GẶP
GỠ GIỮA KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO
Phan
Tấn Hùng
Cuộc
gặp gỡ giữa khoa học thời đại và Phật giáo, được xem
là bắt đầu từ thập niên 30, với những tên tuổi như N.
Bohr, A. Einstein..., đã đem đến nhiều điều bổ ích cho kiến
thức thời đại từ mấy năm vừa qua. Trong quyển Passerelles
- Entretiens avec le Dalaĩ-Lama sur les sciences de l'esprit (Cầu nối
- Ðàm luận với Ðạt-lai Lạt-ma về các khoa học tâm thần),
Jeremy W. Hayward viết : "Những người
(rất ít) vừa có kiến văn khoa học vừa có nghiên cứu Phật
giáo đều nhận thấy có nhiều điểm chung, trong những cách
tiếp cận vấn đề và những phương pháp của khoa tâm thần
học này và của khoa học. - cả hai phía, người ta không chấp
nhận đức tin mù quáng và khảo sát mọi sự mọi việc trong
ý hướng siêu vượt mãi những tiền kiến cá nhân."(1)
Cuộc
gặp gỡ Ðông-Tây này đang là niềm hy vọng của nhân loại.
Nhưng vấn đề của chúng ta là phải có mặt cách tích cực
trong cuộc gặp gỡ này. Chúng ta có thể bắt đầu từ chỗ
khảo sát những điểm giống và khác nhau giữa khoa học hiện
đại và Phật học.
I.
Sơ lược về tiến trình trở thành của kiến thức khoa học.
Sau
sự suy tàn của hai nền văn minh Hylạp và Rôma, từ thế kỷ
thứ 4 đến thế kỷ thứ 10, châu Âu chìm đắm trong thời
kỳ được nhiều sử gia gọi là đen tối (ténèbres). Kiến
thức huy hoàng của hai nền văn minh Âu châu nói trên bị thu
cất trong những tu viện Catô giáo. Âu châu bị ngự trị bởi
quan niệm của tôn giáo có nguồn gốc Trung Ðông này, cho rằng
thế gian là ghê tởm và có một thế giới khác được gọi
là 'Vương quốc của các Tầng Trời' (Royaume des Cieux). Sau
đó, vào đầu thế kỷ 11, Âu châu bắt đầu thức dậy, nhờ
phần lớn nơi việc khám phá lại những tài liệu cũ của
văn minh Hylạp, nhất là của Aristote. Một trong những hậu
quả của việc đọc lại triết học của Aristote là người
Âu châu bắt đầu tìm thấy lại nền văn minh truyền thống
của mình, bắt đầu nhận định lại thế gian có những thực
tại riêng của nó, những phương cách và những qui luật vận
hành riêng, mà con người có thể hiểu được nếu biết sử
dụng tốt khả năng quan sát của giác quan và khả năng suy
luận của lý trí. Người Hylạp có khả năng quan sát thiên
nhiên rất tinh tế, nhưng vào thời đó người Âu châu hoàn
toàn tin tưởng nơi những tài liệu xưa vừa tìm thấy lại
và xem đó như là nguồn của mọi kiến thức. Họ chỉ biết
học lại bằng cách sao chép nguyên bản, thay vì học cách
quan sát thiên nhiên của người xưa. Từ đó sinh ra sự đối
đầu giữa hai loại đức tin : một bên là tin nơi một thiên
quốc (royaume céleste), có thể nhận biết được bằng đức
tin và mặc khải, với bên kia là tin nơi một địa quốc (royaume
terrestre), có thể nhận biết được bằng giác quan và lý
trí.
Cuộc
tranh luận kéo dài, nhưng nhờ cả hai, trên thực chất, đều
xây nền trên quan điểm xác định (hay thường hằng) về
vũ trụ nên, vào thế kỷ 13, Thomas d'Aquin đã có thể tổng
hợp được hai quan niệm và hai thế giới nói trên, đưa đến
lý thuyết về một vũ trụ với trái đất nằm ở trung tâm,
bao quanh bởi 9 vòng cầu là nơi di động của các hành tinh,
với vòng cầu thứ 10 ở xa hơn và bất động (ổn định)
là nơi cư ngụ của Thiên Chúa. Trừ vòng cầu nơi Mặt Trăng
di động, 8 vòng cầu kia được xem gần như hoàn chỉnh, vì
ở đó các hành tinh di động chậm và đều hơn. Dưới cùng
(ở trung tâm) là địa quốc, hoàn toàn không ổn định và
không hoàn chỉnh, vì Trái Ðất được cấu thành bằng đất,
chất liệu nặng nhất, kế đến là nước, khí và lửa. Vì
nằm trong khung cảnh bất ổn của Trái Ðất, các chất liệu
này đều không được nằm ở vị trí ổn định tự nhiên
của chúng, và tất cả luôn tìm mọi cơ hội để trở về
vị trí ổn định tự nhiên; điều này giải thích sự hổn
loạn, sự di động không đều; và cũng giải thích vì sao
đá rơi xuống và lửa bay lên, khi không có gì kìm giữ. Thế
là tư tưởng của Aristote được hội nhập vào chủ thuyết
của Giáo hội Catô giáo. Và tổng hợp đề của Thomas d'Aquin
này trở thành tư tưởng nền tảng của Âu châu thời trung
cổ.
Nhưng
ngay khi Thomas d'Aquin đưa ra tổng hợp đề của ông, những
nhà thông thái khác đã khai quật ra được, từ những tài
liệu của Aristote, một số nghịch lý. Các nghịch lý này,
khoảng 3 thế kỷ sau, trở thành mần móng làm sụp đổ toàn
bộ hệ thống tư tưởng Âu châu thời trung cổ. Vào thế
kỷ 16, Galilée muốn kiểm nghiệm lại quan điểm của Aristote,
dù đó là những điều mà người đồng thời của ông cho
là chân lý. Theo Aristote, mọi vật đều rơi, nhưng với nhiều
vận tốc khác nhau tùy theo trọng lượng của mỗi vật. Galilée
muốn kiểm nghiệm định luật này. Ông thử cho lăn trên một
mặt phẳng nghiêng nhiều viên tròn có độ lớn bằng nhau
nhưng có trọng lượng khác nhau; và ghi nhận rằng tất cả
đều lăn với cùng một vận tốc như nhau (cùng khoảng cách,
với cũng thời gian). Thế là định luật cho rằng : "vật
càng nặng càng rơi nhanh hơn, vì chúng tìm về vị trí của
chúng ở trung tâm vũ trụ" bị phủ nhận.
Cũng
vào thời đại đó, người ta vừa chế tạo được lần đầu
tiên loại kính lồi cho phép thấy xa. Galilée thiết lập một
viễn vọng kính. Ông nhìn Mặt Trăng, và thấy nó có nhiều
lồi lõm; ông dò sát Mộc tinh, và thấy các vệ tinh (một
loại Mặt Trăng) của nó luôn thay đổi vị trí. Kết quả
quan sát thực tế này làm cho mô hình nền tảng về sự vận
hành của các thiên thể, theo đó Mặt Trăng và Mộc tinh phải
hoàn hảo vì là thành phần của thiên quốc, bị đặt thành
nghi vấn; tức là chủ thuyết của Giáo hội Catô giáo, của
Aristote và của Thomas d'Aquin bị nghi ngờ.
Cùng
năm 1642 khi Galilée mất, Isaac Newton ra đời. Newton cho rằng
Trái Ðất vận hành theo cùng một qui luật với sự vận hành
của Thiên giới, xung quanh Mặt Trời. Tức là, không như trong
thế giới của Aristote với vai trò của một Thiên chúa và
một linh hồn là cần thiết, trong thế giới của Newton các
hành tinh vận hành tự động cách cơ học, theo vài định
luật nền tảng được viết dưới dạng những phương trình
toán học và không hề có sự tham dự của một Thiên Chúa
nào đó.
Suốt
hai thế kỷ sau Newton, mãi đến cuối thế kỷ 19, quan điểm
xác định của hệ thống tư tưởng được sinh ra bởi Galilée
và Newton hoàn toàn được tin tưởng và thành công. Trong vật
thể học (physique, dành chữ 'vật lý học' cho physiologie) và
hóa học, tức trong lãnh vực của những đối tượng nghiên
cứu không phải là sinh vật, nhiều sự kiện được giải
thích nhờ lý thuyết của Newton, và người ta thực hiện được
nhiều thành quả như ý. Trong sinh học, được thành hình từ
thế kỷ 18, người ta cũng tin rằng sinh vật được tạo thành
bởi những tế bào (cellules) và chức năng sinh học của nó
cũng dựa trên hoạt động của những đơn vị nhỏ cơ bản,
tức cũng xây dựng trên một loại lý thuyết nguyên tử. Ðến
thế kỷ 19, cũng từ cái nhìn tự động và cơ học của Newton,
Charles Darwin xây dựng thuyết tiến hóa, cho rằng, trên thời
đoạn rất dài, những sinh vật đơn giản và thô thiển tự
động phát triển cách tự nhiên, không cần đến sự hướng
dẫn của một sức mạnh thần bí nào cả, để trở thành
những sinh vật ngày càng phức hợp và thông minh hơn. Cũng
có nghĩa là, trong sự tạo thành loài người, vai trò của
Thiên Chúa không còn cần thiết nữa. Từ đó đưa đến cuộc
đối đầu gay gắt giữa những tín đồ trung thành Kytô giáo
với những môn đồ của thuyết tiến hóa; và cuộc đối
đầu vẫn còn tiếp diễn.
