TÌM
HIỂU THUYẾT TIẾN HOÁ
Thư
Sinh
Tiến
hóa là một tiến trình của sự thay đổi qua một thời gian
lâu dài. Sự tiến hóa có thể nhận thấy được trong nhiều
lãnh vực thí dụ như về thiên văn học, sự thành lập các
ngôi sao hay các hành tinh đã phải trải qua một tiến trình
thay đổi từ những bụi bặm cùng các hơi nóng theo sự hiểu
biết của ngày nay. Hoặc ngay cả về ngành xã hội học, xã
hội ngày nay đã phải trải qua nhiều sự thay đổi từ lúc
con người ta còn ăn lông ở lỗ cho tới một nền xã hội
kỹ nghệ văn minh đầy phức tạp. Song le, mỗi khi nhắc đến
"sự tiến hóa", người ta thường nghĩ đến Thuyết Tiến
Hóa là một thuyết lý đề cập đến tiến trình thay đổi
đời sống của các loài sinh vật trên trái đất. Ý niệm
của Thuyết Tiến Hóa Hữu Cơ, hay thường được gọi ngắn
gọn là Thuyết Tiến Hóa, là hàng triệu các loài có đời
sống trên trái đất ngày nay đã sinh sôi nẩy nở và phát
triển, qua thời gian, từ những sinh vật có đời sống và
cấu tạo rất đơn giản.
Thuyết
Tiến Hóa đầu tiên được nhà vạn vật học người Pháp,
Chevalier de Lamarck, nói đến năm 1809, nhưng không được ai
chú ý cho mãi đến năm 1858, nhà vạn vật học người Anh
tên Charles R. Darwin trình bầy luận thuyết này và được nhiều
người để ý tới. Từ đó trở đi, nhiều sự khảo cứu
khoa học đã ngày càng hoàn chỉnh luận thuyết này thêm chính
xác hơn.
Những
Ðiểm Chính Trong Luận Thuyết Tiến Hóa
Ðiểm
căn bản thì vẫn là các sinh vật sẽ biến đổi những đặc
tính di truyền qua thời gian. Sự thay đổi này đã biến một
số sinh vật sống thời xa xưa thành những sinh vật với hình
ảnh của ngày hôm nay. Trong suốt thời gian khoảng vài triệu
năm, một khoảng thời gian được coi là tương đối ngắn
với số tuổi của trái đất, đã có hàng ngàn các loại
sinh vật bị diệt chủng và hàng ngàn các loại khác được
sinh ra.
Thuyết
Tiến Hóa cho rằng tất cả các loại sinh vật có lẽ đã
phát triển từ một sinh vật có hình thể rất đơn giản
sống cách đây khoảng 3.5 tỷ năm. Qua thời gian, sinh vật
đơn giản này biến đổi thành hai hay nhiều loại khác nhau.
Những sinh vật mới này lại phát triển và biến đổi thành
những loại sinh vật khác. Tiến trình này được gọi là
"sinh loại (speciation)" và sản xuất được khoảng 2 triệu
loại sinh vật đang sinh sống trên trái đất ngày hôm nay.
Liên
quan đến sinh loại là luận cứ "cùng thủy tổ". Bởi vì
nếu tất cả các sinh vật từ cùng một loại sinh vật đơn
giản đầu tiên ra, có nghĩa bất cứ loại sinh vật nào cũng
có cùng một thủy tổ. Loại sinh vật nào có những điểm
tương đồng hay giống nhau thì có cùng một thủy tổ gần
đây, tuy nhiên những loại khác nhau thì phải tìm hiểu mãi
sâu trong quá khứ để kiếm thủy tổ của chúng. Thí dụ
như con người và loài khỉ hay đười ươi có cùng một thủy
tổ sống cách đây khoảng 4 tới 10 triệu năm; trong khi đó
con người và loài bò sát như thằn lằn, rắn mối có cùng
một thủy tổ sống cách đây khoảng 300 triệu năm.
Một
luận cứ khác cũng liên quan đến thuyết Tiến Hóa là "sự
biến đổi từ từ (gradualism)". Sự biến đổi từ từ cho
rằng những biến đổi tiến hóa của các sinh vật không xẩy
ra một cách bất thình lình, mà thay đổi từ từ theo thời
gian theo hàng thế kỷ hoặc hàng triệu năm. Theo các nhà khoa
học thì mức độ tiến hóa của ngày hôm nay bằng khoảng
mức độ biến hóa đã xẩy ra trong quá khứ.
Một
luận cứ khác là luận cứ "tuyển lọc tự nhiên (natural selection)",
một tiến trình của các sinh vật thích hợp với môi trường
sinh sống sẽ có nhiều con cháu nhất. Tất cả mọi sinh vật
đều tranh nhau sống với sự giới hạn của thực phẩm, nước,
không gian sinh sống và những yếu tố cần thiết khác. Những
thực vật hay động vật nào có thể thay đổi để thích
hợp với môi trường sống sẽ nắm ưu thế và sẽ sinh sản
đông hơn là các sinh vật cùng loại khác trong cùng một nhóm.
Vì thế tỷ lệ của các sinh vật này, mang những đặc điểm
thích hợp với môi trường sống, trong cùng một nhóm sẽ
ngày càng tăng qua các thế hệ. Các khoa học gia dùng danh từ
"thích hợp (fitness)" để diễn tả trường hợp có khả năng
sinh sản mạnh của một sinh vật, hay người Việt mình nói
một cách nôm na là: "Mạnh được, yếu thua (survival of the
fittest)".
