| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
THUỶ SÁM
Nguyên
tác của ai không rõ, chỉ theo nội dung biết viết từ đời
Tống. Có 2 bài, nhưng chỉ bài này cần dịch mà thôi.
Ghi Chú (2) Có
chỗ giải thích là phung hủi.
Ghi Chú (3) Cũng
gọi là núi Cửu long hay Cửu lũng.
Ghi Chú (4) 36
vật, nguyên văn có kê đủ (mà tôi đã lược đi): tóc, lông,
móng, răng, ghèn, nước mắt, nước mũi, nước miếng, cáu
bẩn, mồ hôi, đại tiện, tiểu tiện, da ngoài, da trong, máu,
thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ miếng, mỡ nước, óc,
màng, lá lách, quả cật, tim, phổi, gan, mật, ruột, dạ dày,
đàm hồng, đàm trắng, sinh tạng, thục tạng.
Ghi Chú (5) Sarvajna:
nhất thế trí (toàn giác).
Ghi Chú (6) Từ
ngữ 7 thứ quí báu có 2: 1. thường nói nhất là vàng, bạc,
lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. 2. nói trong trường
hợp liên hệ Luân vương. Thì 7 thứ quí báu ấy là luân bảo
(xe quí) tượng bảo (voi quí) mã bảo (ngựa quí) châu bảo
(ngọc quí) nữ bảo (gái quí) chủ tạng thần bảo (đại
thần quí chủ về kho tàng) chủ binh thần bảo (đại thần
quí chủ về binh bị). Đoạn văn này nói về đức Bổn sư,
thì 7 thứ quí báu mà Ngài bỏ là cả 2 loại trên đây (vì
nếu Ngài ở đời thì là Luân vương). Nhất là đoạn văn
này không những nói về hiện tại của Phật mà còn có ý
nói đến sự tu Bồ tát hạnh của Ngài trong nhiều kiếp quá
khứ nữa.
Ghi Chú (7) Nguyên
văn là tạo tác vô đoan. Các bản chú thích nói vô đoan là
vô cùng (không đầu mối nào không làm), là bất chính, là
vô lối (có một cách hư vọng). Ý sau hết có nhiều nhất.
Ghi Chú (8) Nguyên
ngữ kinh Địa tạng là sinh tâm động niệm toàn là tội lỗi
(cử tâm động niệm vô phi thị tội). - Địa tạng, phẩm
7. Đại kinh (Niết bàn) thì nói động chân cất bước không
theo giới luật, làm sao không lỗi... nên thấy người làm
lành là thấy chư thiên, còn thấy kẻ làm ác là thấy địa
ngục đó. (Vạn 129/150a dẫn).
Ghi Chú (9) Đúng
nguyên văn thì phải dịch là Tịnh danh (Duy ma cật) ưa chuộng.
Tịnh danh là một trong các vị đại bồ tát.
Ghi Chú (10) Phiền
não, nghĩa đen là nóng bực. Phiền não bao quát tất cả tâm
lý tội lỗi và tâm trí sai lầm.
Ghi Chú (11) 7 lậu
là thuyết của Hoa nghiêm hiệp luận, 7 sử là thuyết của
Lăng nghiêm.
Ghi Chú (12) Sơ
hở, nguyên văn là lậu (rỉ lọt), vốn là một trong những
cái tên của phiền não.
Ghi Chú (13) Sát
nguyên văn thì phải dịch hạch rõ phải trái.
Ghi Chú (14) Nỗi
sợ hãi ấy là chết.
Ghi Chú (15) 2 chữ
cuồng tín trong 2 câu này, chữ thứ nhất nguyên văn là bằng
hiệp, dịch sát và rõ là cảm tình và phụ họa; chữ thứ
hai nguyên văn là tích bẩm, dịch sát và rõ là vâng mệnh
một cách bất thông.
Ghi Chú (16) Giác
quán (biết, xét) tân dịch là tầm tứ (tìm, dò).
Ghi Chú (17) Khó
chạm là khó đụng chạm đến. Không luyện là không thuần
hóa.
Ghi Chú (18) Công
kích, nguyên văn là kích thích (đánh đâm). Dịch sát ý nhất
là châm biếm, nhưng không đủ nghĩa bằng chữ công kích.
Còn tức giận thì nguyên văn là ngận lệ (tàn nhẫn, dữ
và bướng) dịch tức giận cho thuận nghĩa.