Tóm
lại, kể từ Newton đến đầu thế kỷ 20, kiến thức khoa
học phát triển không ngừng, và phát triển trong lòng cuộc
tranh luận rộng lớn giữa một bên là quan điểm Kytô giáo,
với một Thiên Chúa là Ðấng Sáng Tạo, và bên kia là quan
điểm khoa học. Sự tin tưởng nơi kiến thức khoa học tăng
mãi, không ngừng làm giảm nhẹ vai trò của Thiên Chúa. Nhưng
sự tin tưởng này có phần hơi bị giản lược hoá, xây dựng
trên tư tưởng về sự có thật của một thế giới hoàn
toàn khách quan, chỉ gồm không gian, thời gian và những hạt
vật chất. Khoa học trở thành một loại đức tin chủ đạo,
ở Tây phương trước, rồi lan ra toàn thế giới, cho rằng
khoa học thực sự có khả năng tìm thấy chân lý của thế
giới thực tại.
Ðến
nay đức tin này tuy vẫn còn tiếp diễn, ít ra ở trình độ
đại chúng, và cả ở một bộ phận không nhỏ trong giới
khoa học không suy nghĩ nhiều về những gì họ làm, nhưng
cũng đã giảm bớt nhiều, vì từ những năm 20, thuyết tương
đối rồi sự phát triển của 'cơ học lượng tử' (mécanique
quantique) đã từng đợt phá mòn dần những nguyên lý nền
tảng của thuyết Newton cổ điển và đã đặt lại nghi vấn
trên khả năng nhận biết gọi là hoàn toàn khách quan của
người nghiên cứu, chưa kể đến những khám phá của các
ngành khoa học mới, như 'tâm lý học về sự biết' (psychologie
cognitive), 'thần kinh học' (neuroscience), 'di truyền học', 'sinh
học bào tử' (biologie moléculaire) v.v...
II.
Phương pháp nghiên cứu.
Trước
nhất, trên bình diện phương pháp luận (méthodologie, và chưa
nói đến những khác biệt trong cách thực hành cũng như trong
mục tiêu và đối tượng nghiên cứu), chúng ta có thể khẳng
định được rằng giữa phương pháp nghiên cứu khoa học
ngày nay và Phật pháp có nhiều chỗ tương đồng. Cả hai
đều rất có ích cho việc tiến đạt trí tuệ, hay việc tiến
dần đến trình độ kiến thức ngày càng mở rộng và chân
thật hơn.
Theo
quan niệm cổ điển của thế kỷ 19, chỉ với phương pháp
nghiên cứu khoa học người ta mới có thể vượt khỏi chướng
ngại của suy đoán chủ quan để khám phá từng bước thế
giới thực tại. Ðến thế kỷ 20, thập niên 20, nhiều nghi
vấn được đặt ra trên tính khách quan khoa học, nhiều nhà
khoa học tìm cách hoàn chỉnh các nền tảng của khoa học,
nhất là ở bình diện phương pháp luận. Nhờ thế, vào những
năm 30, một phương pháp luận mới được thành hình, và trở
thành khuynh hướng chủ yếu của khoa học hiện nay, được
gọi là phương pháp 'thực nghiệm thuận lý' (empirisme logique),
còn gọi là 'tri thức luận' (l'épistémologie).
Chữ
'épistémè', gốc Hy Lạp, đồng nghĩa với chữ 'science', có
nghĩa là 'cái biết', hay 'tri thức'; cũng có nghĩa là 'cái
học', được chia thành nhiều 'khoa', hay nhiều 'môn', nên cũng
được gọi là 'khoa học'. Mà "khoa học là lý thuyết (hay
lý lẽ) về thực tại - la science est la théorie du réel", và
phương pháp luận này, một cách ngắn gọn, gồm 2 bộ phận
nền tảng : quan sát thực tại và thuận lý hóa; với 4 giai
đoạn nối tiếp như sau :
1/
quan sát và thu thập dữ kiện quan hệ đến đối tượng;
2/
ghi chép lại những điều quan sát được dưới dạng một
ngôn ngữ thuận lý, tiến đến việc thành hình giả thuyết
khái quát (có thể dưới dạng công thức đơn giản) nhằm
giải thích cách thuận lý tương quan giữa những dữ kiện
quan sát được;
3/
từ giả thuyết được thành hình, tiên đoán những gì sẽ
xảy ra, nếu tiến trình trở thành của đối tượng được
diễn ra cách bình thường hoặc trong những điều kiện ấn
định trước;
4/
kiểm nghiệm thực tế để xác chứng những tiên đoán đó.
Trên bình diện phương pháp luận thì chỉ đơn giản như vậy.
Nhưng trong thực tế lại có nhiều cách tiếp cận vấn đề
khác nhau, tùy theo loại đối tượng và tùy theo trình độ
khác nhau của người nghiên cứu.
Có
thể chia trình độ của người nghiên cứu làm 3 loại. Loại
người thứ nhất, chỉ biết tin theo những gì do người khác
truyền bá ra, hay của người xưa để lại, và xem đó là
chân lý. Chẳng hạn như, ở thời Trung cổ, họ chỉ biết
tin theo những khẳng định được Giáo Hội Catô giáo truyền
bá; hoặc như, khi tiếp nhận được những gì của Aristote
để lại, họ cho đó là nguồn của mọi sự biết; sau đó
họ cho các định luật của Newton là nền tảng của tất
cả. Loại người này luôn bị 'dị ứng' với những gì mới
mẽ, như hầu hết những người đồng thời của Galilée,
họ cố đưa ra những quan điểm hòng phủ nhận hay áp chế
kết quả quan sát được của Galilée, để bảo vệ đức
tin đang hiện hành. Loại người thứ hai có khả năng thích
hợp hoá những chủ thuyết hiện hành, để thích ứng với
kiến thức mới của thời đại, như trường hợp của Thomas
d'Aquin; hoặc của những người đã cố tổng hợp để đưa
ra thuyết 'Newton mới' khi không thể phủ nhận được kết
quả thực nghiệm về tính tương đối. Và loại người thứ
ba là loại người có tinh thần tự do, dám đặt lại câu
hỏi trên cả những gì mà số đông cho là chân lý, như trường
hợp của Galilée chẳng hạn. Loại người thứ ba rất ít,
cả trong giới học Phật và giới khoa học; chỉ ở loại
người này mới hy vọng có những khám phá mới mẽ, nhưng
tiếc thay, ở mọi thời và bất cứ đâu, họ lại thường
bị chèm ép, có khi bị hảm hại.
Galilée
đã làm những gì ? Thứ nhất, trong khi hầu hết những người
cùng thời cho quan điểm của Aristote là chân lý và tin theo
cách mù quáng, Galilée chỉ cho đó là giả thuyết cần được
kiểm nghiệm lại. Thứ hai, ông thiết lập những điều kiện
cần thiết để kiểm nghiệm những nhận định đó. Thứ
ba, sau khi chứng nghiệm rằng chân lý đó sai, ông tiếp tục
quan sát đối tượng với một tinh thần hoàn toàn tự do.
Và thứ tư, ông hoàn thành một thứ ngôn ngữ (trong trường
hợp này là những phương trình toán học) để ghi lại cách
trung thực nhất những gì quan sát được và tổng hợp thành
lý thuyết mới. Nghĩa là, Galilée bắt đầu ngay ở bước
thư tư, rồi trở lại bước thứ nhất và bước thứ hai,
của phương pháp thực nghiệm thuận lý nói trên.
Cách
tiếp cận vấn đề kiểu của Galilée này thích hợp cho trường
hợp đề tài, hay đối tượng, nghiên cứu đã được xác
định trước bởi một lý thuyết hay một đức tin có sẵn.
- đây, việc làm chủ yếu là phải chứng minh lý thuyết hay
đức tin có sẵn đó không còn giá trị, trước khi tiến hành
việc nghiên cứu nhằm hoàn thành lý thuyết mới. Trong trường
hợp đối tượng nghiên cứu hoàn toàn mới, việc nghiên cứu
phải được tiến hành tuần tự theo 4 bước cuả phương
pháp như đã nói trên. Có khi, đối với loại đối tượng
nghiên cứu hoàn toàn trừu tượng, để nắm bắt được thực
tại tối hậu, người nghiên cứu lại phải tiến hành từng
bước công việc nghiên cứu, qua việc xác nghiệm những giả
thuyết trung gian, giúp đưa ra những giải đáp tạm thời,
nó cho phép người nghiên cứu từng bước thỏa mãn một phần
óc tò mò tìm hiểu của mình; rồi từng bước siêu vượt
khỏi những lý thuyết trung gian đã được thiết lập, để
tiến đạt dần đến trình độ kiến thức ngày càng chi li
và phức hợp, ngày càng mở rộng và chân thật hơn.
Tiến
trình phát triển của kiến thức khoa học đã diễn ra cách
tuần tự như vậy, theo nhịp độ phát triển của những phương
tiện nghiên cứu ngày càng tinh xảo, giúp khoa học tiến sâu
dần vào việc nghiên cứu những đối tượng sống động
và vi tế, của sự sống nói chung và của con người nói riêng,
như các ngành 'sinh học bào tử', 'thần kinh học', 'tâm lý
học về sự biết'... Ðược như vậy cũng là nhờ nơi một
số ít những nhà khoa học làm việc với tinh thần tự do.
