Chương
bảy:
Kết Luận
Chúng
ta đã chứng minh rằng người thực hành Giáo Pháp cần phải
nhận biết luân hồi là điều có thật, rằng quả thật Đức
Phật đã có dạy về luân hồi, và rằng đã có những bằng
chứng, trong số đó là những bằng chứng có tính chất khoa
học ở mức độ cao. Khi xét lý luận chứng minh luân hồi
của các học giả Phật giáo, chúng ta thấy có những ý kiến
dựa
trên những điều mê tín mà ngày nay khoa học thực nghiệm
đã bác bỏ, và những ý kiến khác thì dựa trên những suy
luận có tính cách giáo điều, đáng nghi ngờ đối với nhiều
người, và bị những người duy vật bác bỏ.
Ngày
nay chủ nghĩa duy vật rất mạnh, không dễ bị phản bác.
Nền móng của chủ nghĩa duy vật hiện đại là thuyết cơ
học của Khoa Học thế kỷ mười chín, mà dù đã bị đẩy
lui ở ngành khoa học căn bản nhất, tức vật lý, nhưng vẫn
giữ ưu thế ở môn sinh học và cũng vẫn còn trong những
ý thức hệ khoa học như chủ nghĩa Marx. Phật giáo Tây Phương
không cần biết đến khoa học mà cũng không nên rút lui trước
khoa học. Họ cần phải đi đến những sự tổng hợp mới.
Trong quá khứ, mỗi khi được du nhập vào một xứ nào, Phật
giáo lại được hòa trộn một cách hợp lý vào tập tục
của bản địa. Thí dụ, ở Tây Tạng một số thành phần
của đạo Bon bản địa đã được đưa vào Phật giáo, và
ngược lại đạo Bon cũng được chuyển hóa do ảnh hưởng
của Đạo Phật. Người ta không thể nói rằng Phật giáo
đã được thiết lập ở Tây Phương, cho đến khi nào mọi
người đều có thể chấp nhận giáo lý Phật giáo mà không
cảm thấy những giáo lý này mâu thuẫn với sự thật khoa
học. Hiện tại, một số người có học thức ở Tây Phương
cũng tự nhiên xem nhiều giáo lý truyền thống của Phật giáo
là mê tín. Tất cả đều bác bỏ những giáo thuyết như “đất
phẳng” và sự sinh ra tự nhiên của loài côn trùng, nhưng
cũng có những người không chỉ chối bỏ tất cả những
hình thức lễ nghi, chủ nghĩa tu viện, và những pháp tu tập
với các vị thần, mà lại còn bác bỏ cả thuyết luân hồi,
và như vậy họ chỉ có thể chấp nhận đa số giáo lý Phật
giáo với lối diễn dịch tượng trưng, yếu ớt. Vì vậy,
cần phải đưa phương pháp nghiên cứu khoa học vào Phật
giáo, và các giáo thuyết Phật giáo cần phải được trắc
nghiệm một cách khoa học, nếu có thể. Như vậy kết quả
sẽ là nhiều giáo thuyết huyền hoặc hoặc bị loại bỏ
hay được sửa đổi, nhưng trong khi đó Phật giáo sẽ đạt
được sức mạnh và sự phổ quát bằng cách nghiên cứu với
sự vô tư và rộng mở, không dễ tin mà cũng không đa nghi.
Chúng
ta đã thấy rằng luân hồi là một sự thật được chứng
nghiệm và đang được khảo sát một cách khoa học. Chương
Sáu đã nói sơ lược về việc khảo sát này, và cho thấy
rằng chúng ta không nên bác bỏ thẳng thừng khả năng người
ta có thể tái sinh trong những cõi phi nhân, dù sự kiện này
hiếm có hơn là như giáo lý truyền thống đã dạy, và cũng
cho thấy rằng khi dùng phương pháp lùi lại quá khứ bằng
thôi miên, chúng ta sẽ có thể dựng lên hình ảnh xác thực
hơn về những gì người ta trải qua trong cõi trung gian giữa
hai kiếp. Chắc chắn Phật giáo không thể bỏ qua kỹ thuật
này, vì đây là một phương tiện nghiên cứu giá trị trong
những lãnh vực mà trước đây chỉ thuộc về những hành
giả thành tựu, và thêm nữa đây là một sự phụ trợ trực
tiếp cho việc thực hành tu tập của cá nhân.
Dù
Phật giáo có tham dự hay không, việc nghiên cứu một cách
khoa học về luân hồi và những lãnh vực liên quan như siêu
tâm lý học, chứng nghiệm tôn giáo, kinh nghiệm ngoài thể
xác, và kinh nghiệm cận tử cũng sẽ tiếp tục phát triển
thành một khoa học tôn giáo có thể chấp nhận được đối
với mọi người trên thế giới, giống như môn vật lý và
môn hóa học đã được chấp nhận ngày nay. Sự nghiên cứu
này chắc chắn sẽ cống hiến cho sự thăng hoa của ý thức
tâm linh vốn đang dần dần có đà tiến lên. Nguyện những
trang sách này cũng đóng góp vai trò của mình trong sự tỉnh
thức tâm linh./.
Phụ Lục
Đạo đức
học Phật giáo trong
hoàn cảnh
Tây Phương
(Buddhist
Ethics in Western Context)
Giáo
sư James Whitehill (Stephens College)
Tỳ
Kheo Thích Nguyên Tạng dịch
ISSN
1076-9005, Volume 1 1994
Tóm
tắt: Phật giáo đương đại luôn tìm cách làm cho mình
được hiểu bằng những từ ngữ hiện đại và đáp ứng
những điều kiện đương đại. Sự hợp lý của Phật giáo
ở Tây Phương có thể được thiết lập một phần bằng
cách cho thấy luân lý Phật giáo hướng về đức hạnh, có
nền móng là cá tính hướng về cộng đồng, ứng hợp với
truyền thống “đạo đức học” của Tây Phương. Trong quá
khứ gần, đạo học Phật giáo Tây Phương tập trung vào việc
thoát khỏi luân lý kiểu thời Victoria, và đã không trọn
vẹn. Một thế hệ mới người Phật tử Tây Phương đã xuất
hiện, và đối với họ thì “xây dựng” lối sống Phật
giáo có nghĩa là phục vụ cộng đồng và “thực hành" đạo
đức. Bằng cách giữ gốc rễ của mình ở trong một cá tính
được tạo lập như “đức hạnh giác ngộ" và trong một
cộng đồng được hướng dẫn bằng một đạo lý giải thoát
nhất quán về trí huệ và đức hạnh, Phật giáo Tây Phương
có thể tránh được hai điều cám dỗ, một bên là sự giải
thoát không gốc rễ trong “tánh không” và bên kia là chính
sách quyền lực đối với các loài khác khi gọi Phật giáo
là “đạo học về đức hạnh”, tôi muốn nói đến những
đặc điểm vững chắc và thiết yếu trong lối sống Phật
giáo. Nhưng có lẽ quan trọng hơn, tôi muốn mô tả đạo đức
học Phật giáo bằng lối diễn dịch vẫn còn sống động
trong đạo đức học Tây Phương và Ky Tô Giáo, tức là lối
diễn dịch đạo đức trong những tác phẩm mới đây của
các nhà tư tưởng như Alasdair Mac Intyre và Stanley Hauerwas. Truyền
thống đạo đức học là truyền thống Tây Phương phù hợp
nhất với giáo lý và trí huệ của Phật giáo. Vậy, đạo
đức học, hay đạo học về những đức hạnh, cung cấp phương
tiện để hiểu giáo pháp, và đổi lại, Phật giáo cũng giúp
truyền thống Tây Phương cách mở rộng biên cương truyền
thống đạo đức học của mình, vốn chỉ dành cho giới ưu
tú, quá duy lý và chỉ hướng về loài người ở thời gian.
Với quan điểm như vậy, tôi tiên đoán những chiều hướng
và những giới hạn trong tương lai của Phật giáo trong một
thế giới hậu hiện đại.
Dẫn
nhập: Bài viết này bàn về đường lối phát triển tốt
nhất trong tương lai của Phật giáo ở Tây Phương. Tất nhiên,
suy ngẫm về tương lai là vươn ra xa hơn sự bảo hộ chặt
chẽ của việc nghiên cứu hiện tại để đi vào sự mong
manh của việc suy đoán. Sự suy đoán của tôi về tương lai
của Phật giáo Tây Phương có hình thức là hai giả thuyết
dành các triết gia và các nhà đạo học xem xét nếu muốn,
dù họ là người theo Phật giáo hay không. Hai giả thuyết
này cũng có thể được giới Phật giáo Tây Phương xem là
những đề nghị về đường hướng tương lai của việc thực
hành Phật giáo và của các cộng đồng Phật giáo Tây Phương.
