TẠO
SINH VÔ TÍNH VÀ CÁI CHẾT CỦA THƯỢNG ĐẾ
Nguyễn
Văn Tuấn
Khoa
học giải thích các hiện tượng bằng thử nghiệm thực tế.
Tuy nhiên, có nhiều hiện tượng vẫn chưa được khoa học
giải thích thỏa đáng. Các thần giáo như Ki-tô giáo
chẳng hạn chủ trương dùng một Thượng đế để lí giải
những gì khoa học chưa phân giải được. Ngày xưa, cái
ý tưởng về “linh hồn” làm cho tảng đá rơi được các
tay phù thủy rao giảng một thời gian khá dài, cho đến khi
Isaac Newton chứng minh rằng tảng đá rơi là vì trọng lực.
Ki-tô giáo cũng dạy rằng Thượng đế tạo ra con người theo
hình ảnh của Ngài, đến khi Darwin tuyên bố quá trình tiến
hóa tạo nên con người bằng/từ hình ảnh của khỉ.
Cho đến nay, đại đa số bằng chứng khoa học phù hợp với
thuyết tiến hóa của Darwin.
Trong
những ngày tháng cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, tín
lí “Thượng đế tạo ra con người theo hình ảnh của Ngài”
càng khó chấp nhận hơn. Gần đây, thế giới trở nên
ồn ào xung quanh câu chuyện tạo sinh vô tính, hay còn gọi
là cloning. Tạo sinh vô tính là một công nghệ kiến tạo
di truyền (genetic engineering). Bằng công nghệ này, từ
một tế bào nhỏ, các nhà khoa học có thể tạo ra một con
người hoàn chỉnh mà, trên lí thuyết, sẽ giống như người
cung cấp cái tế bào. Nói một cách khác, ngày nay, các
nhà khoa học có khả năng “photocopy” một con người chỉ
từ một tế bào, mà không cần đến tinh trùng của người
đàn ông. Cũng bằng kĩ thuật này, các nhà khoa học cũng
có thể “vun trồng” các cơ phận của con người cho các
mục đích chữa trị bệnh tật, hay cấy ghép cơ phận con
người (transplantation).
Kinh
ngạc trước công nghệ phi thường này, nhiều người đặt
câu hỏi: con người có thể kiểm soát được sự sống và
cái chết hay không? Đối với những người này, hàm
ý, hay giả định, của câu hỏi là chỉ có Thượng đế mới
có quyền kiểm soát sự sống và cái chết của con người.
Thực ra, trong quá khứ, những xác quyết thần học như thế
cũng từng được đưa ra để phản đối những công nghệ
sinh học khác. Kế hoạch hóa sinh đẻ? Chỉ có Thượng
đế mới có quyền làm chuyện đó. Kéo dài sự
sống? Chỉ có Thượng đế mới có quyền làm chuyện
đó. Thụ thai nhân tạo? Chỉ có Thượng đế mới
có quyền làm chuyện đó. Trợ tử (euthanasia)? Chỉ
có Thượng đế mới có quyền làm chuyện đó. Vân vân.
Thành
ra, người ta không ngạc nhiên khi thấy ngày nay, trước những
phát triển phi thường của công nghệ sinh học, mà tạo sinh
vô tính là một ví dụ, những chống đối cuống cuồng và
mù quáng không có gì mới mà chỉ là một sự lặp lại thái
độ phủ nhận các công nghệ mới trong quá khứ. Đối
với họ, sự ra đời cũng như cái chết của con người là
do Thượng đế định đoạt bằng một kế hoạch huyền bí
nào đó, và con người không nên can thiệp vào kế hoạch của
Thượng đế. Nói thế khác, tạo sinh vô tính là cướp
quyền của Thượng đế.
Nhưng
trong thực tế, nếu quan điểm “cướp quyền Thượng đế”
như trên là đúng, thì con người đã cướp quyền Thượng
đế từ lâu rồi! Thực vậy, các thuật giải phẫu,
uống thuốc trụ sinh, ghép thận v.v… là những can thiệp
của con người vào “kế hoạch” của Thượng đế!
Do đó, ý tưởng cho rằng nghiên cứu tạo sinh vô tính (khoan
hãy bàn đến lợi hay hại, hay kết quả ra sao, mà chỉ bàn
trên vấn đề nguyên tắc) là đóng vai trò Thượng đế có
vẻ không phù hợp với thực tế và lí trí. Nghiên cứu
dùng tế bào mầm để chữa trị bệnh tật hay tạo sinh vô
tính phản ánh khát vọng tri thức của con người, là một
sự mở rộng lựa chọn của con người, là mưu cầu tri thức
nhằm vào mục tiêu cuối cùng là diệt khổ.
Thực
ra, Thượng đế đã “chết” từ lâu rồi. Từ thế
kỷ 19. Và chết nhiều lần. Trong cuốn The Joyful
Science, Friedrich Nietzsche, một nhà triết học lớn vào thế
kỷ 19, kể một câu chuyện về một người điên, một buổi
sáng chạy vào chợ la khóc nói: “Tôi tìm Thượng đế!”
Khi đám đông bàng quang hỏi anh ta có tưởng tượng rằng
Thượng đế đã di cư hay đi đâu mất chưa, anh ta ngơ ngác
hỏi: “Thượng đế đi đâu?”. Đám đông trả lời:
“Chúng ta, tôi và anh, đã giết chết Thượng đế rồi.”