Ghi Chú (19) Tức
là 12 nhân duyên thuận lưu. Đối lại, nếu 12 nhân duyên nghịch
lưu, gọi là 12 nhân duyên ngược dòng sinh tử.
Ghi Chú (20) Nghĩa
là "không có thành trì bảo vệ, không có lương thiện ở
chung, chỉ có trộm lớn cướp nhỏ chiếm cứ đã lâu" (Vạn
129/168b).
Ghi Chú (21) Trích
khoa Chẩn tế.
Ghi Chú (22) 1.
Bản dịch này tham khảo cả bản dịch chưa nhuận sắc của
ngài Huyền tráng (Chính 8/851-852) và 2 bản giải của các ngài
Khuy cơ, Viên trắc (Chính 33/523-552). 2. Phạn tự của chú này
là Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha.
Ghi Chú (23) Bất
sinh diệt, nguyên văn là vô vi. Đứng lặng trong sáng, nguyên
văn là tịch chiếu. Siêu việt tứ cú, tuyệt cả bách phi
(xa 4 câu, tuyệt 100 lỗi) là hình dung sự bất tư nghị: không
thể nghĩ và bàn bằng những khái niệm đối tỷ của chúng
ta.
Ghi Chú (24) Không
giới: Vô sắc giới.
Ghi Chú (25) Sổ
tức quán, nguyên văn là An na bát na sổ tức. An na bát na:
Anapana: hơi thở ra hay vào. Tức là "trì niệm tức", và lịch
trình tu có 6 cách mới viên mãn (Câu xá luận, Chính 29/118).
Gọi là sổ tức quán, là có lẽ vì sổ (đếm hơi thở) đứng
đầu trong 6 cách. Có điều cần ghi nữa, là do sự khảo chứng,
A na bát na rất liên hệ với "Lục tự chương cú đà la ni",
tức là liên hệ đến việc niệm ngài Quan âm mà trì chú
để trừ độc hại (lục tự: 6 chữ, là vì niệm ngài Quan
âm mà trì chú thì thoát khổ 6 đường, được 6 diệu môn
và chứng công đức của 6 căn, chứ không phải số chữ của
chú có 6),lại còn liên hệ đến việc ngài A nan trì chú để
trừ chú của Ma đăng già. Tham chiếu Phật học đại từ
điển, trang 637d và 638t/g.
Ghi Chú (26) Đúng
ra thì phải để bất tịnh quán trước sổ tức quán, và
ở đây chỉ thấy nói 2 thứ này (Câu xá luận, Chính 29/118g).
Ghi Chú (27) Cọng
với 2 thứ nữa, và thứ tự như sau, gọi là ngũ đình tâm
quán: bất tịnh, từ bi, duyên khởi, lục giới, trì tức (Câu
xá Quang ký, Phật học đại từ điển trang 555).
Ghi Chú (28) 7 phương
tiện (hay 7 hiền, 7 da hành). Tôi xin kê thẳng sau đây, theo
nguyên văn luận Câu xá (Chính 29/116-121). Muốn đến Kiến
đạo vị (giác ngộ tứ đế) trước hết phải giữ giới,
rồi văn tư tu chánh pháp thuận với sự kiến đế (kiến
đạo). Văn là xét theo văn, tư là xét theo văn và nghĩa, tu
là xét theo nghĩa. Đó là giai đoạn 1, tạm gọi là phát tâm
muốn được kiến đạo. Qua giai đoạn 2 là thân khí thanh
tịnh (sạch sẽ khí cụ kiến đạo là bản thân) gồm có
thân tâm đều tách rời, thích đủ và ít muốn, và sống
theo 4 giống thánh. Thân tách rời là tách rời sự cư trú
hỗn tạp; tâm tách rời là tách rời sự nghĩ bậy. Thích
đủ là với đồ dùng đã có không ức vì không tốt không
nhiều; ít muốn là với đồ dùng chưa có không mong tốt mong
nhiều. Giống thánh là sinh ra các vì Thánh; 4 giống thánh là
không ham đồ mặc, đồ ăn và đồ nằm mà lại ham đoạn
ác tu thiện (4 thứ này, 3 thứ đầu nhắm bỏ đồ sống thế
tục, 1 thứ sau nhắm bỏ sự nghiệp thế tục). Qua giai đoạn
tu sửa khí cụ này rồi bước vào giai đoạn tu sửa chính
thức, mà 7 phương tiện là phần một, gọi là Da hành vị
