Chương
sáu:
Chi tiết về
luân hồi
Nếu
muốn chứng minh toàn thể thuyết luân hồi của Phật giáo,
chúng ta không thể nào chỉ cần chứng minh sự kiện tái sinh.
Những điểm quan trọng của thuyết này là: (1) Người ta không
chỉ tái sinh trong loài người, mà có thể tái sinh trong vô
số trạng thái hiện hữu khác, đa số là vô hình đối với
chúng ta. (2) Khi qua đời, không chắc gì người ta sẽ tái
sinh làm người trừ khi đã đạt được một trình độ đạo
đức nào đó. Gần như tất nhiên họ sẽ tái sinh trong một
cõi thấp, chịu nhiều đau khổ, và ở lại đó nhiều đại
kiếp trước khi tái sinh trong cõi loài người một lần nữa,
và đây là cõi độc nhất trong đó người ta có cơ hội tụ
tập đạt giải thoát. (3) Vòng sinh tử luân hồi của con người
đã có từ vô thủy. Người ta đã trải qua tất cả các cõi
và đã có đủ loại liên hệ với mọi sinh linh. (4) Giữa
hai kiếp sống con người ở trong trạng thái trung gian. Chúng
ta hãy xét những điểm này với những bằng chứng mà bây
giờ đã có được.
1-
Tái sinh trong những loài khác:
Có
vô số trạng thái sinh tương ứng với vô số nghiệp khác
nhau của chúng sinh, nhưng những trạng thái này được chia
thành năm hay sáu cõi chính yếu, tùy theo cảm xúc nổi trội
trong mỗi sinh linh. Đại hành giả Milarepa (thế kỷ 11) nói:
“Sân hận lớn là sự trói buộc của địa ngục, Keo kiệt
lớn là xiềng xích của ngạ quỷ, Si mê lớn là xiềng xích
của loài thú, Tham dục lớn là dây trói của loài người,
Ganh tị lớn là xiềng xích của A tu la, Kiêu ngạo lớn là
dây trói của các vị thần, Đó là sáu sự trói buộc làm
cho người ta không thể đạt giải thoát".
Great hatred is the fetter of hell,
Great avarice the preta’s chain,
Great delusion the animal’s.
Great desire is the human fetter,
Great jealousy is the asura’s,
And great pride the deva’s chain.
These are six fetters binding one from Freedom.103
Nếu
chia thành năm cõi thì cõi A tu la hay bán thần và cõi những
vị thần (deva) được xem là một. Trong các sách ngày nay,
tôi chỉ thấy có cuốn sách nghiên cứu về luân hồi xuất
bản năm 1975 của Francis Story là nói đến trường hợp tái
sinh trong cõi các vị thần. Trong cuốn này một người Ấn
Độ nói rằng trong một kiếp trước mình là một đồ tể
ở Trung Hoa, và vào cuối kiếp đó đã không sát sinh và không
ăn thịt nữa, kết quả là người đó tái sinh làm một vị
thần ở cõi trời. Sau một thời gian ở cõi các vị thần,
người đó tái sinh trong kiếp hiện tại. Về cõi các vị
thần, người đó chỉ nói một chi tiết là các vị thần
đó mặc y phục kiểu Trung Hoa.
Loài
thú là loài độc nhất mà loài người có thể trông thấy.
Một trong những đối tượng của Francis Story, một Phật tử
người Miến Điện nói rằng trong kiếp trước mình là một
con ngựa. Trong nhiều lần ngồi thiền người đó liên tục
bị quấy nhiễu bởi những âm thanh giống như tiếng nhạc
ngựa, “một cảm giác mình đang đi đến, và thỉnh thoảng
lại có cảm giác bị châm chích... ở những nơi khác nhau
trên thân thể, cứ như là đang bị ruồi bu”. Khi người
đó lấy tay xua đi, vị ấy nhận thấy là ở trong phòng không
có một con ruồi nào cả. Khi được thôi miên lùi lại quá
khứ, người đó cũng có những cảm giác như vậy. Khuôn mặt
của y giống như ngựa, giọng nói cũng giống tiếng ngựa
kêu, và y là người chậm trí, thích ở gần với những con
ngựa.
Về
nguyên tắc thì có thể kiếm chứng sự kiện kiếp trước
là ngựa. Một truyền thuyết của phái Cathan ở Pháp kể rằng
có một người nhớ lại kiếp trước mình là ngựa và đã
bị mất một cái móng ngựa ở một địa điểm. Khi đi tìm
ở chỗ đó, người ta đã tìm thấy cái móng ngựa.
Đối
tượng trong cuốn sách của nhà nghiên cứu Isola Pisani cũng
nhớ lại rằng giữa những kiếp làm người cách đây hơn
một ngàn năm, có một kiếp mình là một con sư tử cái. Người
đó không cảm thấy kiếp làm thú này thấp kém hơn kiếp
làm người, cũng không phải là người đó tái sinh trong loài
thú vì nghiệp quả xấu, mà người đó đã chọn sự tái
sinh như vậy để có kinh nghiệm tốt. Đối tượng đó cũng
nhớ lại một kiếp trước mình là một cái cây. Giáo lý
Phật giáo bác bỏ thuyết tái sinh trong loài cây cỏ, nhưng
nói rằng có thể có những vong linh có thần thức bị ràng
buộc vào một cái cây hay một quả núi do nghiệp quả xấu.
