Chương
bốn
Bằng
chứng lý luận: Thuyết Luân Hồi
Khi
tìm cách thuyết phục người khác về sự thật của luân
hồi, các vị lạt ma Tây Tạng không dựa nhiều vào bằng
chứng quan sát mà chúng ta đã tóm lược ở phần trên, mà
chỉ dựa vào vào lý luận để đưa ra những “ bằng chứng”.
Chúng ta có thể lấy thí dụ là những cuốn sách được phổ
biến rộng rãi của Đức Dalai Lama và Lạt Ma Zopa Rinpoche.
Khi gặp lối trình bày tỉ mỉ những lý luận PG tiêu chuẩn
về luân hồi như vậy, người nghiên cứu Tây Phương thường
có phản ứng ngạc nhiên rằng những tác giả thông minh đó
lại có thể mong họ chấp nhận những lý luận không vững
chắc như vậy của một số luận điểm. Chúng ta nên tìm
hiểu nguyên nhân của sự thất bại về mặt truyền thông
này. Việc nghiên cứu kỹ những luận điểm của các tác
giả Tây Tạng không làm cho những luận điểm này đáng tin
cậy hơn theo tiêu chuẩn Tây Phương, nhưng có thể làm cho
chúng ta hiểu tại sao chúng ta lại được các tác giả nêu
lên.
Đức
Dalai Lama
Lạt
Ma Zopa Rinpoche
Một
điều may mắn cho chúng ta là một nha lý luận nổi tiếng
người Tây Tạng, Lạt Ma Losang Gyatso, hiệu trưởng Trường
Nhân Minh Học PG ở Dharamsala, mới đây đã xuất bản một
cuốn sách trình bày đầy đủ một cách khác thường về
những luận điểm bênh vực cho thuyết luân hồi. Cuốn này
đã được Đức Dalai Lama duyệt, vì vậy có thể được xem
là có thẩm quyền. Tôi đã dịch một chương thích hợp với
đề tài mà chúng ta đang xét, và trong số hàng trăm trang biện
luận của chương này, đã chọn ra ở đây những điểm quan
trọng cho thêm vào phần ý kiến của tôi, chính yếu là theo
quan điểm khoa học. Trong chương kế tiếp tôi sẽ nói thêm
về lý do người Tây Phương thấy những luận điểm này khó
chấp nhận.
Lý
luận không bất ngờ xuất hiện ở giữa hư không, mà diễn
ra ở trọng phạm vi của một lý thuyết cung cấp một điều
gì đó để người ta lý luận về nó, và một điều gì đó
để người ta dựa vào đó mà lý luận, Trong toán học và
khoa học, một lý thuyết bắt đầu với những giả định
căn bản được những định nghĩa phụ trợ để đưa đến
suy luận. Điều quan trọng là phải nhận rõ những giả định
được xem là những “ khẳng định” khi người tuyên xưng
giáo thuyết chấp nhận chúng, nhưng những điều khẳng định
đó không độc lập với nhau. Khi muốn chứng minh điều khẳng
định A, người đó có thể sẽ rút ra điều này từ điều
khẳng định B. Khi phải chứng minh B, có thể người này sẽ
rút ra từ A. Không ai đòi hỏi người đó phải trình bày
toàn bộ giáo thuyết của mình cùng một lúc, như một loạt
những điều suy luận, mà người ấy chỉ cần phải trả
lời mỗi lần một câu hỏi về một điểm nào đó. Tuy nhiên,
trong tác phẩm của Lạt Ma Losang Gyatso bắt đầu với bốn
điều khẳng định mà chúng ta có thể xem là những giả định,
từ những giả định 1 đến giả định 4. George Spencer Brown
định nghĩa “ giả định: như sau “ có thể xem một điều
giả định là một điều chấp nhận mà không có bằng chứng,
vì nó thuộc về một tập hợp những điều mà từ đó có
thể rút ra những điều khác dễ dàng gây tin tưởng. Những
điều như vậy có đặc tính chính yếu là hầu như hoàn toàn
thiếu bất cứ một sự xuất hiện tự nhiên nào của sự
thật”.