(còn phần hai gọi là Kiến đạo vị, phần ba gọi là Tu đạo
vị). 7 phương tiện là tu bất tịnh quán (nếu tham mạnh)
hay trì niệm tức (nếu nghĩ nhiều), 1 trong 2 thứ này thành
là thành Xa ma tha (chỉ): đó là một. Rồi để được Tì
bát xá na (quán) thì tu tứ niệm xứ bằng 2 cách: Quán riêng
4 thứ thân thọ tâm pháp, là hai. Rồi từ pháp niệm xứ tổng
tạp (chung 2 đến 4 niệm xứ mà quán) quán cả 4 thứ đều
vô thường, khổ, không, vô ngã (gọi là 4 hành tướng) là
ba. Tiếp theo, khởi sự vẫn đặt chân từ pháp niệm xứ,
quán tứ đế bằng 16 hành tướng thì tuần tự thành 4 thiện
căn "thuận quyết trạch phần" là Noãn (thứ tư) Đảnh (thứ
năm) Nhẫn (thứ sáu) và Thế đệ nhất (thứ bảy). Điều
cần nói thêm, là trong 4 thứ sau (mà thông thường gọi là
4 Da hành hay 4 thiện căn), đến Noãn và Đảnh thì có thể
chuyển chủng tánh Thanh văn thành chủng tánh Bồ tát. Đến
Nhẫn thì hết chuyển được, vì Nhẫn không còn thoái đọa
ác đạo, mà Bồ tát thì phải vào đó mà lợi tha. Nhưng chủng
tánh Độc giác thì cả 3 đều chuyển được. Còn sự đốn
ngộ thì chỉ từ đệ tứ thiền, "một ngồi là giác ngộ"
(Chính 29/120-121). Xin nhắc lại, muốn rõ hơn những điều
lược ghi trên thì đọc xuất xứ trên. Tôi phụ chú điều
này hơi nhiều là có nhiều dụng ý, trong đó dụng ý chính
là để người sám hối thấy căn bản tu chứng rõ rệt là
gì.
Ghi Chú (29) Thế
nào gọi là thị tướng và bất thị tướng, chưa thấy ai
tìm được xuất xứ, do đó cũng chưa thấy ai giải thích
thỏa đáng. Nếu tin vào sự cẩn trọng của ngài Trí chứng,
thì "theo pháp mà tu, tám tướng rõ ràng, nên gọi là thị
tướng", và"tổng quán các pháp không, không pháp sở đắc,
nên gọi là bất thị tướng" (Vạn 129/172b). Nhưng nếu theo
ý này thì phải dịch: nổi cái phiền não làm cho chướng
ngại công hạnh tu học tám thứ chánh đạo là pháp thị tướng,
nổi cái phiền não ... bảy thứ giác chi là bất thị tướng.
Phần tôi chỉ xin tồn nghi.
Ghi Chú (30) Thói
quen ác nghiệp, nguyên văn dùng chữ kiết tập, là chỉ cho
phiền não loại huân tập.
Ghi Chú (31) Dịch
sát nguyên văn là làm sạch quốc độ, nhiếp hóa chúng sinh.
Nhưng câu này xuất từ nguyên ngữ "tịnh Phật quốc độ
thành tựu chúng sinh" trong Pháp hoa, nên dịch như vậy và ý
nghĩa vẫn một.
Ghi Chú (32) Nhất
xiển đề: dịch âm chữ Phạn Icchantika (kẻ thích sống trong
sinh tử). Tội của kẻ nhất xiển đề là ngoài 5 nghịch
tội của vô gián ngục, còn phủ nhận nhân quả và phỉ báng
Tam bảo. Nên nhất xiển đề là kẻ "ý nghiệp cực ác, bạn
ác phụ họa, tà kiến (kiến thức và chủ thuyết tà ngụy)
thượng mạn (kiêu ngạo bậc nhất), không sợ ác đạo (địa
ngục vân vân) không tâm trắc ẩn (mất hết lương năng)"
(Vạn 129/176a). 5 nghịch tội là hại cha, hại mẹ, hại La
hán, phá tăng chúng hòa hợp, làm đổ máu thân Phật. 5 thứ
này lại còn 2 loại nữa, là 5 nghịch tội riêng của đại
thừa và 5 nghịch tội đồng loại. (Tham chiếu Phật học
đại từ điển, trang 539-540).
Ghi Chú (33) 6 ngày
ăn chay hằng tháng: mồng 8, 23; 14, 29 (hoặc 28); rằm, 30 (hoặc
29). 3 tháng ăn chay hằng năm: giêng, năm, chín.