Có
một trường hợp hiện hữu trong trạng thái “preta” (ngạ
quỷ hay quỷ đói), tức là một sinh linh lúc nào cũng có cảm
xúc ham muốn, đó là trường hợp của một người hầu thuộc
chủng tộc Karen ở Miến Điện mà nhà nghiên cứu Francis Story
đã khảo sát. Người này có dị tật bẩm sinh ở bàn tay
và bàn chân, với những lằn in sâu, bàn tay phảì kém phát
triển ở phần dưới của vết lằn ngang lòng bàn tay, và
ba ngón chân dính vào nhau. Có những khi cánh tay phải của
người đó sưng lên, và y cảm thấy rất đau ở những chỗ
đó. Người đó nhớ lại kiếp trước mình là con của một
người giàu có, được thừa hưởng một gia tài gồm ba ngôi
nhà, nhiều tiền bạc và những bảo vật khác. Sau khi người
cha qua đời, y sống một mình không có người hầu ở trong
một ngôi nhà. Một đêm bọn cướp xông vào, dùng dây kẽm
trói chặt hai bàn tay của y ở giữa hai chân, rồi lấy đi
tất cả tiền bạc và những món đồ quý giá, trong ba ngày,
người đó hấp hối một cách đau khổ, với những giọt
máu nhỏ xuống từ những vết đứt ở hai bàn tay, và đông
đặc ở giữa ba ngón chân. Rồi y thấy mình nhìn vào thể
xác của chính mình, và y lang thang khắp nơi trong một thời
gian rất lâu. Lúc đó y chỉ có một ý nghĩ duy nhất, giống
như một sự ám ảnh, đó là mình đã mất tài sản, và muốn
lấy lại. Sau cùng y nhận thấy có những người sống, được
thu hút đến chỗ một người đàn bà, và tái sinh làm con
của người đàn bà đó.
Những
người có khả năng tâm linh đã trông thấy nhiều vong linh,
nhưng không nên nghĩ rằng tất cả những vong linh đó đều
là “ma quỷ”. Họ có thể gồm cả những vị ở trạng
thái trung gian, hay cõi trung ấm, và cả những sinh linh ở địa
ngục nữa. Theo nhà nghiên cứu Joan Grant thì một “hồn ma”
có thể chỉ là một phần năng lượng giới hạn của một
người đã chết, và rốt cuộc bóng ma đó sẽ tan đi.
Tôi
nhận thấy những trường hợp nhớ lại địa ngục chỉ có
trong sách của các nhà nghiên cứu ký ức xa. Elizabeth Haich
nhớ lại rằng trong một kiếp trước mình đã vi phạm một
lời thề của tôn giáo Ai Cập thời cổ, tương đương một
lời thề căn bản của Mật Giáo Tây Tạng, và đã rơi vào
một loại trạng thái địa ngục đặc biệt, bị giam cứng
ở trong cái xác ướp của chính mình trong ba ngàn năm, nhưng
vì không có gì để đo lường nên khoảng thời gian đó dường
như vô tận:“Lúc nào tôi cũng có cảm giác kinh sợ... Tôi
không thể nhìn về một hướng nào để tìm sự cứu giúp
cho linh hồn bị đày đọa của mình... Sự đày đọa và sự
đau khổ không dứt... không dứt... không dứt...”. (The feeling
of horror and fear refuses to leave me for a single moment... I cannot
look in any direction for help for my tortured soul... The
tortures and sufferings know no end... no end... no end..). Sau đó
bà ta trải qua nhiều kiếp đàn bà và rồi trong kiếp hiện
tại đã lấy lại được những khả năng tâm linh mà mình
đã mất. Theo từ ngữ Phật giáo thì trường hợp này là
“pratyeka-naraka” tức cô độc địa ngục hay địa ngục
tự thân.
Trong
cuốn sách của bà, Joan Grant mô tả một chuyến “đi thăm”
Địa Phủ, một phần của lễ điểm đạo của bà ở Ai Cập
hơn bốn ngàn năm trước. Ở đó “người ta phải chuộc
những tội nhiều đến mức không được tái sinh trong loài
người ở thế gian” (people expiate those crimes which are too manifold
to be freed on Earth). Một giáo sĩ người xứ Peru, Nam Mỹ, ngày
xưa đã moi tim hàng ngàn người để làm lễ hiến tế thì
bây giờ cảm thấy mình bị moi tim vô số lần trở lại,
và người hành tội chỉ là hình ảnh của chính giáo sĩ đó.
Một người đàn bà bị những con ong tấn công vì trước
đây bà này luôn luôn phá sự yên tĩnh của những người
ở cùng nhà với mình, cho đến khi dường như sự nghỉ ngơi
của họ bị phá bởi những con côn trùng biết châm chích.
Những người trước kia hành hạ loài vật thì bây giờ chính
mình bị hành hạ trong thể xác thú vật, thí dụ như một
con khỉ bị chặt cụt bàn tay và bàn chân.
Tác
giả Joan Grant nói đến một trường hợp địa ngục tự thân
ở đảo Crete, Hy Lạp. Một pháp sư cưỡng bách mấy cô gái
ăn đồ dơ với mục đích huyền thuật, cho đến khi một
cô chống lại, đánh thuốc độc ông ta. Sau khi chết, vị
pháp sư phải ăn đồ dơ trong năm trăm năm và phải sống
lại cơn hấp hối đau đớn của mình khi bị trúng độc.
“Trong khoảng thời gian dường như bất tận, ông ta chỉ
biết có hiện tại đau khổ, và đối với ông ta thì sự
khủng khiếp bất tận này luôn luôn mới” (Caught in an eternal
now, he knows only the present, and to him this endless horror is for ever
fresh). Một trường hợp mà bà Grant gặp trong kiếp này là
một người đàn ông tự tử bằng cách nhảy xuống đất
từ tầng thứ sáu của khách sạn Palace ở thủ đô Brussels
nước Bỉ, năm ngày trước khi bà đến trọ ở căn phòng
của người này, và ông ta vẫn tiếp tục lập lại cú nhảy
lầu trong trạng thái hoảng sợ. Trường hợp này có thể
so sánh với trường hợp vị pháp sư ở đảo Crete, chỉ khác
độ dài thời gian.
