IX.
Phẩm Ác
1.
Bà La Môn Tiểu Nhất Y
Hãy
gấp làm điều lành ...
Thế
Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến Bà-la-môn
Tiểu Nhất Y (Culla Ekasàtaka).
Bà-la-môn
Ðại Nhất Y (Mahà Ekasàtaka) thời
Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi)
kiếp hiện tại tái sanh ở Xá-vệ tên Tiểu Nhất Y. Ông chỉ
có độc một nội y, vợ ông cũng vậy, và cả hai xài chung
một ngoại y. Như vậy khi Bà-la-môn hoặc vợ ra khỏi cửa
thì người kia phải ở nhà. Một hôm người ta loan báo có
thuyết pháp tại tinh xá. Cả hai thỏa thuận đi nghe pháp:
bà ban ngày còn ông ban đêm. Ngồi trước mặt Thế Tôn, toàn
thân ông hoan hỷ uống từng giọt pháp, vì thế ông phát tâm
cúng dường. Nhưng nếu dâng y này đến Thế Tôn thì không
còn ngoại y nào cho cả hai người.
Một
ngàn niệm ích kỷ không dâng y nổi lên bên trong, thì có một
niệm sùng tín lại muốn dâng y. Hai bên tranh chấp lẫn nhau
mãi cho đến khi canh một trôi qua và canh hai lại đến. Và
rồi ông vẫn chưa dâng y lên Thế Tôn. Ðến canh cuối, Bà-la-môn
nghĩ rằng hai canh đã trôi qua, nếu cứ giằng co mãi và nếu
niệm vị kỷ gia tăng mạnh mẽ thì sẽ không nhấc đầu ra
khỏi bốn đường khổ. Do đó ông quyết cúng dường. Lấy
y đặt dưới chân Thế Tôn, ông kêu to ba lần: "Ta đã chiến
thắng".
Vua
Ba-tư-nặc xứ Kosala
tình cờ cũng dự thính, nghe thế ngạc nhiên, bảo quân lính
hỏi chuyện, rồi thưởng cho ông một cặp y, Bà-la-môn lại
cũng dâng y này cho Thế Tôn. Vua lại tặng ông gấp đôi, tức
là lần thứ nhất hai bộ y, rồi bốn bộ, tám bộ, cuối
cùng mười sáu bộ. Bà-la-môn dâng hết cho Như Lai. Nhà vua
lại tặng ba mươi hai bộ còn lại. Dù Bà-la-môn có dâng hết
những gì ông có đến một trăm lần, vua cũng vẫn đáp ứng
tương xứng (Trong một tiền kiếp Ðại Nhất Y giữ hai bộ
trong sáu mươi bốn bộ nhận được)
Vua
thấy Bà-la-môn làm một việc rất khó làm, nên ra lệnh tìm
hai cái mền trong phòng thiết triều mang tặng ông, mền đó
trị giá đến một ngàn đồng. Bà-la-môn tự thấy mình không
xứng đáng đắp, nhưng mền đó thích hợp với giáo đoàn
của Phật, nên ông lấy làm màn, một tấm treo trong hương
thất để che giường của Thế Tôn, và một tấm treo trong
nhà mình để che nơi các Tỳ-kheo thường đến thọ thực.
Buổi
tối, vua đến thăm Thế Tôn, nhận ra mền, hỏi Phật, thì
ra là Tiểu Nhất Y cúng dường. Như vậy khi vua có niềm tin
và hạnh phúc với niềm tin đó, thì người Bà-la-môn này
cũng thế, sau đó vua tặng cho ông bốn voi, bốn ngựa, bốn
ngàn đồng, bốn phụ nữ, bốn tỳ nữ và bốn ngôi làng
tốt nhất.
Các
Tỳ-kheo bàn tán trong Pháp đường:
-
Ồ! Việc làm của Tiểu Nhất Y thật lạ lùng! Ông đã nhận
được thật nhanh quà tặng mỗi thứ bốn cái! Ngay khi ông
làm việc thiện, phước báo đến liền.
Thế
Tôn đến hỏi, và nghe kể xong, Ngài bảo:
-
Các Tỳ-kheo! Nếu Tiểu Nhất Y cúng dường cho Ta vào canh đầu,
ông đã nhận quà tặng mỗi thứ mười sáu cái. Nếu vào
canh giữa, ông đã nhận mỗi thứ tám cái. Nhưng vì để trễ
đến canh cuối, nên ông chỉ nhận mỗi thứ bốn cái. Ai làm
việc thiện đừng chần chờ, mà phải làm tức khắc. Một
việc công đức làm chậm trễ đem lại phước báo cũng chậm
trễ.
Do
đó ta phải làm việc thiện ngay khi có sự thôi thúc trong
lòng.
Nói
xong, Ngài đọc Pháp Cú:
(116)
Hãy gấp làm điều lành,
Ngăn
tâm làm điều ác.
Ai
chậm làm việc lành,
Ý
ưa thích việc ác.
2.
Một Tỳ Kheo Bất Mãn
Nếu
người làm điều ác...
Khi
ngụ tại Kỳ Viên. Thế Tôn đã dạy câu trên do chuyện Trưởng
lão Seyyasaka.
Trưởng
lão Seyyasaka là
Tỳ-kheo bạn của Trưởng lão Làludàyi.
Ông bất mãn với giới luật đời tu, và kể cho bạn ông,
người đã xúi giục ông vi phạm giới luật đầu tiên của
Tăng già. Sau đó ông thường bất mãn và cứ phạm giới như
thế. Phật nghe được gọi ông đến hỏi, ông nhìn nhận,
và Ngài đã răn dạy:
-
Người tham dục! Tại sao ông phạm lỗi trầm trọng như thế?
Tư cách của ông đâu được phép như thế!
Sau
đó Ngài bắt ông phải tuân hành giới luật, và nhắc ông
rằng:
-
Hành động như thế chắc chắn dẫn đến đau khổ, cả đời
này và đời sau.
Xong,
Phật đọc Pháp Cú:
(117)
Nếu người làm điều ác,
Chớ
tiếp tục làm thêm.
Chớ
ước muốn điều ác,
Chứa
ác tất chịu khổ.
3.
Thiên Nữ Với Tỳ Kheo
Nếu
người làm điều thiện...
Thế
Tôn đã dạy câu trên tại Kỳ Viên, liên quan đến tiên nữ Làjà.
Câu chuyện bắt đầu ở Vương Xá.
Khi
Tôn giả Ðại Ca-diếp ngụ ở hang Tiêu, Ngài nhập định
bảy ngày, rồi xuất định. Quan sát bằng thiên nhãn những
nơi sắp đi khất thực, Ngài trông thấy một phụ nữ canh
giữ cánh đồng đang rang những bông lúa vừa gom được, và
biết người này có niềm tin, khôn ngoan và tháo vát, sẽ giúp
đỡ Ngài và sẽ được phước báo nhiều.
Rồi
Ngài đắp y, ôm bát đến đứng gần ruộng lúa. Bà thấy
Ngài, phát tín tâm, toàn thân hoan hỷ, và nhanh nhẹn đi lấy
gạo rang, trút vào bình bát, xong đảnh lễ Ngài và ước nguyện:
-
Bạch Tôn giả! Xin cho con được tham dự vào giáo pháp mà
Ngài đã thấy.