Ghi Chú (34) 8 tiết
là lập xuân, xuân phân; lập hạ, hạ chí; lập thu, thu phân;
lập đông, đông chí.
Ghi Chú (35) Luật
ác, nguyên văn là ác luật nghi, đúng nghĩa là giới luật
ác, tức nguyện làm ác. Tuân theo kỷ luật ác cũng là loại
này. Trái với ác luật nghi là thiện luật nghi, là giới luật
Phật chế.
Ghi Chú (36) Đoạn
này nguyên văn không rõ, giải thích cũng không thấy được
vừa ý. Nguyên văn là"thường lạc diệu trí, bát tự tại
ngã". Theo ý ngài Trí chứng (Vạn 129/179a) thì cả 2 câu này
chỉ nói về 4 đức thường lạc ngã tịnh: Thường lạc là
thường và lạc, Diệu trí là tịnh, Bát tự tại là ngã.
Đó là ý kiến xứng đáng nhất. Phần tôi, khi dịch"bốn
đức thường lạc" là 4 đức thường lạc ngã tịnh,"bốn
thứ diệu trí" và"tám tự tại ngã" là tách ra, dịch cho đủ
các đức của Phật. Chú thích: 4 diệu trí là thành sở tác,
diệu quán sát, bình đẳng tánh, đại viên cảnh. 8 tự tại
ngã dễ nhớ và tra.
Ghi Chú (37) Xuất
xứ: kinh Niết bàn. Trọn lời là "Tất cả đều sợ khí giới
gậy gộc, hết thảy các loài đều thích sự sống, tự tha
..." (Vạn 129/179a dẫn). Pháp cú cũng nói như vậy,"Tất cả
mọi loài đều sợ chết chóc, ai cũng sợ hãi cái đau gậy
gộc, tự tha ..." (Chính 4/565g).
Ghi Chú (38) Thực
phẩm khác, các bản chú thích đều nói khác là khác với
thịt cá, tức rau trái. Văn khí thì cũng vậy. Nhưng thiển
ý thấy tuồng như chỉ cái gọi là 3 thứ tịnh nhục. Ăn
thịt con trong thời đói là có lúc và có nơi, khi đói, đã
đổi con cho nhau mà ăn. Huống chi ăn ngay thịt cá là ăn thịt
cá tức ăn người thân của mình.
Ghi Chú (39) Đặt
máy nguyên văn là bát. Có lẽ là bẫy. Dịch là máy, là theo
Vạn 129/180b.
Ghi Chú (40) Nhất
là dùng đạn, dịch như vậy là theo ý ngài Trí chứng (Vạn
129/180b). Ngài nói rõ đời ngài đạn đã làm bằng đất,
đá, chì và sắt. Tôi theo ý ngài, vì đạn là vật mà xưa
nay, nhất là nay, là khí giới đi liền với sát sinh nhất.
Dẫu rằng, theo nguyên văn, chữ đạn ở đây phải đọc là
đàn, đi đôi chữ xạ, chỉ có nghĩa là bắn (bằng cung nỏ).
Để bắt để đâm là tôi thêm, tả cho hết cái dụng của
những khí giới đã kê.
Ghi Chú (41) Bò,
gồm có trâu.
Ghi Chú (42) Mai,
nguyên văn là giáp, nghĩa là vỏ. Nhưng tiếng ta nói vỏ ốc,
vỏ trai, còn rùa thì lại nói là mai. Vậy phải hiểu mai là
cả vỏ nữa.
Ghi Chú (43) Biên
giới, nguyên văn là cương dịch (không phải cương trường).
Cương là bờ cõi khu lớn. Dịch là bờ cõi khu nhỏ.
Ghi Chú (44) Sát
thì câu này chỉ dịch vung mác múa giáo là đủ, nhưng đủ
nghĩa đen mà không đủ ý nghĩa.
Ghi Chú (45) Nguyên
văn chữ phẩn, ở đây nghĩa là dọn bỏ đi, không phải nghĩa
là phân.
Ghi Chú (46) Có
chỗ nói rau tươi là thái, rau khô là như (Vạn 129/181b). Nhưng
tự điển là rễ. Các thứ củ cũng cùng loại.