Với loại người này, tất cả mọi lý thuyết đã được
xác nghiệm có trước đều chỉ là những giả thuyết trung
gian (có giá trị giới hạn) mà thôi; và nếu cần họ sẽ
xét nghiệm lại trong những điều kiện nghiên cứu mới, dù
chúng đã được số đông cho là 'chân lý'.
Kinh
nhà Phật có nói đến ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức) và mối quan hệ của chúng. - đây, trong công việc nghiên
cứu, ta có thể so sánh sắc với đối tượng nghiên cứu;
quan hệ giữa sắc và thọ, với công việc quan sát ở giai
đoạn thứ 1; quan hệ giữa thọ và tưởng, với giai đoạn
thứ 2; quan hệ giữa tưởng và hành, với giai đoạn thứ
3; và công việc kiểm nghiệm ở giai đoạn thứ 4, với quan
hệ giữa hành và thức. Ba giai đoạn đầu trong phương pháp
nghiên cứu khoa học nói trên được áp dụng rộng rãi, như
mọi người đều biết, trong những 'trắc nghiệm thuận lý'
(test logique). - giai đoạn thứ tư, nếu những tiên đoán không
được xác chứng, giả thuyết không có giá trị và sẽ bị
sửa đổi hay bị loại bỏ, có khi phải bắt đầu lại từ
giai đoạn thứ nhất. Nếu chúng được xác nghiệm, giả thuyết
được thừa nhận như một định lý và trở thành một bộ
phận của kiến thức.
Ở
đây, có một điểm cần được lưu ý : cái biết thực nghiệm
thuận lý khác hẳn với những suy luận (cũng thuận lý) có
tính dự đoán hay giả định. Ví dụ như, các quan điểm của
Mác về các loại xã hội 'hậu tư bản chủ nghĩa', dù có
được biện giải thuận lý cách mấy, cũng đều là những
dự đoán giả thuyết, cho đến khi được xác nghiệm bởi
thực tế. Nếu những dự đoán đó không được thực tế
lịch sử xác chứng, thì giả thuyết của Mác không có giá
trị, hoặc một phần, hoặc toàn diện. Chỉ khi nào chúng
được thực tế xác nghiệm, thì giả thuyết mới được
thừa nhận và trở thành một bộ phận của kiến thức.
Cứ
thế, kiến thức ngày càng dày, có khi nó hằn sâu trong vô
thức hay tiềm thức. Và sau đó nó ảnh hưởng trở lại trên
khả năng nhận biết và cách quan sát của con người (ở giai
đoạn 1, nói trên), nó đóng khung trí tuệ con người và làm
cho con người mất hết tự do trong tư tưởng (ở giai đoạn
2 - tạo thành giả thuyết); nó biến thành một loại ống
dòm có lắp kính màu mà chỉ qua đó con người tiếp cận
với sự vật, tức là con người chỉ còn có thể nắm bắt
sự vật theo màu sắc của kính và trong phạm vi giới hạn
mà ống dòm cho phép. Không ít những nhà khoa học của thời
đại đã ý thức rõ như vậy (từ năm 1962, Thomas S. Kuhn đã
ghi rõ điều này trong quyển The Structure of Scientific Revolution,
n.x.b. University of Chicago Press).
Tức
là, con người không còn khả năng tiếp cận thực tại như
chính nó là, trong toàn diện và trong mối quan hệ với toàn
thể : thế giới mà trong đó con người sống bị thu hẹp,
bị biến màu..., nhưng vì vô minh (danh từ nhà Phật), hay vì
không ý thức được như vậy, nên con người cho đó là thực
tại, gán cho nó đủ loại ý nghĩa và giá trị, gán cho mỗi
sự mỗi vật một bản thể (logos), rồi bám giữ vào đó
với đủ thứ tình cảm và xây dựng lý lẽ cho sự hiện
hữu của mình, tức xây dựng cái gọi là bản thể, hay 'tiểu
ngã', đầy ảo mộng của mình. Ðến đây chắc hẳn mọi
người đều có thể hiểu được tại sao Ðức Phật kêu
gọi mọi người hãy 'diệt' bỏ cái 'ngã' và thế giới ảo
ảnh do thói quen 'tập' thành này, vì đó là nguồn gốc của
'khổ' đau, để giải phóng chính mình, hầu có thể đạt
đến kiến thức chân thực ('đạo') trên 'thực tại luôn
sống động và mãi mãi đang trở thành'.
Ngày
nay, không ít những nhà khoa học đã ý thức rằng : cái biết
thuận lý khoa học không phải là cái biết duy nhất, nên cũng
không thể là cái biết toàn diện, tức cũng không thể là
cái biết chân thực. Ðúng vậy. Nhưng, cũng không thể có
cái biết chân thực và toàn diện nếu không có cái biết
thuận lý khoa học.
III.
Hướng tìm và đối tượng nghiên cứu.
Nói
đến tìm tòi nghiên cứu cũng là nói đến óc tò mò thắc
mắc. Mà nguồn gốc của thắc mắc chính là óc nghi ngờ,
dám đặt câu hỏi trên cả những gì mà thói thường, của
số đông hay của chính mình, cho là hiển nhiên, chân lý. Ngắn
gọn, khác với các 'tôn giáo thần
khải' (religion) cho rằng nguồn gốc của sự biết là đức
tin, khoa học cho rằng nguồn gốc đó chính là sự nghi ngờ.
Và Kinh 'Ðại Nghi Tình' của nhà Phật cũng nói : "nghi
lớn, giác ngộ lớn; nghi nhỏ, giác ngộ nhỏ; không nghi, không
giác ngộ"(2). Và chính Ðức Phật
cũng hằng lưu ý đệ tử của Ngài hãy luôn xác nghiệm thực
tế mọi điều Ngài nói, để không còn nghi ngờ gì nữa,
chứ đừng tin nơi chúng chỉ vì cả nể đạo đức của Ngài.
Không
phải chỉ khuyên, mà Ðức Phật còn tạo điều kiện để
mỗi người giữ được óc nghi ngờ và tinh thần tự do phán
xét, bằng cách không trả lời, hoặc không đưa ra câu trả
lời xác định, về những câu hỏi liên hệ đến những vấn
đề trừu tượng, như các câu hỏi về 'Niết bàn', về nguồn
gốc của vũ trụ chẳng hạn, vì ý thức rằng những câu
trả lời xác định thường chỉ tạo nơi người nghe một
loại đức tin. Ðức Phật chỉ truyền đạt một phương pháp,
hay một con đường, theo đó mỗi người có thể tự tiến
đạt đến 'niết bàn' bằng chứng nghiệm thực tế. Vì vậy,
trong Phật giáo, cũng như trong khoa học, không có mặc khải
(révélation), không có những lời nói có giá trị tuyệt đối,
cũng không có những đức tin không thể kiểm nghiệm được.
Phật giáo không phải là một 'tôn giáo thần khải'.
Thực
ra, người ta chỉ nói 'tin' đối với những gì còn mơ hồ,
không biết chắc; không ai nói 'tin' nơi sự hiện hữu của
Mặt Trời, chẳng hạn, vì đó là thực tại hiển nhiên mà,
ai ai cũng sống với ánh sáng và sức nóng của nó, và ai ai
cũng có thể kiểm nghiệm được bằng phương pháp thực nghiệm
khoa học. Có thể nói rằng : cái gì có thực đều có thể
được đặt thành đối tượng nghiên cứu khoa học, tức
là đều có thể nhận biết được bằng trí ('trí tri', dù
không toàn diện); ngược lại, cái gì không thể nhận biết
được bằng trí, thì chắc chắn nó không có thực. Và mọi
việc nghiên cứu, vì đều phải bắt đầu từ chỗ xác định
đối tượng, nên cũng phải bắt đầu từ chỗ phân biệt
('cách vật') cái có thực với cái không có thực (hay chỉ
là khái niệm do con người tạo ra).
Ví
dụ như : Thiên Chúa - xuất phát từ quan niệm cho rằng "có
một đấng thần đã tạo ra vũ trụ vạn vật, và tạo ra
con người theo hình ảnh của thần" (théomorphisme), Thần Tản
Viên của núi Ba Vì - xuất phát từ quan niệm cho rằng "chính
con người tạo ra các thần theo hình ảnh của mình" (anthropomorphisme),
tuy đều do con người quan niệm nên, nhưng cả hai đều là
khái niệm trừu tượng không kiểm nghiệm được, nên cũng
không thể là đối tượng của tư duy thực nghiệm khoa học.
Ðối với các đối tượng loại này có thể giữ thái độ,
như Khổng Tử đã làm : kính nhi viễn chi. Nhưng niềm tin của
một số người nơi Thiên Chúa này, và ảnh hưởng của nó
trên cách sống và cách suy nghĩ của số người đó, là có
thực, không thể phủ nhận được. Cũng thế, núi Ba Vì và
sông Tô Lịch trong cảm nhận của người Việt, khác với
núi sông theo địa lý học và vật thể học, cũng là thực
tại kiểm nghiệm được, tức là có thể nhận biết được
bằng lý trí.