Mặc
dù sự tiến hóa được gọi là "thuyết" nhưng không có nghĩa
sự tiến hóa về vạn vật học chỉ là những sự suy đoán
và không có những dẫn chứng khoa học. Trong khoa học, một
luận thuyết là những tư tưởng, những ý kiến được dựa
trên những sự quan sát về thiên nhiên để giải thích những
dữ kiện liên quan đến nó. Thuyết Tiến Hóa được được
phát triển dựa trên những dẫn chứng rộng lớn của nhiều
ngành khoa học. Khi một luận thuyết có quá nhiều dẫn chứng
khoa học, nó sẽ trở thành một sự kiện khoa học (a
scientific fact). Hầu hết các nhà khoa học đều coi Thuyết
Tiến Hóa là một sự kiện khoa học. Tuy nhiên, có nhiều người
không chấp nhận Thuyết Tiến Hóa vì lý do niềm tin nơi tôn
giáo.
Những
Lý Do Của Sự Biến Ðổi Của Thuyết Tiến Hóa
Hầu
hết những thay đổi trong sự tiến hóa gây ra bởi sự tác
động của hai tiến trình: (1) biến dạng (mutation) và (2) tuyển
lọc thiên nhiên (natural selection). Sự biến dạng tạo ra sự
thay đổi ngẫu nhiên trong sự di truyền của một sinh vật
hay một nhóm sinh vật (một nhóm sinh vật của cùng một loại
sinh vật sống trong cùng một vùng). Sự tuyển chọn thiên
nhiên sẽ tuyển lọc những thay đổi này, những thay đổi
khiến một loại sinh vật tăng thêm khả năng thích hợp với
môi trường sống và được truyền từ đời này đến đời
khác. Cũng cùng thời gian đó, sự tuyển lọc thiên nhiên cũng
sẽ loại đi những thay đổi đã khiến một sinh vật có ít
khả năng thích hợp với môi trường sống hơn. Một tiến
trình khác cũng gây ra những thay đổi trong một quần thể
nào đó, được gọi là "xu hướng di truyền (genetic drift)".
Tuy nhiên các nhà khoa học thì cho là nó không quan trọng bằng
sự tuyển lọc thiên nhiên.
Sự
biến dạng là một sự thay đổi của một di tố (gene),
đơn vị căn bản của sự di truyền. Sự biến dạng có thể
gây ra thay đổi tới các đặc điểm di truyền. Ðể hiểu
sự biến dạng gây sự thay đổi ra sao thì cần phải
hiểu những đặc điểm được di truyền thế nào.
Những
đặc điểm di truyền được chứa trong một dạng cấu trúc
giống như sợi chỉ, được gọi là nhiễm sắc thể (chromosomes),
ở trong các tế bào. Những nhiễm sắc thể này mang nhiều
các di tố (genes) bao gồm một hợp chất gọi là DNA (deoxyribonucleic
acid). DNA chính là nơi chứa các dữ liệu quyết định các
đặc điểm di truyền.
Hầu
hết trong các tế bào của thực vật và động vật chứa
một bộ cặp nhiễm thể. Thí dụ như trong tế bào của con
người có 46 nhiễm thể và xếp theo làm 23 cặp. Thai nhi sẽ
nhận một nửa bộ nhiễm thể từ người cha và một nửa
bộ nhiễm thể từ người mẹ. Nói một cách khác, trứng
(noãn) của người mẹ chứa nửa cặp nhiễm thể và tinh trùng
của người cha chứa nửa cặp nhiễm thể. Khi tinh trùng vào
trứng, sự thụ thai, có đủ một cặp nhiễm thể.
Ðôi
khi, những di tố từ một cặp nhiễm thể này đổi chỗ với
một cặp nhiễm thể khác khi tinh trùng hay noãn bào được
thành hình. Sự thay đổi chỗ của di tố như vậy được
gọi là " sự tái hợp (recombination)", và có thể tạo nên
một sự kết hợp mới với đặc điểm di truyền mới.
Khi
hợp tử - trứng và tinh trùng - bắt đầu phát triển, mỗi
nhiễm sắc thể trong nhân của tế bào sẽ làm trở thành
hai bản giống hệt nhau và nằm sát nhau theo cặp. Trong một
tiến trình bình thường của sự sinh chia tế tào, mỗi tế
bào mới sẽ chứa 1 bộ cặp nhiễm sắc thể. Vì vậy tế
bào mới chứa một bộ nhiễm sắc thể giống hệt với tế
bào cũ. Tiến trình sinh sản tế bào cứ thế tiếp tục cho
đến khi tất cả các tế bào được tạo lập để trở thành
một sinh vật.
Làm
Sao Sự Biến Dạng Thay Ðổi Một Loại Sinh Vật?
Sự
biến dạng có thể gây ra bởi những yếu tố môi sinh ở
xung quanh như chất hóa học, chất phóng xạ làm biến đổi
DNA trong các di tố, hoặc do sự sai lầm lúc tạo lập DNA trong
tiến trình sinh sản tế bào. Sau khi một di tố đã thay đổi,
nó sẽ tạo ra một tế bào khác y như nó. If những di tố
biến dạng nàycó trong noãn hay tinh trùng của một sinh vật,
chúng sẽ làm biến đổi một số đặc điểm di truyền. Chỉ
có sự biến dạng mới có thể gây ra những đặc tính di
truyền mới, vì vậy, sự biến dạng là nền căn bản của
sự thay đổi cho sự tiến hoá và sự phát triển của các
giống loài mới.
