ bị đọa vào địa ngục A-tỳ, chịu hình phạt
suốt thời kỳ giữa hai đức Phật. Thời Phật hiện tại,
cô sanh làm đàn ông, xuất gia thành Tỳ-kheo, và làm tròn bổn
phận của mình. Từ ngày đi tu, luôn luôn có một nữ nhân
đi theo, do đó có tên là Kundadhàna.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Các
Tỳ-kheo thấy thế bảo Trưởng giả Cấp Cô Ðộc đuổi vị
ấy ra khỏi tinh xá để khỏi mang tiếng. Nhưng Trưởng giả
bảo để Phật giải quyết. Các Tỳ-kheo bảo bà Tỳ-xá-khư
y như thế, và bà cũng trả lời y như Trưởng giả. Họ không
hài lòng hai cư sĩ này, nên kể cho vua nghe và yêu cầu vua
đuổi vị ấy ra khỏi vương quốc. Vua bằng lòng, và đến
tinh xá, đứng ngay lối vào phòng Trưởng lão. Trưởng lão
nghe ồn, bước ra, vua thấy bóng một phụ nữ đứng sau. Khi
Trưởng lão vào phòng ngồi xuống, vua không đảnh lễ vị
ấy, nhưng cũng không thấy cô đó nữa. Vua nhìn phía trong
cửa, dưới giường phòng, thì cô lại hiện ra phía sau. Vua
kết luận đó là một bóng ma, và thưa với Trưởng lão:
-
Tôn giả, có hình bóng bất tịnh theo sau, sẽ không có ai cúng
cho Ngài. Xin thỉnh Ngài đến hoàng cung, tôi sẽ cung cấp tứ
sự.
Các
Tỳ-kheo bất mãn, bảo vua là tệ ác, còn Trưởng lão là đồi
bại, và bây giờ lại thành con hoang của vua. Trưởng lão,
trước giờ không hề đối đáp, bây giờ trả đũa, bảo
các Tỳ-kheo là đồi bại, là con hoang của vua, là giao thiệp
với phụ nữ. Các Tỳ-kheo bèn đi thưa Thế Tôn. Phật gọi
lại hỏi và dạy:
-
Các Tỳ-kheo thấy một nữ nhân theo sau ông, và họ nói những
gì mà họ thấy. Nhưng còn ông, tại sao ông nói những gì
ông không thấy? Chắc chắn vì tà kiến trong một tiền kiếp
mà sự kiện này xảy đến với ông, bây giờ tại sao ông
lại có thái độ sai lầm nữa?
Các
Tỳ-kheo lại hỏi Trưởng lão đó đã làm gì trong tiền kiếp,
Phật thuật lại các nghiệp của ông và kết luận:
-
Tỳ-kheo chính vì ác nghiệp mà ông phải rơi vào cảnh ngộ
đáng buồn này, ông không nên có thái độ sai lầm nữa. Ðừng
trả treo với các Tỳ-kheo. Ðừng nói một lời nào, như chuông
đồng bể miệng không phát ra tiếng. Như thế ông có thể
đạt đến Niết-bàn.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(133)
Chớ nói lời ác độc
Nói
ác, bị nói lại,
Khổ
thay lời phẫn nộ,
Ðao
trượng phản chạm người.
(134)
Nếu tự mình yên lặng,
Như
quả chuông bể miệng,
Người
đã chứng Niết-bàn.
Sẽ
không còn phẫn nộ.
5.
Tỳ Xá Khư Và Quyến Thuộc Giữ Bát Quan Trai
Với
gậy người chăn bò...
Thế
Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Pubbaaraama, liên quan đến Tỳ-xá-khư
và các nữ cư sĩ của bà trong ngày thọ bát quan trai.
Tại
Xá-vệ, ngày đại lễ trai giới, năm trăm phụ nữ tuân giữ
giới luật trai giới và đến tinh xá. Tỳ-xá-khư hỏi trong
họ vì mục đích gì mà giữ giới luật.
Người
già nhất trả lời:
-
Chúng tôi mong phước báo cõi trên.
Người
trung niên:
-
Ðể thoát khỏi quyền lực của chồng.
Người
trẻ:
-
Chúng tôi muốn có con.
Thiếu
nữ mới lớn:
-
Chúng
tôi muốn có chồng.
Tỳ-xá-khư
dẫn tất cả đến gặp Phật kể lại các câu trả lời,
và được Phật dạy:
-
Tỳ-xá-khư! Chúng sanh trong thế gian đều bị sanh, già, bệnh,
chết, giống như mục đồng cầm gậy trong tay. Sanh đuổi
họ đến già, già đuổi họ đến bệnh, và bệnh đuổi họ
đến chết. Bốn khổ này như rìu cắt ngắn đời sống. Tuy
thế, chẳng ai muốn đừng tái sanh. Tái sanh là mong ước của
mọi người.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(135)
Với gậy người chăn bò,
Lùa
bò ra bãi cỏ.
Cũng
vậy già và chết
Lùa
người đến mạng chung.
6.
Ngạ Quỷ Hình Trăn
Người
ngu làm điều ác...
Do
chuyện ngạ quỷ có hình trăn, Thế Tôn dạy câu trên ở tinh
xá Trúc Lâm.
Từ
đỉnh Linh Thứu, Trưởng lão Ðại Mục-kiền-liên và Lakkhana xuống
thành Vương Xá khất thực. Dọc đường, Mục-kiền-liên dùng
thiên nhãn thấy một ngạ quỷ trong tướng hình trăn dài hai
mươi lăm dặm, bị lửa thiêu đốt khắp mình mẩy. Ngài mỉm
cười, vị kia hỏi lý do, Ngài bảo đợi đến gặp Phật
sẽ nói. Và trước mặt Phật, Ngài giải thích vì từ trước
đến giờ chưa hề trông thấy ngạ quỷ như thế, nên Ngài
mỉm cười. Phật cũng xác nhận:
-
Các Tỳ-kheo, đệ tử Ta có thiên nhãn và đã sử dụng. Chính
Ta đã thấy ngạ quỷ này khi lên ngôi Chánh Giác, nhưng Ta
không nói ra vì người không tin lời Ta sẽ có hại cho họ.