Vụ
tự tử của trường hợp mới này tất nhiên đã được xác
nhận, còn những trường hợp khác thì không thể có sự kiểm
chứng. Giá trị của những báo cáo này tùy thuộc vào mức
độ tin cậy mà người đọc dành cho tác giả. Những cuốn
sách của Joan Grant quá hay để có thể bị xem là giả tạo,
và khá phù hợp với giáo lý Phật giáo nếu kinh sách được
hiểu theo ý nghĩa tượng trưng chứ không theo nghĩa đen, và
được xem là xác thực về mặt tâm lý học. Cuốn sách của
Elizabeth Haich, dù có một số giáo lý bí truyền khó hiểu
mà bà kể lại, cũng gây ấn tượng mạnh về ý nghĩa của
hạnh xả ly và Bồ Đề Tâm, và về sự nguy hiểm của những
phương pháp tu luyện kiểu Mật Giáo.
2.-
Sự hiếm có của cơ hội tái sinh làm người:
Khi
người ta chỉ nhớ lại một kiếp ở cõi giới A tu la (những
vị thần) không thuyết phục, hai kiếp thú vật, một kiếp
làm cây, hai kiếp làm ma đói và một kiếp trong địa ngục
đối với mấy ngàn kiếp làm người thì điều này có vẻ
không tương thích với giáo lý Phật giáo nói rằng tái sinh
trong loài người là cơ hội cực kỳ hiếm có. Tuy nhiên, có
lý do chính đáng để người ta không thấy có nhiều báo cáo
về những kiếp tái sinh trong những cõi thấp, ngay cả khi
những trường hợp có thật.
Trong
những cuộc soi kiếp của Edgar Cayee, đối tượng được yêu
cầu nhớ lại “những lần xuất hiện trên thời gian... trong
mỗi kiếp hoặc xây dựng hoặc làm chậm sự phát triển của
đương sự”, như vậy có nghĩa là không kể những kiếp
tái sinh trong những loài khác, và vì vậy không ngạc nhiên
khi thấy Cayee chỉ nói đến sự tái sinh trong những loài khác
một cách gián tiếp - ông xem một số trường hợp bệnh tâm
trí là bị xâm nhập bởi những thực thể đã lìa thể xác.
Chúng ta có thể nói một cách chắc chắn rằng những kiếp
có ảnh hưởng nhân quả nhiều nhất đến kiếp làm người
này cũng là những kiếp tái sinh trong loài người. Trong đa
số những cuộc thôi miên lùi lại quá khứ, nhất là trong
những cuộc thôi miên của nhà nghiên cứu Helen Wambach, người
ta cẩn thận giúp đỡ đối tượng tránh nhớ lại những
kinh nghiệm gây nhiều đau khổ. Vì vậy mà không thể có việc
nhớ lại kiếp ở địa ngục, dù việc này phù hợp với
những lời đề nghị khác dành cho đối tượng. Dù sao thì
những kinh nghiệm cực kỳ đau khổ cũng có tính chất đối
kháng với sự nhớ lại. Tuy nhiên, sự hiếm hoi của những
trường hợp nhớ lại những kiếp tái sinh trong loài thú làm
cho chúng ta khó có thể chứng minh là người ta đã trải qua
những kiếp thú vật nhiều hơn là những kiếp làm người
trong mấy ngàn năm qua, như giáo lý đã nói.
Có
nhiều trường hợp người ta trải qua một loạt những kiếp
làm người với khoảng thời gian giữa hai kiếp không hơn
vài thế kỷ và có khi còn ít hơn nữa. Điều đáng chú ý
nhất là công trình nghiên cứu của Wambach cho thấy rằng có
khoảng bảy phần trăm những đối tượng người Mỹ hiện
đại nhớ lại là mình đã sống một thời gian nào đó trong
khoảng từ năm 200 trước Tây lịch đến năm 500 Tây lịch.
Từ năm 1000 Tây lịch đến thế kỷ 20 thì tỷ lệ đó tăng
vọt. Điều này có nghĩa là những kiếp trước của loài
người ngày nay giải thích cho hầu như toàn thể loài người
trong quá khứ có lịch sử ghi chép. Một điều nữa là đại
đa số đối tượng của Wambach nhớ lại những kiếp làm
người trong quá khứ của mình, vì vậy có thể nói rằng
loài người bao gồm một nhóm cá thể liên tiếp tái sinh làm
người, với rất ít những kiếp tái sinh trong loài thú lớn.
Như
vậy có lẽ đối với khoảng một chục kiếp trở lại đây
giáo lý Phật giáo đã quá bi quan khi nói rằng tái sinh trong
loài người là cơ hội cực kỳ hiếm có, nhưng điều này
không có nghĩa là chúng ta có thể tự mãn. Thứ nhất là sự
thông thường của tái sinh làm người trong hiện tại là một
ngoại lệ. Loài người chỉ đã có mặt ở trên trái đất
trong một phần rất nhỏ của lịch sử sinh vật ở đây,
và sự kiện dân số thế giới tăng cao khác thường trong
hiện tại sẽ không tiếp tục lâu dài. Trong ít năm nữa cơ
hội tái sinh làm người sẽ hiếm hơn và khó đắc hơn nhiều.
Thứ nhì là dữ kiện của chúng ta rất thô sơ và hạn chế,
và rất có thể trong khoảng thời gian dài hơn một chút nữa,
loài người sẽ thoái hóa hơn trở lại trạng thái thú vật
mà không có cơ hội phục hồi nhanh. Thứ ba là tiêu chuẩn
hành vi của một cá nhân không tuyệt đối mà tùy thuộc vào
khả năng của người đó: một hành vi được xem là không
đáng kể trong người bình thường có thể mang lại hậu quả
tái sinh trong địa ngục cho một hành giả cao cấp, như trường
hợp của Elizabeth Haich đã cho thấy.
3.-
Tâm vô thủy:
Trong
cuốn sách của ông Losang Gyatso biện luận: “Khi nói rằng
phải có một kiếp trước cùng loại thì như vậy cũng là
nói rằng luân hồi là vô thủy, không có chỗ bắt đầu,
vì cái không phải là sinh linh không thể được làm thành
một sinh linh, và cái không phải là tâm không thể được
làm thành tâm. Thí dụ, trước con gà đã có quả trứng, và
trước quả trứng đó đã có một con gà khác; vậy không
có giới hạn đầu tiên nào mà người ta có thể đạt đến”.