Sự
biến dạng là một điều thông thường nhưng mức độ không
đều, và hầu hết là những đặc tính di truyền không thích
hợp. Sự khiếm khuyết các nhiễm sắc tố là một thí dụ
điển hình của sự biến dạng. Các động vật thiếu nhiễm
sắc tố có những di tố biến dạng thiếu khả năng tạo
ra một mầu da bình thường. Những động vật này sẽ không
sống được và không sinh sản được như những động vật
bình thường khác. Hầu như trong mọi trường hợp, những
di tố biến dạng như thế đều bị loại bỏ bởi tiến trình
tuyển lọc thiên nhiên, bởi vì hầu hết các sinh vật đó
đều chết trước khi có thể sinh sản. Tuy nhiên một vài
sự biến dạng lại giúp cho các sinh vật thích hợp hơn với
môi trường sinh sống của chúng. Thí dụ như một thực vật
ở một khu vực khô cằn nào đó có thể có di tố biến dạng
giúp chúng phát triển rễ mọc sâu hơn. Ðiều này sẽ giúp
cho thực vật này có khả năng sinh trưởng và sống lâu hơn
các loại khác vì rễ của nó mọc sâu hơn và hút được
nhiều nước hơn. Loại biến dạng như vầy là nền căn bản
cho các thay đổi của sự tiến hóa.
Tuyển
Lọc Tự Nhiên: bao gồm bất cứ đặc điểm nào có thể ảnh
hưởng tới khả năng cá nhân trong lãnh vực sinh sản. Những
đặc điểm này bao gồm hình dạng, các chất hoá học trong
cơ thể, và thân thể học (khả năng hoạt động của sinh
vật), và kể cả tính tình. Ðể có một sự tuyển lọc tự
nhiên, cần phải có hai điều kiện. Thứ nhất, những cá
nhân của một quần thể phải khác nhau về những đặc điểm
di truyền. Thí dụ như con người hầu như khác nhau về nhân
dạng gồm chiều cao, sức nặng, mầu mắt. Người ta cũng
khác nhau ở những đặc điểm khác không tỏ lộ như kích
thước của bộ óc, độ dầy của xương, và mức độ mỡ
trong máu. Những sự khác biệt này do những yếu tố di truyền
căn bản mà ra.
Ðiều
kiện thứ hai là một số các sự di truyền khác biệt đó
phải ảnh hưởng tới khả năng sinh tồn và sinh sản. Khi
điều này xẩy ra, những cá nhân thích hợp nhất sẽ có khả
năng truyền những di tố của mình tới những thế hệ tương
lai hơn là những các cá nhân khác. Qua một thời gian là một
giống loại thu gồm những di tố có khả năng sinh tồn trong
môi trường đó.
Sự
tuyển lọc thiên nhiên là một tiến trình theo nhóm. Nó là
một sự tiến hóa của một tập hợp hay của một giống
loại mà không phải là sự tiến hóa của một cá nhân, bằng
cách từ từ tăng dần những đặc điểm của nhóm qua một
thời gian.
Sự
tuyển lọc thiên nhiên có thể được thấy qua thí dụ điển
hình qua một loại cây xương rồng tên là xương rồng lê
(loại xương rồng có trái nhìn giống như quả lê). Loại
xương rồng lê này thường mọc rất thấp và thân nhọn mền.
Trên đảo Galapagos, nằm dưới miền Nam Mỹ Châu vùng biển
Ðại Tây Dương, loại xương rồng lê là thức ăn chính của
giống rùa to lớn. Rùa thì thường ăn loại xương rồng thấp
bình thường hơn là loại xương rồng cao với những thân
nhọn và cứng. Vì vậy, kết quả cho thấy, loại xương rồng
cao, nhọn và cứng đã tiến hóa từ loại thấp và mền và
sinh sản nhiều hơn qua một thời gian. Cho tới nay, chủng loại
xương rồng lê phổ thông nhất trên đảo. Nhưng ở những
đảo khác không có rùa thì hầu như tất cả vẫn là loại
xương rồng lê thấp và mềm.
Có
nhiều loại tuyển lọc tự nhiên. Chúng bao gồm: (1) tuyển
lọc trực tiếp, (2) tuyển lọc quân bình, và (3) tuyển lọc
dục tính.
Tuyển
lọc trực tiếp: phát sinh ra đặc điểm mới để giúp các
loài trở nên thích hợp với môi trường đang sinh sống. Loại
tuyển lọc này chính là loại mà mọi người muốn nhắc tới
khi nói đến tuyển lọc tự nhiên. Sự tiến hóa của loài
xương rồng lê là một thí dụ điển hình cho trường hợp
này. Những cá nhân có những đặc điểm ưu thế khác với
những đặc điểm chung của một tập thể, sẽ sinh sản con
cháu đông hơn, và điều này sẽ khiến con số cá nhân có
những đặc điểm này ngày càng đông hơn trong tập thể đó.
Tuyển
lọc quân bình: xẩy ra khi một loại nào đó đã trở nên
thích hợp với môi trường đang sinh sống rồi. Trong trường
hợp này thì những cá nhân với nhiều đặc điểm chung (quân
bình) sẽ sinh sản mạnh nhất, và những cá nhân với các
đặc điểm bất đồng với đa số trong tập thể sẽ là
kẻ sinh sản yếu kém nhất. Thí dụ điển hình là xác
xuất tử vong của các bé sơ sinh dựa trên cân lượng khi
mới sinh. Những bé sơ sinh với sức nặng trung bình ít bị
tử vong hơn là các bé nặng hơn hoặc nhẹ hơn. Không giống
như là sự tuyển lọc trực tiếp, tuyển lọc quân bình loại
bỏ những đặc điểm thuộc loại cực đoan, và làm giảm
thiểu mức độ khác biệt trong một quần thể. Sự tuyển
lọc quân bình là sự tuyển lọc thường xẩy ra nhất trong
sự tuyển lọc thiên nhiên.
Tuyển
lọc dục tính: xẩy ra thường xuyên trong các loài động vật.
Các động vật khi có khả năng sinh sản thường ưa thích
người bạn đời của chúng phải có những đặc điểm nào
đó trên thể xác hay tính tình như thế nào. Qua một thời
gian, tiến trình này sẽ đưa đến một sự cải biến về
cách tán tỉnh, mầu sắc rực rỡ để hấp dẫn kẻ khác
phái, và những đặc điểm khác. Sự tuyển lọc dục tính
giải thích những trường hợp, thí dụ như, tại sao rất
nhiều loại chim đực lại có mầu sắc rực rỡ hơn loài
chim cái.