Ghi Chú (47) Trong
đoạn này, ngoài những ác nghiệp sát sinh quá quắt, có một
số vô ý hay không thể tránh, khó tránh. Nhưng mà như thế
không phải là vô tội. Thế giới chung của ta và loài vật
là thế giới nghiệp quả, là kết quả của ác nghiệp, nên
làm khổ lẫn nhau, sống cho được mà tránh cho được tội
lỗi là điều không dễ. Nhưng chính điều này cho thấy càng
không dễ tránh thì càng phải cố mà tránh.
Ghi Chú (48) Sát
thì phải dịch ngựa, lừa, loa, lạc đà.
Ghi Chú (49) Tăng
man: dịch âm chữ Phạn. Dịch ý là đối diện thí: hiện
tiền đối diện mà cúng dường.
Ghi Chú (50) Chu
toàn, nguyên văn là châu triền, ngài Trí chứng nói chiều
chuộng bảo toàn (Vạn 129/184a) ngài Đế nhàn nói thân thiện
vãng lai (Đn 10/1135).
Ghi Chú (51) Lãnh
giao hàng hóa, nguyên văn là bác hóa, nghĩa đen là thông thương
hàng hóa, chỉ cho những cách làm trung gian trong việc thương
mãi mậu dịch.
Ghi Chú (52) Đấu, khuê, cáp: là đồ đong. Phân và thù là đồng cân. Ghi Chú (53) 4 loài,
nguyên văn là tứ sinh. Không rõ tứ sinh ở đây có phải sinh
bằng thai, bằng trứng, bằng thấp khí và bằng biến hóa,
hay không. Hay chỉ có nghĩa là mọi người mọi vật.
Ghi Chú (54) Đúng
ra thì phải gọi là trì tức niệm: nghĩ nhớ về hơi thở.
Coi chú thích số 25.
Ghi Chú (55) Nguyên
văn là 16 hành quán. Nhưng gọi 16 hành tướng mới đúng (Chính
29/119). Xuất xứ này cũng kể rõ 16 hành tướng ấy. Lại
xin coi chú thích số 28.
Ghi Chú (56) Gió
xoáy đất linh là tin gió có thần (mới xoáy) và đất có
quỉ (mới linh). Ở đây ý nói thần gió thần đất đều
đến.
Ghi Chú (57) Đen,
đúng ra là đen huyền. Xanh, phải nói là xanh lục. Đỏ, đúng
ra là son. Tía, có 2: đỏ tía, tía tím.
Ghi Chú (58) Tiếng
căn bản nhất, nguyên văn là cung. Tiếng trong thanh nhất, nguyên
văn là thương. Căn cứ để dịch: Vạn 129/189a. Đó là 2 tiếng
đại diện cho tất cả âm thanh của nhạc.
Ghi Chú (59) Cơ
thể, nguyên văn là tứ đại. Tứ đại là thân. Tứ đại,
hay tứ đại chủng, có 2 loại. Loại thế tục (theo sự biết
phổ thông, không chính xác) là đất nước gió lửa ta thường
nói. Loại thắng nghĩa (nghĩa chính) là kiên (cố thể: thể
cứng) thấp (dịch thể: thể lỏng) noãn (nhiệt lực: sức
nóng) động (động lực: sức động).
Ghi Chú (60) Hai
tướng, nguyên văn là nhị tướng. Nhị tướng, nghĩa đen
nói hai tướng có lẽ không đúng bằng nói tướng hai. Thông
thường cắt nghĩa nhị tướng là có + không, vân vân. Thật
ra nhị tướng chính là khái niệm (tướng) mà thực chất
là phân biệt đối chiếu (nhị). Tôi nói cái này là ngòi
bút, thì cùng lúc đã có nghĩa tất cả cái khác không là
ngòi bút ấy: như vậy là nhị tướng. Nói có, có nghĩa không
phải có. Nói không cũng vậy. Nói một, có nghĩa không phải
một. Nói hai cũng vậy. Hãy nhớ và tìm hiểu đoạn văn "hễ
có là Văn thù thì tất có không là Văn thù, trong khi Văn thù
thật Văn thù, không phải là và không là" của kinh Lăng nghiêm
thì rõ. Do đó, bất nhị tướng là siêu việt khái niệm phân
biệt đối chiếu ấy.
Ghi Chú (61) Đầu
trục là vì xưa, kinh viết rồi cuốn lại như bức tranh (nhưng
ngắn và viết ngang). Nay đổi ra sách thì đầu trục thay bằng
bìa: đầu trục hỏng là bìa hỏng.
Ghi Chú (62) Nguyên
văn vãn thoát lậu ngộ, nghĩa đen là kéo, rơi, sót, lầm,
toàn là nói sự lấy bất cẩn. Nhưng ngài Trí chứng nói thêm,
sót và lầm cũng còn có thể viết sót và lầm (Vạn 129/192b).