Cũng
cần phân biệt những gì thuộc thế giới tự nhiên (la nature)
với những gì do con người tạo ra, còn gọi là những định
chế nhân văn và xã hội (la culture). Ðàn ông và đàn bà,
chẳng hạn, là thuộc tự nhiên, nhưng vợ và chồng (gia đình)
là những định chế nhân xã. Chính con người tạo ra những
định chế này để điều hòa cuộc sống xã hội; và, qua
đó, con nguời được giải phóng dần khỏi bản năng thú
tánh tự nhiên của mình, để ngày càng người hơn (tuy cũng
có những định chế làm cho con người trở thành nô lệ).
Như, ở đâu đó (hình như trong quyển Fondement du pouvoir de
jugement) Emmanuel Kant có viết, đại thể như : con người bắt
đầu phát triển khi biết tự tạo ra những chuẩn mực (để
xác định sự vật) và những giá trị (để tổ chức cuộc
sống chung xã hội).
Theo
tinh thần Phật giáo, và theo tinh thần khoa học ngày nay, câu
trên cần phải được thêm rằng : nhưng không phải những
chuẩn mực và những giá trị là quan trọng, lại càng không
phải là những chuẩn mực và những giá trị mà Phật, hay
Khổng, hay Giêsu... đã đưa ra cách đây 20 hoặc 25 thế kỷ,
điều quan trọng chính là khả năng nơi con người; mà nhờ
đó con người của mỗi thời đại có thể tạo ra những
chuẩn mực và những giá trị để tổ chức cuộc sống của
mình, thể theo những điều kiện của thời cảnh và của
trình độ tiến hóa. Tương tự như vậy : không phải những
khám phá của người xưa là quan trọng, nhưng chính những
phương pháp khảo cứu mà nhờ đó người xưa khám phá được
những điều mới mẽ mới là điều đáng học. Cách học
này đúng cho cả giới nghiên cứu khoa học và giới những
người học Phật.
Khi
đối tượng nghiên cứu được xác định, mọi công trình
tìm tòi nghiên cứu đều có điểm khởi đầu ở chỗ đặt
nghi vấn. Ví dụ như khi cọ xát mạnh hai thanh gỗ khô, lửa
sẽ cháy lên. Làm đi làm lại nhiều lần, kết quả đều
như thế cả. Ðể tìm hiểu lửa này từ đâu mà có, đại
thể, có hai cách đặt nghi vấn :
1/
có lẽ lửa từ trời xuống, hay từ đâu đó ở bên ngoài
đến, và
2/
chắc hẳn đã có sẵn trong gỗ, chỉ cần xát mạnh (thực
hiện một số điều kiện) thì lửa sẽ bùng lên.
Hai
cách đặt nghi vấn trên dẫn người nghiên cứu theo hai hướng
khác nhau, cách xa vạn dậm. Cách thứ hai là cách của phương
pháp khoa học. Mà cũng là cách của Phật pháp.
Thiền
sư Khuông Việt, đời Ðinh và Tiền Lê, trước khi chết, đã
để lại cho các đệ tử của ông và cho các đời sau một
bài kệ thị tịch, trong đó có mấy câu, như sau :
Mộc
trung nguyên hữu hỏa.
Nguyên
hỏa phục hoàn sinh.
Nhược
thị mộc vô hỏa.
Toàn
toại hà do manh.
(Thơ văn Lý Trần, tập I)
Dịch
:
Lửa
vốn sẵn trong cây.
Nên
khi lửa lại đầy.
Nếu
trong cây không lửa.
Xát
mãi lửa chẳng bày.
(PTH)
Ðúng
ra, thiền sư Khuông Việt muốn mượn hình ảnh "lửa có sẵn
trong cây" để nói :
Chân
lý sẵn trong ta.
Trong
tâm có Bụt Ðà.
Niết
Bàn trong cỏi sống.
Không
thế. Tìm đâu ra!
(PTH)
Nên
chỉ cần giữ sự yên tỉnh của tâm mình, cho đến khi không
còn bị khuấy động bởi tham sân si và phiền não khác, thì
chân lý, Phật, Niết Bàn... sẽ tự hiển lộ, cũng như chỉ
cần cọ xát cây đến một độ nóng nào đó thì lửa tự
phát sinh. Nhưng qua đó cũng thấy được sự trùng hợp trong
cách đặt nghi vấn của Phật pháp và của phương pháp khoa
học. Với cách đặt nghi vấn này, và để trau giồi khả
năng tiếp cận thực tại, người học Phật và nhà khoa học,
cả hai, đều rất dè dặt đối với mọi tín điều, mọi
chủ nghĩa (ismes), nhất là đối với loại người "siêu phàm
vượt thế" luôn có sẵn những trả lời khẳng định trước
khi biết câu hỏi là gì.
IV.
Cái nhìn nền tảng.
Ngày
nay, nhiều người đã thấy : Không phải khoa học tạo ra phương
pháp, mà chính phương pháp tạo ra khoa học, và hầu như bất
cứ ai đã qua hai năm đầu đại học đều có học qua 'tri
thức luận'. Phương pháp luận này, thực ra, cũng là kết
quả thành tựu được của con người. Và câu hỏi được
đặt ra là : Do đâu mà những nhà khoa học đã thành tựu
được kết quả như vậy ? Thưa : Có một cái nhìn nền tảng.
Cái nhìn này xuất phát từ sự thực hiển nhiên : Cái gì
có thực đều có những nguyên nhân (cũng có thực) tạo ra
nó. Và có thể khẳng định rằng : cái nhìn nền tảng của
tư duy thực nghiệm khoa học là cái nhìn theo tinh thần của
thuyết nhân quả (3). Giai thoại của 'làng khoa học', dưới
đây, cho thấy điều này.
Từ
thời của Galilée, ở Ý đã có dùng bơm (pompe à piston) để
đem nước giếng lên. Nhưng bơm này không thể lấy được
nước từ mặt nước thấp hơn 10,33 mét. Suy nghĩ về sự
kiện này, Galilée đã đưa ra nhiều giải thích nhưng tất
cả đều sai. Cùng thời này, xuất phát từ đức tin về những
sức mạnh của tự nhiên do những tác nhân vô hình nào đó
tạo ra, một số người đưa ra giải thích cho rằng : vì bản
tính của nó, thiên nhiên 'ghét khoảng không' (horreur du vide),
nên đẩy nước tràn lên để lấp đầy khoảng trống được
tạo ra khi piston được kéo lên (thuyết 'huyền nhiệm'). Sau
Galilée, học trò ông là Torricelli đưa ra giải thích mới,
lập luận rằng : Quả Ðất nằm trong bầu khí quyển, và
chính sức nặng của cột không khí đè trên mặt đất, trên
mặt nước giếng, tạo một sức ép đẩy nước lên trong
thân của bơm khi piston được kéo lên. Từ lập luận này
Torricelli giả thuyết rằng : bề cao tối đa của cột nước
được đẩy lên phải tương ứng với sức nặng của cột
không khí đè trên mặt nước. Giả thuyết này không kiểm
nghiệm được một cách trực tiếp, và Torricelli đã kiểm
nghiệm một cách gián tiếp.
Torricelli
nghĩ rằng : nếu giả thuyết của ông là đúng, thì áp lực
của không khí cũng có khả năng làm dâng một cột thủy ngân
tương ứng ngắn hơn; và vì trọng lượng thủy ngân khoảng
14 lần lớn hơn trọng lượng của nước, thì bề cao của
cột thủy ngân phải bằng 10,33 mét chia cho 14, tức khoảng
76 cm; và ông thử nghiệm giả thuyết này. Mặt nước giếng
được thay thế bằng một chậu mở đựng thủy ngân, thân
của ống bơm được thay thế bằng một ống nghiệm thủy
tinh, dài 1 mét và kín một đầu. Ông cho thủy ngân vào đầy
ống và bịt lại bằng một ngón tay. Ông lật ngược ống
và để đầu mở của ống trong chậu thủy ngân và rút ngón
tay ra. Cột thủy ngân trụt xuống và dừng lại ở độ cao
khoảng 76 cm, như đã dự tính. Giả thuyết của Torricelli được
chứng nghiệm. Nhưng những người theo thuyết 'huyền nhiệm'
nói trên vẫn phản bác, và cho rằng có một sức mạnh vô
hình, kiểu như một sợi dây vô hình, treo cột thủy ngân
trong ống nghiệm.
Pascal
muốn chứng nghiệm lại giả thuyết của Torricelli. Ông lập
luận : nếu cột thủy ngân trong ống nghiệm là đối trọng
của cột không khí đè trên mặt thủy ngân ngoài chậu, thì
cột thủy ngân phải thấp hơn nếu thí nghiệm này được
thực hiện trên núi cao, vì trên núi cột không khí ngắn hơn.
Và theo yêu cầu của Pascal, Périer thử nghiệm lại cùng lúc
ở hai cao độ khác nhau : một ở dưới chân núi Puy-de-Dôme
(Pháp), và một trên núi, ở cao độ 1.600 m. Périer ghi nhận
rằng : ở trên núi cột thủy ngân thấp hơn 7,5 cm, so với
cột thủy ngân ở chân núi vẫn là 76 cm. Với kết quả kiểm
nghiệm được này, Pascal và Périer có thể khẳng định rằng
không có chuyện 'ghét khoảng không' trong việc này cả, vì
không lẽ thiên nhiên ở dưới núi 'ghét khoảng không' nhiều
hơn thiên nhiên trên núi. Chuyện khó tin nhưng có thật ! Những
người theo thuyết 'huyền nhiệm', dựa trên kết quả kiểm
nghiệm được bởi Périer, đưa ra giải thích bổ túc : sự
"ghét khoảng không" giảm, khi cao độ tăng. Pascal đề nghị
một thử nghiệm mới. Lần này ông bơm một quả bóng căng
phân nửa và cột kín ở dưới chân núi, khi đem lên đỉnh
núi, quả bóng căng đầy. Ðến đây, thuyết 'ghét khoảng
không' mới chịu hết lý.