Xu
Hướng Di Truyền (Genetic Drift): là một sự thay đổi ngẫu
nhiên về mức độ của những di tố trong một quần thể.
Nó được xẩy ra dưới hình thức ngẫu nhiên khi noãn và
tinh trùng tiếp nhận vài nhiễm sắc từ người cha, người
mẹ khi chúng đang thành hình. Bởi vì những tế bào sinh sản
này chỉ có nửa bộ nhiễm thể, chỉ có một nửa di tố
của mỗi người cha hay mẹ là ở trong noãn hay tinh trùng.
Nếu những người cha mẹ này hiếm muộn hoặc ít sinh con
cái, một số di tố sẽ không được truyền đến thế hệ
tới. Xu hướng di truyền không phải là động lực khiến
các loài phải tiến hóa để trở nên thích hợp với môi
trường sống của chúng, vì nó xẩy ra bởi sự thay đổi
ngẫu nhiên
Sự
Tiến Hóa Của Những Giống Loại Mới
Trong
các loại động vật và thực vật sinh sản qua dục tính thì
cụm từ "giống loại (species)" được dùng để diễn tả
một nhóm, hay một quần thể động vật hoặc thực vật có
khả năng sinh sản khi sau khi giao tình với nhau. Các giống
loại khác nhau không có khả năng sinh sản sau khi giao tình.
Có
nhiều cách trong thiên nhiên phân biệt giống loại này với
giống loại khác và được gọi là "những yếu tố ngăn cách
sự sinh sản". Chúng bao gồm cả những yếu tố ngăn chận
những giống loại khác nhau, tuy sống cùng một vùng, sẽ không
giao tình với nhau. Thí dụ như nhiều loại chim có những kiểu
nhẩy múa tán tỉnh để giao tình rất khác biệt, khiến những
con chim cái khác loại chẳng có một mảy may "rung động" với
kiểu nhẩy múa của một anh chàng chim đực khác giống nào
đó. Tuy thế không hẳn là các loài khác giống không bao giờ
giao tình với nhau, nhưng những yếu tố ngăn cách sự sinh
sản sẽ là trở lực của sự sinh sản hoặc gây tử vong
cho thai nhi của con vật đã được sinh ra. Thí dụ điển hình
là con la. Con la được sinh ra bởi sự giao tình của một con
ngựa cái và một con lừa đực. Tuy nhiên đến đời con la
thì tuyệt đường sinh sản.
Một
nhóm động vật hay thực vật một khi đã phát triển được
những yếu tố ngăn cách sự sinh sản, ngăn chận chúng gieo
giống ngoài nhóm, trở thành một giống loại mới. Hầu hết
các nhà vạn vật học tin rằng tiến trình này, phân loại
(speciation), thường bắt đầu khi một giống loại nào đó
bị trở thành hai nhóm do sự ngăn cách bởi địa dư.
Sự
ngăn cách bởi địa dư có thể do sự di chuyển, đổi dời
của các lục địa qua hàng triệu năm, hay bị chia cắt bởi
những núi băng hoặc sông ngòi, kể cả những vùng đất trồi
lên từ biển và trở thành như những cây cầu ngăn chia
các loài thủy vật. Qua một thời gian, các giống loại tiến
hóa một cách cách biệt bởi do khác môi trường và sự biến
dạng khác biệt xẩy ra trong mỗi quần thể. Nếu sự ngăn
cách địa dư quá lâu, quần thể này trở nên quá khác biệt
với quần thể kia khiến khả năng di truyền qua giao tình của
quần thể này với quần thể kia sẽ không còn nữa. Những
yếu tố ngăn cách sự sinh sản lúc đó sẽ hiện hữu và
quần thể của giống loại đó dần dần đi đến chỗ tuyệt
chủng.
Những
Chứng Cớ Của Sự Tiến Hóa
Hầu
hết các sự thay đổi tiến hóa xẩy ra rất lâu, khó có thể
quan sát một cách trực tiếp. Tuy nhiên đây không phải là
cách duy nhất để định một sự tiến hóa đã xẩy ra hay
không. Các nhà khoa học đã thu thập được một số lượng
chứng cớ khổng lồ, ghi nhận các trường hợp tiến hóa
đã xẩy ra. Các chứng cớ được tiếp nhận qua 6 cách chính
là: (1) thạch cốt, (2) biểu thị địa dư của các giống
loài, (3) thai nhi, (4) vết tích các cơ quan (organ-thuộc về
vạn vật học), (5) quan sát trực tiếp sự tiến hóa, và (6)
tuyển lọc nhân tạo.
Thạch
cốt: cung cấp những chứng tích rõ ràng nhất của sự tiến
hóa. Hầu hết các sinh vật hóa thạch cốt bị chôn vùi dưới
những tầng lớp bùn hay cát và sau đó trở thành đá. Các
nhà khoa học đo số tuổi của các thạch cốt này bằng phương
pháp phóng xạ (radioactive dating). Thường thì sự ghi nhận
hóa cốt có những khoảng cách vì chỉ một số ít hóa thành
đá, tuy nhiên các nhà nghiên cứu các sinh vật sống thời
tiền sử (palaeontologists) đã tìm được tương đối đầy
đủ những thạch cốt để nắm vững đời sống của các
sinh vật trên trái đất từ xưa tới nay.
Các
thạch cốt cho thấy một sự chuyển tiếp từ sự sống đầu
tiên dưới dạng một tế bào đơn giản, qua những sinh vật
có nhiều tế bào, và trở thành những sinh vật phức tạp
đang sống ngày hôm nay. Những thạch cốt tìm được trong
những tầng lớp đá cổ xưa bao gồm cả những dạng đời
sống đơn giản và rất khác biệt với các sinh vật đang
sống ngày nay, trong khi đó những sinh vật có dạng đời sống
phức tạp vừa mới hóa thành thạch cốt thì tuơng đồng
với những thực vật và động vật đang sinh sống ngày nay.