Nay đã có Mục-kiền-liên chứng kiến, Ta mới nói.
Và
theo lời yêu cầu của các Tỳ-kheo, Ngài kể:
Chuyện
quá khứ
6A.
Chưởng Khố Sumangala
và Kẻ Trộm
Thời
Phật Ca-diếp, chưởng khố Sumangala đem
vàng trải một khoảng đất rộng hai mươi Usabha,
tức bằng số tiền xây một tinh xá, kể cả chi phí tổ chức
lễ khánh thành tinh xá đó.
Một
sáng sớm, trên đường đi đảnh lễ Thế Tôn, ông bắt gặp
một tên trộm đang núp ở nhà nghỉ cổng thành, chân bê bết
bùn, áo trùm khỏi đầu.
Ông
biết hắn đã rình suốt đêm đâu đây. Tên trộm bị phát
hiện, đem lòng căm thù ông. Hắn đốt ruộng ông bảy lần,
đốt nhà bảy lần, chặt chân bò bảy lần. Chưa hả tức,
hắn đánh bạn với gia nhân của ông để hỏi xem ông quý
trọng cái gì nhất. Ðược biết đó là hương thất, hắn
đợi Thế Tôn vào thành khất thực, liền đập bể bình đựng
nước với thức ăn rồi nổi lửa đốt.
Nghe
tiếng kêu hương thất bị cháy, chưởng khố chạy tới nhưng
đã muộn. Không mảy may buồn tiếc, ông còn hân hoan vỗ tay
thật to. Người ta ngạc nhiên hỏi, thì ông giải thích vì
sẽ có dịp cúng tiền để xây dựng lại hương thất. Tên
trộm nghe thế, cho rằng không thể đánh bại ông, trừ khi
giết ông chết. Trong bảy ngày đó ông cúng dường Tăng chúng,
và ngày cuối, ông đảnh lễ Phật thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con biết rằng có một người nào đó bảy
lần đốt ruộng, bảy lần đốt nhà, bảy lần chặt chân
bò, và cũng chính người ấy đốt hương thất. Con xin nhường
phước báo đầu tiên của lần cúng dường này đến người
ấy.
Tên
trộm núp đâu đó, nghe được, lòng cảm thấy hổ thẹn vì
tội lỗi lớn lao của mình, và lo âu vua sẽ giáng hình phạt
xuống đầu. Do đó hắn phủ phục dưới chân chưởng khố
xin tha thứ. Chưởng khố hỏi chuyện hắn từ đầu tới đuôi,
và cũng xin lỗi hắn vì lỡ thốt ra lời nghi kỵ trong đêm
bắt gặp hắn núp. Và cả hai bên tha thứ lẫn nhau. Tên trộm
còn xin cho hai vợ chồng hắn làm nô lệ cho chưởng khố,
nhưng ông không nhận và bảo hắn đi đi.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Và
Thế Tôn kết luận:
-
Do tạo nghiệp ác như thế, khi mạng chung tên trộm bị đọa
vào địa ngục A-tỳ, chịu hình phạt ở đó rất lâu, nhưng
quả báo chưa hết, hắn phải chịu đau khổ trên đỉnh Linh
Thứu. Các Tỳ-kheo! Khi làm điều ác, kẻ ngu không biết việc
ác của mình. Nhưng về sau, hắn sẽ bị thiêu đốt do nghiệp
ác đã tạo, như rừng bị lửa cháy.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(136)
Người ngu làm điều ác,
Không
ý thức việc làm.
Do
tự nghiệp, người ngu
Bị
nung nấu như lửa.
7.
Cái Chết Của Ðại Mục-Kiền-Liên
Dùng
trượng phạt không trượng...
Thế
Tôn đã dạy câu trên tại Trúc Lâm, liên quan đến Ðại Mục-kiền-liên.
Các
ngoại đạo bàn tán với nhau không hiểu tại sao Sa-môn Cồ-đàm
được nhiều phẩm vật cúng dường đến thế. Một người
nói mình biết lý do. Ðược như thế là Mục-kiền-liên, vì
Mục-kiền-liên lên cõi trời hỏi chư thiên đã tạo công
đức gì, rồi trở về thế gian kể cho mọi người do làm
điều này, điều nọ... rồi ông xuống địa ngục hỏi các
tội nhân tại sao làm thế và cũng trở về thế gian kể lại
do phạm tội như thế, như thế. Dân gian tin lời ông, nên
đem nhiều phẩm vật đến cúng dường. Bây giờ nếu giết
ông đi, thì số phẩm vật đó sẽ về tay các ngoại đạo.
Họ
đồng thanh cho là ý kiến hay. Sau đó họ quyên góp các thí
chủ được một ngàn đồng, kiếm được một vài tên du
đãng cướp bóc, thuê chúng đến Hắc Thạch giết Trưởng
lão. Chúng đến ngay nơi Ngài ở, bao vây. Ngài chui qua lỗ
khóa trốn thoát. Chúng trở lại và bao vây nữa, Ngài chọc
thủng mái nhà bay lên hư không. Suốt hai tháng, bọn du đãng
làm đủ cách, nhưng vẫn thất bại. Ðến tháng thứ ba, thấy
quả báo do nghiệp ác đã tạo trong tiền kiếp đã đến,
Ngài không cố gắng thoát đi nữa. Cuối cùng bọn du đãng
bắt được Ngài. Chúng xé tay chân Ngài giã xương nát ra như
hạt gạo, quăng hết vào bụi rậm rồi bỏ đi.
Trưởng
lão muốn đảnh lễ Thế Tôn trước khi nhập Niết-bàn, nên
tự quấn mình bằng định lực làm thân cứng lại, và bay
lên không, đến gặp Phật, đảnh lễ và thưa:
-
Bạch Thế Tôn, con sắp nhập Niết-bàn.