Thí dụ này cho thấy cả sức mạnh lẫn những hạn chế của
lời biện luận. Chúng ta được biết rằng nếu đi ngược
trở lại đủ nhiều thế hệ quá khứ, tổ tiên của con gà
đó mỗi lúc mỗi ít giống gà hơn, đi qua những loài chim
khác nhau cho đến loài “Archaestery” (loài nửa bò sát, nửa
chim) khoảng 150 triệu năm trước, và trước đó nữa là những
tổ tiên thuộc loài bò sát. Loài bò sát này phát xuất từ
loài lưỡng cư vốn là hậu duệ của loài cá. Loài cá có
lẽ tiến hóa từ loài giống như những con giun mà tổ tiên
phải là những sinh vật mỗi lúc mỗi sơ đẳng hơn, nếu
đi ngược trở lại xa hơn nữa. Khoa học nghiên cứu nguồn
gốc các loài sinh vật đã cho chúng ta biết như vậy.
Đại
đa số chúng ta nghĩ rằng con cá cổ đại và con gà ngày nay
là những loài khác nhau, nhưng thật ra chúng có liên hệ huyết
thống trực tiếp với nhau mà ở trong đó mỗi con vật không
khác cha mẹ của nó hơn là mỗi người chúng ta khác cha mẹ
của mình. Qua 300 hay 400 triệu năm, những khác biệt nhỏ giữa
cha mẹ và các con cộng lại với nhau thành sự khác biệt
lớn giữa một con cá và một con gà. Nếu ứng dụng điều
Giả định 1 theo Losang Gyatso, “một pháp hữu vi (vật vô
thường) không phải chỉ là một ý niệm, mà được sinh ra
với tính chất riêng của nó, khác với những vật khác, hay
không có tính chất của những vật khác”, thì tổ tiên 400
triệu năm trước của con gà sẽ vẫn phải là gà. Vậy lý
thuyết dựa trên điều giả định này là sai lầm trong thực
tế, vì các loài không tuyệt đối khác nhau, mà hòa nhập
dần vào nhau.
Khi
từ điều đã được biết người ta suy luận điều chưa
được biết thì càng suy luận xa càng dễ phạm sai lầm, và
nếu người ta suy luận đến vô cực, thí dụ như nói rằng
dòng sinh mệnh như một sinh linh cá thể thì xưa vô cùng, người
ta sẽ hầu như chắc chắn sai lầm. Đó chỉ là lý thuyết
dựa trên suy luận, và nếu nói rằng đó là sự thật thì
như vậy là sự hoang tưởng lớn nhất.
Không
chỉ có sự liên tục giữa hai loài động vật cá và gà,
mà còn có sự liên tục giữa loài thực vật và loài động
vật nữa, vì còn có những sinh vật đơn bào như “Chlamydomonas”,
“Englena”, “Polytoma”, và “Volvox” vừa có tính chất
thực vật vừa có tính chất động vật, và được các nhà
động vật học xếp vào loại Nguyên sinh động vật (thuộc
động vật), còn các nhà thực vật học thì xếp chúng vào
loại tảo (thuộc thực vật). Người ta nhận thấy các loài
thực vật và động vật đa bào cũng có liên hệ mật thiết
với nhau, khi nghiên cứu cấu trúc và hóa tính của mỗi tế
bào của chúng, người ta khó giải thích được những sự
kiện này, trừ khi hai loài thực vật và động vật đã tiến
hóa từ các tổ tiên chung của chúng. Vì Phật giáo xem thực
vật là loài vô tình, còn động vật là loài hữu tình nên
có thể nói rằng môn sinh học có sự tiếp nối giữa các
loài sinh vật vô tình và hữu tình. Ít nhất thì điều này
cũng muốn nói rằng sự dị biệt giữa loài vô tình và loài
hữu tình không phải là tuyệt đối. Vậy cũng giống như
loài gà là vô thủy ở chỗ người ta không thể tìm ra con
gà đầu tiên, nhưng vẫn không phải là trong quá khứ đã
luôn luôn có loài gà, tâm của người ta chắc chắn không
có chỗ bắt đầu nào để có thể được tìm thấy, nhưng
như vậy cũng không có nghĩa là tâm đó có từ vô thủy.
Ý
kiến cho rằng tâm của con người đã có từ lâu vô cùng
là một điều cực đoan đưa đến những vấn đề khó khăn,
giống như bất cứ một quan điểm hữu ngã nào. Thuyết tự
ngã là một trong mười bốn thuyết mà Đức Phật đã nhiều
lần từ chối chấp nhận “rằng thế gian là vĩnh cửu hay
không vĩnh cửu, hay cả hai, hay không vĩnh cửu cũng không không
vĩnh cửu; hay hữu hạn, hay vô hạn, hay cả hai, hay không hữu
hạn cũng không vô hạn...”, và gọi những thuyết này là
“sự lập thuyết rừng rú, sự lập thuyết hoang vu, sự lập
thuyết rắc rối, sự lập thuyết trói buộc, với bệnh hoạn,
đau khổ, và phiền não, không đưa đến xả ly, vô dục, an
tĩnh, đến tri kiến Niết Bàn” (that the world is eternal, or
not, or both, or neither; or finite, or infinite, or both, or neither...,”
condemning them as “the jungle of theorising, the wilderness of theorising,
the tangle of theorising, the bondage and shackles of theorising, attended
by ill, distress, perturbation and fever, conducing not to detachment,
passionless-ness, tranquillity, peace, to knowledge and wisdom of Nirvana).
Chúng ta có thể dễ dàng chứng minh sự lập thuyết chỉ đưa
đến đau khổ.