Các thạch cốt đã chứng tỏ rất nhiều giống loại đã
bị tuyệt chủng và những giống loại hiện hữu ngày hôm
nay không có nghĩa là đã có mặt trên trái đất từ những
ngày đầu tiên.
Các
thạch cốt cũng để lại nhiều thí dụ về những thay đổi
trong sự tiến hóa và phân loài một cách liên tục. Một thí
dụ điển hình nổi bật là sự tiến hóa của loài động
vật có vú từ loài bò sát mà ra. Những thạch cốt cho thấy
không có một loài động vật có vú nào hiện hữu cách đây
250 triệu năm, nhưng có rất nhiều loài bò sát trong thời
gian đó. Loài có vú đầu tiên được ghi nhận qua các thạch
cốt sống cách đây khoảng 200 triệu năm. Giữa hai khoảng
thời gian này, các nhà khoa học đã tìm được rất nhiều
những xương cốt của loài bò sát giống như loài có vú.
Những bộ xương cốt của loài bò sát giống loài có vú ở
thời gian đầu tiên thì gần giống như đúc của loài bò
sát, nhưng càng về sau những bộ xương lại càng giống như
loài có vú. Ở khoảng giữa là những bộ xương nửa giống
loài bò sát nửa giống loài có vú. Sự chuyển tiếp từ loài
bò sát qua loài có vú từ từ tới độ không thể nào quyết
định rõ ràng điểm nào là chỗ loài bò sát trở thành loài
có vú! Những thạch cốt này ghi nhận lại rõ ràng sự tiến
hóa của loài có vú từ thủy tổ là loài bò sát.
Một
thí dụ khác về sự tiến hóa liên tục cũng đã được tìm
thấy từ những thạch cốt là sự tiến hóa của loài ngựa,
một loại động vật có vú.
Những
thạch cốt khác cho thấy những chứng tích của sự tiến
hóa bao gồm "những dạng chuyển tiếp (transitional forms)",
có nghĩa những sinh vật có dạng là thủy tổ của những
nhóm động vật đang sống ở thời đại này. Nhiều dạng
chuyển tiếp là sự tập hợp của những đặc điểm loài
đang sống ngày hôm nay. Thí dụ, Archaeopteryx là một thạch
cốt thuộc thủy tổ liên quan đến loài chim và loài bò sát.
Loại thạch cốt này có xương cốt gần giống như đúc với
loài khủng long nhỏ nhưng lại có những đặc điểm giống
như chim thí dụ như có lông chim, có mỏ như chim, và một
cặp cánh thuộc loại mới phát triển. Những dạng chuyển
tiếp khác như thủy tổ của loài người chẳng hạn. Kể
từ thập niên 1920's, các nhà tiền sử học đã thu thập được
những bộ thạch cốt chứng tỏ sự tiến hóa của con người
ngày nay từ loài người giống khỉ gọi là australopithecines.
Biểu
Thị Ðịa Dư Của Các Giống Loài: cung cấp nhiều bằng chứng
quan trọng cho Thuyết Tiến Hóa. Một số các đảo, được
gọi là hải đảo, nổi lên từ lòng biển và chưa bao giờ
nối liền với bất cứ một lục địa nào. Thí dụ như Hawaii,
Tahiti, và quần đảo Galapagos. Các sinh vật được tìm thấy
trên trên những hải đảo là những loại có thể đi đây
đó một cách dễ dàng, nhất là qua một khu vực biển rộng
lớn. Những quần đảo này thì có rất nhiều các loại côn
trùng có cánh, dơi, chim, và một số các thực vật đã trôi
đến đảo qua dạng hột. Những hải đảo này không có những
những loại thú vật thường thấy ở các lục địa. Thí
dụ như đảo Galapagos không có thú vật có vú. Các hải đảo
này không có cả loài động vật lưỡng cư (amphibian) như
ếch, cóc, và các loại bò sát vừa sống dưới nước vừa
sống trên bờ. Các loài động vật có vú và lưỡng cư không
dễ dàng để di chuyển từ lục địa ra hải đảo. Ngoài
ra, đa số các sinh vật trên các hải đảo thì rất giống
như các sinh vật ở những lục địa gần đấy, ngay cho dù
môi trường sống và khí hậu khác nhau. Thí dụ như đảo
Galapagos nằm về miền duyên hải của nước Ecuador của Nam
Mỹ Châu. Quần đảo này thì nhiều đá và khô hơn là vùng
duyên hải là nơi khí hậu ẩm thấp hơn và có những cánh
rừng rập rạp của miền nhiệt đới. Tuy nhiên những loài
chim và thực vật trên đảo Galapagos thì lại giống như những
loại sống dọc vùng duyên hải ẩm thấp hơn là những loài
chim và thực vật sống ở những đảo khô cằn khác. Ðiều
này chứng tỏ những loài sinh vật sống trên đảo này đến
từ vùng duyên hải chứ không phải phát xuất từ chính đảo
này ra.
Sống
trên các hải đảo là những động vật và thực vật sống
một cách đông đảo, và là thành phần chính trên đảo, khi
so sánh với những sinh vật tương tự sống ở lục địa,
và có vài giống không thể tìm thấy ở những nơi khác. Thí
dụ như đảo Galapagos có 21 loại chim, trong 21 loại này có
13 loại thuộc về giống chim sẻ - một tỷ lệ cao hơn bất
cứ nơi nào trên lục địa. Những con chim sẻ này thuộc về
loại chỉ có trên đảo Galapagos. Vì vậy sự trải giống
phù hợp với luận cứ là một số ít các loài đến hải
đảo từ những lục địa gần nhất và rồi tiến hóa thành
một giống loài khác.