Giả
thuyết và đề nghị thứ nhất là Phật giáo phải bắt đầu
cho thấy một hình thức đạo đức rõ ràng hơn nhiều và
một chiến lược đạo đức thích đáng và sâu xa hơn là
như thường thấy ở những người diễn dịch và những đại
diện Tây Phương của tôn giáo này, nếu muốn Phật giáo thịnh
vượng ở Tây Phương. Tôi thấy ý tưởng này hầu như chắc
chắn đúng, vì vậy tôi sẽ chỉ nói sơ qua ở phần đầu.
Điều
ước đoán thứ nhì của tôi là Phật giáo sẽ có khả năng
thành công nhất ở Tây Phương nếu đạo đức học Phật
giáo được đặc biệt ghép vào và được làm cho phong phú
thêm bằng phương thức “đạo học về đức hạnh” của
truyền thống Tây Phương, phương thức mà mới đây được
phục hồi trong các nhà tư tưởng Ky Tô Giáo như Mac Intyre
và Hauerwas. Điều ước đoán thứ nhì này có tính cách chuyên
biệt, thăm dò, và gợi ý nhiều hơn, vì vậy hấp dẫn hơn,
và do đó sẽ là đề tài chính yếu của tôi. Tôi tin rằng
việc xét đạo đức học Phật giáo theo lý thuyết đạo đức
là phù hợp với cốt tủy của đạo Phật. Lối tiếp cận
đạo đức cũng làm phát sinh một loạt những so sánh phân
tích với truyền thống triết học và thần học Tây Phương,
và giúp chúng ta tiên liệu những giới hạn của cuộc du nhập
Tây Phương của Phật giáo.
Trở
lại một chút với giả thuyết đầu tiên và tổng quát hơn
của tôi, tôi sẽ bắt đầu bằng cách nói rằng rất có thể
Phật giáo đang đứng ở ngưỡng cửa của một tương lai
quan trọng hơn ở Tây Phương. Phật giáo sẽ đóng vai trò
thực tiễn, khám phá, cân bằng, và giải thoát mỗi lúc mỗi
nhiều hơn trong đời sống của con người và xã hội Tây
Phương, nhưng để cho điều này có thể xảy ra, các nhà tư
tưởng, dù là Phật giáo hay ngoài Phật giáo, phải giúp nhiều
hơn cho việc làm sáng tỏ những từ ngữ đạo học giải
thoát của Phật giáo, làm sao cho tương hợp với xã hội trí
thức Tây Phương. Trong hơn hai thập niên, các tài năng triết
thuyết Phật giáo hầu như chỉ tập trung vào bản thể học
và cách diễn dịch giáo lý. Một kết quả là triết học
Phật giáo ở Tây Phương đã bay bổng lên những đám mây
luận lý học về tánh không “sunyata”. Tôi nghĩ rằng khi
triết học của chúng ta bay lên cao, cần phải có đối trọng
là phép thực hành đạo đức Phật giáo và những điểm quan
trọng của một nền đạo đức học Phật giáo tươi mới
để đưa thêm triết lý Phật giáo vào đời sống hàng ngày
của mọi người một cách thực tiễn. Tôi nghĩ như vậy do
đã tìm hiểu giáo lý Phật giáo nhưng cũng do sự kiện người
Phật tử Hoa Kỳ từ đầu thập niên 1980 đã thắc mắc về
sự tự do chọn lựa và về những vấn đề đạo đức hoặc
chính trị mà không có sự giúp đỡ nhiều của nhà tư tưởng
và các học giả Phật giáo vốn cũng tinh thông về tư tưởng
chính trị đạo đức Tây Phương.
Khi
người Ky Tô Giáo phiên dịch Thánh Kinh của họ sang tiếng
Trung Hoa, từ ngữ “Logos” của Hy Lạp (nguyên lý cai quản
vũ trụ, ngôi lời) trở thành chữ “Đạo” của Trung Hoa,
một lối chuyển ngữ táo bạo và cấp tiến, và là một sự
chuyển hóa Thánh Kinh. Chúng ta cũng đang đối diện một vấn
đề dịch thuật tương tự khi Phật giáo truyền Giáo Pháp
“Dharma” vào Tây Phương, nhưng không có đề nghị nào về
từ ngữ triết học Tây Phương, mô tả “Dharma” của Phật
giáo nhận được sự chú ý rộng rãi, càng nhận được ít
hơn sự đồng ý. Kết quả là sự chính thống hóa Phật giáo
nói chung đang gặp khó khăn ở Tây Phương, vì không có một
triết lý tôn giáo hay triết lý giải thoát nào có thể được
chấp nhận trọn vẹn và rộng rãi trong văn hóa Tây Phương,
nếu triết lý đó không có một đạo học đã phát triển.
Các
nhà tư tưởng Phật giáo đã có những đề nghị triết học
khác nhau thích hợp với việc định hình giáo lý Phật Giáo
của Tây Phương. Có điều đáng mừng là không ai nói rằng
đạo học hay luân lý Phật giáo có tính cách địa phương
riêng biệt, một truyền thống Phật giáo độc đáo và không
xuyên tạc nên không thể được cấy trọn vẹn vào đất
Tây Phương. Cũng ít có người nào cho rằng đạo pháp và
luân lý Phật giáo đã ăn sâu vào văn hóa Á Châu đến mức
không thể truyền đi nơi khác được.
Về
lý thuyết cũng như thực hành, đa số người Phật tử Tây
Phương có vẻ muốn tìm kiếm và chấp nhận một tiến trình
cấy ghép hay lai tạo, ghép nhánh cây đạo đức Phật giáo
vào thân cây đạo đức Tây Phương. Có những người muốn
làm ngược lại tiến trình này, ghép đạo đức Tây Phương
vào thân cây từ bi Phật giáo, hay tệ hơn nữa, vào gốc trí
huệ Phật giáo. Sự sai lầm này giống như “trồng sen mà
không trồng trong bùn”, hay “đặt chiếc xe tâm linh học
trước con ngựa đạo đức” (This confusion is like "growing a
lotus without planting it in the mud," or "putting the spiritual cart before
the moral horse). Nói một cách đơn giản, sự sai lầm này cho
rằng đạo đức đi sau tâm linh hay lý thuyết, trong khi Đức
Phật không muốn nói đến siêu hình học.
Trong
thập niên 1960, tư tưởng đạo học Phật giáo và cả luân
lý với nghĩa rộng là “lối sống”(way of life), đã được
các nhà biện giải Tây Phương ghép vào nhánh cây chủ nghĩa
hiện sinh và một số nhánh cây thuộc phong trào tiềm năng
tâm linh của con người. Tôi nghĩ rằng những nỗ lực đầu
tiên này không đạt được một sự phát triển về đạo
đức học đáng thỏa mãn của Phật giáo Tây Phương, vì đã
thiếu nhiều sự hướng dẫn có tính cách quan trọng, tính
cách cộng đồng, hay tính cách thực hành cho những người
muốn trở thành Người Phật tử hiện sinh (existentialist Buddhists),
và những người tin vào một thời đại tâm linh mới khác.
Gần đây, một số Phật tử còn muốn ghép thêm về mặt
chính trị trong những phong trào hòa bình, môi trường, và
nữ quyền.
Chỉ
có một ít triết gia Tây Phương cố gắng làm công việc cấy
ghép mới đây trong Phật giáo bằng cách đưa ra những điểm
tương đồng về ý niệm giữa giáo lý Phật giáo nói chung
và các triết gia cùng các nhà thần học Tây Phương. Một
số thí dụ về việc đối chiếu giáo thuyết này là ý kiến
của David Kalupahana cho rằng giáo lý Phật giáo phù hợp với
chủ nghĩa thực dụng của William James một cách đáng chú
ý, và Christopher Ives tìm cơ hội phát triển một đạo lý
xã hội trong Phật giáo Thiền Tông có thể so với đạo lý
xã hội Ky Tô Giáo của Reinhold Niebuhr. Cũng đáng chú ý nhưng
ít tính chất so sánh hơn là đề nghị của Robert Thurman, tìm
một phương thức thích hợp cho hoạt động xã hội đương
đại ở trong một tác phẩm của luận sư Long Thọ (Nagarjuna).
Tôi
thấy những ý kiến này chưa được phát triển đủ để
có thể thuyết phục các nhà đạo đức học Tây Phương.