Các
vị thầy dạy “Lamrim”, tức các pháp tu tập giải thoát
theo thứ tự trước sau, nói rằng người ta đã lăn trôi sinh
tử trong vòng luân hồi từ vô thủy, đã trải qua mỗi cõi
luân hồi vô số lần, và đã có tất cả các loại liên hệ
với tất cả các sinh linh vô số lần. Nếu có thể thoát
luân hồi bằng cách đi theo đường đạo thì phải có một
điểm P ở trên đường đạo, là điểm đầu tiên mà ở
đó chắc chắn người ta sẽ đạt được giải thoát trong
một khoảng thời gian nào đó. Tương tự, phải có một điểm
Q ở trên đường đạo, là điểm đầu tiên mà ở đó chắc
chắn người ta sẽ không rơi trở lại những cõi thấp. Nếu
Q ở trước P thì sẽ có một hạng người đạt Q nhưng không
đạt P thì sẽ có một hạng người đã đạt Q nhưng không
đạt P và do đó luân hồi mãi mãi trong những cõi cao và không
thể rơi vào những cõi thấp. Điều này trái ngược với
giáo lý, vì vậy Q phải trùng với P hoặc ở sau P.
Bây
giờ hãy xét điểm R trên đường đạo, ở trước P một
sát na tâm, hay một khoảnh khắc ý nghĩ, vì R ở trước P
nên một người ở R vẫn phải trông đợi một thời gian
dài vô tận để đạt giải thoát. Cũng giống như Q không
thể ở trước P, người đó khó có thể trụ ở R trong thời
gian chờ đợi vô tận này, mà phải rơi trở lại vòng luân
hồi như trước. Như vậy R là một trạng thái luân hồi bình
thường mà người ta đã trải qua vô số lần. Người ta đã
vô số lần khởi hành trên đường đạo và vượt qua chặng
đầu tiên để đến điểm R; vô số lần người ta đã đi
đến hàng rào không thể xâm nhập được ngăn cách giữa
R và P, và vô số lần đã quay trở lại luân hồi trong sáu
cõi vượt qua vô số đại kiếp nữa. Nếu các vị Phật đã
dạy cách vượt qua cái hàng rào đáng sợ này thì người
ta đã nghe các ngài nói vô số lần rồi, và đã không đạt
được gì. Người ta đã cố gắng làm tất cả, nhưng lần
này làm sao người ta có thể hy vọng đạt giải thoát? Nếu
người ta bước vào đường đạo lần nữa thì cơ hội đi
theo đường đạo vượt qua R là con số không (zero).
Chúng
ta cũng nhận thấy là vì mỗi khoảnh khắc đều có những
người đạt giác ngộ viên mãn nên phải đã có vô số người
đắc đạo, vì vậy nếu mỗi sinh linh đã luôn luôn hiện
hữu thì số sinh linh phải là vô lượng. Trong trường hợp
này không nhất thiết mỗi sinh linh phải đã là cha mẹ của
người ta, dù người ta đã sinh ta từ thai bào hay từ trứng
vô số lần, và về mặt toán học thì hoàn toàn có khả năng
là chỉ có một phần rất nhỏ các sinh linh đã là cha hay
mẹ của người ta trong những kiếp trước. Đại Đức Geshe
Rabten đã có lý khi nói rằng rất khó để thuyết phục người
ta rằng tất cả chúng sinh đã là cha hay mẹ của họ, và
ngài đề nghị phương pháp phát Bồ Đề Tâm của luận sư
Santideva để tránh những điểm khó khăn về vô hạn này.
Người
ta không cần phải đọc nhiều kinh sách Phật giáo để nhận
thấy sự tự ý dùng những con số lớn hơn đến mức vô
lý để nói đến số lượng và sự thiếu óc toán học của
các tác giả Phật giáo. Hình như họ không hiểu rõ sự khác
biệt lớn giữa hữu hạn và vô hạn. Chúng ta có thể xem
những cái “vô hạn”, “vô lượng", hay “vô biên” của
họ là chỉ có ý nghĩa tượng trưng chứ không có nghĩa đen,
nếu cần thiết. Họ muốn gây ấn tượng mạnh cho chúng ta
là chúng ta đã trải qua rất nhiều kiếp đau khổ hơn là
mình đã tưởng, nhưng chắc chắn họ cũng muốn nói rằng
chúng ta vẫn có hy vọng đạt giải thoát.
4.-
Trạng thái trung gian:
Trạng
thái trung gian giữa hai kiếp được quán niệm trong các pháp
thiền quán về tính chất của luân hồi, như một điều trực
tiếp hơn so với mười hai nhân duyên, và là điều nên biết,
vì tất cả chúng ta đều phải trải qua trạng thái này.
Đa
số các bộ phái Phật giáo thời kỳ đầu, gồm Đại
Chúng Bộ và các chi phái Nhất Thuyết Bộ và Khôi Sơn Trụ
Bộ, cùng với các chi phái của Trưởng Lão Bộ là Phân Biệt
Bộ, Hóa Địa Bộ, Pháp Tạng Bộ, và Thượng Tọa Bộ bác
bỏ thuyết cho rằng có trạng thái trung gian (antarabhava, trung
ấm) giữa lúc qua đời và lúc tái sinh. Cuốn “Visuddhimagga
“(Thanh Tịnh Đạo) của luận sư Phật Âm (Buddhaghosa) và
những tác phẩm của luận sư Long Thọ (Nagajuna) và luận sư
Candrakirti dạy rằng năm uẩn của kiếp tái sinh, không gián
đoạn, và tùy thuộc vào năm uẩn của thân kiếp trước,
khi những uẩn đó tan biến. Không có một cái gì chuyển từ
kiếp trước sang kiếp sau, mà giống như một cái đèn được
thắp sáng từ ngọn lửa của một cái đèn khác. Kinh Bát
Nhã, được xem là của luận sư Long Thọ, cũng bác bỏ thuyết
cho rằng một trung ấm thân tiếp tục tồn tại sau khi chết
để làm thành thân trong cõi trung giới, và nói rằng năm uẩn
của trạng thái trung gian được bỏ cùng lúc chúng được
nhận.