Trưởng
lão hứa khả. Tín nữ chào Ngài và trở về, lòng cứ nghĩ
đến sự cúng dường cho Ngài. Nhưng khi tín nữ bước trên
đường dọc theo ruộng lúa, đến chỗ có con rắn độc trước
đây không cắn được Trưởng lão vì y vàng phủ kín chân,
nó bò ra và cắn bà té sấp xuống đất, và bà đã chết
trong tín tâm. Bà tái sinh lên cõi trời Ba mươi ba như người
ngủ thức dậy, trong một thiên cung bằng vàng rộng ba mươi
ba dặm, vóc dáng cao bằng ba phần tư dặm, mặc một thiên
y dài mười hai dặm làm nội y và một thiên y bằng như thế
làm ngoại y, với một ngàn thiên nữ tùy tùng. Cổng chính
thiên cung trang hoàng, có treo một bình vàng đầy hạt lúa
bằng vàng do công đức kiếp trước dâng gạo rang cho Trưởng
lão Ðại Ca-diếp, và cũng thấy mình không chuyên cần. Do
đó bà muốn phục dịch việc lớn nhỏ đối với Trưởng
lão để được cứu độ chắc chắn.
Sáng
sớm, bà đến phòng Trưởng lão quét dọn sạch sẽ với chổi
vàng và đồ hốt rác bằng vàng, rồi đi lấy nước uống.
Trưởng lão thấy thế cứ tưởng mấy người cận sự hay
Sa-di làm. Vào ngày thứ hai, rồi ngày thứ ba thiên nữ cũng
làm thế. Trưởng lão nhìn qua lỗ khóa khi nghe tiếng quét,
thấy thân sáng chói của bà, ngạc nhiên hỏi:
-
Ai đang quét đó?
Bà
đáp:
-
Chính con đây, Tôn giả! Nữ cư sĩ của Ngài, thiên nữ Làjà.
-
Tôi không có nữ cư sĩ tên đó.
Bà
kể lại mọi sự. Tôn giả không bằng lòng, bảo bà đi đi.
Bà năn nỉ:
-
Tôn giả, đừng xua đuổi con. Xin cho phép con hầu hạ Ngài
để chắc chắn được cứu độ.
Trưởng
lão vẫn cương quyết:
-
Thiên nữ, hãy đi ngay! E rằng về sau các Pháp sư được cầm
quạt ngũ sắc và ngồi xuống, sẽ có lý do để nói có một
thiên nữ đến hầu hạ và lấy nước cho Trưởng lão Ðại
Ca-diếp. Ðừng đến đây nữa hãy đi nơi khác!
Thiên
nữ vẫn một mực nài nỉ. Thấy bà không chịu nghe lời mình,
Ngài bảo:
-
Cô chẳng biết chỗ của mình.
Và
Ngài búng ngón tay tỏ vẻ khinh bỉ. Thiên nữ không dám ở
lại, bay lên không, vòng tay cất tiếng:
-
Tôn giả! Ðừng hủy bỏ thành quả của con, hãy để con được
cứu độ.
Rồi
đứng yên giữa trời than khóc.
Thế
Tôn ngồi ở hương thất tại Kỳ Viên nghe được, liền phóng
quang ảnh đến trước mặt thiên nữ bảo:
-
Thiên nữ! Ðại Ca-diếp, đệ tử Ta, quả có bổn phận phải
tự chế. Nhưng ai muốn tạo công đức phải quyết tâm xem
đó là việc cần thiết, và thừa nhận tạo công đức là
bổn phận duy nhất của mình. Thật vậy, đời này và đời
sau chỉ có việc thiện đem đến hạnh phúc.
Rồi
Ngài đọc Pháp Cú:
(118)
Nếu người làm điều thiện,
Nên
tiếp tục làm thêm.
Hãy
ước muốn điều thiện,
Chứa
thiện, được an lạc.
4.
Cấp Cô Ðộc Và Nữ Thần
Người
ác thấy là hiền...
Câu
này Thế Tôn dạy ở Kỳ Viên, liên quan đến Cấp Cô Ðộc.
Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc đã chi hết năm trăm bốn mươi triệu của
cải cho Tăng đoàn của Phật tại tinh xá Kỳ Viên, một ngày
ba lần đến hầu hạ Thế Tôn. Nghĩ rằng những người tập
sự và Sa-di hay để ý ông sẽ mang gì cúng dường, nên không
bao giờ ông đến tinh xá tay không. Sáng sớm, ông thường
đem cháo. Sau giờ thọ thực, ông mang bơ tươi và thuốc men.
Buổi chiều mang hương, hoa, cao (mỡ bôi) và y phục.
Dần
dần ông nghèo đi, vì ngoài phần cúng dường ông đã cho các
nhà buôn mượn một trăm tám mươi triệu, chưa kể một trăm
tám mươi triệu dành cho gia đình chôn giấu tại bờ sông
đã trôi ra biển lúc đất lở. Tuy thế ông vẫn cúng dường
chúng Tăng như trước, dù thức ăn không được ngon lành nữa.
Một
hôm Thế Tôn hỏi ông:
-
Gia chủ vẫn mang vật thực từ nhà đến cúng dường Tăng
chúng chứ?
Ông
thưa:
-
Vâng, bạch Thế Tôn. Nhưng thức ăn chỉ có cháo chua, vừa
ít vừa dở.
-
Gia chủ đừng nên buồn phiền khi nghĩ rằng đã dâng lên
Thế Tôn thức ăn tồi. Nếu ý định thanh tịnh thì món gì
dâng lên chư Phật và những vị khác không thể gọi là xấu
tệ được. Ông đã dâng cúng lên tám bậc Thánh. Trước đây
trong thời Velàma.
Ta đã quấy động toàn nước Ấn Ðộ với rất nhiều phẩm
vật, nhưng không khuyên được ai thọ Tam quy. Khó mà tìm được
người xứng đáng để dâng cúng. Do đó đừng phiền muộn
khi nghĩ rằng món dâng của ông dở tệ.
Nói
xong, Thế Tôn đọc kinh Velàma.
Khi
Thế Tôn và các Thánh đệ tử bước vào nhà ông Cấp Cô
Ðộc, nữ thần ngụ trên cổng không thể ở lại đó, vì
sức mạnh thiện đức của các Ngài. Cô định sẽ xúi giục
gia chủ đừng trung thành với các Ngài, để các Ngài không
vào nhà nữa. Lúc tài sản của ông đang cực thịnh, nữ thần
dù có nói ông cũng không nghe, bây giờ nghèo ông sẽ sẵn
sàng để ý đến lời cô. Do đó ban đêm cô đến phòng Trưởng
giả tự giới thiệu và khuyên ông phải nghĩ đến tương
lai; ông đã phung phí biết bao vào Giáo đoàn của Phật, bây
giờ nghèo rồi ông vẫn cúng dường, nếu ông vẫn tiếp tục
như thế mãi thì chẳng bao lâu ông sẽ không còn một hột
cơm lót lòng, hay một mảnh vải che thân. Cô còn lên giọng
kẻ cả dạy thêm:
-
Sa-môn Gotama có
ích lợi gì cho ông? Ðừng dại dột phung phí nữa, hãy để
tâm vào chuyện làm ăn và tạo cơ may.