Tuy nhiên đây là những ý tưởng thí nghiệm, nêu lên những
vấn đề đáng quan tâm cho triết học và thần học Tây Phương,
trong khi chấp nhận những rủi ro về mặt diễn dịch, vì
sự thích đáng của Phật giáo. Rất tiếc là những đề nghị
này không thể chịu được loại phê bình thân thiện của
các nhà nghiên cứu đạo học Tây Phương và Ky Tô Giáo, thí
dụ như Winston King đã từ lâu nêu lên những câu hỏi phê
bình về những điểm mạnh và những điểm yếu của triết
lý Phật giáo trong bối cảnh đạo học Tây Phương vốn có
những đòi hỏi về nhân quyền và quyền độc lập cá nhân.
Sau
khi trình bày sự kém phát triển của Phật giáo trong xã hội
Tây Phương, như vậy tôi sẽ nói về điều luận đoán thứ
nhì có tính cách thăm dò nhiều hơn về triển vọng tương
lai của Phật giáo Tây Phương. Tôi nghĩ rằng sự tương đồng
thích hợp nhất, triển vọng cấy ghép kết quả nhất cho
một nền đạo đức học Phật giáo Tây Phương, sẽ là với
truyền thống “đạo học về đức hạnh” của Tây Phương.
Khi nói “đạo học về đức hạnh”, tôi muốn nói một
đạo học về cá tính (chứ không phải là về những nguyên
tắc đạo đức để thúc đẩy hay về những hành vi được
xem là đạo đức), có tính chất thực hành, có tính chất
đưa đến mục tiêu tối hậu, và có tính cộng đồng. Chính
xác hơn, tôi muốn nói đến truyền thống đạo học Tây Phương
kéo dài từ các triết gia Hy Lạp ngày xưa như Socrates và Aristotle
đến Alasdair Mac Intyre, Philippa Foot, và các nhà lý thuyết về
đức hạnh khác của ngày nay, mỗi lúc mỗi quan tâm nhiều
hơn đến đạo đức học.
Điều
nhận xét này không phải là của tôi. Ý niệm liên kết đạo
học Phật giáo với đạo học của Aristotle là một điểm
then chốt trong tác phẩm của Damien Keown “Tính Chất Của
Đạo Đức Học Phật Giáo" (The Nature of Buddhist Ethics).
Trước
đó, Robert Bellah đã ủng hộ việc đưa Phật giáo vào phương
cách đạo đức như con đường khả hữu đáp ứng mối quan
tâm của ông về một đạo lý cộng đồng mới cho nước
Mỹ. Đặc biệt là ông kêu gọi một sự “cộng sinh về
mặt văn hóa” của Phật giáo Thiền Tông và chủ nghĩa Aristotle
hiện đại như một cách tái lập sự “hiểu biết rốt ráo
về đời sống con người’’ và mang lại sự “xây dựng
những cộng đồng thực sự”, có khả năng chống lại: “văn
hóa Tây Phương hiện đại đang hủy diệt môi trường sống
tự nhiên, phá hoại một loại đoàn kết xã hội, và tạo
ra ý niệm cá nhân có tính chất hủy diệt”.
Ông
kêu gọi xây dựng những cộng đồng có tính chất giống
như Phật giáo, với đạo đức cá thể và đạo đức tập
thể. Lời kêu gọi này có tinh thần không tưởng, vì vậy
những cộng đồng này gần như chắc chắn sẽ bị “đặt
ra ngoài lề”, chỉ có thể phát triển ở ngoài rìa của
những cấu trúc xã hội văn hóa của chủ nghĩa cá nhân Tây
Phương hay những quốc gia Tây Phương, nhưng sự không tưởng
này không thể ngăn cản Robert Bellah đưa ra đề nghị của
mình, và cũng không thể ngăn cản được tôi. Sự thật là
những cộng đồng “khác lạ” này đã xuất hiện rồi,
dù chỉ bắt rễ một cách lỏng lẻo trong “hồn và đất”
Tây Phương.
Trước
khi trình bày đề nghị cho rằng “đạo đức" Phật giáo
có thể được cấy ghép vào Tây Phương bằng cách hòa nhập
đạo đức này vào truyền thống đạo đức của người Tây
Phương, tôi muốn định nghĩa “đạo đức’’ Phật giáo
một cách chính xác hơn, theo nghĩa “đức hạnh giác ngộ’’.
“Gây dựng đức hạnh giác ngộ và từ bi” là cách mà tôi
muốn nói, nhưng để được đơn giản, tôi sẽ tránh dùng
những chữ này.
“Đức
hạnh giác ngộ" (awakened virtue) mô tả đúng phương pháp và
mục tiêu của đạo đức Phật giáo, nói lên sự hưởng ứng
lẫn nhau của đạo đức và tinh thần bằng cách bao hàm tri
kiến và thực hành đạo đức Phật giáo trong ngôn ngữ đạo
đức học, và bằng cách giữ lại ý tưởng Phật giáo về
giác ngộ tâm linh như một điều kiện thiết yếu để đạt
được sự trưởng thành về đạo đức, dù điều kiện này
chưa đủ. Việc thứ nhì là tôi sẽ định nghĩa đạo học
Phật giáo một cách đơn giản là “sự suy ngẫm có tính
cách triết lý về đạo đức Phật giáo, gồm những điều
suy ngẫm có tính cách mô tả, suy ngẫm về những tiêu chuẩn
và về siêu đạo lý”.
Trong
tiểu luận về “đức hạnh giác ngộ" này, mục đích của
tôi không phải là trình bày lịch sử và kinh sách. Tôi sẽ
không nói về sự tương đồng của “trì giới’’ hay các
hạnh “ba la mật” và những từ ngữ đạo đức của Ky
Tô Giáo. Mục tiêu mà tôi nhắm đến có nhiều tính chất
triết lý và thực hành hơn, và cả tính chất sách lược
nữa, đó là thăm dò một cách xây dựng ý nghĩa của “đức
hạnh giác ngộ’’, mục tiêu của Phật giáo, trong liên hệ
với triển vọng tương lai của Phật giáo Tây Phương. Việc
xây dựng một nền đạo học Phật giáo Tây Phương bằng
đường lối đức hạnh không phải là chưa có ai cố gắng
thực hiện. Một thí dụ là Robert Aitken thường dùng lối
tiếp cận đức hạnh trong cuốn sách của ông nói về Thiền
Đạo. Ông viết về Phật giáo với khuynh hướng Thiền, dùng
đa số những chương sách để trình bày mười giới cấm,
ông cũng nói sơ lược về lục độ ba la mật (sáu pháp tu
rốt ráo/Six Perfections) và thảo luận về “đức hạnh như
một cách để hiểu lối sống Thiền”.
Robert
Aitken mở đầu chương “Đạo Và Đức” với câu nói của
vị thầy của mình, Người Nhật, Yamada Koun Roshi: “Mục đích
của thực hành Thiền Đạo là làm cho mình hoàn hảo về đức
hạnh” (The purpose of Zen practice is the perfection of character).
Ông nói về sáu ba la mật với kinh nghiệm và ứng dụng ngày
nay, nhưng ông không nói gì về câu nói của vị thầy hay về
đức hạnh khi kết luận theo kiểu của đa số những người
viết về Thiền: “Sáu pháp tu rốt ráo chỉ là tên gọi của
một tiến trình cụ thể. Khi thở vô thở ra, người ta loại
bỏ những phiền não độc hại và thiết lập sự an lạc
cho thân tâm”.
Ở
đây Aitken rơi vào cạm bẫy thông thường trên con đường
của những người trình bày về thiền ngày xưa cũng như ngày
nay, cái mà tôi gọi là “cạm bẫy siêu phàm”. Cái bẫy
này làm cho họ và chúng ta mô tả sai lầm đời sống đạo
đức hoàn hảo như một sự biểu hiện không cấp tiến, một
trạng thái tự nhiên, không lời, và không tính toán. Đây
là quan điểm “giống Lão Giáo” về đạo đức được xem
là năng lực tự nhiên, một quan điểm mà Aitken chia sẻ với
những bản kinh Đại Thừa. Ý niệm về đạo đức này đưa
đến loại bỏ đạo đức và luân lý về mặt bản thể học
mà Aitken rao giảng ở cuối chương: “Ở thế gian cũng vậy,
không có cái gì gọi là đức hạnh cả”. Đây là lối suy
diễn từ thuyết tánh không và vô ngã, chỉ có điều Aitken
không nói “không có cái gì gọi là cá tính cả”. Lối suy
diễn này chỉ đúng và ích lợi khi nói về ý nghĩa “không
sắc tướng” của thuyết tánh không “sunyata”, còn nếu
dùng thuyết vô ngã để tìm sự thật trong phạm trù đạo
đức học thì chỉ gây tai hại.