Ghi Chú (63) 5 pháp,
có 2 thuyết: 1 của ngài Trí chứng, coi Vạn 129/194a; 1 của
ngài Đế nhàn, coi Đn 10/1179.
Ghi Chú (64) Đủ
và sát thì phải dịch: lụa quí, tơ màu, mọi thứ châu báu,
chuỗi ngọc, trăm ngàn nhạc khí và âm nhạc, hương quí, lạ
và nổi tiếng, hoa trái tươi tốt, cùng tận thế gian, đồ
gì quí nhất thường đem cúng dường.
Ghi Chú (65) Ăn
sống thịt cá, nguyên văn là sinh cầm. Tự điển thì cầm
là nem: sinh cầm là nem sống. Cầm cũng có nghĩa thịt thái
nhỏ. Dịch ăn sống thịt cá (ăn gỏi) là theo ngài Đế nhàn.
Ghi Chú (66) Sát
nguyên văn thì phải dịch xuất ra thu vào đều tính lợi tức,
tính giờ tính ngày (chứ không phải chỉ tính tháng, trội
ít ngày cũng không kể). Ngài Đế nhàn lại nói cho mượn
một buổi tính bằng một ngày.
Ghi Chú (67) Duyên
lành, (thiện duyên) là những yếu tố tốt. Trong đó, thiện
tri thức (hay thiện hữu) là một yếu tố quan trọng, nên
có lúc từ ngữ này cũng được dịch là bạn hiền.
Ghi Chú (68) Nguyên
văn "phi không phi hải trung, phi nhập sơn thạch gian, vô hữu
địa phương sở, thoát chi bất thọ báo", có bản đổi chữ
thạch ra chữ thị. Nếu chữ thị thì dịch như đã dịch
là được. Nhưng ngài Trí chứng nói cả 2 Tạng mà ngài đối
chiếu, đều viết thạch (Vạn 129/197b). Đại tạng kinh cũng
viết như vậy (Chính 45/976b). Ngài lại còn kê 4 chỗ là không,
bể, núi và đất, và nói bài kệ này dẫn kinh Bà là môn
tị tử. Tra cứu thì kinh này là số 131 của Đại tạng (Chính
2/854). Kinh này là dị dịch của kinh số 4 phẩm 31 của Tăng
nhất a hàm (Chính 2/688) tại đây kê rõ 4 nơi là bay ở trong
không gian, vào tận đáy biển cả, vào trong lòng núi lớn
(Tu di sơn), xuống tận đáy đất sâu (Kim cang tế), lại còn
nói thay vì trốn mà không khỏi cái chết ở 4 nơi ấy, hãy
tư duy tu 4 pháp sau đây thì thoát chết: vô thường, khổ,
vô ngã, niết bàn. Nhưng trong kinh Pháp cú có đến 2 chỗ nói
về lời này: Chỗ thứ 1 nói"phi không phi hải trung, phi nhập
sơn thạch gian, vô hữu địa phương sở, thoát chi bất thọ
tử" (Chính 4/559g). Chỗ thứ 2 nói"phi không phi hải trung, phi
ẩn sơn thạch gian, mạc năng ư thử xứ, tị miễn túc ác
ương" (Chính 4/565t). Pháp cú thí dụ kể trường hợp của
2 lời này. Trường hợp thứ 1 là 4 anh em Phạn chí có thần
thông, bàn nhau kẻ vào bể cả, kẻ vào núi tu di, kẻ ẩn
mình trong hư không, kẻ lẫn mình trong chợ lớn, để trốn
tử thần, nhưng đã không trốn khỏi (Chính 4/567). Trường
hợp thứ 2 là ngài Mục liên dùng thần lực cứu người nước
Xá di, mong khỏi sự báo thù của Lưu ly vương, mà cũng không
khỏi được (Chính 4/590). Có lẽ xuất xứ Pháp cú thí dụ
mới là nguyên văn mà Thủy sám trích dẫn, và viết thạch
đúng hơn thị, nhưng ý và việc lại thiếu, nên có lẽ chính
tác giả Thủy sám đã đổi thạch ra thị. Vì cuối cùng đã
đổi tử ra báo (cho ăn với chỗ này nói về khổ báo), lại
thêm 1 câu đầu (không phải chỉnh cú) và 2 câu cuối (chỉnh
cú, để nói luôn về sức mạnh sám hối, rất thuận văn
khí).