Trưởng
giả ngồi im lắng nghe hết, rồi mới bảo:
-
Ðây là điều mà cô đến khuyên tôi có phải không? Thế
thì, hãy cút đi! Dù cố thuyết trăm, ngàn lần như thế cô
cũng chẳng lay chuyển được tôi. Cô đã nói với tôi những
điều không đáng nói. Việc gì cô phải ở trong nhà tôi chứ?
Hãy ra khỏi nhà tôi tức khắc!
Nữ
thần không thể không tuân theo lời nói của một cư sĩ đã
chứng quả Dự-lưu, nên lập tức đem con ra khỏi nhà ông.
Nhưng
sau đó cô không thể tìm ra chỗ nào khác để ở. Cô đến
vị trời cai quản thành kể tội lỗi của mình, xin ông đến
nhà Trưởng giả thuyết phục ông tha thứ và cho cô ở lại.
Nhưng vị trời từ chối, vì cô đã nói điều không đáng
nói. Cô đến Tứ thiên vương, nhưng họ cũng từ chối với
cùng một lý do. Rồi cô cầu cứu với thiên chủ Ðế Thích.
Ngài bày cho cô khoác y phục của quản gia Trưởng giả, ghi
danh sách tài sản của ông đã phân tán, tức là một trăm
tám mươi triệu cho nhà buôn mượn, một trăm tám mươi triệu
bị cuốn ra biển và một trăm tám mươi triệu không ai giữ
ở nơi này nơi nọ, và dùng thần lực đòi và gom lại, xong
chất vào kho trống của ông. Làm như vậy để chuộc lỗi,
và sau đó xin ông tha thứ cho cô. Nữ thần vâng theo. Công
việc hoàn thành, cô đứng trên không chiếu hào quang xuống
phòng Trưởng giả trình bày các việc đã làm, và xin ông
cho cô chỗ ở, vì hiện nay cô không tìm được nơi nào, nên
rất là vất vả mệt nhọc.
Cấp
Cô Ðộc dẫn cô đến bậc Toàn Giác, bảo kể lại mọi sự.
Nữ thần úp mặt trước Thế Tôn thưa:
-
Bạch Thế Tôn! Vì điên rồ con không nhận ra công đức to
lớn của Ngài, và đã nói lời xấu ác, xin tha thứ cho con.
Như
thế nữ thần đã xin lỗi Thế Tôn lẫn Trưởng giả, và
được Thế Tôn khuyên nhủ:
-
Ngay trong đời này, Ðại Trưởng giả! Một kẻ làm ác vẫn
cảm thấy tốt lành chừng nào hành động ác của họ chưa
chín muồi. Nhưng ngay khi hành động ác chín muồi, họ sẽ
chỉ thấy xấu. Cũng thế, một người lành thấy việc xấu
dữ bao lâu việc thiện của mình chưa chín muồi, nhưng ngay
khi hành động thiện chín muồi, họ chỉ thấy tốt lành.
Nói
xong Ngài đọc Pháp Cú:
(119)
Người ác thấy là hiền,
Khi
ác chưa chín muồi.
Khi
ác nghiệp chín muồi,
Người
ác mới thấy ác.
(120)
Người hiền thấy là ác,
Khi
thiện chưa chín muồi.
Khi
thiện nghiệp chín muồi,
Người
hiền thấy là thiện.
5.
Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Tốt Ðồ Dùng
Chớ
chê khinh điều ác...
Thế
Tôn đã dạy câu tên khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến
một Tỳ-kheo không giữ gìn tốt đồ dùng.
Tỳ-kheo
này hay vất đồ dùng ra ngoài trời như là giường, ghế,
... bị nắng mưa hay mối mọt ăn mòn, chẳng bao lâu rã ra
từng mảnh. Các huynh đệ nhắc nhở ông sao không cất giữ
bảo quản, ông thản nhiên bảo đó là lỗi nhẹ, không đáng
mất công suy nghĩ và giận dữ. Rồi ông cứ thế làm hoài.
Các Tỳ-kheo bạch Phật. Ông được Phật kêu lên hỏi, và
trả lời như cũ, tức là coi thường việc mình làm.
Thế
Tôn bèn dạy:
-
Các Tỳ-kheo, đừng bao giờ hành động như thế. Ðừng bao
giờ xem một việc làm xấu là việc nhỏ. Mà nói rằng đó
chỉ là việc nhỏ. Vì khi bình nước mở miệng và mưa rơi
xuống, chắc chắn một giọt nước không thể làm đầy được,
nhưng khi mưa mãi mưa hoài nước sẽ đầy tới miệng. Như
thế, từng chút một, người phạm lỗi tích lũy một đống
tội lớn.
Và
Phật đọc Pháp Cú:
(121)
Chớ chê khinh điều ác,
Cho
rằng "chưa đến mình"
Như
nước nhỏ từng giọt,
Rồi
bình cũng đầy tràn.
Người
ngu đầy tội ác,
Do
chất chứa dần dần.
Cuối
bài pháp, nhiều người chứng quả Dự-lưu, Nhị quả và Tam
quả. Rồi Phật tuyên giới:
-
Ai không đem giường ngoài trời vào mà nói rằng đó chỉ
là việc nhỏ sẽ phạm tội.
6.
Chưởng Khố Chân Mèo
Chớ
chê khinh điều thiện...
Do
chuyện chưởng khố Chân Mèo Bilalapàdaka,
Thế Tôn dạy câu trên khi ngụ tại Kỳ Viên.
Ngày
xưa, dân chúng ở Xá-vệ họp từng nhóm cúng dường Tăng
đoàn của Phật. Khi hồi hướng công đức, Thế Tôn bảo:
-
Các cư sĩ, trên thế gian này ai bố thí nhưng không khuyến
khích người khác bố thí, ở kiếp sau sẽ có phước báo
về tài sản, nhưng không có phước báo được nhiều người
theo. Nếu không tự mình bố thí mà chỉ khuyên người khác
bố thí, thì sẽ có phước báo được nhiều người theo,
nhưng không có tài sản. Không tự mình bố thí và cũng không
khuyên người bố thí, thì sẽ không có phước báo nào hết.
Nhưng người vừa tự mình bố thí vừa khuyên người khác
bố thí, sẽ nhận được cả hai phước báo về tài sản
và tùy tùng.
Một
người trí đứng nghe Phật thuyết như thế liền phát tâm
cúng dường, và thỉnh Thế Tôn đến thọ thực tại nhà ngày
mai với hết thảy Tỳ-kheo. Ðược hứa khả, cư sĩ vào làng,
đi khắp nơi kêu gọi cúng dường cháo và thức ăn khác; mỗi
người sẽ lo cho một số Tỳ-kheo tùy sức, nhưng sẽ nấu
chung một chỗ và dâng cúng chung.