Dùng
lối tiếp cận đức hạnh để diễn dịch đạo học Phật
giáo, Robert Aitken đã có khởi đầu tốt, nhưng sau đó đã
bị tràn ngập bởi những giáo lý Đại Thừa và Thiền không
được đặt đúng chỗ và nặng về thuyết tánh không. Aitken
bị kẹt trong cái mà tôi gọi là “nhãn quan giác ngộ" trong
triết lý Thiền, một tình trạng có thể được thấy rõ
trong thuyết giác ngộ phi lý trí và phi đạo đức của D.T.
Suzuki. Tính chất của “nhãn quan giác ngộ" trong giáo lý giải
thoát của Phật giáo là xem nhẹ phương diện đức hạnh và
luân lý. Theo nhãn quan này thì đạo đức Phật giáo có khuynh
hướng tương đối hóa và giảm thiểu “đức hạnh” trong
“đức hạnh giác ngộ’’ ưu việt, cho đến khi chỉ còn
“Đấng giác ngộ", vượt lên trên các phạm trù tốt và
xấu.
Một
thí dụ rõ ràng và mạnh mẽ về sự quá chú trọng đến
“giác ngộ’’ này là lời khuyên ở cuốn “On The Way To
Satori” (Trên Con Đường Dẫn Đến Giác Ngộ) của Gerta Ital:
“Một điều luôn luôn cần phải nhớ là không có một người
nào chưa hoàn toàn trừ bỏ được tự ngã của mình lại
có thể làm được một điều gì để giúp người khác giải
thoát. Đạt mục tiêu giải thoát không phải là việc dễ,
và con đường rất dài... trước khi chính mình đạt giải
thoát, người ta không thể giúp được một người nào khác”.
Tôi
nghĩ rằng đây không phải là một Phật giáo trọn vẹn, và
chắc chắn không phải là một giáo thuyết có thể trông đợi
một tương lai quan trọng ở Tây Phương, trừ khi như một
thuyết huyền học có tính chất cá nhân, riêng tư, và chính
yếu là “trị liệu”. Phật giáo nhiều hơn như vậy, và
khác hơn như vậy rất nhiều.
Cuốn
“The Social Face Of Buddhism” (Phương Diện Xã Hội Của
Phật giáo) của Ken Jones trình bày cách tiếp cận đức hạnh
đến đạo học Phật giáo. Tôi nghĩ rằng đây là cuốn sách
hướng dẫn đạo đức hay nhất về đạo học Phật giáo
do một người Tây Phương viết, một cuốn sách triết lý
quan trọng về đạo đức Phật giáo. Cuốn sách này không
giống tác phẩm của Robert Aitken, vì Ken Jones rất quan tâm
đến những vấn đề triết học, đạo đức và tâm lý học,
nhưng có điều đáng tiếc là Ken Jones giống Robert Aitken ở
điểm ông cũng bước vào cái “bẫy siêu phàm” bằng việc
hủy bỏ vai trò của ý chí và sự suy tính trong đời sống
đức hạnh giác ngộ.
Theo
kiểu thuyết đức hạnh, Ken Jones nói rằng đạo đức Phật
giáo là về cá tính và sự tu dưỡng, và rằng đạo đức
Phật giáo chú trọng việc gây dựng cá tính hơn là đánh
giá những sự kiện, nhưng ông rơi ngay vào cái “bẫy siêu
phàm” (the transcendence trap), bắt đầu với việc dùng chữ
“nhân cách” thay cho “cá tính” một cách tự nhiên: “Đạo
đức Phật giáo chú trọng việc gây dựng một nhân cách nhất
quyết phải tốt, thay vì tập trung vào những ý định và
những hành vi tốt nào đó. Ý chí không thể tạo ra được
nhân cách như vậy, cũng giống như người ta không thể tự
nhấc mình lên khỏi mặt đất bằng cách nắm vào cổ áo
của mình. Ý chí được dùng trong việc tu tập để từ đó
đức hạnh xuất hiện một cách tự nhiên”.
Việc
Ken Jones không tin sức mạnh của ý chí có thể chỉ là để
bác bỏ thuyết tự do ý chí của Nietzch và Sartre. Nếu như
vậy thì ông đã đúng, theo quan điểm Phật giáo vốn cho rằng
nhân tố quyết định là nghiệp hay tập khí và rằng người
ta cũng thoát khỏi nghiệp trong khi chứng nghiệm tính không.
Và tất nhiên ông đã đúng khi nói rằng tu tập theo Phật
giáo, ý chí không giữ vai trò “sáng tạo” trong việc tự
gây dựng hay tu chứng, mà chỉ làm công việc tự kềm chế
trong những hoạt động về lý trí và đạo đức.
Tuy
nhiên, sự mơ hồ của câu “từ đó đức hạnh xuất hiện
một cách tự nhiên” cho thấy Ken Jones đã ở gần bên cái
“bẫy siêu phàm” rồi. Sau đó ông rơi vào cái bẫy bằng
việc xem đức hạnh là một loại “ân sủng” tự nhiên,
phát sinh từ những hình thức tu sửa về đạo đức và sự
lặp đi lặp lại, nhưng khác với những hình thức này, và
phần nào có tính chất siêu phàm, tự nhiên, và tự tại.
Theo nhà nghiên cứu Robert Scharf thì quan điểm siêu phàm về
hoạt động đức hạnh này là một sự huyền bí hóa cái
mà trong phép tu tập Phật giáo chỉ đơn giản là việc học
cách cử hành những nghi thức theo một lối nào đó với sự
khéo léo, một việc thông thường và lặp đi lặp lại.
Tác
giả Hee-Jin Kim trong cuốn sách bàn về “tư tưởng của thiền
sư Đạo Nguyên”(heart of Dogen's thought) người Nhật Bản,
đã cho rằng việc thực hành Phật giáo là một tiến trình
lập đi lập lại, một sự nghi thức hóa đạo đức.
Ken
Jones đã không thể hay không chịu trau dồi những hình thức
đạo đức là một việc có tính chất xã hội, với cảm
xúc, và hữu thức. Việc trở thành người tốt khó có thể
là một tiến trình tự nhiên như ông nói, một sự khai mở
tính tốt tự nhiên một cách không suy tính, không có ý định
từ trước. Triết gia Hy Lạp Aristotle cũng nói: “Thiên Nhiên
ban cho chúng ta những khả năng để sống, nhưng Thiên Nhiên
không ban cho chúng ta tính tốt hay tính xấu” (While it is Nature
that gives us our faculties, it is not Nature that makes us good or bad).
Mục tiêu của đạo đức học là trở thành người làm điều
tốt hay đức hạnh một cách tự ý, với căn bản là tính
tốt, được hỗ trợ bởi tri thức chín chắn, biết rõ điều
mình đang làm. Đạo Phật không giải trừ cá tính hay những
phẩm tính tốt (khác với tự ngã và nhân cách), mà đánh
thức và làm rõ những phẩm tính đạo đức, và làm cho người
ta “cao quý”.
Quan
điểm về đạo đức của Ken Jones phản chiếu giáo thuyết
đức hạnh hòa nhập của Ky Tô Giáo, nhưng không nương vào
tư tưởng hữu thần và siêu phàm của Thánh Thomas Aquinas,
và không có ý thức rõ rệt của ngài về sự bền vững của
những đức hạnh “tự nhiên” trong các thánh nhân. Tôi nghĩ
rằng, giống như Alan Watts và những người khác rơi vào cái
“bẫy siêu phàm”, Ken Jones hạ giá trị của ý chí trong
khi nêu cao “tính tự nhiên” (hay tính bẩm sinh) vì những
điều không liên quan gì nhiều đến Phật giáo, Kinh Kim Cương,
hay Đại Thừa. Tôi nghi ngờ rằng sự hiểu lầm của những
người Tây Phương rằng đạo học Phật giáo có tính chất
giống như Lão Giáo thường là một phản ứng đối với những
nguyên tắc đạo đức thời Victoria còn sót lại ở Tây Phương,
một thứ luân lý quá chú trọng sự tự khắc kỷ, sức mạnh
của ý chí, tính cách cứng cỏi, và sự đè nén về tâm cũng
như thân. Tín đồ Phật giáo Tây Phương chín chắn hình như
vẫn đang cố gắng thoát khỏi nền luân lý đó, và họ chia
sẻ một quan điểm đạo đức rộng rãi hơn của cuối thế
kỷ 20, đề cao sự khoan dung thụ động, không phê phán đối
với người khác, cũng như sự biểu lộ những cảm hứng
có tính cách tự nhiên hay xuất thần.
Trong
thực hành Phật giáo, xem thường vai trò của ý chí và lý
trí là không biết rằng đây là hai điều quan trọng trong
Phật giáo thời kỳ đầu. Ban đầu Phật giáo đã không bỏ
lý trí, dù không nương tựa vào một mình lý trí. Người
Phật tử trong thời kỳ đầu cũng không bỏ quên sự cần
thiết của ý chí vững chắc, ngay cả trong tu tập thiền định.