Ghi Chú (69) Câu
này cũng có thể dịch... đã dự bị trước mà chờ đợi
ta ...
Ghi Chú (70) 5 thiên
sưắ, ngài Trí chứng dẫn luận Bà sa mà nói (Vạn 129/198a),
đáng chú ý hơn lời giải thích của ngài Đế nhàn. Nhưng
thông thường thì 5 thiên sứ là sinh, lão, bịnh, tử và vương
pháp (tức luật pháp). 5 thứ này được Diêm vương gọi là
thiên sứ, đem hỏi tội nhân mới đọa địa ngục, có mục
kích không: đã mục kích mà không cảnh giác tu hành thì phải
trị. Bản kinh nói về việc này đề là Diêm la vương ngũ
thiên sứ giả, mang số 43 (Chính 1/828). Tăng nhất a hàm, kinh
này là số 4, phẩm 32 (Chính 2/674), nhưng rõ nhất là Trung
a hàm, số 64 (Chính 1/503). Đoạn văn trên đây, theo ngu ý,
nói đến 2 sự vô thường. Vô thường có 2: 1. biến đổi
luôn, gọi là sát na vô thường (sinh lão bịnh tử chỉ là
biểu lộ rõ rệt của sự vô thường này); 2. biến đổi
hẳn, gọi là nhất kỳ vô thường (tức là chết, nghĩa là
sinh, nếu còn nghiệp). Quỉ sát nhân vô thường là chết,
tức nhất kỳ vô thường, nên vô thường cũng gọi là chết.
Ghi Chú (71) Rõ
và đúng thì phải dịch "những đồ trang sức quí giá bằng
bảy thứ trân bảo,thì thành ra đồ thưởng ngoạn của kẻ
khác".
Ghi Chú (72) Nguyên
văn thiết ma, nghĩa là sắt mài. Những chữ ma một âm là
má, là cối xay bằng đá. Thiết ma nên đọc thiết má: cối
xay bằng sắt. Đọc thiết ma và dịch sắt mài cũng không
trái nghĩa.
Ghi Chú (73) Giây
đen (hắc thằng) là trước dùng giây đen đo lường các bộ
phận của cơ thể rồi chặt cưa (Câu xá luận cuốn 8, coi
Phật học đại từ điển trang 1066d). Ngài Trí chứng nói
loại như cực hình phân thây của thế gian (Vạn 129/200a).
Ghi Chú (74) Câu
này không rõ: tội nhân làm thân cầm thú mà hại nhau?
Ghi Chú (75) Bị
thui, nguyên văn là bào, chính nghĩa là bọc lại mà nướng.
Ghi Chú (76) Họp
chung (chúng họp) là nhiều hình cụ xúm lại mà hại (Câu
xá luận cuốn 8, coi Phật học đại từ điển trang 1066d).
Tai đen (hắc nhĩ),"là nhiều hình cụ họp chung, không hở
một chút, nên tai mắt đều đen tối", đó là lời giải thích
của ngài Trí chứng (Vạn 129/200a).
Ghi Chú (77) Nóng
bức oán kêu, nguyên văn là phiền oan. Ngài Trí chứng nói
phiền là nhiều, oan là ức (Chính 129/200b). Nếu theo ý kiến
này thì phải dịch lắm điều oan ức. Nhưng ngài Trí chứng
lại nói nóng cháy (tiêu nhiệt) là viêm nhiệt địa ngục,
kêu gào (khiếu hoán) là hào khiếu và đại khiếu địa ngục
(Chính 129/200ab). Căn cứ vào đó mà tra (Câu xá luận cuốn
8, Phật học đại từ điển trang 1066d) thì viêm nhiệt là
lửa theo mình bốc lên, bùng cháy khắp cả, nóng không chịu
nổi; hào khiếu là đau quá mà phát ra tiếng thét gào oán
kêu (oán, không phải oan). Như vậy, phiền oan (oán?) phải
dịch nóng bức oán kêu.
Ghi Chú (78) Là
4 trong 8 địa ngục cực lạnh, và là dịch âm của kinh Niết
bàn cuốn 11, nhưng thứ tự là a ba ba, a tra tra, a la la, a bà
bà. Mới đọc, thấy như tất cả đều hình dung những tiếng
phát ra vì lạnh. Nhưng đúng ra thì trong 8 địa ngục cực
lạnh, chỉ 3 thứ giữa mới là những cái tên hình dung những
tiếng phát ra vì lạnh: thứ 3, a la la: atata; thứ 4, a bà bà:
apapa; thứ 5, hầu hầu: hahadhara (dịch âm của ngài La thập,
Trí độ luận cuốn 16, coi Phật học đại từ điển trang
1067tg).