Một
chưởng khố thấy cư sĩ đến tiệm mình, cho rằng thay vì
anh ta mời số ít Tỳ-kheo theo sức mình, lại cố mời đông
đủ rồi khuyên cả làng cúng dường, nên nổi giận, tuy vậy
ông vẫn bảo mang bình tới. Rồi ông lấy một nhúm gạo trong
ba ngón tay đưa cho cư sĩ, cũng thế mỗi thứ đậu ông cho
một chút. Do đó sau này ông có tên là Chân Mèo. Và khi cho
bơ và đường ông đặt cái rổ trong bình của cư sĩ, chừa
lại một góc trống để ông nhỏ từng giọt một, và chỉ
cho rất ít. Cư sĩ đặt phần của ông riêng với người khác.
Chưởng khố sanh nghi nên sai tiểu đồng đi theo cư sĩ. Chú
thấy cư sĩ vừa bỏ hai, ba hột gạo vào cháo và bánh, chia
những hột đậu, vài giọt dầu và các viên đường vào tất
cả bình, vừa nguyện cho chưởng khố được nhiều phước
báo. Chú về kể lại y như thế, nhưng nghe xong chưởng khố
vẫn còn hậm hực, định bụng nếu bị cư sĩ đó khiển
trách giữa hội chúng, sẽ đánh và giết ông ta ngay khi nghe
nêu tên mình trên môi.
Ngày
kế chưởng khố giấu con dao trong nếp y và đến đứng ở
trai đường chờ cư sĩ đưa Tăng đoàn của Phật và. Tiếng
thưa thỉnh của cư sĩ vang lên:
-
Bạch Thế Tôn! Do con gợi ý, tất cả những người này cúng
dường lên Phật gạo và các phẩm vật khác theo khả năng
từng người. Nguyện cho tất cả mọi người đều được
nhiều phước báo.
Chưởng
khố nghe được, trong lòng cảm thấy hổ thẹn, nghĩ rằng
nếu không xin lỗi một người tốt như thế, hình phạt của
vua sẽ rơi xuống đất. Vì thế, ông phủ phục dưới chân
cư sĩ kể lại tự sự, và xin được tha thứ, Thế Tôn thấy
thế, hỏi người tổ chức cúng dường, biết chuyện và dạy
lại như sau:
-
Này đệ tử! Ðừng bao giờ xem một việc thiện là việc
nhỏ, và bảo rằng đó là việc mọn. Người trí tạo công
đức, trong một thời gian sẽ được đầy đủ công đức,
như một bình nước mở miệng đựng đầy nước.
Nói
xong, Phật đọc Pháp Cú:
(122)
Chớ khinh chê điều thiện,
Cho
rằng "chưa đến mình".
Như
nước nhỏ từng giọt,
Rồi
bình cũng đầy tràn.
Người
trí đầy thiện đức,
Do
chất chứa dần dần.
7.
Thương Gia Ðại Phú
Ít
bạn đường, nhiều tiền ...
Phật
đã dạy câu này ở Kỳ Viên, liên quan đến thương gia Ðại
Phú.
Chuẩn
bị cho một chuyến buôn xa, thương gia Ðại Phú chất hàng
hóa đầy năm trăm cỗ xe, và trước khi đi, nhắc các Tỳ-kheo
ai muốn đi cùng sẽ không phải lo thiếu thức ăn dọc đường.
Năm trăm Tỳ-kheo lên đường với ông.
Trước
đây có năm trăm tên cướp toan đột nhập vào nhà Ðại Phú,
nhưng thất bại. Bây giờ chúng nghe tin ông đi buôn, nên vào
ẩn trong rừng đón đường. Trước khi băng rừng, ông dừng
chân ở một làng nọ, nghỉ lại ba ngày, sắp đặt bò, xe
và mọi thứ. Trong thời gian đó ông vẫn cung ứng đủ cho
các Tỳ-kheo như thường lệ. Bọn cướp muốn chắc ăn, cho
bộ hạ đi vào làng thám thính. Tên này dò la tin tức nơi
bạn của hắn về ngày thương gia lên đường, nhưng hắn
cũng dại dột khai ra bọn cướp đang chờ trong rừng. Người
bạn này có lòng từ nên khuyên thương gia chớ đi tiếp. Ông
bèn quyết định đi vòng và trở về nhà. Tên bộ hạ trở
vào làng và điều tra tiếp, biết thế bèn báo bọn cướp
kéo nhau ra khỏi rừng, đón ở một điểm theo hướng ngược
lại. Thương gia cũng biết thế, nên cuối cùng ở lại. Ông
đến cho các Tỳ-kheo hay, và các Tỳ-kheo ở lại hay không
tùy ý.
Các
Tỳ-kheo quyết định trở về Xá-vệ. Họ đến đảnh lễ
Thế Tôn, cung kính ngồi một bên thưa chuyện, Thế Tôn nghe
qua bèn dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Thương gia Ðại Phú tránh con đường vì bọn
cướp nằm chờ ông. Cũng vậy, các Tỳ-kheo phải tránh điều
ác, nhìn ba cõi như con đường bị cướp bao vây.
Và
Phật nói Pháp Cú:
(123)
Ít bạn đường, nhiều tiền,
Người
buôn tránh đường hiểm.
Muốn
sống tránh thuốc độc,
Cũng
vậy, hãy tránh ác.
8.
Người Thợ Săn Bắn Mê Muội
Bàn
tay không thương tích...
Khi
ngụ tại Trúc Lâm, Thế Tôn dạy câu trên do chuyện thợ săn Kukkutamitta.
Một
cô gái con nhà giàu ở Vương Xá đến tuổi cập kê, được
cha mẹ cho ở một phòng trên tầng chót tòa nhà bảy tầng
với một tỳ nữ hầu hạ. Buổi chiều đứng ngay cửa sổ
nhìn xuống đường, thấy người thợ săn cô bị tiếng sét
ái tình. Thợ săn sống bằng nghề giết nai với năm trăm
bẫy và năm ngàn giáo. Anh vừa giết năm trăm nai chất lên
xe, và ngồi trên đầu xe vào thành để bán thịt.
Cô
gái, theo tiếng gọi con tim, đưa quà sai tỳ nữ mang tặng
thợ săn, và hỏi ngày anh trở lại đây. Biết được ngày
và chỗ, sáng sớm hôm sau, cô gói quần áo và nữ trang, mặc
y phục tồi tàn, rời khỏi nhà với một số gia nhân và bình
nước trên tay, như thể định đi đến bờ sống, nhưng thật
sự đến chỗ thợ săn sẽ đi qua và đứng chờ. Anh thợ
săn cũng đánh xe ra rất sớm. Cô thụt lại sau và theo anh.
Chợt thấy cô gái anh ngạc nhiên hỏi:
-
Cô là người lạ, không phải con gái những người tôi quen
biết, xin đừng theo tôi nữa!
-
Anh không mời nhưng tôi tự ý đến, xin im lặng và đánh xe
đi!
Anh
bảo cô về đi nhưng cô vẫn không nghe, còn nói thêm khi dịp
may đến đừng để vuột mất. Người thợ săn biết chắc
là cô gái cố tình theo đuổi mình nên đỡ cô lên xe và tiếp
tục cuộc hành trình. Cha mẹ cô tìm khắp nơi nhưng không
thấy, cho là cô đã chết, họ làm tang lễ long trọng.