Thai
Nhi: là môn học về các sinh vật phát triển trong những thời
gian đầu tiên của đời sống. Sự phát triển của thai nhi
của nhiều loại sinh vật bao gồm nhiều trường hợp lạ
lùng mà chỉ có thể giải thích được qua sự tiến hóa của
loài sinh vật này từ các loài sinh vật khác. Thí dụ như
thai nhi của loài có vú tạo nên ba loại thận một cách nối
tiếp trong thời gian phát triển. Hai loại thận đầu tiên
không có một khả năng hoạt động nào, và rồi biến mất
trong một thời gian ngắn sau khi thành hình. Loại thận thứ
ba liền sau đó thành hình và phát triển thành bộ thận đầy
đủ với một chức năng hoạt động của loài có vú. Trong
các thai nhi của loài cá, loài lưỡng cứ, và bò sát thì một
trong hai loại thận đầu tiên trở thành quả thận hoạt động
chính của chúng. Ðiều này nói nên điểm các loài có vú
hãy còn giữ những đặc điểm phát triển tiến hóa của
các loài thủy tổ của chúng. Một thí dụ khác trong thời
kỳ phát triển thai nhi của con người, khi còn là thai nhi trong
bụng mẹ, thân thể của các thai nhi được bọc bởi những
sợi lông mềm mại gọi là "lanugo", những sợi lông này bị
rụng trước hoặc một thời gian ngắn sau khi sinh. Vì
vậy lanugo thì hầu như chắc chắn là một trong những đặc
điểm còn lại của thời kỳ "giống khỉ" của con người.
Vì các thai nhi của khỉ hay đười ươi cũng phát triển một
bộ lông mềm như tơ nhưng giữ nguyên, không rụng.
Chứng
Tích Cơ Quan: là những phần vô ích còn lại của các cơ quan
mà trong quá khứ là những vật hữu dụng trong thời kỳ của
những loài thủy tổ. Thí dụ như rất nhiều loại cá, lưỡng
cư, hay động vật sống trong những hang động, tuy là mù nhưng
đều có mắt. Có nhiều loại có cơ quan giác thị hầu như
hoàn toàn nhưng lại thiếu những sợi thần kinh mắt, trong
khi đó có loại có những cặp mắt nhỏ xíu hoặc đã bị
biến dạng. Có một số loại tôm đất sống trong các hang
động có những cây càng mang mắt nhưng lại không có mắt.
Những loài này thật ra đã tiến hóa từ thủy tổ của chúng
có một đôi mắt với cơ năng hoạt động bình thường. Bởi
vì mắt trở nên vô dụng trong những hang động tối tăm,
sự biến dạng làm hư hại cặp mắt của các loài này đã
không làm giảm khả năng sinh tồn của chúng trong môi trường
đó, vì vậy cặp mắt dần dần trở nên mù, vô dụng vì
không cần đến. Cũng tương tự như thế, rất nhiều con cá
voi có chứng tích của những chiếc xương chân nhỏ xíu, một
chứng tích của thủy tổ của chúng để lại khi còn sinh
sống trên bờ.
Một
trong những chứng tích cơ quan được biết rộng rãi là khúc
ruột dư của con người, đó là một ống nhỏ nối liền
với ruột già. Trong các loài khỉ Orangutan và các loài đười
ươi, khúc ruột dư đó chính là một túi ruột nhỏ dùng để
giúp cho sự tiêu hóa thực vật. Nhưng với con người thì
khúc ruột này chẳng sử dụng cho một mục đích nào cả,
và nó còn gây hại cho con người là đàng khác.
Quan
Sát Trực Tiếp Sự Tiến Hóa: Những thay đổi tiến hóa
thường thì rất chậm. Tuy nhiên có một vài trường hợp
nó xẩy ra rất nhanh và có thể thấy được khi nó đang xẩy
ra trên một số các loài vật hiện hữu. Ðiều này xẩy ra
thường xuyên khi một loài nào đó đang trải qua một sự
thay đổi về yếu tố di truyền để đáp ứng lại sự khuấy
động môi trường sinh sống của chúng do con người tạo ra.
Thí
dụ như loại bướm đêm thay đổi mầu sắc sẽ biến đổi
thật nhanh để thích hợp với môi trường sống. Có một
thời gian, hầu như toàn thể loài bướm này sống ở những
khu kỹ nghệ nước Anh là mầu trắng ngà với những điểm
đen. Chỉ có vài con là mầu đen. Những con bướm mầu sắc
ngà ngà này dễ dàng hòa mình để ẩn trong những cành cây
mọc đầy rêu có sắc sáng ngà. Ðiều này có nghĩa những
con bướm mầu đen sẽ bị nhận dạng một cách dễ dàng bởi
những con chim, và bị chúng bắt ăn. Vào khoảng giữa thế
kỷ 19, bụi than từ những hàng xưởng công nghệ đã làm
chết những cây rêu này và làm đen những nhánh cây. Vì thế
những con bướm mầu ngà này trở nên là những miếng mồi
ngon cho lũ chim thay vì là những con bướm mầu đen. Và kết
quả là số lượng của những con bướm mầu ngà ngày càng
ít đi, trong khi số lượng những con bướm biến dạng mầu
đen ngày càng tăng lên.
Một
thí dụ khác về sự nhanh chóng khi quan sát những thay đổi
để tiến hóa xẩy ra trong một số loại côn trùng và những
con vi trùng gây bệnh. Trong những khu vực dùng thuốc diệt
sâu DDT và những loại thuốc diệt trừ sâu bọ khác, một
số sâu bọ đã tạo ra được khả năng miễn nhiễm với
các chất hóa học này trong vòng vài năm. Một số vi trùng
cũng có khả năng chống trả lại các kháng tố một cách
tương tự như vậy. Vì sức kháng cự được phát triển quá
nhanh chóng khiến các nhà nghiên cứu khoa học lại phải tức
thời tìm ra loại kháng tố mới để thay thế loại kháng
tố không còn hiệu quả nữa.