Trong
nổ lực đi tìm lý lẽ để giải thích sự việc, Pascal và
Torricelli, trong giai thoại ghi trên, đã nghĩ và làm với cái
nhìn nhân quả. T. Hobbes, trong Léviathan, viết : "Lý lẽ không
là một khả năng tự nhiên nơi con người; (...) nó khởi sự
dựa theo qui luật nền tảng của quan hệ nhân quả (4). Và
trong quan hệ nhân quả, sự có mặt của một đấng siêu nhiên
nào đó không còn cần thiết nữa. - thời kỳ chưa khai hóa,
con người chưa biết diễn giải những hiện tượng nhận
được bởi giác quan theo cái nhìn nhân quả, nhưng theo đức
tin nơi sự phán quyết của những đấng siêu nhiên đầy quyền
năng nào đó, hoặc theo những định chế nhân xã qui định
quan hệ giữa những thành viên của xã thể cộng đồng.
Trongquyển
Reine Rechtslehre (được dịch ra gần 20 thứ tiếng, từ Âu
sang Á), Hans Kelsen nhận định : "Tư tưởng nhân quả có lẽ
xa lạ với đầu óc của người chưa khai hóa và nó chỉ xuất
hiện ở một thời kỳ văn minh tiến bộ hơn. Vậy nó không
phải là bẩm sinh, như người ta đã từng nghĩ tưởng."
"Khi
con người chưa khai hóa cảm thấy cần giải thích những hiện
tượng tư nhiện, họ cho đó là những ban thưởng hoặc những
trừng phạt, tùy theo những hiện tượng đó có ích hay có
hại cho họ. (...) Sự diễn giải như thế về tự nhiên, thật
vậy, không phải là nhân quả, nhưng có tính qui chế, dựa
trên qui định xã hội về sự 'tưởng thưởng' ."(5)
Trong
lãnh vực tự nhiên, quan hệ nhân quả diễn ra cách trực tiếp
: khi bị nung nóng, thanh sắt dài ra; ngược lại, trong lãnh
vực nhân văn và xã hội, thì luôn luôn có sự tham dự của
yếu tố con người. Vì vậy, cũng bằng cái nhìn và nguyên
tắc nhân quả, các ngành xã hội học, nhân văn học, chủng
tộc học, sử học, tâm lý học v.v... tìm hiểu cá tính con
người và đặc tính xã hội, nhưng với phương cách khác.
Trong đạo đức học, luân lý học và luật học (hay pháp
chế học) nguyên tắc nhân quả được biến cải thành 'nguyên
tắc qui hệ' (principe d'imputation), thí dụ như : "một người
phạm tội, phải bị trừng trị", "một người không thanh
toán hết nợ, phải chịu sự cưỡng hành trên tài sản";
cách tổng quát "một hình phạt sẽ phải được thi hành,
khi một hành vi bất chánh (bất hợp pháp) tương ứng đã
phạm phải".
'Nguyên
tắc qui hệ' cũng thiết lập mối tương quan giữa hai sự
việc, nhưng đây không phải là tương quan nhân quả của thế
giới tự nhiên : sự phạm tội không phải là nguyên nhân
của sự trừng trị, và hình phạt không phải là hậu quả
của hành vi bất chính. - đây, mối quan hệ được thiết
lập bởi những qui định hoàn toàn do con người làm ra, để
điều hòa cuộc sống xã hội và được gọi là : phong tục,
luật pháp, quyết án, quyết nghị hành chính v.v... Thêm nữa,
nếu những mắt xích nhân quả của luật tự nhiên nối tiếp
nhau trùng trùng điệp điệp, tạo thành chuổi kéo dài đến
vô tận, chuổi tương quan 'qui hệ' chỉ có hai mắt xích :
việc làm tốt được qui hệ với sự tri ơn, tội lỗi với
trừng phạt, ăn cắp với bị giam; một nguyên nhân đưa đến
một hệ quả, và cả hai đều là điểm cùng (đầu và cuối)
của tương quan qui hệ. Tức là : khi sự trừng phạt đã xong
thì tội lỗi được xóa, khi hạn giam đã mãn thì tội ăn
cắp không còn; nhưng nhất định là : "Ơn (oán) có đầu,
oan (nợ) có chủ", "Có tội thì phải đền, có nợ thì phải
trả", "Ai làm nấy chịu, ai cột nấy gỡ", chứ không thể
khác được.
Nguyên
tắc của quan hệ nhân quả là : Cái gì có thực đều có
những nguyên nhân (cũng có thực) tạo ra nó. Những nguyên
nhân này có thể được phân thành hai loại, tạo thành hai
thứ quan hệ khác nhau :
1/
quan hệ trước sau (trải trong thời gian) và
2/
quan hệ đồng thời (trải trong không gian, ở mỗi thời điểm
hiện tại).
Nếu
A là một thực tại, thì ở mỗi thời điểm (tn) A được
tạo thành bởi (=) chính A trước đó (ở thời điểm tn-1),
kết hợp với (#) những tác động của quan hệ đồng thời
với môi trường (hàm f(m) ở thời điểm tn đó); và, ở mức
độ con người, còn có tác động của môi trường xã hội
(hàm f(h) ở thời điểm tn đó) cùng với tác động của ý
chí và năng lực của con người (Ng.) đương thời (tn). Vậy
quan hệ nhân quả có thể được viết dưới dạng phương
trình, như sau :
Atn
= Atn-1 # f (mtn) # f (htn) # Ng.tn
Có
nhiều điều cần lưu ý nơi hai tác tố xã hội(f(h)) và con
người (Ng.) và nơi kiểu kết hợp (#), nhưng trước mắt,
theo lô-gích của phương trình này, chỉ trong những điều
kiện rất đặc biệt mới có xảy ra hai trường hợp : 'A
ở thời điểm sau', hoặc là bản sao, hoặc là phủ định,
của ' A ở thời điểm trước'. Tức là, phương trình này
chẳng những không loại trừ, mà còn bao hàm cả 'lô-gích
hình thức' - A chỉ có thể hoặc là A, hoặc là Không-A, theo
'cái nhìn sáng tạo' truyền thống của các tôn giáo thần
khải - và 'lô-gích phủ định' của biện chứng pháp Hegel.
Trong điều kiện thông thường, 'A ở mỗi thời điểm' đều
vừa là kế thừa vừa là biến thiên của chính 'A ở thời
điểm trước'. Vì là kế thừa nên có 'sử tính', và vì là
biến thiên nên có 'tiến trình'. Nói cách khác : Cái gì có
thực đều có sử tính và đều là một bước trong tiến
trình mãi mãi đang trở thành. Vì vậy, tư duy khoa học cũng
là tư duy với 'cái nhìn tiến trình' và theo 'lô-gích sử quan'.
Sử
tính và tiến trình trở thành cũng là thực tại khách quan,
nên cũng có thể nhận biết được bằng trí. Chỉ còn hai
điểm cần lưu ý :
1/
tiến trình trở thành không phải chỉ có một chiều đi lên,
không phải cứ là cái sau (mới) thì nhất định phải tốt
hơn cái trước (cũ), và
2/
thông thường biến thiên là tiệm tiến, chứ không nhất định
phải là đột biến, tất cả đều tùy nơi những điều kiện
đặc thù của hoàn cảnh.
Cho
nên :
1/
quan điểm 'phá tức là xây' là hoàn toàn duy tưởng (idéaliste),
và
2/
'làm cách mạng' (đột biến) không phải là cách duy nhất,
còn có cách khác là cải thiện liên tục (tiệm tiến, hay
'diễn tiến hòa bình'). Nói cách khác, hiện đại hóa, hay
thời đại hóa, là sự biến thiên tự nhiên của sự sống.
Nhưng để "thăng hoa một cách liên tục" bản sắc đặc thù
của nền văn hóa - văn minh Việt Nam thì phải có ý chí và
năng lực của người Việt, trong việc định hướng đi lên
(thăng hoa) cho công cuộc hiện đại hóa và hóa giải mọi
khắc nghiệt của điều kiện, hầu tránh dẫn tới tình trạng
cực đoan, hay tránh dẫn tới cách mạng đổ vỡ.
Mấy
điểm gặp gỡ nền tảng giữa khoa học và Phật giáo, viết
trên, thực ra không xa lạ gì với các nền tảng tư tưởng
của văn hóa Việt Nam. Trên đây chỉ là một cách diễn đạt
theo hoàn cảnh mới mà thôi Ðiều này đủ cho thấy một cách
tổng quát : Có sự gặp gỡ giữa nền tảng của văn hóa
Việt Nam với nền tảng của tư duy khoa học hiện đại. Gia
sản văn hóa này vẫn còn đó, trong mỗi người Việt Nam,
và luôn luôn có thể vận dụng được. Nhưng cũng cần xét
đến một vài điểm khác biệt nền tảng.
V.
Phương pháp 'phủ định thực sự' và 'cái nhìn' nền tảng
của Phật giáo.