Về
sống với thợ săn, cô sanh bảy người con trai. Chúng khôn
lớn, cô có thêm bảy nàng dâu.
Sáng
sớm, Thế Tôn quan sát thế gian thấy thợ săn cùng con trai
con dâu hiện ra và biết mười lăm người này đủ duyên lành
chứng quả Nhập lưu nên Ngài ôm bát đến chỗ thợ săn giăng
lưới. Hôm đó không có một con thú nào sa lưới. Phật để
lại dấu chân tại một cái bẫy rồi đi đến một gốc cây
ngồi xuống. Thợ săn đến, kiểm soát tất cả lưới từ
đầu đến cuối, không được con thú nào. Thấy dấu chân
Phật, anh cho là có người thả thú trong bẫy ra. Anh nổi giận,
và khi thấy Phật ngồi dưới gốc cây, anh đinh ninh đó là
người phá hoại anh, nên giương cung nhắm bắn. Phật cho phép
anh giương cung nhưng không cho phép anh bắn tức là anh đứng
yên trong tư thế đó, không hạ tay cung, và cũng không lấy
tên ra khỏi dây cung, miệng chảy nước miếng, mệt mỏi đến
kiệt sức, như thể xương bị gãy lìa.
Ðám
con trai anh về nhà, đợi lâu không thấy anh, và được mẹ
nhắc thêm, nên mang cung tên đi tìm. Ðến nơi thấy cha mình
đứng bất động, cho rằng người đứng đối diện là kẻ
thù của cha, lập tức chúng giương cung. Thần lực của Phật
cũng làm chúng chôn chân tại chỗ, không nhúc nhích. Rồi đến
phiên bà mẹ cùng các con dâu lên đường đi tìm. Thấy chồng
con đều đứng bất động, đang nhắm bắn ai đó, bà tìm
hiểu, thì ra họ nhắm bắn Thế Tôn. Bà dang hai tay đưa lên
trời, vội kêu lên:
-
Ðừng giết cha ta! Ðừng giết cha ta!
Anh
thợ săn nghe thấy thế hoảng hồn, nghĩ mình quá độc ác,
lầm lỡ định bắn cha vợ. Mấy đứa con trai cũng ân hận
vì tính bắn ông ngoại mình. Rồi cả cha con lòng bỗng dịu
lại, trở nên thân thiện. Phật biết nên cho họ hạ cung
tên, cùng lúc tiếng con gái phú gia bảo ném cung tên đi. Rồi
tất cả cúi mình trước Thế Tôn xin thứ lỗi, xong cung kính
ngồi xuống một bên.
Thế
Tôn thuyết pháp tuần tự cho họ. Cuối bài pháp, anh thợ
săn, cùng bảy con trai và bảy con dâu đều chứng quả Dự-lưu.
Sau
đó Thế Tôn đi khất thực, thọ thực xong Ngài trở về tinh
xá. Trưởng lão A-nan chào đón và hỏi thăm Phật. Ngài cho
biết thợ săn cùng các con đều phát nguyện tin Tam Bảo, niềm
tin bất thối chuyển và đã từ bỏ sát sanh, riêng bà vợ
đã chứng quả Dự-lưu trước, khi còn ở nhà cha mẹ.
Các
Tỳ-kheo bàn tán chuyện này và thắc mắc bà vợ đã chứng
quả Dự-lưu rồi mới lấy thợ săn, rồi còn đưa cung, tên,
dao, lưới... cho chồng đi sát sanh. Người đã chứng quả
Dự-lưu rồi sao còn sát sanh? Phật đến, nghe thế bèn dạy:
-
Các Tỳ-kheo! Dĩ nhiên người chứng quả Dự-lưu thì không
sát sanh. Vợ của thợ săn khi làm thế chỉ nghĩ vâng lệnh
chồng, chứ không hề nghĩ sẽ đưa những thứ đó cho chồng
đi sát sanh. Nếu tay một người không bị thương thì dù có
cầm thuốc độc trong tay, thuốc độc cũng không hại họ.
Ðúng vậy, người không nuôi tư tưởng lầm lỗi và không
làm ác, có thể lấy cung hay các thứ tương tự đưa cho người
khác mà vẫn vô tội.
Và
Phật nói Pháp Cú:
(124)
Bàn tay không thương tích,
Có
thể cầm thuốc độc.
Không
thương tích, tránh độc,
Không
làm, không có ác.
Vào
một dịp khác, các Tỳ-kheo thảo luận, không hiểu vì sao
thợ săn cùng các con chứng quả Dự-lưu, và tại sao anh tái
sinh làm thợ săn. Phật nghe được bèn kể:
Chuyện
quá khứ
8A.
Chưởng Khố Thành Và Chưởng Khố Làng
Này
các Tỳ-kheo! Ngày xưa người ta xây tháp để thờ xá lợi
Phật Ca-diếp. Họ lấy chất "Orpiment", vàng và "Arsenic" nghiền
thành bột làm hồ, với dầu mè làm nước. Rồi họ chặt
những viên gạch làm hai đặt xen kẽ với những tảng vàng
cho tường phía trong. Tường ngoài gồm những tảng vàng rắn
chắc, mỗi tảng trị giá một trăm ngàn đồng. Khi tháp được
xây lên đến chiều cao đựng thánh tích, họ kêu gọi đóng
góp một số tiền lớn. Một chưởng khố trong làng là người
đầu tiên cúng mười triệu vàng cho hòm đựng thánh tích.
Dân chúng xầm xì rằng chưởng khố thành phố quả đã cúng
tiền để xây tháp lộng lẫy nguy nga như thế, nhưng không
muốn đóng tiền nhiều để làm người đứng đầu, do đó
chưởng khố ở làng thành người đứng đầu với số tiền
mười triệu này. Chưởng khố thành phố nghe thế liền cúng
hai mươi triệu. Chưởng khố làng leo thang ba mươi triệu.
Cứ thế hai bên thi đua nhau tăng tiền nộp cúng, cuối cùng
chưởng khố thành dâng tám mươi triệu. Chưởng khố làng
lúc đó có chín mươi triệu, trong khi tài sản của chưởng
khố thành đến bốn trăm triệu nên không thể tranh lại.
Do đó ông quyết định không những dâng hết tài sản mà
cả chính ông, với vợ, bảy con trai và bảy con dâu làm nô
lệ cho tháp này. Dân chúng đồng ý là tiền có thể kiếm
được nhưng người này cùng vợ con tất cả là mười sáu
người, đã tự hiến mình, rất là hãn hữu nên để ông
đứng đầu.
Tuy
danh nghĩa là nô lệ cho tháp nhưng dân chúng vẫn để họ
tự do và chỉ có họ được coi sóc tháp. Mạng chung, họ
tái sanh cõi trời và ở đó suốt thời gian giữa hai đức
Phật. Thời Phật hiện tại người vợ sanh làm con gái phú
gia. Thợ săn chính là chồng cũ của cô. Do đó khi gặp lại
tình cảm trước kia phát sinh:
Do
liên hệ từ trước,
Hay
lợi thế hiện tiền,
Tình
yêu lại nảy sanh,
Như
đóa sen trong nước.