Tuyển
Lọc Nhân Tạo: Trong khoảng giữa thế kỷ 19, Darwin nhận thấy
là các nhà cấy giống động vật và cây cối dùng một phương
pháp tương tự như sự tuyển lọc thiên nhiên để sinh sản
những loại khác lạ. Những người cấy giống này tạo sinh
ra những loại có những đặc điểm được yêu thích. Tiến
trình này được gọi là "tuyển lọc nhân tạo" và đã tạo
ra những sự thay đổi lớn trong các giống loại. Thí dụ,
nhiều con chó được cấy giống với sự khác biệt về thể
chất to nhỏ, hình dáng, và tính tình. Chúng nó có lẽ là
con cháu của một hay vài loại chó nào đó được cấy giống
để có những đặc điểm khác lạ. Những đặc điểm này
giúp cho chó có khả năng làm những công việc như trở thành
loại chó săn giỏi, dùng để chăn cừu v.v...
Những
nhà cấy giống thực vật cũng dùng phương pháp tương tự
để cấy giống thu hoạch mùa màng từ những loại thực vật
nguyên thủy hoang dã. Thí dụ như bắp cải, bắp cải bông...
được cải giống để sản xuất mạnh hơn.
Tuyển
lọc nhân tạo khác với tuyển lọc tự nhiên ở chỗ thay
vì để cho thiên nhiên quyết định thì lại là con người
quyết định những đặc điểm gì cần phải được thay đổi
hay biến dạng để cho những cá nhân trong một giống loại
nào đó có ưu thế sinh sản.
Lịch
Sử Của Thuyết Tiến Hóa
Những
Luận Thuyết Ban Ðầu: Một số điều tra khoa học về sự
tiến hóa được thực hiện trong thế kỷ 18 bởi hai nhà khoa
học gia người Pháp tên Comte de Buffon và Baron Cuvier. Họ kết
luận từ những nghiên cứu các thạch cốt và so sánh thân
thể học của vạn vật sống trên trái đất đã trải qua
hàng loạt các thay đổi. Tuy nhiên cả Buffon lẫn Cuvier không
biết những thay đổi này đã xẩy ra cách đây bao lâu vì
họ biết rất ít về lịch sử của trái đất.
Năm
1809, nhà thiên nhiên học người Pháp tên Lamarck lập nên luận
thuyết tiến hóa được coi là khá toàn diện trong mọi lãnh
vực. Ông ta quan sát và nhận thấy rằng những phần trên
thân thể của con vật có thể thay đổi trong đời sống của
nó, tuỳ thuộc vào mức độ sử dụng nó. Những cơ quan và
bắp thịt trở nên to và mạnh hơn nếu được dùng thường
xuyên, và trở nên teo nhỏ nếu không được sử dụng đến.
Theo nhà khao học Lamarck thì những đặc điểm như thế có
tính cách di truyền. Luận thuyết của ông ta đã gây không
ít ảnh hưởng tới các nhà khoa học thời bấy giờ. Tuy nhiên
những khám phá mới sau này trong lãnh vực di truyền đã phủ
nhận luận thuyết của ông ta.
Luận
Thuyết Của Darwin: Vào năm 1858, Darwin trình bầy thuyết Tiến
Hóa của mình và đã được sửa đổi cũng như được tất
cả các nhà khoa học ngày nay công nhận. Thuyết của Darwin
khẳng định rằng tất cả các giống loài đều tiến hóa
từ cùng một vài loài thủy tổ qua cách tuyển lọc thiên
nhiên như ông ta nói trong cuốn "Nguồn Gốc Của Các Giống
Loài (The Origin of Species)", 1859. Một nhà vạn vật học khác,
ông Alfred R. Wallace, cũng đã trình bầy một luận thuyết cùng
quan điểm với Darwin vào thời kỳ đó. Tuy nhiên, luận thuyết
của Darwin được trình bầy đầy đủ hơn trong cuốn sách
bán chạy nhất của ông ta, và vì vậy được nhiều người
biết đến hơn.
Darwin
dùng 3 nguyên tắc chính khi khai triển luận thuyết của mình.
Ðó là (1) đích thân ông ta quan sát, (2) thuyết địa dư của
nhà khoa học người Anh Sir Charles Lyell, và (3) thuyết dân số
của nhà kinh tế học người Anh Thomas Robert Malthus. Darwin đã
chính mình quan sát với tư cách một thành viên của một nhóm
thám hiểm khoa học trên chiếc tầu H.M.S Beagle từ năm 1831
tới năm 1836. Chiếc tầu này dừng ở dọc bờ biển Nam Mỹ
Châu, và Darwin đã thâu thập được rất nhiều loại thực
vật và động vật mà ông ta đã viết và trình bầy.