Kiến
thức khoa học vẫn không ngừng phát triển, và phát triển
ngày càng nhanh, nhất là với các ngành khoa học mới đi sâu
mãi vào các lãnh vực tri thức, tâm lý và tinh thần. Và từ
thời đại của Einstein đến nay, không ít những nhà khoa học
đã ý thức rằng không thể có sự quan sát khoa học hoàn
toàn khách quan. Nhưng kẹt ở chỗ là, nếu cứ theo truyền
thống Tây phương, khi sự hiện hữu một thế giới thực
sự khách quan bị nghi ngờ, người ta chỉ còn giải pháp duy
nhất là quay về bám vào thế giới chủ quan, và cho rằng
tất cả đều dựa trên chủ thể tính của mỗi cá nhân,
cho rằng mỗi người chỉ nhận biết đối tượng theo tư
duy của mình, hay cho rằng thế giới là cái do chính mỗi người
tạo ra trong đầu.
Kiểu
lựa chọn 'hoặc cái này thì không cái kia, hoặc cái kia thì
không cái này' (nguyên tắc 'không thể có cái thứ ba - tiers
exclus' của Aristote) nêu trên cho thấy đặc tính của phủ
định trong hệ thống lý luận 'nhị phân đối lập' (hay nhị
đối - dualisme) là nền tảng của truyền thống Tây phương.
- đây, phủ nhận cái này có nghĩa là gần như đương nhiên
xác nhận cái kia. Như khi nói 'không là A', thì ắt 'hẳn phải
là B' (đối lập với A), 'không hữu' thì ắt 'hẳn phải là
tả'. Hay như khi Nietzsche 'khai tử' Thiên Chúa, hay, một cách
tổng quát hơn, phủ nhận từ nền tảng thuyết tất định
Tây phương, thì liền bị đánh giá là cổ vũ cho chủ nghĩa
hư vô (nihilisme); cũng thế : không cộng sản, thì ắt phải
là tư bản, hoặc ngược lại. Tức là, trong hệ thống lý
luận nhị đối này không có dạng phủ định thật sự, vì
mọi phủ định đều có thể bị suy diễn thành xác định;
và dĩ nhiên, phủ định của phủ định cũng là xác định
(cách lý luận này vẫn còn ảnh hưởng mạnh trong cách hiểu
của nhiều người về 'phủ định của phủ định' trong biện
chứng phủ định Hegel).
Cách
lý luận đơn giản này chắc chắn rất hữu hiệu trong việc
nhận biết thế giới vật chất, nhưng nó gặp phải giới
hạn khi tiếp xúc với thế giới của sinh vật, vì từ bản
năng ham sống sợ chết, sinh vật luôn có phản ứng theo từng
hoàn cảnh. Có nhiều yếu tố nội sinh quyết định cách phản
ứng của sinh vật, và vì những yếu tố nội sinh này luôn
luôn thay đổi, nên phản ứng cũng luôn luôn thay đổi, không
thể viết thành công thức được. Như khi đối diện với
một hăm dọa, chẳng hạn. Trong những trường hợp thông thường,
tức không phải là một hăm dọa tuyệt đối, thì không phải
chỉ có 2 lựa chọn : hoặc chiến đấu, hoặc chạy trốn
(la lutte ou la fuite, của Lavoisier), nhưng rất có thể sinh vật
sẽ phải vừa thích ứng với hoàn cảnh vừa giữ lấy bản
sắc của nó. Có thể cái nhìn tuyến tính (linéaire) nhị phân
là sức mạnh nền tảng của hệ thống lý luận Tây phương,
nhưng sẽ không thể tránh được sai lầm trong cách hiểu và
cách diễn giải, khi cũng bằng cái nhìn này mà người Tây
phương tiếp cận với các dạng phủ định thường gặp trong
Phật giáo : 'vô thường', 'vô ngã', 'vô sinh', 'vô diệt', 'vô
niệm', 'vô sở trú'...
Tư
tưởng của Phật giáo được xây dựng trong truyền thống
lý luận Ấn độ, gồm 4 vế : có; không; vừa có, vừa không;
không có, không không. - đây, khi nói 'không', không có nghĩa
là 'có', cũng không có nghĩa là 'vừa có vừa không', cũng
không có nghĩa là 'vừa không có vừa không không' và cũng
không phải là cả 3 giải đáp này hợp lại. - đây 'không'
chỉ có nghĩa là 'không', chứ không thể suy diễn rồi gán
cho nó một trong 3 vế khác. Tức là, có dạng phủ định thực
sự trong hệ thống lý luận này. Nên khi một người học
Phật nói "tôi không là cộng sản" thì chỉ biết người đó
không là cộng sản, thế thôi; chứ không thể suy diễn cách
giản lược cho rằng "ắt hẳn người đó theo chủ nghĩa tư
bản", tức "chống cộng sản", tức ...; cũng thế đối với
ai tự nhận rằng "tôi không theo chủ nghĩa tư bản". Phật
giáo, và người học Phật, không sống trong thế giới nhị
đối, họ sống trong một thế giới khác.
Không
đi sâu thêm vào vấn đề thuần túy luận lý, nhưng mọi người
đều có thể nhận thấy rằng cách lựa chọn không khách
quan thì chủ quan, nêu trên, không giải quyết được gì cả.
Và nếu muốn tiến đạt trí tuệ, cần phải nhìn thẳng vào
mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng (không hẳn là
khách thể, dĩ nhiên), vì cả hai đều có tương quan mật thiết
lẫn nhau (nếu không có cái này thì cũng sẽ không có cái
kia), quán sát nó tường tận, theo phương pháp nghiên cứu
như đã nói trên, ngỏ hầu có thể cải thiện từng bước
mối quan hệ đó.
Mà
muốn quan sát mối quan hệ (quan hệ nói chung, nhưng ở đây
là mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng) thì, trước
hết, phải có cái nhìn bao trùm và dung chứa, không cực đoan,
không phiến diện (kiểu : 'nửa cái này cộng nửa cái kia'),
chấp nhận sự hiện hữu tròn vẹn của cả 2 ('vừa trọn
cả cái này, vừa trọn cả cái kia'). Kế đến, quan sát tính
chất của mối quan hệ đó - theo truyền thống tư tưởng
Ðông phương, có 4 loại quan hệ : tương sinh, tương khắc,
tương thôi (đẩy nhau) và tương dữ (trợ nhau); quan sát xem
mối quan hệ đó sẽ tạo ra cái gì (nếu không có quan hệ,
sẽ không có gì được tạo thành). Cái được tạo thành
chắc chắn sẽ có một số điểm chung với 'cái này' và một
số điểm chung khác với 'cái kia', tức là : 'vừa cái này,
vừa cái kia'; nhưng đồng thời nó cũng là một thực thể
mới : 'không là cái này cũng không là cái kia', tựa như người
con so với cha mẹ vậy. Ðến đây ta thấy tính tròn đầy
của 'biện chứng pháp Phật giáo', khác với 'biện chứng
phủ định' Hegel. (6)
Ngắn
gọn, theo lối lý luận nhị đối truyền thống Tây phương,
người ta chia mọi sự thành hai khu vực : thuận lý (rationnel,
lãnh vực của khoa học) và phi lý (irrationnel, lãnh vực của
thần giáo), đối kháng và phủ định nhau. Trong khi Phật giáo,
có trình bày mọi hiện tượng dưới hai mặt : 'lý' (rationnel)
và 'quan hệ' (relationnel), nhưng chúng không đối kháng loại
trừ nhau và nhất thiết phải được thống hợp trong cái
nhìn toàn nguyên, nắm bắt thực tại trên toàn thể của nó.
Khi nói đến quan hệ là nói đến sự đối đãi, cách cư
xử với nhau; và ở trình độ con người, với lý trí có
khả năng phán xét đúng sai cho cả đôi bên mọi phía, luân
lý hay đạo lý được tạo nên từng bước. Do đó quan điểm
về khoa học kiểu của R. Descartes và của F. Bacon - đại khái
cho rằng : vì sự vật được thiết lập theo phương thức
khoa học, không có một ý nghĩ luân lý nào cả, nên khoa học
vượt khỏi luân lý và có thể đi tới mãi, vô giới hạn
- được khoa học của thời đại xem là còn quá giới hạn,
cần phải điều chỉnh. Vấn đề luân lý hay đạo lý cho
khoa học đang được đặt ra (7).
Với
người Ðông phương, cái nhìn nhắm vào mối quan hệ giữa
Trời (hay tinh thần) và Ðất (hay vật chất) chính là cái
nhìn nhắm vào Người, vì Người được sinh ra từ mối quan
hệ giữa Trời và Ðất, Người bao gồm trọn cả Trời và
trọn cả Ðất nhưng đồng thời cũng khác hẳn với cả Trời
lẫn Ðất. Cũng vậy, cái nhìn nhắm vào mối quan hệ giữa
Thần tính và Vật tính cũng chính là cái nhìn nhắm vào Nhân
tính. Mà mọi mối quan hệ đều luôn luôn có thể cải thiện
được (8), bởi những tác nhân nhập cuộc (khác với trong
cuộc, vì trong cuộc chưa hẳn là nhập cuộc). Và cải thiện
mối quan hệ cũng là cải thiện đặc tính của cái sẽ được
tạo thành từ mối quan hệ đó. Cải thiện mối quan hệ giữa
người cha và người mẹ tức là cải thiện đặc tính của
người con sẽ được sinh ra; cải thiện mối quan hệ, bị
chi phối bởi kiến thức cũ, giữa cái tôi chủ thể với
đối tượng, cũng là cải thiện đặc tính của kiến thức
mới. Kiến thức mới có khi 'giống', có khi 'khác', có khi
'vừa giống vừa khác', mà cũng có khi 'không giống không khác'
với kiến thức cũ, nhưng điều này không quan trọng. Quan
trọng nhất là chỗ nó thường xuyên và liên tục được
cải thiện, so với kiến thức cũ. Nhờ thế, kiến thức mới
sẽ ngày càng nhiều, từng bước vượt qua những kiến thức
sai trái, hạn hẹp và phiến diện của ngày trước; và, như
đã nói trên, 'cái biết' nó qui định 'cái tôi', nên cũng
có nghĩa là liên tục phủ định chính 'cái tôi' của ngày
qua, mà cụ thể là tính ích kỷ cá nhân, để từng bước
tiến đến trình độ của 'cái tôi' ngày càng mở rộng, ngày
càng tròn đầy và chân thật hơn, hầu tiến đạt đến 'cái
biết' toàn vẹn và chân thật về 'bản thể chân thật', hay
'đại ngã', của vũ trụ.