Phật
hỏi:
-
Tại đâu?
-
Tại Hắc Thạch, bạch Thế Tôn!
-
Vậy thì hãy tụng pháp cho Ta nghe trước khi đi, vì từ nay
Ta sẽ không còn thấy lại đệ tử của Ta nữa.
Mục-kiền-liên
vâng lời. Trước tiên Ngài bay lên không, biến hóa thần thông
như Trưởng lão Xá-lợi-phất đã làm trước khi nhập Niết-bàn.
Tin
bọn du đãng giết Mục-kiền-liên bay khắp miền Diêm-phù-đề.
Vua A-xà-thế tức tốc phái do thám tìm thủ phạm. Bọn chúng
đang nhậu nhẹt trong một quán rượu. Ðứa này nện lưng
đứa kia khiến nó té xuống đất. Rồi hai đứa chửi lộn:
-
Tại sao mày đánh lên lưng tao? Làm tao té?
-
Mày là đồ ăn trộm, du thử du thực. Mày là kẻ đầu tiên
đánh Ðại Mục-kiền-liên.
-
Sao mày biết tao đánh?
Rồi
nhiều tiếng nói hỗn độn:
-
Chính tao đánh nè!
-
Chính tao đánh nè!
Do
thám của vua bắt hết cả bọn. Về triều chúng khai các đạo
sĩ lõa thể chủ mưu. Vua bắt năm trăm đạo sĩ chung với
năm trăm tên trộm bỏ xuống hố sâu đến thắt lưng đã
đào sẵn trước sân hoàng cung, cho phủ rơm khắp mình chúng,
đốt đến cháy dòn, xong cho cày sắt cày ra từng mảnh.
Các
Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường là Ðại Trưởng lão không
xứng để chịu chết như vậy. Phật giải thích đó là ác
nghiệp trong tiền kiếp. Và Ngài kể:
Chuyện
quá khứ
7A
. Ðứa Con Giết Cha Mẹ
Ngày
xưa, có một chàng trai rất có hiếu. Mọi việc trong nhà như
giã gạo, nấu ăn... một tay anh làm hết, chí đến săn sóc
cha mẹ anh cũng hết sức chu đáo. Thấy con quá vất vả, hai
ông bà định cưới dâu để đỡ đần phần nào. Anh lắc
đầu nguầy nguậy, chỉ muốn chính tay mình hầu hạ cha mẹ
mà thôi. Nhưng hai ông bà cương quyết cưới vợ cho con, cuối
cùng một cô gái trẻ được rước về nhà. Cô ta hầu hạ
cha mẹ chồng chỉ được vài ngày, sau đó bắt đầu nói
nặng nhẹ. Cô cứ cằn nhằn với chồng là không thể ở
nổi nhà này nữa. Ðợi anh đi vắng, cô lấy đất cục, váng
cháo rải khắp nhà. Anh chồng về thấy nhà cửa tùm lum như
thế, hoiû cô. Ðược dịp cô tru tréo
-
Cha mẹ già mù lòa của anh làm đấy! Cứ vứt bừa, vứt bãi
ra thế! Tôi dọn muốn đứt hơi! Khổ thân tôi, làm sao mà
tôi sống cho nổi!
Cô
cứ than van, rên rỉ mãi, khiến anh chồng bực mình. Trước
đây là người đàng hoàng, có hiếu, nay hết thương cha mẹ,
và còn tìm cách đối xử ác đối với họ.
Anh
gạt cha mẹ lên xe đi thăm bà con. Vào đến rừng sâu, anh
trao dây cương cho cha, bảo chỗ này bọn cướp hay rình rập,
anh phải xuống xe, nhưng con bò đã rành đường, không lo.
Anh đi xa một quãng thì la hét ầm ĩ, càng lúc càng to, như
thể bọn cướp sắp tấn công tới nơi. Hai ông bà nhìn quanh
nhìn quất cũng chỉ thấy một màn đen tối, nhưng thương
con, chỉ nghĩ đến hạnh phúc của nó, nên vội bảo:
-
Con ơi! Cha mẹ già rồi, đừng lo nữa, mà hãy tự cứu lấy
mình.
Nhưng
anh vẫn mặc kệ, giả làm bọn cướp hét đánh và giết hai
ông bà, vứt thi thể trong rừng. Xong trở về nhà.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Thế
Tôn kết luận:
-
Các Tỳ-kheo! Mục-kiền-liên đã phạm trọng tội như thế.
Ông chịu đau khổ vô số trăm ngàn năm ở địa ngục. Sau
đó, vì ác báo chưa hết, nên một trăm kiếp liên tiếp bị
đánh chết thân xác xé tan từng mảnh. Do đó Mục-kiền-liên
phải chịu chết như thế tương ứng với ác nghiệp kiếp
trước. Cũng vậy năm trăm đạo sĩ lõa thể và năm trăm tên
cướp đã tấn công người không gây hấn với chúng, phải
chịu chết tương ứng với tội lỗi đó.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(137)
Dùng trượng phạt kẻ không trượng,
Làm
ác người không ác,
Trong
mười loại khổ đau,
Chịu
gấp một loại khổ.
(138)
Hoặc khổ thọ khốc liệt,
Thân
thể bị thương vong,
Hoặc
thọ bệnh kịch liệt,
Hay
loạn ý tán tâm.
(139)
Hoặc tai họa từ vua,
Hay
bị vu trọng tội,
Bà
con phải ly tán,
Tài
sản bị nát tan.
(140)
Hoặc phòng ốc nhà cửa,
Bị
hỏa tai thiêu đốt,
Khi
thân hoại mạng chung,
Kẻ
ác sanh địa ngục.
8.
Tỳ Kheo Lắm Của
Không
phải sống lõa thể...
Thế
Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến một Tỳ-kheo
nhiều của cải.