Tuy
nhiên, Chính Lượng Bộ, Nhất Thiết Hữu Bộ, Kinh Lượng
Bộ, Đông Sơn Trụ Bộ (một phái Đại Chúng Bộ xuất hiện
sau), và sau là Hóa Địa Bộ, thì cho rằng có sự hiện hữu
trung gian giữa kiếp trước và kiếp sau. Luận sư Thế Thân
(Vasubandhu) nói nhiều về đề tài này trong cuốn sách của
ngài “A Tì Đạt Ma Câu Xá Luận Thích”, và luận sư Asanga
cũng viết trong hai cuốn “A Tì Đạt Ma Tập Luận” và “Du
Già Sư Địa Luận”. Dựa theo ba cuốn này, đạo sư Tsongkhapa
(Tây Tạng, thế kỷ 14) viết về trạng thái trung gian trong
tác phẩm “Lamrim chenmo" (Bồ Đề Đạo Thứ Đệ Luận). Có
một số kinh sách hỗ trợ ý kiến này, còn những người
chống lại thì chỉ có thể phản biện bằng cách sửa lại
lời kinh sách, hoặc giải thích một cách không hữu lý. Thí
dụ, kinh sách viết rằng việc thọ thai phải có ba điều
kiện là: sự giao hợp của cha mẹ, khả năng thọ thai của
người mẹ, và sự hiện diện của một “Gandharva”, tức
một sinh linh trong trạng thái trung gian. Phái Thượng Tọa Bộ
(Theravada) xuyên tạc điều này thành một thuyết có tính chất
mê tín và phi Phật giáo bằng cách giải thích Gandharva là
những vị thần trông xem việc thọ thai.
Trong
A Tì Đạt Ma Câu Xá Luận, luận sư Thế Thân mô tả sinh linh
trong cõi trung giới như sau:
“Vì
nó có cùng “người phóng”,
Nên
nó có hình dạng của kiếp sau,
Tức
là kiếp sống trước khi chết trong kiếp sau,
Và
sau lúc sinh ra đời.
Những
sinh linh khác trông thấy nó với thần nhãn,
Và
do nghiệp nó có thần thông.
Năm
căn đầy đủ, nó không bị cản trở,
Không
bị xô đẩy và sống bằng mùi thực phẩm.
Người
hư hỏng đi đến
Chỗ
tái sinh do tham dục.
Còn
những người khác thì do muốn có mùi thực phẩm hay chỗ
ở.
Sinh
linh ở địa ngục đi đến chỗ tái sinh với hai chân đưa
lên trên.
Sự
sống ở cõi trung giới diễn ra trước khi sinh ra trong kiếp
sau vốn đã được nghiệp quả “phóng chiếu” vào lúc qua
đời trong kiếp trước. Một sinh linh trong trạng thái trung
gian được tái sinh làm người sẽ có hình dạng một đứa
trẻ năm hay sáu tuổi, có đủ các bộ phận, gồm cả nam
căn hoặc nữ căn. Sinh linh này có thể đi đến đâu tức
khắc, không bị cản trở bởi một thứ vật chất nào. Do
nghiệp quả sinh linh có thần nhãn và có thể trông thấy nơi
mình sẽ sinh ra và cha mẹ tương lai của mình đang giao hợp.
Nếu là nam, sinh linh sẽ cảm thấy ham muốn người mẹ và
ghét người cha; nếu là nữ thì ngược lại. Sinh linh đi đến
chỗ họ và tưởng mình đang ân ái với người mẹ hoặc
người cha và thấy mình “sinh ra” trong thai bào. Những sinh
linh sẽ sinh ra “từ sức nóng và sự ẩm ướt” (thấp sinh),
như loài côn trùng, thì bị thu hút bởi mùi của thực phẩm.
Trường hợp hóa sinh, tức sinh ra do biến hóa, sẽ xảy ra
khi một sinh linh có một chỗ ở tốt nào đó, thí dụ một
sinh linh sẽ tái sinh trong địa ngục nóng thì bị hành hạ
bởi gió và mưa lạnh và muốn đến một nơi nào ấm.
Theo
đại sư Tsongkhapa, sự trông thấy cha mẹ tương lai của mình
ân ái chỉ là ảo ảnh, nhưng khi sự ham muốn phát khởi thì
sinh linh không thể tránh được sự sinh ra ở đó. Sinh linh
đó chỉ trông thấy sự giao hợp và điều này làm cho sinh
linh nổi giận và do đó tái sinh. Như vậy là cần phải có
cả hai cảm xúc tham dục và sân hận phát khởi. Các học
giả Phật giáo không có cùng ý kiến về thời gian một sinh
linh trải qua trong cõi trung giới nhưng các đạo sư Tây Tạng
cho rằng thời gian này tối đa là bảy tuần lễ, mỗi tuần
thân trung ấm thay đổi một lần.
Hiện
tại chúng ta đã có bằng chứng quan sát đáng kể để so
sánh với ý kiến của các học giả Phật giáo, như đã nói
trong chương 3. Người ta khó nhớ lại kinh nghiệm lúc sinh
ra đời và trước lúc sinh ra hơn là nhớ lại những kiếp
trước. Chỉ có gần một nửa số đối tượng của nhà nghiên
cứu Wambach có thể nhớ lại lúc mình sinh ra trong khi được
thôi miên, so với chín mươi phần trăm hay chín mươi lăm phần
trăm nhớ lại kiếp trước. Nhà nghiên cứu Denise Desfardins
cũng đưa ra những con số tương tự. Wambach thu thập được
lời kể của 750 người về kinh nghiệm lúc sinh ra và trước
lúc sinh ra.
Francis
Story tổng kết ký ức tự nhiên về trạng thái trung gian như
sau:“Những ký ức này cho thấy là có cùng một mô thức
ẩn ở bên dưới... Mới đầu thực thể lìa thể xác không
biết là mình đã qua đời. Những cảm giác mà các đối tượng
mô tả giống như những cảm giác của những người đã có
kinh nghiệm, ý thức lìa thể xác do được gây mê hoặc trong
trường hợp được gọi là xuất viá... một điều thường
xảy ra trong những ký ức này là sự xuất hiện của một
vị hướng dẫn giúp đỡ thực thể lìa thể xác”.