Ý chí và lý trí cũng là hai điều kiện trong bốn hạnh hoàn
hảo được thêm vào sáu hạnh hoàn hảo ba la mật, đó là
trí, nguyện, lực, và phương tiện. Sức mạnh của ý chí
cũng cần thiết trong việc hành thiền, trong việc phát Bồ
Tát nguyện, hay trong việc làm theo lời các vị thầy dành
hết thân tâm của mình cho tọa thiền và tham công án. Việc
tu tập đòi hỏi một tinh thần mà William James gọi là “tinh
thần thú vật” (animal spirits), để làm chuyện khó khăn khác
với thói quen thông thường của mình.
Bây
giờ, sau khi đã vượt qua “cái bẫy siêu phàm” trên con
đường đi đến quan điểm đức hạnh Phật giáo, tôi muốn
trình bày sơ lược về ý nghĩa của “đức hạnh giác ngộ”
của Phật giáo, trong khuôn khổ lý thuyết đức hạnh nói
chung, phân biệt loại đức hạnh này một chút với quan điểm
đạo đức truyền thống của Tây Phương. Sau đó, tôi sẽ
kết luận với việc thăm dò một số đề nghị về cách
nhìn đạo đức học Phật giáo và “lối sống” Phật giáo
về mặt đạo đức.
Đạo
đức Phật giáo như đức hạnh giác ngộ:
Việc
thực hành giáo pháp Phật giáo có ba phương diện là giới,
định, và huệ. Có thể gọi giới, định, huệ là những
ba la mật về đức hạnh, về thiền định, và về chuyển
hóa. Trí huệ tức những ba la mật có tính cách chuyển hóa
là những pháp thực hành làm biến đổi tâm thức ở mức
“Niết Bàn”, siêu phàm, những ba la mật thiền định là
những pháp tu phát triển lực ổn định và an tĩnh trong việc
hành thiền. Những ba la mật, những pháp đức hạnh là những
pháp gây dựng và tác động những ý định tốt, biết phân
biệt tốt và xấu và biết nhận xét đúng những sự việc.
Với sự thực hành lặp đi lặp lại và sự điều chỉnh,
những pháp này có tính chất tu dưỡng về thiện nghiệp cũng
như về mặt giải thoát, và đó là đặc tính Phật giáo.
Những
pháp ba la mật này là những đức hạnh Phật giáo và là những
phương pháp tiếp cận, tăng cường, nhiếp phục, và liên
kết tự ngã với người khác, thoát khỏi sự ích kỷ. Ngoài
những việc này, những pháp ba la mật có mục đích tích cực
là gây dựng tính cách cư xử trong mọi lúc, mọi nơi, với
mọi người, như một “bà mẹ” yêu thương và bảo vệ
đứa con độc nhất của mình... theo lối so sánh được xem
là của Đức Phật.
Vì
ý định tốt luôn luôn có tính chất co giãn nên cần phải
được gây dựng bằng hình thức và kỷ luật được dạy
bởi các vị thầy, và được học trong các cộng đồng. Những
pháp thực hành về đức hạnh trong Phật giáo thường được
trình bày là sáu phép tu hoàn hảo ba la mật là bố thí, trì
giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí huệ. Sáu
ba la mật này được xem là thứ tự tu tập về đức hạnh
từ bố thí đến trí huệ, và là những tiêu chuẩn về đạo
đức, tâm trí, và tinh thần của truyền thống đức hạnh
Phật giáo, chưa kể những ba la mật khác được kể thêm
về sau và những chi nhánh của sáu ba la mật này.
Ngoài
những ba la mật, việc gây dựng bốn tâm vô lượng từ, bi,
hỷ, xả làm cho phép tu đạo đức Phật giáo trở thành lý
tưởng.
Pháp
tu tập về mặt đạo đức của Phật giáo không chỉ bao gồm
việc gây dựng ý định tốt trong tâm trí mà còn có cả lời
nói tốt và hành động tốt, cùng với cử chỉ đẹp như
trong hành động bố thí.
Việc
thực hành các hạnh hoàn hảo ba la mật được xem là để
tích lũy công đức, hay tạo thiện nghiệp, đưa đến đời
sống tốt đẹp hơn và sự tái sinh ở những cõi giới tốt.
Hai tác giả Melford Spiro và Winston nghiên cứu giáo lý nghiệp
báo như điểm then chốt để hiểu những xã hội PGNT, nhưng
khi xét kỹ thì đây chỉ là “giáo lý về gây dựng đức
hạnh và thực hành theo thuyết nghiệp báo”. Hai tác giả
này nhận thấy trong truyền thống PGNT có sự phân biệt bề
ngoài động lực nghiệp quả của người tại gia và động
lực niết bàn của tu sĩ trong đời sống tu tập; một bên
để được hưởng quả báo tốt và một bên để đạt giải
thoát.
Sự
phân biệt động lực đạo đức với động lực tu tập cũng
có trong Phật giáo Đại Thừa. Có lúc sự phân biệt này được
hóa giải trong hình ảnh bồ tát của một người Phật tử
tại gia, cư sĩ Vimalakirti, tức Duy Ma Cật. Kinh Duy Ma Cật nói
rằng phân biệt đức hạnh với giác ngộ là mê chấp. Giáo
lý cốt tủy của Phật giáo là sự phối hợp thực hành đức
hạnh, chính yếu là qua các ba la mật, với các pháp thiền
và chuyển hóa, để đạt lợi ích tối thượng cho bản thân
và cho người khác; các pháp giác ngộ không thể xa rời các
pháp thực hành đức hạnh. Đức hạnh mà thiếu chứng ngộ
chân không thì là nông cạn và yếu ớt, nhưng chứng ngộ
chân không mà thiếu đức hạnh thì là mù quáng và nguy hiểm.
Người thành tựu đức hạnh giác ngộ tức sự phối hợp
của khả năng đạo đức thiện xảo, đầy thiện cảm, cấp
tiến, với tinh thần chuyển hóa thì ngược lại, là người
sâu sắc, mạnh mẽ, mỗi lúc mỗi chín chắn hơn, và cấp
tiến... bằng cá tính và hành vi của mình, người đó làm
giảm đau khổ, và gia tăng từ, bi, hỷ, xả.
So
với truyền thống đạo đức Tây Phương, quan điểm các hạnh
ba la mật Phật giáo có khuynh hướng thiên về chúng sinh và
sinh thái. Trước hết, Phật giáo không có ý niệm về tự
ngã cụ thể, phân cách và phân biệt như ý niệm của Aristotle
và Ky Tô Giáo. Trong Phật giáo, chủ nghĩa cá nhân, kiểu Tây
Phương được xem là ảo tưởng phát xuất từ tham, sân, si
và đưa đến vọng tưởng ngự trị muôn loài. So với Tây
Phương, ý niệm tự ngã của Phật giáo có tính cách tương
liên và “mờ nhạt”.
Trong
Phật giáo cũng có hình ảnh thánh nhân như một anh hùng cá
nhân, ở bên trên người khác, nhưng tính chất mở rộng và
tương liên của cá nhân nói lên sự hòa đồng của người
người hoạt động đạo đức với những người thọ nhận
những hoạt động này, hay với những người mà họ thi hành
các hạnh hoàn hảo ba la mật. Đối với Phật giáo, tự ngã
là không trọn vẹn, đang chuyển hóa, hòa nhập và tương thuộc
với mọi người khác, vì chúng ta là một cộng đồng những
cá thể tương liên nên việc tu tập với các hạnh hoàn hảo
ba la mật nhất thiết là tu tập với người khác và cho người
khác. Vì sự hòa đồng này và vì sự thực hành các ba la
mật tu dưỡng thân, khẩu, ý, người Phật tử tin rằng nỗ
lực đạo đức của mình hòa vào cộng đồng ở nhiều mức,
về vật chất, ngôn từ, và tâm trí, trong một sự hỗ tương
bao quát.