Cả
con trai và con dâu đều gặp lại kiếp này.
Do
công đức coi sóc ngôi tháp kiếp trước mà hiện đời được
chứng quả Dự lưu.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
9.
Thợ Săn Bị Bầy Chó Của Mình Nuốt Sống
Hại
người không ác tâm...
Thế
Tôn dạy câu này ở Kỳ Viên liên quan đến thợ săn Koka.
Sáng
sớm, thợ săn Koka
vào rừng với cung tên và bầy chó săn theo sau. Hắn trông
thấy bên lề đường một Tỳ-kheo đang vào làng khất thực.
Hắn bực bội vì cho rằng gặp một kẻ xúi quẩy. Không biết
có phải vì thế không, mà anh ta sục sạo trong rừng cả ngày
chẳng được con thú nào. Còn Trưởng lão khất thực và thọ
thực xong trở về tinh xá. Cả hai gặp nhau, và thợ săn vẫn
còn tức tối, lùa chó đến cắn Trưởng lão dù Ngài van xin
hắn. Ngài vội vã trèo lên cây, bầy chó vây quanh dưới gốc.
Thợ săn cay cú nói với theo:
-
Ðừng tưởng thoát khỏi nanh vuốt của ta nhé!
Rồi
hắn lấy mũi tên đâm vào bàn chân Trưởng lão. Ngài van xin
nhưng hắn mặc kệ, cứ đâm hết nhát này tới nhát kia, cho
đến khi bàn chân Ngài nát bét. Ngài kéo chân đó lên và thò
chân kia xuống. Hắn lại đâm tiếp. Ngài lại kéo chân kia
lên. Ngài quá đau nhức, như thể ngồi trên ngọn đuốc, đến
nỗi không còn chú ý đến chuyện gì hết, chiếc y ngoài rơi
xuống mà Ngài chẳng hay, và chiếc y chụp xuống đầu thợ
săn trùm đến chân.
Bầy
chó tưởng đó là Trưởng lão rớt trên cây xuống, chúng
luồn dưới chiếc y kéo ra nhai sống anh thợ săn đến trơ
xương. Chui ra khỏi đống y, chúng đứng đợi. Trưởng lão
bẻ một cành cây khô ném xuống. Thấy Trưởng lão chúng mới
biết là đã ăn thịt chủ mình, liền cong lưng chạy tót vào
rừng.
Trưởng
lão bất an khi thấy anh thợ săn mất mạng vì chiếc y của
mình. Ngài trở về kể đầu đuôi câu chuyện cho Thế Tôn,
và hỏi Phật không biết mình vô tội hay có còn là tu sĩ
không. Thế Tôn trả lời:
-
Tỳ-kheo! Sự vô tội của ông vẫn nguyên vẹn, ông vẫn là
một tu sĩ. Người nào xúc phạm đến người vô tội sẽ
bị diệt vong. Ðây không phải là lần đầu, mà trong tiền
kiếp tên thợ săn cũng đã từng phạm tội như thế.
Và
Phật kể lại:
Chuyện
quá khứ
9A.
Y Sĩ Ðộc, Bầy Trẻ Và Con Rắn Ðộc
Xa
xưa, một y sĩ đi quanh làng kiếm việc làm, tìm không ra việc
mà quá đói, ông chợt có ý định cho rắn độc cắn đám
trẻ con đang chơi quanh cổng, để có cơ hội chữa vết thương
cho chúng mà kiếm cơm. Ông bỏ con rắn vào một lỗ cây, cho
thò đầu ra ngoài, dụ mấy đứa nhỏ rằng đó là con chim Sàlikà
hãy lại bắt mà chơi. Một đứa trẻ chạy tới nắm cổ
rắn kéo ra khỏi lỗ. Ngay khi thấy con rắn trong tay, nó hét
lên và ném lên đầu y sĩ đang đứng gần đấy. Rắn quấn
quanh vai ông, và ông chết vì bị rắn cắn.
Thế
Tôn kết luận:
-
Như vậy trong một tiền kiếp, chính thợ săn Koka này
đã xúc phạm người vô tội và bị diệt vong.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(125)
Hại người không ác tâm,
Người
thanh tịnh, không uế.
Tội
ác đến kẻ ngu,
Như
ngược gió tung bụi.
10.
Thợ Kim Hoàn, Tỳ Kheo Và Con Ngỗng
Một
số sinh bào thai...
Phật
đã dạy như thế khi ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng
lão Tissa, người
thường đến thợ kim hoàn khất thực.
Trưởng
lão này đã thọ thực tại nhà một người thợ kim hoàn hình
như suốt mười hai năm. Ông bà chủ nhà phục vụ Ngài một
cách tận tình, xem đó như bổn phận của bậc cha mẹ.
Một
hôm đang ngồi chặt thịt, có Trưởng lão ngồi đối diện,
thợ kim hoàn nhận một viên ngọc của vua Ba-tự-nặc gởi
đến bảo chùi sạch, dùi lỗ xong trả vua. Tay dính máu ông
vẫn cầm lấy viên ngọc bỏ vào hộp rồi vào phòng trong
rửa tay. Ông có nuôi một con ngỗng trong nhà, rất cưng quí.
Ngửi thấy mùi máu nó cho viên ngọc là miếng thịt nên nuốt
chửng trước mắt Trưởng lão. Thợ kim hòa quay trở lại
không thấy viên ngọc đâu hỏi vợ con, nhưng không ai biết.
Ông nghi cho Trưởng lão đã lấy. Bà vợ không đồng ý vì
đã bao năm lui tới, Trưởng lão chưa hề sai sót. Nhưng ông
bối rối quá, không biết làm sao nên cũng phải hỏi Trưởng
lão, và xin Ngài trả lại viên ngọc. Trưởng lão xác nhận
mình không lấy, nhưng lúc đó chỉ có hai người, nên thợ
kim hoàn cứ đinh ninh ngoài Trưởng lão không ai có thể lấy
viên ngọc được. Vì trị giá viên ngọc quá lớn, mọi người
trong nhà dù có làm nô lệ cũng không trả nổi, nên ông quyết
định tra tấn Trưởng lão. Ông lấy y quấn quanh đầu Ngài
và lấy gậy đập vào đầu Ngài. Máu tuôn xối xả từ đầu,
tai, mũi và mắt của Ngài. Ðau quá Ngài ngã lăn xuống đất.
Con ngỗng đánh hơi máu, đến sát Trưởng lão liếm máu. Thợ
kim hoàn trong cơn tức giận, thấy thế đá con ngỗng lăn ra
chết tốt. Trưởng lão thấy vậy bảo nới y quanh đầu Ngài
ra, hỏi thăm con ngỗng ra sao, và khi biết chắc nó đã chết,
Ngài mới cho biết chính con ngỗng đã nuốt viên ngọc. Nếu
con ngỗng không chết, thà ông chết hơn là nói sự thật.