Darwin
có ấn tượng đặc biệt với nhiều giống loại khác biệt
nhau trên đảo Galapagos. Ông ta đã tìm thấy những sự khác
biệt rõ ràng giữa các giống loài ở đảo và lục địa,
mà ngay cả giữa các đảo với nhau. Sự khám phá của Darwin
đã khiến ông phủ nhận một đấng sáng tạo với nhiều
quyền năng và tìm một lời giải thích khác cho nguồn gốc
của các giống loài. Những luận thuyết của Lyell và Malthus
đã ảnh hưởng tư tưởng của Darwin về lịch sử của trái
đất và sự tương quan giữa các sinh vật và môi trường
sống của chúng. "Quy Luật của Ðịa Dư (Principles of Geology)"
của Lyell, xuất bản đầu thập niên 1830, nói rằng trái đất
được tạo dựng nên qua những tiến trình thiên nhiên qua
một thời gian lâu dài. Và Darwin đã tự hỏi không biết đời
sống trên trái đất cũng phát triển một cách từ từ qua
hậu quả của những tiến trình thiên nhiên hay không. Năm
1798, Malthus trình bầy rằng sự tăng trưởng nhân số, một
ngày nào đó, sẽ cao hơn số lượng thực phẩm có thể cung
cấp, trừ phi được cân bằng bởi những yếu tố như chiến
tranh hay bệnh tật. Darwin giả định rằng một số yếu tố
của môi trường sinh sống cũng điều chế dân số của tất
cả các loài sinh vật. Ông kết luận chỉ có cá nhân nào
thích hợp nhất với môi trường sống sẽ tồn tại và di
truyền lại những đặc điểm đó cho con cháu mình.
Luận
Thuyết Tập Hợp (Synthetic Theory): được thành hình trong suốt
thập niên 1930 và 1940 bởi một số các nhà khoa học gồm
hai nhà khoa học Mỹ, gốc Nga, Theodosius Dobzhansky, và gốc Ðức,
Ernst Mayr, và nhà di truyền học và thống kê người Anh, Ronald
A. Fisher. Luận thuyết này được gọi là Tập Hợp vì nó
bao gồm thuyết của Darwin về sự tuyển lọc thiên nhiên với
những quy luật của sự di truyền và các lãnh vực khác của
nền khoa học. Darwin quan sát và nhận thấy rằng nhiều đặc
điểm của các sinh vật đã thay đổi khi đến đời con cháu,
nhưng Darwin không thể giải thích được lý do tại sao. Vì
thời bấy giờ ngành di truyền học chưa có và những quy luật
di truyền chưa được biết tới. Cho đến khi những quy luật
về di truyền giải thích sự khác biệt và biến dạng được
biết đến và làm vẹn toàn cho luận thuyết của Darwin. Một
tu sĩ người Áo tên Gregor Mendel đã tìm ra những quy luật
di truyền này ở thập niên 1860. Song le, sự khám phá của
Mendel không hề được biết đến cho mãi tới đầu thập
niên 1900 khi mà nền khoa học về di truyền được thành hình.
Vào khoảng năm 1910, nhà vạn vật học người Mỹ tên là
Thomas Hunt Morgan khám phá ra là các di tố được chứa đựng
trong các nhiễm sắc thể. Morgan viết giải thích tiến trình
tái hợp, khi các di tố trao đổi từ nhiễm thể này qua nhiễm
thể kia, để tạo ra sự kết hợp những đặc điểm mới
di truyền.
Những
Tiến Triển Vừa Qua: Thuyết Tiến Hóa không thay đổi bao nhiêu
kể từ thập niên 1940 cho tới nay. Tuy nhiên những nhà vạn
vật học về tiến hóa đã tiếp tục khám phá ra cách thức
di truyền, nhất là qua sự khám phá ở những ngành khoa học
khác. Một trong những sự đóng góp quan trọng phải nói đến
ngành phân tử vạn vật (molecular biology) tìm hiểu trực tiếp
quy trình di truyền trong sự tiến hóa. vào thập niên 1940 và
1960, những sự nghiên cứu đã khiến người ta hiểu biết
thêm nhiều về cấu trúc của DNA và vai trò của nó trong những
sự thay đổi về tiến hóa. Những sự nghiên cứu này đã
khiến các nhà khoa học tin rằng, ở mực độ phân tử, sự
tiến hóa xẩy ra qua sự thay thế một tiểu phân tử (nucleotide
- một miếng rất nhỏ của DNA) hay một một amino acid với
nhau.
Ở
thập niên 1970, những nhà vạn vật phân tử đã phát triển
những phương pháp để hiểu rõ thêm về phân tử DNA. Sự
khám phá này đã khiến các nhà khoa học có thể đo một cách
trực tiếp mức độ di truyền thay đổi khác biệt giữa các
cá nhân của một loài nào đó. Các nhà vạn vật học cũng
đã phát triển được những phương pháp dùng để chuẩn
đoán mức độ di truyền của những đặc điểm tương đồng
giữa các giống loài, và nhờ vậy có thể đo lường được
mức độ liên hệ của sự tiến hóa giữa các giống loài
với nhau. Sự đo lường này được dùng để diễn lại, làm
lại lịch sử tiến hóa của các sinh vật qua cách so sánh
DNA của những giống loại hiện hữu. Thí dụ như, các nhà
khoa học đã không biết là loại gấu panda có liên hệ gần
gũi với loại gấu trúc (racoon) hay loại gấu thường (bear).
Tuy nhiên qua sự phân tích DNA đã cho thấy loại panda liên
hệ gần gũi hơn với loại gấu thường.
Mặc
dầu các nhà khoa học đã tìm tòi và biết được rất nhiều
về sự tiến hóa, tuy nhiên không phải là họ thấu hiểu
hết tất cả các quy trình. Thí dụ như các nhà khoa học không
chắc chắn lắm về sự quan trọng của xu hướng di truyền
và sự tuyển lọc thiên nhiên khi giải thích về sự tiến
hóa. Rất nhiều giống loại có những đặc điểm mà chẳng
có một sự lợi lộc nào rõ ràng để thích hợp với môi
trường sống cả. Các nhà khoa học cũng bất đồng với nhau
về những đặc điểm, thí dụ như sự khác biệt về hình
dáng của những chiếc lá của một số loại cây cối, gây
ảnh hưởng về sinh tồn của một cá nhân và khả năng sinh
sản hay chỉ là những sự thay đổi không chủ đích gây ra
bởi xu hướng di truyền. Một lãnh vực khác cùng gây nên
những bất đồng ý kiến là nhịp độ thay đổi của tiến
hóa.