Qua cách nói này, Nietzsche muốn nói rằng Thượng đế không
hiện hữu, và vì thế, những giá trị đạo đức hay mục
tiêu siêu nghiệm (nằm ngoài giới hạn của thế giới vật
chất) cũng không hiện hữu. Những tôn giáo tin vào Thượng
đế, như Ki-tô giáo chẳng hạn, sử dụng ý niệm Thượng
đế như là một phương tiện quyền lực để kiểm soát con
người, làm cho con người yếu đuối, ngăn cản chúng ta tự
lực tạo ra những giá trị đạo đức mới, và mục tiêu
mới cho cuộc sống. Do đó, Nietzsche kêu gọi con người
nên tự giải phóng mình khỏi hệ thống hà khắc của những
thần quyền như thế.
Người
thứ hai “giết” chết Thượng đế là Charles Darwin,
một trong những người nổi tiếng nhất trong thế kỷ 19 và
20. Trong Thuyết Tuyển Trạch Tự Nhiên, Darwin giải thích
tính đa dạng của sự sống mà không cần phải dùng đến
một kiến thức khoa học tinh vi nào: trật tự sinh học có
thể tự phát, chứ chẳng phải do một mệnh lệnh thiêng liêng
thánh thần nào cả. Darwin còn dẫn chứng cho thấy
con người là một động vật được tiến hóa từ động
vật có tay (primates), tức là giống như loài khỉ. Nói
một cách khác, chủ thuyết của Darwin là một thách thức
lớn với thần quyền thời bấy giờ, nhưng theo thời gian,
khoa học thực nghiệm cho thấy suy nghĩ của Darwin là đúng,
và sách Genesis – Sáng Thế Ký cho rằng Chúa sáng tạo
ra thế giới là sai.
Trên
đây chỉ là hai trường hợp tiêu biểu về cái chết của
Thượng đế. Những người nổi tiếng khác như Arthur
Schopenhauer, Karl Marx, Sigmund Freud, Charles Lyall, Elie Weisel, Fryodor
Dostoievsky, Jean-Paul Sartre, Albert Camus, v.v… cũng từng hoặc
phủ nhận sự hiện hữu, hoặc báo tử, hoặc tiên đoán,
cái chết của Thượng đế.
Freud
lí giải rằng Thượng đế không là gì cả, mà chỉ là một
hình ảnh được con người cá nhân hóa và tâng bốc lên thành
một người cha tượng trưng. Con người muốn có một
ngừơi cha tượng trưng này để bảo vệ họ, và để đem
lại công lí và cuộc sống trường cửu cho họ. Ý niệm
về Thượng đế, do đó, chỉ đơn giản phản ánh sự thiếu
tự tin của con người trong thời kỳ ban sơ.
Camus
chủ trương chủ nghĩa vô thần, và kêu gọi con người nên
từ bỏ Thượng đế để dành tình cảm cho đồng loại.
Sartre cho rằng ngay cả Thượng đế hiện hữu thì con người
cần phải loại bỏ Ngài, vì cái ý niệm về Thượng đế
phủ nhận sự tự do của con người.
Ngay
cả những nạn nhân của Đức quốc xã cũng từng tuyên bố
Thượng đế đã chết. Có một câu chuyện xảy ra trong
trại tập trung của Đức quốc xã thường được người
Do Thái kể lại, rằng một hôm một nhóm tù nhân người Do
Thái bắt Thượng đế ra tòa. Họ kết tội Thượng đế
là tàn ác và phản bội. Sau khi xem xét các lời buộc
tội và bào chữa, người ta kết luận là Ngài có tội, và
xử tử hình.
Tuy
nhiên, nói cho công bằng, ý niệm Thượng đế đã có một
vài ảnh hưởng tích cực trong việc đề xướng một số
giá trị đạo đức trong một thời gian. Nhưng như một
nghịch lí, cũng chính cái ý niệm Thượng đế này đã từng
được giới tôn giáo sử dụng để ngăn chận phát triển
khoa học trong một thời gian dài. Ngày nay, con người
đã trưởng thành, vai trò của một Thượng đế uy quyền
vô hạn tưởng tượng đó không còn phù hợp nữa. Hay
nói một cách ví von hơn: Thượng đế đã chết rồi!
Ngày
nay, tiến bộ của khoa học thực nghiệm, mà đặc biệt là
công nghệ tạo sinh vô tính, cung cấp thêm một bằng hùng
hồn về cái chết của Thượng đế mà các nhà tư tưởng
và trí thức Tây phương đã từng nói trong thế kỷ 19.
Cố
nhiên, khoa học thực nghiệm không huyênh hoang tuyên bố sẽ
giải thích mọi sự việc trên thế giới. Có thể khoa
học chưa giải thích tất cả những phức tạp của con người?
Nhưng điều đó có đồng nghĩa với “ý đồ của Thượng
đế” như nhiều người suy nghĩ không? Có lẽ.
Nhưng có phải Thượng đế ngày nay có thể giải thích hơn
những gì Thượng đế ngày xưa của các giáo sĩ và phù thủy
từng giải thích? Có lẽ, một ngày nào đó trong tương
lai, khoa học sẽ giải thích những gì mà ngày nay khoa học
chưa làm được mà không cần đến một giả thuyết về Thượng
đế. Nhưng ngay cả trong trường hợp vẫn còn những
điều khoa học chưa phân giải được thì con người cũng
không cần phải vì đó mà chấp nhận những lí giải thích
ngược với lí trí, với tự do tâm linh và chức năng tự
lực tiến bộ của con người.
Khoa
học có thể vì con người mà trở thành ác quỷ, khoa học
cũng có thể nhờ con người mà trở thành thiện thần.
Con người làm được chuyện đó vì con người không nô lệ
thần quyền và cũng không tất yếu phải đầu hàng khoa học.
(Source:
http://www.ykhoa.net/binhluan/20.htm)