Mổ bụng ngỗng ra, thấy viên ngọc, thợ kim hoàn bủn rủn
chân tay, tim ông đập loạn lên, ông gieo mình xuống chân Trưởng
lão van xin:
-
Hãy tha thứ cho con, Tôn giả. Vì vô minh con đã làm như thế.
Trưởng
lão bình thản đáp:
-
Cư sĩ, tất cả không phải tại ông, cũng không phải tại
tôi, chỉ có luân hồi chịu trách nhiệm việc này. Tôi tha
thứ cho ông.
-
Bạch Tôn giả, nếu thật sự Ngài tha thứ cho con, một lần
nữa con xin Ngài hãy thường xuyên đến nhà và nhận cúng
dường từ chính tay con.
-
Cư sĩ, từ nay trở đi tôi sẽ không bước chân vào nhà của
bất cứ ai. Tôi nguyện như thế, vì vào nhà người đã gây
hậu quả như đã thấy. Từ nay trở đi, khi nào tôi còn đi
được trên đôi chân, tôi chỉ nhận thức ăn trước cửa
nhà mà thôi.
Trưởng
lão đã quyết giữ Phạm hạnh. Và Ngài nói kệ sau:
Thức
ăn nấu cho người trí,
Một
chút ở đó, ở đây,
Từ
nhà nọ đến nhà kia,
Ta
đi nhận vật tín thí,
Trên
khắp mọi miền ta qua,
Khi
còn đôi chân bền bỉ.
Chẳng
bao lâu Trưởng lão nhập Niết-bàn vì trận đòn của thợ
kim hoàn. Con ngỗng tái sanh vào bụng vợ thợ kim hoàn. Ông
bị đọa xuống địa ngục còn bà sanh lên cõi trời.
Các
Tỳ-kheo hỏi Thế Tôn về kiếp sau của họ, và được Phật
cho biết:
-
Các Tỳ-kheo! Chúng sanh trên thế gian, một số nhập thai lại,
người ác đọa địa ngục, người thiện lên cõi trời, còn
người hết lậu hoặc thì vào Niết-bàn.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(126)
Một số sanh bào thai,
Kẻ
ác sanh địa ngục,
Người
thiện lên cõi trời,
Vô
lậu chứng Niết-bàn.
11.
Ba Nhóm Tỳ Kheo
Không
trên trời, giữa biển...
Phật
đã dạy như thế tại Kỳ Viên, liên quan đến ba nhóm người.
Chuyện
hiện tại
11A.
Con Quạ Bị Cháy
Một
số Tỳ-kheo đến thăm Thế Tôn xong, rời tinh xá, vào làng
khất thực. Dân làng lấy bát, phân phối chỗ ngồi trong nhà
nghỉ và trong khi chờ dâng cúng, họ nghe pháp. Bỗng một ngọn
lửa phụt cháy dưới nồi cơm đang nêm xốt và cà-ri, bắt
lên mái tranh. Một nắm tranh cháy đỏ bung ra khỏi mái, bay
lơ lửng trên không. Một con quạ bay qua đâm cổ vào nắm
tranh ấy bị đốt cháy đến dòn rụm và rớt xuống đất.
Mọi việc xảy ra trước mặt các Tỳ-kheo, thật khủng khiếp.
Họ đồng lòng đến hỏi Thế Tôn xem kiếp trước con quạ
đã làm.
Chuyện
hiện tại
11B.
Người Ðàn Bà Bị Ném Xuống Biển
Một
nhóm Tỳ-kheo thứ hai đi thăm Thế Tôn trên một chiếc thuyền.
Ra giữa biển thuyền bỗng đứng lại không nhúc nhích. Hành
khách nghi có một tên xúi quẩy nên rút thăm xem là ai. Thăm
rơi trúng vợ thuyền trưởng là một thiếu phụ trẻ đẹp.
Họ đồng ý rút thăm lại, lần thứ hai rồi lần thứ ba
cũng là vợ thuyền trưởng. Hành khách nhìn thẳng mặt ông
hỏi ông bây giờ tính sao? Ông ra lệnh ném cô vợ xuống biển.
Cô thét lên kinh hãi vì quá sợ chết. Thuyền trưởng bèn
bảo tháo hết nữ trang, rồi vì không đủ can đảm chứng
kiến cô vùng vẫy trên mặt biển, ông bảo cột bình cát
vào cổ xong hãy ném. Khi thân cô chạm mặt nước, cá và rùa
bơi đến rỉa thịt cô. Ngoài Thế Tôn không ai biết được
kiếp trước cô đã là gì, vì thế các Tỳ-kheo trên thuyền
định sẽ hỏi Thế Tôn khi lên bờ.
Chuyện
hiện tại
11C.
Các Tỳ Kheo Bị Giam Trong Hang
Có
bảy Tỳ-kheo lên đường đi gặp Thế Tôn. Họ đến tinh xá
nọ vào buổi chiều. Lúc đó có bảy chiếc giường trong một
thạch thất, và họ ngủ trong đó. Ðêm khuya, một hòn đá
lớn bằng ngôi chùa lăn từ dốc bên kia xuống và bít lối
vào hang. Các Tỳ-kheo tại đó cùng với dân trong bảy làng
hợp lực hết mình cùng với Tỳ-kheo bên trong đẩy hòn đá
đi, nhưng không nổi. Suốt bảy ngày người bị nhốt đói
meo; đến ngày thứ bảy, thình lình hòn đá tự động lăn
khỏi miệng hang. Các khách tăng được trả tự do, họ chờ
gặp Phật để hỏi nguyên nhân.
Trên
đường đi, họ gặp hai nhóm Tỳ-kheo trước và chung đường
đến gặp Phật, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
Tuần tự mỗi nhóm xin Phật giải thích và được nghe Phật
kể:
Chuyện
quá khứ
11D.
Ðốt Cháy Một Con Bò
-
Này các Tỳ-kheo! Thuở xưa con quạ là một nông dân ở Ba-la-nại.
Anh cố hết sức điều khiển con bò nhưng nó đi một chút
lại nằm xuống, dù bị đánh. Anh nổi giận mắng nó:
-
Tốt lắm! Từ phút này, mày sẽ nằm lại đây cho vừa lòng
mày.
Anh
lấy rơm quấn hết thân con bò rồi mồi lửa. Bò bị cháy
đến dòn và chết ngay. Do hành động ác đó, anh ta chịu đau
đớn trong địa ngục rất lâu, sau đó vì nghiệp báo chưa
hết phải bảy lần liên tiếp làm thân quạ bị đốt cháy.
Chuyện
quá khứ
11E.
Dìm Chết Một Con Chó
Người
đàn bà này đã chịu đau đớn giống hệt một lần bà đã
gây cho kẻ khác. Xưa, bà là vợ một gia chủ ở Ba-la-nại.
Bà tự tay làm mọi việc trong nhà, từ lấy nước, giã gạo,
nấu nướng, với một con chó ngồi một bên. Ra ngoài đồng
gom lúa hay vào rừng nhặt củi, con chó cũng đi theo. Ðám thanh
niên thấy thế chọc ghẹo bà:
-
A! Ðây là thợ săn đi với con chó. Hôm nay chúng ta sẽ có
thịt ăn đấy!