Sau
đây là bốn điều giả định trong cuốn sách của Lạt Ma
Losang Gystso:
Giả
định 1: “ Một pháp hữu vi không phải chỉ là một ý
niệm, mà được sinh ra với tính chất riêng của nó, khác
với những vật khác, hay không có tính chất của những vật
khác “ ( Câu này được trích trong “ Pramanavartha” của
Luận sư Dhamakirti).
Những
ai rành về triết lý của phái Prasangukamadhyamika ( Trung Quán
Cụ Duyên Tông) hoặc vật lý học hiện đại sẽ thấy điều
này không hoàn toàn đúng. Nhưng vì chúng ta không muốn lý
luận phân tích về những vật mà thật ra không thể tìm thấy
bằng lý luận phân tích nên cứ giả định rằng chúng ta
đang xét những vật có thể tìm thấy được. Trong nhiều
cách, những vật có thể tìm thấy được theo giả thuyết
này có hành vi rất giống những vật trong thế giới hữu
hình, vì vậy lý thuyết này vẫn hữu dụng. Nhưng cũng giống
như thuyết động lực học thời gian không gian tuyệt đối
của Newton sụp đổ khi có sự xuất hiện của vận tốc cao,
lý thuyết này cũng không thể áp dụng được trong những
trường hợp nào đó, Điều giả định này có vẻ như muốn
nói đến những vật cá thể, tính chất rõ rệt, phân biệt
nó với tất cả những vật nào không cùng loại. Điều này
đưa đến ý niệm quan trọng “cùng loại”, thí dụ một
vật cùng loại với A là một vật giống A và thuộc loại
của A.
Giả
định 2: “ con người là sự tập của năm uẩn, không
có người tự túc hay tự lậpp”.
Hai
điều giả định ở trên phù hợp với giáo thuyết của phái
Santrantika (Kinh Lượng Bộ). Hai điều giả định sau đây là
nền móng của thuyết nhân quả.
Giả
định 3: “ Bất cứ quả nào xuất hiện cũng phải có
trước một tập hợp đầy đủ những nguyên nhân của nó
dù nhiều bao nhiêu. Nếu thiếu một nhân nào, quả đó sẽ
không xuất hiện. Ngược lại nếu tập hợp những nguyên
nhân có đủ thì quả sẽ được sinh ra”.
Giả
định 4: “ Tập hợp trọn vẹn những nguyên nhân của
một quả gồm có (1) nhân (upadana), (2) duyên, tức là những
điều kiện phụ trợ cho nhân.
“Nguyên
nhân của quả Q “ nghĩa là” cái để lại kết quả đó
bằng cách chuyển thành tính chất của quả”. Một định
nghĩa khác ở trong cuốn Dura là “ Nguyên nhân của quả trong
dòng liên tục của nó”. Thí dụ (1) đèn là nguyên nhân của
ánh sáng, nếu đèn (a) không có sự biến đổi tính chất
của nó, nó không thể xuất hiện trong tính chất ánh đèn,
và (b) nó để lại kết quả là tính ánh đèn”. (2) Nguyên
nhân của một cái bình bằng đất là một cục đất sét,
vì cục đất không thể trở thành cái bình mà không có sự
biến đổi. (3) Nguyên nhân của cây lúa là hạt lúa mà từ
đó nó mọc lên. Đất, phân bón, hơi nóng và khí ẩm tập
hợp với hạt lúa và cả người trồng lúa nữa, là những
duyên của cây lúa.
Duyên
còn gọi là “ Tăng Thượng Duyên” (Adhipati-pratyaya) và được
chia thành “ duyên thông thường” và “ duyên bất thường”.
Cách
chia nhân và duyên này có một lợi điểm so với cách chia
ti mỉ hơn, đó là sự rõ ràng và không thừa: bất cứ nhân
nào của quả cũng hoặc là nguyên nhân hoặc là duyên của
quả, và nhân nào hay duyên nào của quả cũng một nhân của
quả.
Khi
ứng dụng thuyết nhân duyên cho con người chúng ta có sự
phân tích giả định con người được trình bày ở trên.
Thân bên ngoài là thân vật chất gồm xương và thịt ( ngoại
trừ các vị được sinh ra một cách huyền diệu có thân ánh
sáng cầu vòng thay vì thể xác vật chất). Thân bên ngoài
là năm giác quan. Thân tinh tế là thân hổ trợ cho tâm trí,
có phần giống như hệ thần kinh trong cơ thể học Tây Phương.