Nhân
bà vợ qua đời, một gia chủ ở Xá-vệ từ bỏ thế gian,
thành Tỳ-kheo. Ông xây một thất riêng, một nhà bếp và một
nhà kho, trong đó ông chứa đầy nào bơ, nào mật, đủ các
thứ. Dù đã là Tỳ-kheo, ông vẫn có nô lệ riêng. Họ nấu
cho ông ăn theo sở thích, và ông chỉ ăn những món đó mà
thôi. Ông cũng còn nhiều nhu cầu, như một bộ y ban đêm và
bộ khác qua ngày. Ông ở sát bên tinh xá. Một hôm đang phơi
y và ngọa cụ, các Tỳ-kheo trông thấy ông có quá nhiều đồ
đạc, bèn dẫn ông đến với Thế Tôn.
Thế
Tôn hỏi lại ông cho rõ:
-
Tỳ-kheo, họ báo cáo về ông có đúng không?
Ông
đáp:
-
Vâng, bạch Thế Tôn, đúng vậy!
-
Tỳ-kheo, Ta đã dạy rất rõ là nên tri túc thiểu dục, sao
ông chất chứa nhiều của cải như vậy?
Giận
dữ vì chút xíu đó, ông la lên:
-
Rồi, tôi sẽ đi khắp nơi như thế này đây.
Vừa
nói ông vừa quăng thượng y, chỉ mặc nội y đứng giữa
hội chúng.
Thế
Tôn vẫn kham nhẫn khuyên tiếp:
-
Này Tỳ-kheo, trong tiền kiếp khi làm thủy tinh ông đã giữ
được tính khiêm cung và biết sợ tội chết trong suốt mười
hai năm. Tại sao bây giờ ông hư đốn thế? Ðã từ bỏ thế
gian thành một Tỳ-kheo theo một vị Phật tôn quý như thế,
sao ông cởi y, quên tính khiêm cung và không biết sợ tội
nữa?
Tỳ-kheo
như chợt tỉnh, ông khiêm cung trở lại, biết sợ tội chết,
quấn y, đảnh lễ Phật và cung kính ngồi xuống một bên.
Theo
lời thỉnh cầu của các Tỳ-kheo, Phật kể lại:
Chuyện
quá khứ
8A. Mahimsàsa Và
Hai Hoàng Tử Mặt Trăng, Mặt Trời
Thật
xa xưa, thuở Phật còn là Bồ-tát, Ngài làm hoàng tử của
chánh hậu Ba-la-nại, tên là Mahimsàsa.
Về sau Ngài có thêm một người em nữa là hoàng tử Mặt
Trăng (Canda). Chánh
hậu qua đời, vua cưới vợ khác, và có thêm một hoàng tử
Mặt Trời (Suriya).
Vua sung sướng nên muốn ban một ân huệ. Hoàng hậu sau này
đợi con lớn rồi mới nhắc lại ân huệ đó là xin vương
quốc cho con. Vua từ chối vì thấy hai hoàng tử anh đi khắp
nơi, nơi nào cũng chói lọi như ngọn lửa. Nhưng sợ bà trả
thù, vua bảo hai con vào rừng, khi vua chết mớ trở về lên
ngôi. Họ từ giã phụ vương ra đi. Qua sân hoàng cung, hoàng
tử Mặt Trời thấy và biết chuyện, bèn đi theo. Cả ba đến
Hy-mã-lạp-sơn. Bồ-tát rời đường mòn, ngồi dưới gốc
cây bảo Mặt Trời đến hồ tắm, uống nước xong múc nước
đựng trong lá sen mang về. Hồ này do một thủy quái Vessavana trông
nom, và hắn được phép ăn thịt ai bước xuống hồ, trừ
người nào nói được bậc thánh là gì.
Hoàng
tử Mặt Trời bước xuống hồ, bị thủy quái hỏi, đáp
rằng mặt trăng và mặt trời là bậc thánh. Không đúng, nên
chàng bị hắn bắt nhốt trong động. Thấy lâu, Bồ-tát sai
hoàng tử Mặt Trăng đi xuống hồ, chàng trả lời, bốn phương
là bậc thánh, cũng không đúng nên bị bắt giam trong động.
Bồ-tát lần này đích thân đi. Biết hồ này có thủy quái,
Ngài không xuống, mà cung kiếm trên tay đứng chờ. Thủy quái
thấy thế hóa thành tiều phu đến dụ Ngài:
-
Bạn ơi! Bạn đi đường chắc mệt mỏi. Sao không xuống hồ
tắm, uống nước và ăn ngó sen, rồi kết vòng hoa?
Ngài
biết ngay hắn là một Dạ-xoa, hỏi chuyện và hắn nhìn nhận
là đã bắt hai hoàng tử em, vì cả hai không chỉ được ai
là bậc thánh. Bồ-tát bảo là sẽ nói cho hắn biết nếu
được hắn tắm rửa. Dạ-xoa khoái chí liền tắm cho Ngài,
múc nước uống, trang điểm cho Ngài với đồ trang sức quý
báu, và đỡ Ngài lên tòa ngồi giữa lều trang hoàng lộng
lẫy. Hắn ngồi xuống chân Ngài và lắng nghe.
Bồ-tát
nói kệ sau:
Người
khiêm nhường, sợ tội,
Ðược
phú tính công bằng,
Chánh
trực và hiền thiện,
Ðược
gọi là thánh nhân.
Dạ-xoa
nghe xong, phát tín tâm nơi Bồ-tát, và xin trả một người
em cho Ngài. Ngài chọn hoàng tử út tức Mặt Trời. Hắn không
chịu, vì như thế Ngài bỏ em lớn lấy em nhỏ làm đảo ngược
tôn ti trật tự, tức Ngài biết thánh nhân nhưng không hành
hạnh thánh nhân. Bồ-tát phải giải thích đầu đuôi câu
chuyện. Nếu để Mặt Trời bị ăn thịt, sau này trở về
nhận vương quốc, không ai tin Ngài mà còn bị nguyền rủa.