Những
dữ kiện của nhà nghiên cứu Francis Story xác minh cho một
số ý kiến của các học giả Phật giáo ngày xưa. Tuy nhiên
trạng thái trung gian diễn ra với những đặc điểm riêng
không thuộc về những cõi súc sinh, ngạ quỷ v.v... Quả thật
sinh linh trong cõi trung giới có thần thông và có khả năng
di chuyển không bị trở ngại gì cả, và có thể trông thấy
những vong linh khác. Một thí dụ là một người lính tên
là Keaw ở Thái Lan, sau chết vì bệnh dịch tả đã trông thấy
các vị tu sĩ làm tang lễ ở nhà của anh ta, và sau đó anh
ta nhận thấy:“Có một số điều khác thường về thân thể
của mình và lúc đó mới biết rằng mình đã chết. Anh ta
đi theo các vị tu sĩ. Mọi thứ đều có vẻ bình thường
đối với anh ta, chỉ có điều anh ta có thể đi xuyên qua
người khác, và khi nghĩ đến một nơi nào thì tức khắc
anh ta thấy mình đang ở nơi đó. Anh ta không cảm thấy đói...
anh ta chỉ sợ một người say rượu và một đứa trẻ té
vào mình. Có lẽ Keaw có cảm giác là mình rất nhỏ bé. Anh
ta không nhớ là mình có lúc nào tức giận nhưng đã trông
thấy những vong linh khác nổi giận khi những người sống
liệng đá hay khạc nhổ về phía mình; họ sợ sẽ trúng vào
mình”.
Dựa
vào cuốn “Du Già Sư Địa Luận”, đại sư Tsongkhapa nói
rằng không có vong linh nào muốn sống lại trong thể xác mà
mình vừa mới thoát ra khỏi, và điều này được các tài
liệu nghiên cứu khẳng định, nhưng những ý kiến khác thì
ít được đồng ý hơn. Có những nguồn nghiên cứu cho thấy
sinh linh trong cõi trung ấm không có ngay hình dạng của kiếp
sau của mình như một đứa trẻ khỏa thân, mà vào lúc đầu
họ có y phục như đã mặc lúc chết. Khi người vừa mới
chết xuất hiện trước người thân của mình, họ sẽ thấy
người đó có hình dạng như lúc còn sống, và mặc những
quần áo mà người đó đã mặc lúc chết. Có vẻ như cuộc
tái sinh kế tiếp được vong linh chọn trong thời gian ở cõi
trung giới, và trong khi thảo luận với những vong linh khác,
chỉ có điều chọn với những giới hạn nào thì chưa được
biết rõ. Đa số các đối tượng của nhà nghiên cứu Wambach
nhớ lại những cuộc thảo luận như vậy, và những người
góp ý kiến thường là thân nhân hay bạn bè của vong linh,
không có sự phân biệt họ là người chết hay người sống
vào lúc quyết định. Năm mươi chín phần trăm đối tượng
có nhiều hơn một người góp ý kiến. Trong những trường
hợp của nhà nghiên cứu Story, vị hướng dẫn thường là
một cụ già, “vị yogi mặc áo trắng”, hay một bà già.
Những
người quá cố thường tham dự tang lễ của chính mình, như
trong trường hợp Keaw nói ở trên. Nhiều vong linh tiếp tục
quan sát sinh hoạt của những người thân của mình, như trong
trường hợp Bridey Murphy. Sinh linh trong cõi trung giới không
phải chịu những đau khổ như trong đời sống ở cõi vật
chất, không có sự đau nhức, đói khát, và mệt mỏi của
thể xác vật chất, nhưng họ có thể cảm thấy trống rỗng
và chỉ có lực hành động và truyền thông giới hạn. Ở
cõi trung ấm có một thứ vô thời gian, khác với thời gian
ở cõi vật chất, vì vậy hàng chục năm hay nhiều hơn trôi
qua mà các sinh linh ở đó không có ý thức gì đến. Không
có một chút bằng chứng gì về trạng thái trung gian kéo dài
bảy tuần với mỗi tuần thay đổi thân trung ấm một lần.
Nhiều đối tượng của nhà nghiên cứu Wambach cảm thấy rằng
họ đã chọn phần cuối của thế kỷ hai mươi để sống
vì một lý do đặc biệt (hơn bảy mươi phần trăm nói rằng
trong khoảng thời gian này có một sự phát triển mới về
ý thức tâm linh, hay đạo tâm). Ý kiến của luận sư Vasubandhu
có vẻ xác thực hơn, vì ngài nói rằng trạng thái trung gian
kéo dài cho đến khi nhân duyên của cuộc tái sinh hội tụ
với nhau. Ngược lại, đại sư Tsongkhapa cho rằng thuyết này
không đáng tin cậy.
Về
cách đầu thai thì không có đối tượng nào nói là đã trông
thấy cha mẹ tương lai của mình ân ái và mình thích cha và
ghét mẹ hoặc ngược lại. Một số đối tượng nhớ lại
tự nhiên của Francis Story đã cảm thấy người mẹ có sự
thu hút và đi theo bà khắp nơi, một đối tượng nhập vào
nước mà mẹ của mình đang uống, một đối tượng ôm cổ
bà mẹ, và tất cả họ có vẻ đã bất tỉnh vào lúc đó,
không có đối tượng nào nói đến người cha của mình. Hai
phần ba đối tượng của Wambach lưỡng lự không muốn đầu
thai, nhưng chấp nhận điều này như một sự cần thiết không
đáng hài lòng. Chúng ta có thể so sánh con số này với chín
mươi phần trăm xem việc mình qua đời trong kiếp trước là
điều hay. Như vậy tái sinh làm người không phải một việc
đơn giản nhập vào một thể xác với bất cứ giá nào để
mình có thể hưởng thụ những thú vui trần thế. Nhiều người
trong chúng ta tái sinh ở thế gian này để học hỏi và tự
phát triển. Nhà nghiên cứu Helen Wambach hỏi các đối tượng
của bà về mục đích của kiếp sống hiện tại của họ,
và bà đã phân loại những câu trả lời như sau: hai
mươi lăm phần trăm là có thêm kinh nghiệm, mười tám phần
trăm là giải quyết những liên hệ của họ với những người
quen biết trong kiếp trước, mười tám phần trăm là học
cách yêu thương người khác, hai mươi bảy phần trăm là phát
triển tâm linh và dạy người khác, và mười hai phần trăm
là những mục đích khác.