Bực
mình, bà đánh chó, ném đá đất và đuổi nó đi. Nhưng chạy
đi một quãng, nó quay trở lại theo bà. (Trong kiếp trước,
con chó là chồng bà, do đó tình cảm của nó đối với bà
vẫn còn).
Bà
rất tức giận, nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Gom lúa đủ
dùng, lượm một sợi dây cột vào chéo áo, bà về nhà, con
chó vẫn lẽo đẽo theo sau. Lo bữa ăn cho chồng xong, bà lấy
cái bình không ra hồ nước. Ðổ cát đầy bình, bà nhìn quanh
và nghe tiếng chó sủa bên cạnh. Chó chạy đến, ngoắc đuôi
mừng rỡ vì tưởng bà sẽ vui vẻ với nó. Bà nắm chặt
cổ nó buộc vào một đầu dây, còn đầu kia cột bình nước,
quăng xuống hồ. Con chó bị bình kéo xuống nước chết ngay.
Hành động ác chín muồi, bà ta bị đọa rất lâu ở địa
ngục. Sau đó nghiệp báo chưa hết, nên trong một trăm kiếp
liên tiếp bà bị cột cổ vào bình cát ném xuống biển chết
chìm.
Chuyện
quá khứ
11F.
Giam Cầm Một Con Cắc Kè
Cũng
thế, này các Tỳ-kheo! Các ông phải chịu đau đớn y như
lần đã gây cho người khác. Xưa, bảy chú mục đồng ở
Ba-la-nại chăn một bầy gia súc từng đợt bảy ngày. Gặp
một con cắc kè khổng lồ, mấy chú đuổi theo, nhưng nó đã
nhanh chân chui vào ụ mối có bảy lỗ.
Mấy
chú đành chịu thua, nhưng họ sẽ trở lại. Ngày mai mấy
chú trở lại ụ mối, mỗi người lấy cây chà nhét bít mỗi
lỗ, xong lùa bò đi nơi khác. Bảy ngày sau, nhớ đến con cắc
kè, bảy chú mục đồng trở lại ụ mối moi lấy cây chà
ra, cắc kè bò ra ngoài chẳng kể sống chết, chỉ còn da bọc
xương, run lẩy bẩy. Bảy chú thương tình bảo nhau đừng
giết nó, và còn vuốt lưng chúc nó đi bình an. Do đó tuy bảy
chú không rơi vào địa ngục, nhưng mười bốn kiếp liên
tiếp thiếu thức ăn trong bảy ngày liền. Các Tỳ-kheo, các
ông là bảy mục đồng ấy, và đó chính là hành động xấu
ác mà các ông đã làm.
(Hết
Chuyện Quá Khứ)
Như
thế Phật đã trả lời câu hỏi của ba nhóm Tỳ-kheo, giải
thích cả ba chuyện đã xảy ra. Một Tỳ-kheo vẫn còn thắc
mắc, hỏi:
-
Bạch Thế Tôn, một người làm ác không thể nào tránh hậu
quả bằng cách bay lên không, lao xuống nước, hay trốn vào
hang núi sao?
Phật
đáp:
-
Này các Tỳ-kheo! Không thể tìm ra nơi nào để trốn tránh,
dù trên không, dưới biển hay trong lòng đất. Không nơi nào
trên thế gian này có thể thoát khỏi hậu quả của việc
làm ác.
Và
Ngài nói Pháp Cú:
(127)
Không trên trời, giữa biển,
Không
lánh vào động núi,
Không
chỗ nào trên đời,
Trốn
được quả ác nghiệt.
12. Suppabbuddha
Lăng Nhục Ðạo Sư
Không
trên trời, giữa biển...
Phật
đã dạy câu trên khi ngụ tại tinh xá Nigrodha liên
quan đến vua Thiện Giác (Suppabbuddha)
họ Thích.
Vua
Thiện Giác họ Thích không bằng lòng Thế Tôn vì Ngài đã
bỏ con gái ông đi tu. Rồi con trai ông được nhận vào Tăng
đoàn khiến ông hận thù thêm. Ông rắp tâm ngăn cản Thế
Tôn đi đến nơi mời Ngài thọ thực. Một hôm ông ngồi giữa
đường, uống rượu mạnh, đón Phật để cản đường. Ðược
loan tin Phật và Tăng chúng sắp đến, ông thản nhiên bảo:
-
Hãy bảo ông cứ đi đường ông. Ông không lớn hơn ta, ta
sẽ không tránh đường.
Thế
Tôn bị từ chối nhường đường nên quay trở về. Thiện
Giác sai bộ hạ do thám xem Thế Tôn có nói gì không. Khi quay
về, Trưởng lão A-nan hỏi Phật tại sao Ngài mỉm cười và
được Phật giải thích là vì vua Thiện Giác đã phạm lỗi
nặng khi không chịu tránh đường cho một vị Phật đi qua,
bảy ngày nữa nơi tầng trệt cung điện, ngay chân cầu thang,
vua sẽ bị đất nuốt. Tên bộ hạ nghe được liền về báo
lên vua. Thiện Giác vẫn còn căm hận nên quyết chứng minh
Thế Tôn là người nói dối.
Vua
cho mang hết các thứ cần dùng lên tầng cao nhất trong cung
điện bảy tầng, sai dẹp cầu thang qua một bên và đóng cửa
lại cài thanh ngang thật chắc, và có hai lực sĩ gác ở mỗi
cửa. Vua dặn họ:
-
Nếu ta có quên đi xuống, hãy làm ta trở lui.
Rồi
vua vào ở trong căn phòng lộng lẫy trên tầng lầu thứ bảy.
Thế Tôn nghe ông làm thế, bảo:
-
Các Tỳ-kheo! Vua Thiện Giác sẽ không được như ý trên tầng
lầu chót của cung điện. Dù ông ta bay lên trời, ngồi trong
thuyền ra biển, hay vào trong lòng núi, lời của chư Phật
cũng không thể nào sai chạy. Chắc chắn ông ta sẽ bị đất
nuốt như Ta đã nói.
Và
Ngài đọc Pháp Cú:
(128)
Không trên trời, giữa biển,
Không
lánh vào động núi,
Không
chỗ nào trên đời,
Trốn
khỏi tay thần chết.
Bảy
ngày sau, kể từ khi Thế Tôn bị cản đường, con ngựa chiến
của vua bị xổng chuồng ở tầng trệt chạy chung quanh và
đá vào tường này rồi đá vào tường khác. Vua đang ở tầng
cao nhất nghe náo động liền hỏi và được trả lời tức
thì. Ðến khi ngựa thấy vua, nó dịu xuống ngay. Vua muốn
bắt nó nên đứng dậy ra phía cửa. Ðúng lúc ấy cửa tự
động mở, thang trở về chỗ cũ, lực sĩ gác cửa túm cổ
ông ta ném xuống. Cũng y như thế cánh cửa của bảy tầng
lầu tự động mở, các cầu thang trở về chỗ cũ, và lực
sĩ gác cửa nắm cổ ông ném xuống. Khi vua chạm đến tầng
trệt, đại địa nứt ra nuốt sống ông ta và ông bị đọa
vào địa ngục A-tỳ.