Dạ-xoa rất thán phục nên giao hết hai em cho Bồ Tát. Ngài
truyền ngũ giới cho hắn, và tiếp tục sống trong rừng với
phẩm vật do hắn cung cấp.
Vua
cha băng hà, Ngài trở về Ba-la-nại lên ngôi, phong Mặt Trăng
làm phó vương, Mặt Trời làm đại nguyên soái, và xây dựng
một chỗ tiện nghi cho Dạ-xoa. Hắn được lo đầy đủ.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Thế
Tôn thuyết xong, Ngài hợp nhất các nhân vật trong Bổn sanh
như sau:
-
Dạ-xoa là Tỳ-kheo nhiều của cải, hoàng tử Mặt Trăng là
Xá-lợi-phất, Mặt Trời là A-nan, và Mahimsàsa
chính là Ta. Và Ngài nói tiếp:
-
Tỳ-kheo! Như thế trong một tiền kiếp ông đã tìm hiểu bậc
thánh là sao, có tính khiêm tốn và biết sợ chết. Nhưng vừa
rồi, ông hành động sai trái, khi đứng trước mặt Ta giữa
tứ chúng, với thái độ kỳ cục cho rằng mình thiểu dục,
Một Tỳ-kheo là Tỳ-kheo không phải đã ném bỏ y quanh mình.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(141)
Không phải sống lõa thể,
Bện
tóc, tro trét mình,
Tuyệt
thực, lăn trên đất,
Sống
nhớp, siêng ngồi xổm,
Mà
con người được sạch,
Nếu
không trừ nghi hoặc.
9. Santati ,
Quan Ðại Thần Của Vua
Ai
sống tự trang sức...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, do chuyện quan đại thần
tên Santati.
Ði
dẹp giặc ở biên giới về, Santati
được vua Ba-tự-nặc xứ Kosala giao
vương quốc cho ông nhiếp chính trong bảy ngày và một cung
nữ để múa hát. Suốt bảy ngày đó, ông miệt mài rượu
chè, và ngày cuối ông trang điểm lộng lẫy leo lên bạch
tượng để đi đến hồ tắm. Ngang qua cổng thành thấy Thế
Tôn đang vào thành khất thực, ông vẫn ngồi trên lưng voi,
cúi chào Ngài và đi tiếp.
Thấy
Phật mỉm cười, A-nan hỏi và được Phật cho biết:
-
A-nan, hãy nhìn quan đại thần của vua trang điểm lộng lẫy,
sẽ đến chỗ Ta, và nghe xong cuối bài kệ sẽ chứng A-la-hán.
Rồi ông ta ngồi lơ lửng cách mặt đất tám cây thốt nốt
và nhập Niết-bàn.
Ðám
người ở đó nghe được chia ra làm hai phe. Phe tà kiến cho
rằng Sa-môn Cồ-đàm ưa gì nói nấy, làm gì có chuyện tên
say rượu bí tỉ, trang sức đầy mình, sẽ nghe pháp và nhập
Niết-bàn. Quả là dối trá. Phe Phật tử thì tán thán thần
lực của Phật thật kỳ diệu, và họ sẽ được đặc ân
nhìn thấy sự vẻ vang của Phật và của Santati.
Xuống
hồ, Santati bơi
lội cả buổi, rồi vào lạc viên uống rượu, có cung nữ
biểu diễn. Ðể có thân hình duyên dáng, cô ta đã nhịn đói
bảy ngày và trong khi trổ hết tài khéo của mình, bao tử
và trái tim bỗng đau quặn lên như bị dao cắt. Cô chết liền,
mắt và miệng còn mở. Santati
chỉ kịp lắp bắp:
-
Cô nương, coi chừng!
Thì
cô ta đã ngừng thở; Santati
sầu não quá đỗi. Trong khoảnh khắc, rượu chảy trong máu
ông từ cả tuần nay như biến mất, giống như nước để
trên than hồng. Ông biết không ai ngoài Thế Tôn có thể dập
tắt nỗi buồn của mình, nên đến gặp Phật, đảnh lễ,
kể lại và xin được nương tựa. Thế Tôn an ủi ông:
-
Ông đã đến đúng người có thể làm tiêu tan sầu khổ cho
ông. Biết bao nhiêu lần người đàn bà này đã chết như
thế, và ông đã bao phen khóc nàng, nước mắt còn nhiều hơn
bốn biển.
Và
Ngài đọc kệ sau:
Việc
gì đã trôi qua,
Tốt
nhất là buông bỏ.
Và
ở trước mặt ngươi,
Không
có gì ở đó.
Nếu
không nắm bắt gì,
Giữa
tương lai, quá khứ,
Sẽ
bước trong an bình,
Không
còn gì khổ sở.
Vừa
kết thúc bài kệ, Santati chứng
quả A-la-hán cùng các thần thông. Quan sát thọ mạng mình,
ông biết chẳng còn sống được bao nhiêu, nên xin Thế Tôn
nhập Niết-bàn. Dù đã biết việc làm của ông trong tiền
kiếp, Phật vẫn bảo ông kể lại cốt cho nhóm ngoại đạo,
đang chờ sự thật sẽ xảy ra khác với tiên đoán của Thế
Tôn, và nhóm Phật tử muốn thấy công đức quá khứ của
ông, được nghe:
-
Vậy thì, Santati,
hãy thuật lại chuyện quá khứ, nhưng đừng đứng dưới
đất, mà bay lên trời, cao bằng bảy cây thốt nốt.
Santati
vâng lời. Ông chào Phật, bay lên trời, đáp xuống chào Phật
một lần nữa, rồi bay lên trên, ngồi kiết già kể:
Chuyện
Quá Khứ
9A.
Người Thuyết Pháp Và Nhà Vua
Cách
đây chín mươi chín kiếp, thời Phật Tỳ-bà-thi tôi sanh ở Bandhumatì.