Cần
phân biệt cách hiểu chữ 'biết' theo tinh thần Phật giáo
với cách hiểu thuần lý (hay trí thức) của sách vở ngày
nay. Theo cách hiểu thứ hai, 'cái biết' phân biệt với 'cái
sống', nên mới có sự kiện nghĩ một đàng, nói một lối
và làm một nẻo. Trong khi, với Phật giáo, 'biết' có nghĩa
là thẩm thấu vào thực tính của thực tại, và luôn luôn
là kết quả thực chứng của bản thân; ở đây không có
sự phân biệt giữa 'cái biết' và 'cái sống', tức là có
sự thống nhất thân-khẩu-ý, hay nghĩ-nói-làm, và mức độ
thống nhất này biểu thị không sai lạc trình độ thực chứng
của mỗi người.
Mục
tiêu của việc tiến đạt đến 'cái biết' toàn vẹn và chân
thật về 'bản thể chân thật' của vũ trụ, đối với người
học Phật, là để sống như và sống hòa hợp với 'bản
thể chân thật' đó, cũng là để trở thành chính 'đại ngã'
của vũ trụ; chứ không phải để chiêm ngưỡng, cũng không
để nói viết lung tung, tạo đức tin không thực sống (ảo
ảnh) nơi người khác, nhưng trình bày lại phương pháp (hay
con đường) để người khác có thể theo đó tự chứng nghiệm
và tự thể hiện lấy. Cho nên, nếu 'bản thể chân thật'
của vũ trụ được định nghĩa là Thiên Chúa, thì người
đạt đến 'cái biết' đó trở thành chính Thiên Chúa; cũng
vậy nếu đó là Chân lý, là Ðạo, là Thiên đế, Thượng
đế, hay ông Trời (trong tư tưởng truyền thống Ðông Á),
là Niết bàn, là Phật; hoặc là 'cục cứt khô', là 'chiếc
giày rách'..
.
Ðến
đây ta thấy 4 điểm tích cực của Phật pháp :
1/
dựa trên nền tảng thực nghiệm ('positif', theo cách hiểu
của A. Comte),
2/
xác nhận tiềm năng sẳn có trong mỗi người (xác nhận bản
tính thiện),
3/
thừa nhận nơi mỗi người khả năng tiến đạt và trở thành
'bản thể chận thật' (thừa nhận tính hướng thiện), và
4/
mở của cho sự tiến đạt trí tuệ, bằng cách chỉ đưa
ra phương pháp để mỗi người tự chứng nghiệm, tự thành
tựu và tự thể hiện chính 'bản thể chân thật' đó.
Cái
'bản thể chân thật' nói trên chính là cái toàn thể của
vũ trụ, được cấu thành bởi những thành phần của nó
và bởi mối quan hệ nhiều chiều giữa những thành phần
đó. Bản thể này không phải là một 'vật tự thân' và bất
biến. Theo tinh thần Phật giáo, không thể quan niệm được
sự hiện hữu của một 'linh hồn' hằng hữu, cũng như của
một Thiên Chúa toàn năng toàn hảo và khác biệt hẳn với
người, hay của một 'Ðấng Sáng Tạo' (kèm với các khái
niệm 'con người là tạo phẩm đã hoàn thành của Thiên Chúa',
với một 'ngày sáng thế' và một 'ngày tận thế'). Vì thế,
Phật giáo bị gán cho là 'vô thần'.
Có
thể nói rằng : trong khi toàn bộ hệ thống tư tưởng truyền
thống Tây phương xây nền trên chữ 'sáng tạo', toàn bộ
hệ thống tư tưởng truyền thống Ðông phương xây nền trên
chữ 'tiến trình', 'tiến trình trở thành' và mãi mãi đang
trở thành. Từ đó, quan niệm của Phật giáo, nói riêng, về
con người cũng hoàn toàn khác : con người, không phải là
'ân huệ' của Thiên Chúa, mà là một bước thành tựu của
tiến trình mãi mãi đang trở thành của những mối quan hệ
chằng chịt trong và với toàn thể vũ trụ tự nhiên, và con
người vẫn tiếp tục đang trở thành trong và cùng với mối
quan hệ đó.
Tóm
lại, 'cái nhìn' nền tảng của
Phật giáo là 'cái nhìn' nhắm vào mối quan hệ và được
xây nền trên chữ 'tiến trình'. Phủ định thường thấy
trong Phật giáo là phủ định thực sự. Phương pháp phủ
định này là điểm mạnh của Phật giáo,
được sử dụng để :
1/
kích thích óc nghi ngờ,
2/
bảo tồn và
3/
mở rộng mãi tự do tư tưởng của con người, nền tảng
thiết yếu của việc tiến đạt trí tuệ.
Phương
pháp phủ định thực sự này còn được sử dụng có hiệu
quả như một 'bước lùi' cần thiết khỏi sự lôi cuốn của
cuộc sống hằng ngày, để nhìn lại cuộc sống, nhìn lại
việc mình đã làm, một cách có thể gọi được là từ bên
ngoài. 'Bước lùi' này rất bổ ích cho chính mỗi người khi
bước trở lại vào với cuộc sống. Ðây là cách thực hiện
hữu hiệu nguyên tắc "trial and error - chấp nhận thử và chấp
nhận sửa sai"; không thế, nguyên tắc này sẽ trở thành một
trong muôn ngàn khẩu hiệu cửa miệng khác.
Nhưng
đó cũng là điểm yếu của Phật giáo, trong lãnh vực chính
trị. Vì, nếu nghĩa vụ chính yếu của hoạt động chính
trị là chuyển ý chí riêng rẻ, hay cá nhân, thành ý chí chung
của tập thể, thì việc cần làm là làm sao cho nhiều người
tin theo một định hướng tư tưởng, có khi cần phải áp
đặt một định hướng tư tưởng nào đó, tức là, trước
hết, phải xác định một định hướng tư tưởng. Mục tiêu
của Phật giáo, trong việc bảo tồn tự do tư tưởng và tiến
đạt trí tuệ, như đã nói trên, không cho phép Phật giáo
làm điều đó, nên có thể nói rằng Phật giáo không có chức
năng làm chính trị, ít ra đối với các loại chính trị từng
được biết đến.
Những
điều được trình bày đến đây cho thấy Phật pháp thể
hiện như một hy vọng cho tiến trình đi tới của kiến thức
thời đại, cho sự tiến đạt trí tuệ của mỗi người.
Nhưng người học Phật không thể chỉ giới hạn ở đây,
mà còn phải nổ lực hiện hóa hy vọng đó, hiện hóa trí
tuệ đạt được vào việc tổ chức sự vận hành của xã
hội, khung cảnh sống của chính mình, qua việc hoạch định
một định hướng chính trị cho tập thể của mình, thể
theo nền tảng của tinh thần Phật giáo; một cách tổng quát,
hoàn chỉnh một thế gian pháp bất ly Phật pháp Nhiều
việc phải làm, nhưng tất cả đều bắt đầu từ việc nhận
định lại, dưới dạng xác định, một số khái niệm cơ
bản : người là gì? mục đích và chức năng của con người
tại thế là gì? xã hội là gì? mục đích và chức năng của
xã hội là gì?. Các đề tài này sẽ được bàn đến vào
dịp khác./.
Paris, 11.1995
Phan
Tấn Hùng
________________________________________
(1)
trang 21, bản dịch tiếng Pháp của Claude B. Levenson (n.x.b. Flammarion,
Paris 1995) từ quyển Gentle bridges - Conversations with the Dalaĩ-Lama
on the sciences of mind, của Jeremy W. Hayward và Francisco J. Varela
(n.x.b. Shambhala Publications Inc., Boston, Massachusetts, 1992).
(2)
Ðây không phải là nghi để mà nghi, nghi suông. Loại nghi này
vô ích và, với Phật giáo, nó là một trong năm trở ngại
cho sự phát triển trí tuệ (tham, giận, buồn ngữ, hối tiếc
lăng xăng và nghi). Nhưng là cái nghi tích cực thúc đẩy việc
nghiên cứu, học và hành để tiến tới hết nghi.