Thứ
hai là Phật giáo khác truyền thống Tây Phương trong việc
định nghĩa “thành viên” trong cộng đồng đạo đức, tức
những người khác được quan tâm khi người ta tu tập các
hạnh ba la mật. Nói chung thì đối với Tây Phương, ít nhất
là từ triết gia Hy Lạp Aristotle, cộng đồng có cá tính và
đạo đức là cộng đồng loài người. Chính sách phát triển
đạo lý và đức hạnh cá thể là chính sách dành cho loài
người, chính yếu ở thành thị gần như luôn luôn là chính
sách hướng về loài người. Trong khi đó cộng đồng đức
hạnh Phật giáo hướng về tất cả chúng sinh, bao gồm cả
thú vật và những loài khác như những đối tượng của sự
quan tâm đạo đức (thí dụ như giúp đỡ loài thú trong thực
hành sáu ba la mật). Vì sự hướng về toàn thể chúng sinh
này, các pháp thực hành đạo đức Phật giáo, phải bao gồm
việc tu tập trong liên hệ của chúng ta với thiên nhiên cũng
như với xã hội loài người, mở rộng các hạnh ba la mật
đến các loài phi nhân và các loài sinh vật.
Với
khung cảnh ngoại thành của các tu viện Phật giáo và với
những nhân tố khác, đạo pháp Phật giáo không có tính chất
thành thị, giai cấp, thay đổi cách mạng, hay hợp pháp hóa,
quyền lực thiêng liêng, dù các nhà tư tưởng Phật giáo đã
đề cập đến những điều này. Người Phật tử nghĩ đến
một cộng đồng nhỏ hơn, có tính cách di dưỡng sự phát
triển bản thân nhiều hơn, có thể là một ngôi làng ở giữa
thiên nhiên. Có lẽ vì vậy mà người Phật tử thành thị
thường làm cho ngôi chùa ở thành phố của mình có khung cảnh
giống như nơi an trú thiên nhiên cho người, vật, chim, cá,
và cả những loài côn trùng. Một quán trà ở giữa thủ đô
Tokyo của Nhật Bản biểu hiện khuynh hướng này một cách
mạnh mẽ và trái ngược với cảnh đường phố xung quanh.
Giống
như truyền thống đạo đức Aristotle, đạo lý Phật giáo
có tính chất phi lịch sử, xem đời sống con người là có
một sự bất biến quan trọng và sâu xa trong tính chất và
mục tiêu. Đối với người Phật tử, sự bất biến đó
không nằm trong một tự ngã cụ thể hay thường tồn, mà
ở trong trong kinh nghiệm đau khổ không thể chối cãi được
của tất cả chúng ta, và ở trong khả năng tu tập đạt đức
hạnh giác ngộ với trí huệ và từ bi.
Về
vấn đề lịch sử thì tôi nghĩ rằng so với truyền thống
đạo đức Ky Tô Giáo, đạo học Phật giáo không phát triển
nhiều loại tiểu sử các vị thánh có tính chất bán lịch
sử, kể về cuộc đời đạo đức và gương tốt của các
thánh nhân. Kinh Bản Sinh (Jataka) có thể được xếp vào loại
ngụ ngôn dù có vẻ giống như một cuốn “Cuộc Đời Của
Các Vị Thánh”, nhưng có lẽ ít có tính chất “truyện kể”
vì những truyện này trình bày bức tranh tả thực Phật giáo
có tầm hẹp, và chúng ta có thể xem những truyện này là
không hoàn toàn của riêng Phật giáo, vì chúng đã có từ
thời trước Phật giáo.
Về
đề tài lý thuyết đạo đức thì tôi cho rằng giáo lý về
đạo đức của Phật giáo có tính cách phổ quát. Người
Phật tử đã nói đến một tương lai mà “chúng sinh đều
giác ngộ", nhưng giống như tất cả các nền đạo đức học
Ky Tô Giáo, Hồi Giáo, Khổng Giáo, hay Aristotlte, truyền thống
ba la mật Phật giáo nhắm đến sự thiết lập những cộng
đồng có điều kiện thuận lợi cho việc tu tập và hạnh
phúc trong đời sống tốt đẹp. Các tôn giáo thường chỉ
chú trọng những nhóm nhỏ tự ý thực hành đạo lý, và dành
ít thì giờ cho những sách lược đạo đức cần thiết trong
những xã hội lớn, đa nguyên, không tự nguyện, hay có tính
chất cưỡng bách. Hậu quả là họ thiếu một hệ thống
đạo lý xã hội có thể ứng dụng được trong điều kiện
ngày nay, một hệ thống những nguyên tắc để lập chính
sách và có thể được làm thành luật lệ ở tầm mức lớn,
trong khi vẫn bảo vệ quyền lợi cá nhân bằng biện pháp
cưỡng bách.
Vậy,
trong khi có những nguyên tắc đạo lý phổ quát, đạo học
Phật giáo có khuynh hướng định nghĩa và thực hành các hạnh
ba la mật, trong điều kiện cộng đồng riêng biệt. Trong ba
mức thân, khẩu, ý thì ở mức tâm trí, ý nguyện tổng quát
“giúp đỡ người khác” có thể giống nhau trong nhiều cộng
đồng khác nhau, nhưng ở mức ngôn ngữ và thực hành, các
hạnh ba la mật có tính cách địa phương, và như vậy có
một chút tính chất “lịch sử”. Thí dụ, trong khi hạnh
bố thí cúng dường có thể biểu lộ một chút nghi thức
cúng dường thực phẩm có tính cách địa phương, những nghi
thức địa phương này được thực hành với sự nhận biết
rằng chúng là sự ứng dụng phổ quát của ý định bố thí
cho người khác, nhưng trong những đặc điểm nghi thức, phẩm
vật, và địa phương thì chúng không có tính chất phổ quát.
Khi hiểu và khoan dung với sự khác biệt giữa phương diện
bên ngoài và phương diện bên trong của các pháp thực hành
Phật giáo, người ta sẽ bớt đòi hỏi phải có sự hợp
thức về ngôn từ, biểu tượng, và vật chất trong việc
thực hành các pháp đức hạnh cũng như các pháp thiền trong
khuôn khổ Phật giáo. Kết quả là sự đa dạng, co giãn, và
khoan dung sẽ bảo tồn Phật giáo trong xã hội ngày nay, dù
có vẻ rất mềm yếu và tùy thuộc hoàn cảnh về mặt đạo
lý xã hội và chính sách xã hội.
Tuy
nhiên, người ta vẫn thấy có sự hợp thức trong những hình
thức và thực hành đạo đức bên trong những cộng đồng
tự nguyện Phật giáo, trong đó Tăng Đoàn là tấm gương truyền
thống. Sự hợp thức không chỉ phù hợp với nhu cầu của
bất cứ cộng đồng nào về sự tiêu chuẩn hóa những hành
vi để gia tăng sự tin tưởng và hiệu lực, mà còn đặc
biệt cần thiết và thích hợp với một cộng đồng được
hướng dẫn bởi đạo đức. Pháp tu tập các hạnh ba la mật
của Phật giáo đòi hỏi một cộng đồng được tổ chức
để đáp ứng việc thực hành đức hạnh giác ngộ với những
cấu trúc đặc biệt có tính chất hỗ trợ cũng như trừng
phạt những người vi phạm giới luật. Mỗi cộng đồng Phật
giáo có một kiểu thức riêng, với một mục tiêu chung là
đức hạnh giác ngộ của mỗi thành viên trong cộng đồng.
Mục tiêu có tính chất cầu toàn này được phổ quát hóa
và lý tưởng hóa bằng cách mở rộng để bao gồm sự giác
ngộ của toàn thể “chúng sinh”. Nhưng trong thực tế, mục
đích của cộng đồng được thực hiện từng chi tiết, như
những nghi thức xã giao đặc thù, và trong cá tính của những
cá nhân gương mẫu; trong thời khóa biểu chung, và cùng tuân
theo kỷ luật chung; trong nghi thức cúng dường và nhận cúng
dường, và trong cách thức phạt và tẫn xuất những thành
viên phạm giới. Đây là những cộng đồng mà ở trong đó
người ta học và thực hành ý nghĩa chính xác của đạo pháp,
về mặt tâm trí cũng như thân thể, về đạo đức cũng như
tâm lý để làm một “người giác ngộ", tức là học cách
hoạt động, làm lễ, đi, đứng, nằm, ngồi, sắp xếp vật
dụng, và đổ rác… oai nghi tế hạnh giống như một vị
Phật.
Như
vậy, học cách hành xử giống như một vị Phật là một
việc khác hơn sự trở thành người có lối sống tự nhiên,
sáng tạo và thoát khỏi những điều cấm kỵ có từ thời
Victoria. Việc thực hành đức hạnh giác ngộ trong những cộng
đồng Phật giáo đòi hỏi người ta phải tinh tấn tu học
và có oai nghi giống như một đấng giác ngộ. Về mặt đạo
đức, đây là những pháp thực hành cách dâng cúng, cách nghe
giảng với sự nhẫn nhục, cách giải trừ những lo sợ và
ái dục, cách đi đứng, cách giữ cho tâm trí an tĩnh, cách
sống tự nhiên với bốn mùa, và những điều khác. Về mặt
hành thiền, những pháp tương tự như trên được quán niệm.