Băn khoăn không biết làm thế nào để trừ được tham ái
và phiền não cho người khác, bỗng gặp các nhà thuyết pháp,
tôi quyết định sẽ làm việc đó mà thôi. Tôi khuyến khích
mọi người làm việc công đức. Chính tôi cũng vậy, vào
ngày Bát quan trai, tôi giữ giới, bố thí và nghe pháp. Tôi
đi khắp nơi rao giảng: "Không có châu báu nào có thể sánh
với Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Hãy cung kính Tam Bảo!".
Vua Bandhumatì, cha
của Phật, gọi tôi lại hỏi thăm, và khi biết việc tôi
làm Ngài hỏi tôi thường dùng phương tiện gì để đi lại.
Nghe tôi thưa thường vẫn đi chân đất, Ngài choàng cho tôi
một chuỗi hoa, y như chuỗi ngọc và cho tôi một con ngựa.
Sau đó, vua gọi tôi lại lần thứ hai để hỏi thăm. Biết
tôi vẫn đi thuyết pháp, vua cho một xe có bốn ngựa thuần
chủng Sindh kéo.
Hỏi thăm lần thứ ba, vua tặng nguyên tài sản lớn, một
bộ châu báu lộng lẫy và cả một con voi. Ðeo hết châu báu
và ngồi trên lưng voi, suốt tám mươi ngàn năm thuyết pháp
khắp nơi, tạo công đức, thân tỏa mùi thơm chiên đàn, miệng
mùi lá sen.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Kể
xong, Santati, vẫn
ngồi kiết-già trên trời, nhập Hỏa quang tam-muội, và từ
đó nhập Niết-bàn. Lửa thiêu hết thân, xá-lợi rơi từ
từ xuống như hoa nhài, Thế Tôn cho trải một tấm thảm trắng
để hứng và sai cất tháp tại ngã tư đường để thờ.
Dân chúng tôn kính xá lợi này sẽ có nhiều công đức.
Các
Tỳ-kheo bàn tán về Santati,
và không biết nên gọi ông là ẩn sĩ hay Bà-la-môn. Phật
nghe được trả lời:
-
Các Tỳ-kheo! Ðệ tử Ta thật đáng gọi là ẩn sĩ, và cũng
đáng gọi là Bà-la-môn.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(142)
Ai sống tự trang sức,
Nhưng
an tịnh, nhiếp phục,
Sống
kiên trì phạm hạnh,
Không
hại mọi sinh linh,
Vị
ấy là Phạm Chí,
Hay
Sa môn, khất sĩ.
10.
Tỳ Kheo Và Bộ Ðồ Rách
Thật
khó tìm ở đời...
Khi
ngụ tại Kỳ Viên. Thế Tôn đã dạy câu trên vì Trưởng
lão Pilotika.
Ngày
nọ, Trưởng lão A-nan gặp một chàng trai lang thang, áo quần
rách bươm, tay cầm miểng sành. Ngài kêu lại hỏi sao không
đi tu có phải khá hơn sống như thế. Chàng trai hỏi tới:
-
Tôn giả, ai cho con đi tu?
Ngài
đáp:
-
Ta sẽ độ ngươi.
Rồi
Ngài cho anh ta theo, tự tay tắm rửa cho anh, giao anh một đề
mục thiền quán và xuất gia cho anh. Tấm vải trước đây
anh quấn làm nội y được phơi trên cành cây. Ðược nhận
vào Tăng đoàn, anh làm tròn bổn phận và hưởng đầy đủ
phẩm vật dành cho chư Phật, và đi khắp nơi với những y
đáng giá.
Sau
một thời gian, anh phát phì và bất mãn, nghĩ rằng chẳng
lợi ích gì mà đi lang thang với bộ đồ của đàn na tín
thí, tốt hơn là mặc bộ đồ cũ khi xưa. Rồi anh đến cành
cây tìm lại tấm vải, tự mắng nhiếc mình là đồ vô liêm
sỉ, ngu ngốc, trơ trẽn, bỏ đi ân huệ được mặc y phục
tốt lành để đi đắp lên người tấm giẻ rách này với
miểng sành, xin ăn đầu đường xó chợ. Giữ ý này làm đề
mục thiền quán, anh tự khiển trách mình, và tâm trở nên
an tịnh. Anh cất tấm vải, trở về tinh xá. Vài ngày sau anh
lại bất mãn, và tự trách như lần trước. Ðến lần thứ
ba cũng vậy. Các Tỳ-kheo thấy anh tới lui như thế, hỏi thăm,
anh đáp là đến thầy anh. Và cứ thiền quán trên tấm vải
cũ rách, anh tự điều phục. Chẳng bao lâu anh chứng A-la-hán.
Các Tỳ-kheo lại hỏi anh sao không lui tới thầy nữa, anh cho
biết:
-
Chư huynh, khi còn dính mắc vào thế gian, tôi đến một vị
thầy. Nhưng bây giờ tôi đã cắt đứt hết trói buộc với
thế gian, tôi không cần đến ông ta nữa.
Các
Tỳ-kheo báo với Phật, cho là Trưởng lão Pilotika
nói dối. Phật liền dạy:
-
Các Tỳ-kheo, con Ta nói thật đấy, ông ấy đã tự điều
phục và chứng A-la-hán.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(143)
Thật khó tìm ở đời,
Người
biết thẹn, tự chế,
Biết
né tránh, chỉ trích,
Như
ngựa hiền tránh roi.
(144)
Như ngựa hiền chạm roi,
Hãy
nhiệt tâm hăng hái,
Với
tín, giới, tinh tấn,
Thiền
định cùng trạch pháp,
Minh
hạnh đủ, chánh niệm,
Ðoạn
dứt vô lượng khổ.
11.
Sa-Di Sukha
Người
trị thủy dẫn nước...
Thế
Tôn đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến Sa-di Sukha.