Ghi Chú (79) Nguyên
văn là vô thượng đạo tâm. Đạo: bồ đề (tuệ giác). Đúng
thì phải dịch tâm chí mong cầu tuệ giác vô thượng (vô
thượng bồ đề: vô thượng đạo).
Ghi Chú (80) Rõ
thì câu này phải dịch mình có nhiều lông, nhiều lông cánh,
nhiều vảy, có mai (hay vỏ), bị các loài trùng nhỏ xúm lại
rúc vào rứt rỉa mà ăn. Chữ siệp (đọc tiệp thì nghĩa
khác) tả 2 dáng: xúm ăn và rứt ăn.
Ghi Chú (81) Rõ
thì phải dịch "ăn sống máu thịt, chịu thân xấu xí".
Ghi Chú (82) Rõ
thì phải dịch "diệt trừ nhơ bẩn của sự ngu si".
Ghi Chú (83) Được
ngồi bồ đề tràng (đạo tràng) nghĩa là được thành Phật.
Ghi Chú (84) Nguyên
văn nhiều bản không có chữ sở trí. Đại tạng kinh cũng
vậy (Chính45/987t). Có chữ đó thì có nghĩa"nguyên nhân là
vì dư báo", không thì có nghĩa "chính đó là dư báo". Nghĩa
sau đúnghơn.
Ghi Chú (85) Họa
thừa oán cũ, nguyên văn là lưu ương túc đối. Dịch như
vậy là theo ý ngài Trí chứng (Vạn 129/2036). Ý này đáng theo
hơn cả. Và theo ý này thì tai họa và oán thù mà hiện tại
tuy không gây nhưng vẫn bị, là dư báo.
Ghi Chú (86) Nguyên
văn "canh tương la nhiễm, canh tương vu báng". La, nghĩa đen
là bị, cũng có nghĩa là lưới, võng. Nhiễm, ở đây nghĩa
là lây, hay nhuốm bẩn. Vậy canh tương la nhiễm có thể dịch
làm bị họa lây với nhau, cũng có thể dịch bao vây và vấy
bẩn lẫn nhau (ý này của ngài Trí chứng, Vạn 129/204a). Còn
canh tương vu báng là vu cáo và phỉ báng lẫn nhau. Ấy là
dịch cho sát và rõ. Và như thế là tả cái thế giới miệng
lưỡi của loài người.
Ghi Chú (87) Nguyên
văn "đông ôn hạ dịch, độc lệ thương hàn". Ôn dịch là
những bịnh truyền nhiễm. Đông, hạ, là nói những bịnh
trên đây là do thời khí. Còn lệ thì ngoài nghĩa sốt rét,
còn có nghĩa là hủi, lở.
Ghi Chú (88) Sát
thì phải dịch "chim kêu báo hiệu cả trăm việc kỳ quái,
thây chết nhảy đựng, ma quỉ lếu láo, ngụy tạo những
trò yêu dị".
Ghi Chú (89) Sấu
là tôi thêm. Nhưng nguyên văn sau cọp còn nói beo, lang sói.
Ghi Chú (90) Sát
thì phải dịch "y phục cùng những vật dụng để sống".
Ghi Chú (91) Đủ
thì phải dịch, "đi lại ra vào, có hoạt động gì thì gặp
những người quen xấu tìm cách làm trở ngại".
Ghi Chú (92) Lời nguyện này viết hơi tắt. Nói cho rõ thì phải có 2: Một, nguyện đời này chết rồi thì vãng sinh Cực lạc, sau đó trở lại Ta bà, thấy đức Từ tôn để vừa nghe pháp mà tiến tu thêm, vừa giáo hóa chúng sinh mà hoàn thành đại nguyện. Hai, nếu chưa được vãng sinh Cực lạc ngay sau khi chết, thì nguyện ít ra, tương lai sau nữa cũng được nhìn thấy Từ tôn, nghe pháp mà tiến tu. Lời nguyện này để ngoại lệ những người cầu nguyện đời này chết rồi thì vãng sinh Đâu suất tịnh độ, thấy đức Từ tôn, và sau đó cùng Ngài sinh xuống thế giới này. |
c
|
|||||||||||||||||||||||