Sau
cùng, giống như bất cứ một cộng đồng hướng về đạo
đức nào khác, cộng đồng Phật giáo được xác định trong
cá tính của những người thuộc cộng đồng, cũng như trong
những kinh nghiệm và những pháp tu tập của họ. Sự liên
tục và sự thành công của cộng đồng nhất thiết tùy thuộc
vào mức độ mà các thành viên của cộng đồng trở thành
những hành giả thành công với tất cả những đức hạnh
mà cộng đồng đã quy định. Như vậy Phật giáo sẽ chỉ
thịnh vượng ở Tây Phương khi nào người Phật tử Tây Phương
sống một lối sống Phật giáo hoàn toàn cân bằng, bằng
cách thực hành tu tập với các ba la mật đức hạnh cũng
như các ba la mật thiền quán cân đối nhau. “Đức hạnh
giác ngộ’’ là cái nền cân bằng mà ở trên đó người
Phật tử thực hành những đức hạnh Niết Bàn tối hậu
có tính chất chuyển hóa làm thăng hoa đời sống tâm linh
của người Phật tử.
Những
ý tưởng về đạo lý Phật giáo Tây Phương:
Nếu
chúng ta chấp nhận ý kiến cho rằng đạo lý Phật giáo chính
yếu là một “đạo học về đức hạnh”, và thứ hai là
đời sống Phật giáo nhất thiết bất cứ lúc nào cũng là
sự thực hành phối hợp hai phương diện đạo đức và tâm
linh, chúng ta sẽ nhận thấy có một số ý tưởng xuất hiện
đối với Phật giáo khi tôn giáo này phát triển ở Tây Phương.
Một số những ý tưởng này có tính cách điều chỉnh những
điều không hay của Phật giáo Tây Phương trong thời gian gần
đây, trong khi những ý tưởng khác có thể cho thấy những
giới hạn thực sự của sự thành công và ảnh hưởng của
Phật giáo ở Tây Phương.
Chẳng
bao lâu nữa, với sự qua đi thế hệ người Phật tử Tây
Phương tiền phong, tôi hy vọng là chúng ta sẽ thấy Phật
giáo ở Tây Phương thôi giữ vai trò chiếc bè đưa người
Tây Phương đi khỏi những bến bờ xói mòn của văn hóa kiểu
thời Victoria, hay văn hóa Do Thái-Ky Tô Giáo, hoặc văn hóa
có tính chất kỹ thuật học, đế quốc, hay tổ phụ. Chức
năng của Phật giáo là làm một phương tiện giải thoát khỏi
đau khổ và áp chế. Nhưng Phật giáo còn có một chức năng
nữa, đó là đưa người đau khổ sang bờ bên kia, đạt đức
hạnh giác ngộ, trở thành một vị Phật trong cõi Phật. Điều
này có nghĩa là làm công việc xây dựng và bảo tồn những
mối liên hệ và những cộng đồng cũng như tu sửa bản thân.
Và như vậy, có nghĩa là tái lập phương thức ba la mật tư
tưởng và đời sống Phật giáo.
Một
hệ quả có tính chất điều chỉnh của việc tái lập các
ba la mật trong đời sống và trong những cộng đồng Phật
giáo sẽ là việc những cộng đồng bác bỏ thẩm quyền của
những vị thầy Phật giáo không cân bằng mà họ đã bảo
trợ. Trong thập niên 1980, đã có quá nhiều những vị thầy
Phật giáo ở Tây Phương để lộ sự không có khả năng cân
bằng hai phương diện đạo đức và tâm linh. Tuy nhiên, một
nền đạo học hướng về đức hạnh có những giới hạn
trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh từ tội lỗi
của những cá nhân trong cộng đồng thực hành đạo học
đó. Đó là vì một nền đạo học đức hạnh xem con người
là nhân tố phát triển qua thời gian, với một tiến trình
tu học thường là theo cách rút kinh nghiệm sai đâu sửa đó
để tiến dần. Chủ trương dài hạn như vậy không xét đến
ý nghĩa đạo đức của những hành động xấu riêng rẽ,
và còn xem những hành động đó là những “cơ hội để
dạy”. Trong khi thường làm lơ những hậu quả của những
hành động sai lầm hay ác hại đối với người khác và cộng
đồng. Một sự thất bại về đạo đức như vậy được
người ta biện minh là “hành vi khác thường”, và kết quả
là người ta khoan dung với những hành động riêng rẽ có
hại cho người khác, trừ khi những hành động này có một
“mô thức” tội lỗi không thể chấp nhận được, làm
cho cộng đồng hay một cá nhân phải có phản ứng, nhưng
lúc đó có lẽ đã quá trễ.
Mọi
nền đạo học về đức hạnh hướng dẫn chúng ta đạt đời
sống tốt đẹp với phương tiện là những mẫu “người
tốt”, có thể là một người đang sống hoặc một nhân
vật được kể lại trong kinh sách (thí dụ Đức Phật, cư
sĩ Duy Ma Cật, Phu Nhân Thắng Man, hoặc vị thầy của mình).
Sự quá chú trọng vào nhân vật có thể làm mờ nhạt hoặc
bỏ quên vai trò của những nguyên tắc giới luật tổng quát
như những điều hướng dẫn người ta tự quyết định và
điều chỉnh lẫn nhau.
Giới
luật dù không hoàn hảo đến đâu cũng có khi cần thiết.
Thí dụ trong một số trường hợp và trong những mối liên
hệ giữa những cá nhân, giới luật được dùng để chống
lại sự lạm dụng và bóp méo liên hệ thầy trò. Theo truyền
thống, Phật giáo tùy thuộc nhiều vào các vị thầy, và tin
rằng những phẩm tính siêu diệu của một vị thầy giác
ngộ có thể được truyền trực tiếp bằng pháp “tâm truyền
tâm” đến các đệ tử.
Tất
nhiên, các vị thầy có khả năng truyền cho đệ tử của
mình những pháp ba la mật, những pháp về đức hạnh, và
những pháp thiền, qua sự trò làm theo gương thầy, qua tu tập
đến chỗ thuần thục, qua lời dạy trực tiếp, và qua một
loại “thẩm thấu” về tâm linh, nhưng cái khó truyền nhất
là sự cân bằng và hợp nhất của các hạnh ba la mật trong
một vị thầy, vì các hạnh hoàn hảo này phần nào tùy thuộc
vào cá tính của đệ tử. Người ta sẽ sai lầm nếu tin rằng
sự cân bằng này có thể được truyền cho đệ tử thay vì
được đạt bằng tự lực trong quan điểm sửa chữa mọi
sai lầm của một cộng đồng sinh động.
Truyền
thống Phật giáo đặt ra cho mỗi Phật tử một câu hỏi quan
trọng: “Ai là Phật?” Làm sao để biết một người nào
đó đã tiến xa trong các pháp “đức hạnh giác ngộ”? Làm
sao để biết người đó là một “người tốt”? Câu trả
lời là thiết yếu, vì đó là những người mà người ta
tìm đến để học, để tham vấn, để noi gương, để trông
cậy, và để có tín tâm. Phương thức ba la mật đưa chúng
ta đi xa để có câu trả lời, vì phương thức này vừa chú
trọng cá tính lại vừa chú trọng những pháp thực hành đạo
đức có giá trị đối với cộng đồng. Hệ quả là ý nghĩa
sinh động của đức hạnh giác ngộ sẽ bớt tùy thuộc cá
tính của những cá nhân riêng rẽ mà một cộng đồng quy
tụ xung quanh, mà tùy thuộc nhiều hơn vào nhiều người và
vào cộng đồng (tăng đoàn) trong sự đoàn kết để tiến
tu. Khi xem cộng đồng thực hành là Phật và là một thực
thể giác ngộ hướng về đạo đức, người ta sẽ bớt sự
tôn sùng cá nhân và sẽ gia tăng tiềm lực của cộng đồng.
Sự
chú trọng các hạnh hoàn hảo ba la mật sẽ tạo ra những
tiêu chuẩn có tính cách bảo vệ và có tính chất công cộng
nhiều hơn để trắc nghiệm những người nào muốn gia nhập
hay muốn lãnh đạo những cộng đồng. Nhưng phương thức
đức hạnh Phật giáo đòi hỏi sự củng cố với những sách
lược đạo lý hữu dụng được phát triển ở Tây Phương,
để đánh giá hành động của cá nhân cũng như để thiết
lập những nguyên tắc đạo đức. Môi trường Phật giáo
Tây Phương có thể cũng đòi hỏi một sự tìm lại truyền
thống Giới Luật (Vinaya) của tu viện Phật giáo. Giới Luật
có thể đi lạc vào cái bẫy chấp thủ, nhưng có ích lợi
ở chỗ quy định và đặt kỷ luật xét xử những hành vi
tự ý không thể khoan dung được của các tăng sĩ, và phải
bị phạt hay bị trục xuất. Các cộng đồng Phật giáo Tây
Phương hiện tại mới chỉ bắt đầu đối diện với loại
“làm quyết định” này, khi mà khuynh hướng đạo đức
tự nguyện có khi không đủ.