Chuyện
quá khứ
11A.
Trưởng Khố Gandha, Người
Lao Ðộng Bhattabhatika Và
Phật Ðộc Giác
Gandha là
con của vị chánh chưởng khố thành Ba-la-nại. Cha chết, vua
gọi anh đến an ủi, và cho kế vị cha làm chưởng khố. Từ
đó người ta gọi anh là chưởng khố Gandha.
Viên
quản gia, một hôm mở cửa kho, chỉ cho anh tất cả tài sản
tiền từ cha, ông nội và những người trước. Anh thắc mắc
sao họ không đem theo sau khi chết, và được giải thích mọi
người chỉ đem theo mình việc làm dù thiện hay ác. Từ đó
anh suy luận rằng sẽ ăn xài cho hết, trước khi ra đi. Anh
bỏ ra một trăm ngàn đồng xây một nhà tắm bằng pha lê,
một trăm ngàn làm một ghế ngồi bằng pha lê để ngồi sau
khi tắm, một trăm ngàn làm một cái bát đựng thức ăn của
anh, một trăm ngàn làm một mái che trên phòng ăn, một trăm
ngàn làm một cái đĩa lót bát mạ đồng, một trăm ngàn xây
một cửa sổ lộng lẫy trong nhà. Bữa ăn sáng một ngàn,
bữa ăn chiều một ngàn, bữa ăn trưa ngày trăng tròn một
trăm ngàn. Vào những ngày ăn tiệc như thế, anh chi một trăm
ngàn cho việc trang hoàng trong thành, sai người đánh trống
hô to:
-
Mọi người hãy đi xem cách ăn của chưởng khố Gandha.
Dân
chúng tụ tập đến, mang cả giường chõng. Và Gandha
sử dụng hết mọi thứ mới tạo: tắm trong bồn với mười
sáu bình nước hoa, mở chiếc cửa sổ lộng lẫy rồi ngồi
trên sập trình diện cho mọi người ngắm. Người hầu dọn
thức ăn trong chiếc bát quý giá, để trên chiếc đĩa lót
mạ đồng và đặt trước mặt anh. Rồi anh ăn, uống với
nguyên một đoàn vũ công bao quanh.
Một
anh nhà quê chở củi lên thành. Ðể tiết kiệm anh đến nhà
người bạn ở nhờ, nhân dịp đó anh được bạn dẫn đi
xem cách ăn của trưởng khố Gandha.
Ngửi mùi thức ăn thơm phức, anh nhà quê thèm quá nhờ bạn
mình xin giùm. Chưởng khố không cho, anh bạn xin nữa, và cho
biết không ăn được thèm quá sẽ chết. Mặc, chưởng khố
từ chối. Nhiều lần xin quá, chưởng khố bắt buộc phải
lên tiếng:
-
Này ông, mỗi miếng cơm đáng giá một trăm tới hai trăm đồng
đó. Ai đòi cũng cho thì ta lấy gì ăn?
Anh
bạn vẫn cù nhây:
-
Ông chủ! Người nhà quê không được miếng cơm của ông
sẽ chết, xin ông cứu mạng hắn.
-
Không được! À, nhưng mà, để ta xem! Nếu thật thế, hãy
bảo hắn làm cho ta ba năm ta sẽ cho hắn bát cơm.
Anh
nhà quê đồng ý, và làm mọi công việc rất trung thành, dù
ở nhà ở rừng, dù ngày dù đêm. Dân trong thành gọi anh là:
"Người kiếm thức ăn, Bhattabhatika".
Mãn hạn, viên quản gia đến báo cho ông chủ biết, không
quên khen ngợi anh nhà quê. Chưởng khố ra lệnh cho anh hai
ngàn đồng cho bữa ăn tối, một ngàn đồng cho bữa ăn sáng,
tất cả là ba ngàn đồng, và bảo mọi người trong nhà, trừ
cô vợ yêu là Cintàmanì,
ngày hôm ấy hầu hạ ông ta, xem như là ông chủ. Anh được
tắm trong phòng tắm pha lê, ngồi ghế pha lê sau khi tắm, mặc
y phục chưởng khố... rồi Gandha sai
người đánh trống rao rằng Bhattabhatika làm
thuê cho chưởng khố Gandha
để nhận một bát cơm, hãy đến xem sự lộng lẫy huy hoàng
trong bữa ăn bát cơm ấy của anh ta. Chỗ nào anh nhìn đến
đều rúng động, xung quanh anh vũ nữ đứng phục vụ và gia
nhân bưng cơm đặt trước mặt.
Khi
anh rửa tay thì một vị Phật Ðộc Giác đắp y, ôm bát, bay
trên không, và đặt chân xuống giữa hội chúng, đứng trước
mặt anh. Trước đó trên núi Gandhamàdana,
xuất định sau bảy ngày, Ngài đã thấy là anh có niềm tin,
chịu ban ơn và sẽ được nhiều phước báo. Bhattabhattika hiểu
rằng vì trước kia không bố thí nên phải làm thuê suốt
ba năm để nhận bát cơm, bát cơm này đủ cho một ngày và
một đêm, nhưng nếu dâng cho bậc tôn quý này anh sẽ được
nuôi vô số kiếp. Và anh nén sự thèm khát không ăn một miếng
cơm nào, mà cầm bát đến chỗ Phật, đảnh lễ Ngài và trút
vào bình bát của Ngài. Ðược phân nửa, Ngài lấy tay che
bát, nhưng anh khẩn khoản xin Ngài nhận hết để anh được
phước, không những đời này mà còn đời sau, và được
dự phần vào đạo pháp mà Ngài đã thấy.
Phật
hứa khả:
-
Mọi ước muốn của ông sẽ được toại nguyện như được
ngọc như ý, lời cầu xin sẽ thành tựu như được trăng
tròn.