Những
cuộc soi kiếp của Edgar Cayee cho biết như sau: “Lúc người
mẹ thọ thai không trùng với lúc vong linh nhập vào thai bào.
Những cuộc soi kiếp thường khuyên các bà mẹ đang có thai
rằng: nên cẩn thận về những ý nghĩ của mình trong thời
gian mang thai, vì tính chất của những ý nghĩ quyết định
đến một mức độ nào đó loại vong linh được những ý
nghĩ đó thu hút... Vong linh có thể nhập vào bào thai trước
khi sinh ra một thời gian ngắn, sau khi sinh ra một thời gian
ngắn, hoặc vào lúc sinh ra. Có thể hai mươi bốn giờ sau
khi đứa trẻ được sinh ra, vong linh mới nhập vào nó.
Trong một số trường hợp có sự thay đổi vào phút chót
về vong linh nào sẽ nhập vào thai nhi".
Nhà
nghiên cứu Wambach cũng đặt câu hỏi về điều này với các
đối tượng: “Bạn nhập vào bào thai lúc nào”? Ba mươi
phần trăm nhập vào ngay trước khi ra đời hay trong khi ra đời.
Có trường hợp hai vong linh nhập vào hai thai sinh đôi, tranh
chấp nhau về việc ai sẽ nhập vào thai nhi nào. Hai mươi phần
trăm ở bên ngoài thai nhi, và mười chín phần trăm ở trong
và ở ngoài thai nhi trong thời gian trước khi sinh ra, năm phần
trăm có thể tự ý rời khỏi thai nhi ngay cả sau khi đã sinh
ra, mười hai phần trăm nhập vào bào thai lúc đã được sáu
tháng, và chỉ có mười một phần trăm nhập vào bào thai
trong sáu tháng đầu tiên. Wambach cũng thấy rằng tám mươi
sáu phần trăm có ý thức về những cảm giác, cảm xúc, và
ý nghĩ của người mẹ trước khi họ được sinh ra. Nhà nghiên
cứu Francis Story cũng nói về trường hợp đáng chú ý của
một người Thái Lan trở thành con của người em gái của
mình, và đứa con này đã được sinh ra một ngày trước khi
người đó chết. Khi đám tang của mình đang được cử hành,
người đó nhớ đến đứa trẻ sơ sinh và tức khắc y đã
ở bên cạnh em gái của mình và đứa con. Hai lần cô ta nói
với y rằng y đã qua đời và hãy đi chỗ khác, nhưng y bị
thu hút một cách mạnh mẽ, rồi y bất tỉnh và có cảm giác
mình đang rơi xuống. Kế tiếp y thấy mình là một đứa trẻ
nhỏ. Khi biết nói, y giữ lại được nhiều kiến thức đã
có từ kiếp trước, thí dụ như tên của những người thân
trong kiếp trước, khả năng đọc chữ Cam Bốt và nói tiếng
Lào.
Những
dữ kiện nói trên làm cho người ta nghi ngờ tính xác thực
của những ý kiến như của Đại Đức Losang Gyatso cho rằng
thân rất tinh tế (tức thần thức) từ kiếp trước phải
nhập vào bào thai ngay từ đầu để thai nhi có thể phát triển.
Những điều này cho thấy rằng tiến trình thọ thai không
nhất thiết phải được quy định bởi nghiệp quả của người
mà thể xác đó sẽ thuộc về.
Tổng
kết bốn điểm đã xét ở trên, người ta nhận thấy trong
thuyết luân hồi của Phật giáo có những điểm có tính cách
thực tế mà cũng có những điểm có vẻ huyền hoặc hay tượng
trưng, có nghĩa bóng chứ không có nghĩa đen, và lại có những
điểm chỉ là những lời suy luận sẽ phải được loại
bỏ khi sự nghiên cứu thêm giúp chúng ta biết rõ hơn về
luân hồi. (1) Dù khó có bằng chứng khoa học, có thể có
những người thực sự tái sinh vào những cõi phi nhân, hoặc
trong loài thú hoặc trong những loài phi vật chất. (2) Một
khi đã đạt cõi loài người thì sự kiện tái sinh mấy kiếp
liên tiếp trong loài người là một quy luật chứ không phải
là một ngoại lệ hiếm có. (3) Thuyết cho rằng giòng tâm
thức của mỗi sinh linh là vô thủy không muốn nói rằng giòng
tâm thức đó đã có từ thời vô thủy, mà chỉ muốn nói
rằng đã có từ rất lâu, không thể xác định được thời
gian. (4) Có bằng chứng là quả thực người ta trải qua trạng
thái trung gian giữa hai kiếp làm người, trong thân tinh tế
không bị cản trở bởi vật chất và có thể đi đến bất
cứ nơi nào ngay khi vừa mới nghĩ đến. Tuy nhiên, thuyết
Phật giáo tiêu chuẩn về cách tái sinh làm người có lẽ
chỉ là một giáo lý huyền hoặc dạy rằng, nguyên nhân của
luân hồi là tham dục và sân hận, và không phải là một
sự trình bày những gì người ta thực sự trải qua. Những
bằng chứng cho thấy sự tái sinh bao gồm một loại quyết
định nào đó của vong linh sau khi tham khảo ý kiến những
người khác, thường là với ý định học hỏi và phát triển
tâm linh. Nên có sự nghiên cứu thêm nhiều về sự sống trong
cõi trung giới bằng phương pháp thôi miên, và có lẽ chúng
ta cũng nên biết thêm về sự tái sinh trong những cõi phi nhân.