Tuy
nhiên, tôi vẫn công nhận rằng việc đánh giá hành vi và
xét xử bằng kỷ luật phải là phương tiện thứ yếu trong
đạo đức Phật giáo, dù có thể cần thiết trong những trường
hợp nào đó của những cộng đồng nào đó. Đạo đức Phật
giáo chính yếu đặt trọng tâm ở trong và ở trên “cá tính
trong cộng đồng”. Điều này cần phải được duy trì, vì
tùy thuộc vào điều này sẽ là sự phát triển tương lai
của một nền đạo đức Phật giáo nhắm vào liên hệ giữa
những cá nhân nhiều hơn là vào nguyên tắc, quan tâm đến
sự giúp đỡ lẫn nhau hơn là đến sự bảo vệ quyền lợi,
có nhiều tính chất thông cảm hơn là duy lý, có nhiều tính
chất từ bi hơn là công bằng.
Sách
lược đạo đức đặt trọng tâm trên những luật lệ duy
lý và sự phán xét những hành vi bên ngoài riêng rẽ của
cá nhân là đặc điểm chính yếu của những cộng đồng
rất lớn làm thành một xã hội gồm những người xa lạ
nhau, tuân thủ một luật pháp chung. Trong cộng đồng Phật
giáo, giới luật chỉ là thứ yếu so với đức hạnh (và
ở đây tôi đồng ý với những người Phật tử Tây Phương
chống lại việc đạo đức hóa bằng những điều luật như
cách thức chính yếu để có kỷ luật bản thân hay kỷ luật
cộng đồng). Tuy nhiên, dù là thứ yếu, người ta không thể
bỏ được giới luật.
Trong
đạo đức Phật giáo, việc đặt trọng tâm chính yếu vào
con người, cá tính, và các pháp đức hạnh không thể được
duy trì mà không có cộng đồng, là những nơi mà chúng ta
biết rõ nhau để có thể nói với nhau về một nền đạo
đức trong ý định và trong thực hành, như trong một gia đình.
Như vậy có nghĩa là những cộng đồng Phật giáo phải luôn
luôn là những cộng đồng nhỏ, đủ nhỏ để mọi người
biết rõ nhau và những sinh linh khác chia sẻ đời sống và
sự chết của họ. Tôi nghĩ rằng những cộng đồng này có
thể quá nhỏ, trong đó một nhóm năm hay sáu người khó có
thể đảm nhận và hỗ trợ tất cả những pháp tu tập cần
thiết để đạt đức hạnh giác ngộ. Đối với nhiều người
Phật tử ở Tây Phương, vấn đề kích cỡ là ở hướng
“quá nhỏ”. Nhưng như vậy còn tốt hơn là ở hướng “quá
lớn”. Tôi không biết một cộng đồng tu học nào đã trở
nên quá lớn (có thể là hơn 200 thành viên), trừ khi tìm ở
những cộng đồng lớn như ở thành phố San Francisco và Los
Angeles. Những cộng đồng này quá lớn, quá phức tạp, quá
bận tâm đến những công việc như bảo trì những tòa nhà
của tổ chức, thế chấp tài sản, và những việc khác.
Theo
Aristotle và Mac Intyre thì một nền đạo học chú trọng đức
hạnh không mô tả con đường đưa đến đời sống tốt đẹp
với những từ ngữ trừu tượng, hay cá nhân, hay phổ quát.
Những con đường dẫn đến đức hạnh được đánh dấu
bằng những pháp thực hành đặc biệt của mỗi cộng đồng.
Mac Intyre và Hauerwas cho rằng những nhóm và những cộng đồng
hướng về đạo đức nương tựa vào khung thực tế “sự
tích” truyền thống của họ, tức là những ký ức và những
truyện kể về những người tốt thực hành lối sống tốt
của họ, nhiều hơn là nương tựa vào những luật lệ hay
nguyên tắc phổ quát của họ, tức những giáo thuyết, nhưng
chúng ta cũng biết rằng người Phật tử Tây Phương ngày
nay sống trong một thế giới có nhiều “sự tích”, còn
“ký ức” thì tả tơi. Nhiều người Tây Phương không biết
chắc là những truyện kể lại mà họ tự chọn hoặc được
thừa hưởng có nói lên sự thật về con người một cách
hợp lý và thuyết phục hay không.
Ở
Tây Phương hậu hiện đại, sự tích Đức Phật hay đời
sống đức hạnh giác ngộ chỉ có thể được kể và được
trắc nghiệm trong những khu vực nhỏ, ngoài lề, xa cách những
cấu trúc quyền lực và tài chánh. Việc trắc nghiệm có hai
tiêu chuẩn: 1) sự hữu lý của sự tích của một người
mà qua những pháp thực hành đặc biệt ở trong một loại
cộng đồng nào đó “đã giác ngộ, bằng những pháp thực
hành có tính chất đạo đức, trong trí huệ và từ bi”;
và 2) Điều tốt được chứng minh trong những người và những
cộng đồng hiện đang thực hành đạo pháp. Truyện của họ
là sự tích của Đức Phật.
Chấp
nhận phương thức đức hạnh trong đạo học là những thách
thức và những lợi điểm cho các nhà tư tưởng Phật giáo
cũng như các học giả khác. Thí dụ, chúng ta cần phải nghiên
cứu thêm về mặt lịch sử của các pháp ba la mật trong Phật
giáo, nhưng có nhiều hy vọng là chúng ta cũng có thể giúp
những người thuộc những cộng đồng Phật giáo ngày nay,
qua thực hành các pháp ba la mật, nghĩ đến vấn đề quyền
ưu tiên, ý nghĩa của việc thực hành tu tập trong đời sống
tại gia, và một loạt những điều thực tiễn khác. Chúng
ta cần phải giúp người Phật tử Tây Phương biết phân biệt
những ngành và những ý hướng về trị liệu, thẩm mỹ,
kinh tế, chính trị, và tâm linh. Sự cân bằng tốt nhất về
việc quan tâm giữa mình và người khác là gì? Mối liên hệ
thân hữu Phật giáo là gì?
Mối
liên hệ này có bao gồm cả những loài như ruồi muỗi hay
không? Tại sao người Phật tử thất bại sau nhiều năm tu
tập, và thất bại như thế nào với vấn đề công lý xã
hội và sự phát triển một nền đạo đức xã hội Phật
giáo? Còn rất nhiều những vấn đề về luân lý và đạo
đức nữa trong đời sống người Phật tử Tây Phương đang
chờ đợi sự nghiên cứu sáng tạo và thực dụng của các
triết gia, các nhà Phật học thế hệ mới, và những người
khác.
Tôi
đã đề nghị lối tiếp cận đức hạnh. Phương thức này
cần phải được phát triển đầy đủ hơn, để đưa đạo
đức Phật giáo vào một cuộc đối thoại tất yếu, nghiêm
chỉnh, và xây dựng chung với các triết gia và các nhà thần
học Tây Phương, nhưng lời đề nghị của tôi có vẻ khắt
khe, hay có vẻ trở lại với mối bận tâm về đạo đức
kiểu thời Victoria, nhưng một điều có vẻ rõ ràng đối
với tôi là: tương lai có tính chất xây dựng của Phật giáo
tùy thuộc vào sự hiện lộ của Phật giáo trong cá tính những
người trong cộng đồng chứ không tùy thuộc vào lời văn
hùng hồn, vào việc gây quỹ, xây chùa, hay những gương mẫu
không hoàn hảo. Hy vọng rằng một thế hệ mới sẽ đi xa
hơn trên con đường cân bằng việc hành thiền với các pháp
thực hành ba la mật. Nói một cách đơn giản, tương lai này
tùy thuộc vào một số người tốt có đời sống cân bằng,
trọn vẹn với những pháp tu vun bồi “đức hạnh giác ngộ",
trong gia đình, trong công việc, và trong cộng đồng. Phải
qua lối sống tốt đẹp, Phật pháp mới có thể nở hoa trọn
vẹn ở Tây Phương, chuyển hóa những đau khổ của chúng
ta, đánh thức trong mỗi người chúng ta những gì tốt nhất,
từng chút một, trong mỗi khoảnh khắc, và trong từng hơi
thở./.