Và
Ngài hồi hướng công đức cho anh. Ðể cho dân chúng chiêm
ngưỡng, Ngài bay lên trời đến núi Gandhamàdana,
và chia thức ăn cho năm trăm vị Phật Ðộc Giác, mỗi vị
nhận đủ phần mình.
Chưởng
khố Gandha nghe
tin, lòng tràn ngập niềm tin, tán thán anh nhà quê đã làm
một việc khó khăn biết bao là bố thí; trong khi Gandha hưởng
thụ quá đỗi mà chẳng cho ai bất cứ món gì. Chưởng khố
mời anh ta đến, cho một ngàn đồng và xin anh ta chia phần
phước đức sau khi bố thí số tiền ấy. Anh nhà quê bằng
lòng, và chưởng khố lại chia gia tài của mình ra làm hai,
cho anh ta phân nửa.
(Có
bốn loại sở đắc:
-
Về của cải: Như một bậc A-la-hán hay vị chứng Tam quả
sau khi xuất định đáng nhận được của cải.
-
Về tứ vật dụng: Do sống liêm chánh và công bằng.
-
Về trí tuệ: Trí tuệ có được từ tri thức kết hợp với
hỷ thọ, do bố thí cúng dường trong ba thời quá khứ, hiện
tại, vị lai.
-
Về thần thông: Sau thời gian thiền định, như vị Phật Ðộc
Giác đã thi triển).
Nghe
chuyện Bhattabhatika,
vua vời anh đến, ban cho một ngàn đồng để đổi bình bát
của anh, cho anh nhiều của cải và phong làm chưởng khố.
Hai chưởng khố Bhattabhatika và Ganda
kết bạn với nhau, ăn cùng mâm, ngủ cùng giường. Mạng chung, Bhattabhatika
sanh thiên, hưởng phước suốt thời gian giữa hai đức Phật,
thời Phật hiện tại tái sanh vào nhà một thí chủ của Trưởng
lão Xá-lợi-phất ở Xá-vệ.
Chuyện
hiện tại:
11B-
Sa-Di Sukha
Bà
mẹ được săn sóc kỹ lưỡng khi đứa bé còn ở trong bụng.
Ðúng theo ý nguyện, bà cúng dường thức ăn đầy gia vị
cho Trưởng lão Xá-lợi-phất và năm trăm Tỳ-kheo của Ngài,
được khoác y vàng, ôm bát vàng, và ngồi vòng ngoài hội
chúng, và được chia phần thức ăn còn lại của chúng Tăng.
Bà sinh một bé trai. Ngày đặt tên con bà thưa với Trưởng
lão chọn tên và truyền giới cho chú. Trong nhà không ai đau
ốm từ khi chú còn trong bụng mẹ, nên bà mẹ yêu cầu Ngài
đặt tên chú là Sukha Kumàra,
tức hạnh phúc, và Ngài truyền giới cho chú. Vào ngày đãi
tiệc nhân dịp xỏ lỗ tai cậu bé và những dịp lễ khác,
bà thường dâng phẩm vật lên chư tăng. Lên bảy tuổi chú
muốn đi tu, bà bằng lòng. Bà thưa với Trưởng lão trước,
và sau đó mặc y phục đẹp đẽ cho chú, và dẫn đến tinh
xá giao phó cho Trưởng lão. Ngài cho biết đời tu sĩ lắm
gian nan cực khổ, chú khứng chịu, lãnh một đề tài thiền
quán và được gia nhập Tăng đoàn. Cha mẹ chú ở lại tinh
xá, suốt bảy ngày cúng dường thức ăn trăm vị lên Tăng
chúng, chiều tối thì trở về nhà. Ngày thứ tám Tăng chúng
lên đường khất thực, Trưởng lão còn quá nhiều việc phải
làm khắp tinh xá nên đi sau với chú.
Dọc
đường, chú thấy những đường nước v.v... giống như Sa-di Pandita,
và được Trưởng lão giải thích giống như Sa-di Pandita.
Rồi Sukha đưa y
bát cho thầy xin trở về tinh xá. Ðược thầy giao cho chìa
khóa, chú vào phòng thầy tọa thiền và thấu triệt bản tính
của thân
Công
hạnh của chú làm ngai Ðế Thích nóng lên. Ông quan sát, thấy
sự việc như thế nên muốn giúp chú. Ông mời Tứ thiên vương
đến vườn tinh xá đuổi bầy chim ồn ào rồi gác lối vào
bốn phía. Ông cũng ra lệnh cho mặt trời và mặt trăng đứng
yên và chính ông đứng gác nơi cổng chính. Tinh xá hoàn toàn
yên lặng. Sukha tập
trung mãnh liệt, chú khai mở Minh-sát-tuệ và chứng Tam quả.
Còn Trưởng lão khất thực xong rồi vội vã trở về tinh
xá. Thế Tôn trong hương thất thấy biết hết, và cũng biết
trước Sa-di Sukha sẽ
chứng A-la-hán, nên Ngài rời hương thất đến trước cổng
đón Trưởng lão đặt bốn câu hỏi để kéo dài thời gian
cho Sa-di kịp chứng quả. Trưởng lão trả lời xong câu cuối
thì Sa-di cũng vừa chứng quả. Lúc đó Phật mới cho phép
Trưởng lão mang thức ăn cho đệ tử. Và Tứ thiên vương
cùng Ðế Thích rời chỗ gác, mặt trời mặt trăng di chuyển
bình thường. Các Tỳ-kheo bảo nhau sao hôm nay buổi sáng quá
lâu, buổi chiều giờ mới đến, và Sa-di mới thọ thực xong.
Phật liền giải thích và kết luận:
-
Sa-di Sukha thấy
người đang dẫn thủy nhập điền, thợ làm tên đang uốn
tên, thợ mộc đẽo bánh xe v.v... tự điều phục được thân
tâm và đắc quả A-la-hán.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(145)
Người trị thủy dẫn nước,
Kẻ
làm tên uốn tên,
Người
thợ mộc uốn ván,
Bậc
trí biết tự điều.