(3)
Nhưng đây là nhân quả tuyến tính và một chiều, khác với
kiểu nhân quả xoay vòng : "kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké
là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà", hay nhân quả
luân hồi của thực tại trong quan điểm Phật giáo. Mới đây,
khi phải đối diện với sự phức tạp (hay phức hợp) của
sự sống nói chung, và sự sống xã hội nói riêng, Edgar Morin
(trong Introduction à la pensée complexe, Paris, 1990, trg. 158) có
đưa ra 3 chìa khóa để đọc sự phức tạp. Chìa khóa thứ
2, mà ông gọi là récursion opérationnelle, lưu ý rằng quan hệ
nhân quả có thể diễn tiến theo chiều ngược lại : nhân
trở lại là quả và quả trở lại là nhân; một cách dễ
hiểu, đây là kiểu quan hệ tương sinh giữa con gà và trứng
gà (với chìa khóa thứ 1 : trong toàn thể có thành phần và
trong thành phần có toàn thể, hay quan hệ tương dung; và thứ
3 là quan hệ tương tác : chủ thể và đối tượng của sự
nhận biết tác động lẫn nhau - Xem thêm Théorie générale des
systèmes của Von Bertalanffy). Thế là, quan điểm nhân quả tuyến
tính của khoa học đang tiến dần đến với quan điểm nhân
quả luân hồi (xoay vòng) của Phật giáo. Cần lưu ý rằng
: Theo quan điểm Phật giáo, mọi thực tại đều nằm trong
vòng luẩn quẩn của quan hệ nhân quả luân hồi, trong đó
thực tại tốt hậu của mọi sự mọi vật đều là KHÔNG
(không tự tính, không tự hữu, nhưng vì vô minh nên con người
ảo tưởng là CÓ). Ðó là thực tại khách quan, có Phật hay
không có Phật nó vẫn vậy, nhưng nhiều người lại tưởng
lầm đó là Phật giáo - một sai lầm ấu trĩ. Trong khi, bên
cạnh vòng luẩn quẩn và thực tại tối hậu đó, Phật đã
chỉ một con đường để mỗi người tự thắng vượt chúng,
bằng ý chí và khả năng của mình, đi thẳng đến Giác Ngộ
và Tồn Hữu đời đời - chính đây mới là Ðạo của Phật.
(4)"La
raison n'est pas en lui [l'homme] une faculté ou une lumen naturale; (...)
qui procède selon la règle fondamentale de la causalité" (F. Tricaud
dịch, Sirey, Paris, 1971, chương III, trg. 23.
(5)
Ðể làm chứng : "L'idée de causalité est probablement étrangère
à la mentalité du primitif et elle n'apparaît qu'à un stade de civilisation
plus avancé. Elle ne serait donc pas une idée innée, comme on a pu le
supposer." (tr. 30) Và : "Quand l'homme primitif sent le besoin d'expliquer
les phénomènes naturels, il les considère comme des récompenses ou
des punitions, suivant qu'ils se produisent en sa faveur ou à son détriment.
(...) Une telle interprétation de la nature n'est donc pas causale, mais
normative, fondée qu'elle est sur la norme sociale de la 'rétribution'."
(tr.31) - Trong Théorie pure du Droit, Henri Thévenaz dịch, Neuchâtel,
Thụy Sĩ 1988.
(6)
Dù, cũng như nhiều triết gia Ðức và Anh đồng thời, Hegel
đã nghiên cứu nhiều về Phật giáo (nhận xét của cố GS.
Trần Ðức Thảo). Trong Dialectique de la nature - Biện chứng
của tự nhiên (Editions Sociales, trg. 225) Hegel viết : "... tư
duy biện chứng - chính vì nó cần điều kiện tiên quyết
là có nghiên cứu bản chất của bản thân các khái niệm
- chỉ có thể có nơi con người; và ngay cả với con người,
nó chỉ có thể có được ở một trình độ phát triển tương
đối cao (nhà Phật và cổ Hy Lạp)..." (trích và dịch bởi
Bùi Mộng Hùng, Tâm lý học trong đạo Phật, Diễn Ðàn số
54, Paris, 7.1996).
(7)
Ðúng hơn, chính quan niệm về thế nào là luân lý, hay đạo
lý đã thay đổi. Có thể nói rằng, trong khi toàn bộ hệ
thống tư tưởng Ðông phương xây nền trên khái niệm 'tiến
trình', tiến trình trở thành và mãi mãi đang trở thành, không
có điểm đầu cũng không có điểm cuối, thì toàn bộ hệ
thống tư tưởng Tây phương được xây dựng trên hai chữ
'sáng tạo', với một ngày sáng thế và một ngày tận thế,
cùng với sự có mặt của một Thần tạo ra vũ trụ theo qui
luật do Thần quyết định và tạo ra con người theo hình ảnh
của Thần : một thế giới đã hoàn thành và hoàn chỉnh,
hay đã cố định và gần như tuyệt đối. Từ nền tảng
tư tưởng như vậy, người Tây phương tin rằng trong con người
có một linh hồn khác biệt với thân xác và với vũ trụ
tự nhiên. Thần còn trao cho con người quyền thống trị muôn
loài và vũ trụ tự nhiên (Genèse I, 27 và 28), đồng thời
Thần nêu ra những hăm dọa trừng phạt để buộc con người
phải tuân theo những qui luật gọi là tự nhiên nhưng do Thần
định đoạt. Ðó là hai vế nền tảng tạo nên quan điểm
luân lý của xã hội Tây phương thời đó; nó chi phối gần
như toàn bộ hệ thống triết học Tây phương, còn gọi là
'triết học bản thể' chuyên chú đi tìm 'hữu thể thần tạo'
(être) nơi con người và trong mọi vật; đó cũng là nguồn
gốc của 'chủ nghĩa dĩ nhân vi trung' (anthropocentrisme) kiểu
Tây phương, nặng tính thần giáo và phân biệt chủng loại
rồi phân biệt chủng tộc. Quan điểm của René Descartes và
của Francis Bacon nêu đây là thí dụ đại biểu cho phản ứng
của trí thức Tây phương từ thời Phục Hưng nhằm phủ nhận
luân lý đó, không chịu khuất phục ý chí của Thần và phủ
nhận luôn tính thần tạo nơi hữu thể con người. Quan điểm
này được đánh giá là có tính 'cách mạng', nhưng thực chất
là đi từ cực đoan sang cực đoan khác, như trở bánh tráng,
và vẫn còn nằm trong thế giới của hai chữ 'sáng tạo',
vì vẫn giữ đức tin cho rằng nơi con người có một 'bản
thể tự hữu' (être-en-soi), hay 'tự thể' (nhiều người dùng
chữ 'hữu thể'), làm cho con người tự bẩm sinh là một sinh
vật đặc biệt và khác biệt với muôn loài muôn vật và
có toàn quyền hành xử, thống trị, chăn dắt và sở hữu
hóa tất cả - 'quyền của con người' kiểu này đã bị xét
lại từ thập niên 60 (Michel Foucault) và đang bị lên án khắp
nơi. Quan điểm có tính phản ứng này chi phối khoa học cho
mãi tới gần đây và đang bị chỉ trích nặng nề. Vấn đề
luân lý cho khoa học đang được nêu ra, nhưng lần này đặt
nền trên trách nhiệm, không phải quyền, xuất phát từ ý
thức về mối quan hệ sinh tồn không khác biệt từ bản thể
giữa con người với mọi loài và tất cả đều là tiến
trình cùng nhau đang trở thành - nền tảng cho một thuyết
nhân bản và nhân quyền mới. - đây, có sự gặp gỡ giữa
trí tuệ khoa học thời đại với tư tưởng truyền thống
Ðông phương, nói chung, và với 'Nhân Duyên Sinh quan' của Phật
giáo, nói riêng. Mà quan hệ ở đây là sống động, tương
đối và hổ tương, nên trách nhiệm cũng không thể cố định,
tuyệt đối và một chiều; tức là, ví dụ như, nếu Thần
còn có quan hệ với người thì phải có phần trách nhiệm
của Thần. Và 'đạo lý của đức tin' (l'éthique de convic-tion,
chữ của Max Weber) đang được thay thế dần bởi 'đạo lý
của trách nhiệm' (dịch: l'éthique de responsabilité), đúng hơn,
bởi 'đạo lý của từ bi' (dịch: l'éthique de compassion). Mặt
khác, 'triết học tự thể' (xoay quanh cái 'être-en-soi') cũng
đã bế tắc vì, với những khám phá mới, khoa học thời
đại bác bỏ sự hiện hữu của một 'bản thể tự hữu'
nào đó; khái niệm "tự thể - Being - Être" vốn là nền tảng
của toàn bộ hệ thống triết học Tây phương đến gần
đây đã bị xem là lỗi thời. Và từ vài mươi năm trở lại
đây thấy xuất hiện ở Anh và Mỹ một học phái mới là
'triết học tiến trình' (process philosophy), với những Peire,
Whitehead, Prigogine, và Hartshorne, xây nền trên khái niệm "Trở
Thành - Becomming - Devenir" đã được chứng nghiệm bởi khoa
học thời đại và trùng hợp với quan điểm về thực tại
của Phật giáo (khác với Ðạo của Phật). Sự thay đổi
ý thức, tư tưởng và cái nhìn này, do khoa học thời đại
tác động, là trụ cốt của sự chuyển hướng đang dẫn
các xã hội 'tân tiến' đi vào thời đại gọi là 'hậu tân
tiến'.
(8)
Mọi người đều biết sẽ không có nước Nhật ngày hôm
nay, nếu không có quốc sách Kaizen (là cải thiện và cải
thiện liên tục).