Tâm thức chính yếu, hay tâm vương, được mang bởi “ khí”
trong hệ thống kinh mạch và luân xa. Có mười loại khí được
liệt kê với những công năng khác nhau, như vận động những
bộ phận của cơ thể và nhận thức của các giác quan. Cuốn
sách của Lạt Ma Losang Gyatso viết:
“
Giống như người què có mắt được người mù có chân cõng
để có thể di chuyển, tâm thức chính vốn có khả năng nhận
thức các vật nhưng không có khả năng di chuyển, và các khí
vốn không có khả năng cảm nhận các đối tượng nhưng có
khả năng di chuyển, hổ trợ lẫn nhau để có thể thi hành
mọi chức năng nhận thức các vật đối tượng”.
Như
vậy, theo quan điểm này, có thể so sánh các kinh mạch với
hệ thần kinh, và các khí với những xung điện mà hệ thần
kinh truyền đi. Nhưng các kinh mạch cũng hướng dẫn máu và
các “ giọt”, gồm những giọt trắng và những giọt đỏ,
tức là tinh chất và các thứ máu được xem là chất sinh
sản của người đàn bà, “ tinh cha, huyết mẹ”. Những
giọt trắng và đỏ nhận được từ cha mẹ vào lúc thọ
trai được giữ lại suốt đời ở giữa luân xa tim. Ở đây
những giọt này chứa khí và tâm bất hoại rất tinh tế.
Đó
là giáo thuyết của các văn bản thuộc Nghi quỹ Du Già Vô
Thượng (Anuttara-yoga-tantra). Khí và tâm bất hoại hiện hữu
liên tục, bất khả phân với nhau, không thay đổi tính chất,
dù người ta sống hay chết qua các kiếp, và không bị hủy
diệt bởi bất cứ điều gì. Vậy, đó là câu trả lời cụ
thể cho điều thắc mắc muôn đời: “ cái gì tồn tại từ
kiếp này sang kiếp khác?”. Lạt Ma Losang nói rằng những
kinh sách Mật Giáo được xem là phát xuất từ Hàm Tàng Thức
(Alaya-vijnana) và Như Lai Tạng Thức (tathagata-garbha) đã dạy
về khí và tâm bất hoại. Tất nhiên, cả khí và tâm bất
hoại đã được so sánh với ý niệm “ atman” (tiểu hồn,
linh hồn) của Aán Giáo, và cả trong trường hợp hiện tại
của chúng ta cũng vậy, dễ thấy một sự tương tự nào đó
giũa tâm bất hoại và “ atman” (Kinh Bát Nhã trích dẫn và
bác bỏ thuyết hữu ngã xem thân tinh tế là atman).
Ngoài
khí và tâm bất hoại, vốn độc lập với những nguyên nhân
khác, tất cả thành phần của con người đều có nhân duyên
riêng của chúng. Ở đây chúng ta sẽ liệt ke những thành
phần này trong trường hợp sinh ra từ thai bào.
Nguyên
nhân của thân bên ngoài và các kinh mạch là các giọt trắng
và đỏ trộn lẫn vào nhau từ cha và mẹ. Lạt Ma Losang viết:
“ Nguyên nhân chính của thịt, máu, da..v.v… là giọt đỏ
từ người mẹ, còn nguyên nhân kinh mạch, xương, tủy, tim…v.v…
là từ giọt trắng của người cha”.
Cùng
với nguyên nhân chính, những điều kiện phụ hay duyên, là
nghiệp, tâm và thân khí tinh tế được sinh ra cùng lúc với
tâm đó, tức là khí và tâm bất hoại cùng với tập khí
mà chúng ta mang theo.
Nguyên
nhân của năm thức và các khí là những tập tính của các
thức và khí kiếp trước, được mang trong khi bất hoại.
Tăng thượng duyên thông thường của năm thức là tinh và
huyết của cha mẹ, còn Tăng thượng duyên bất thường của
năm thức là tâm thức được sinh ra cùng với thân-khí có
từ kiếp trước. Tăng thượng duyên của các khí cũng là
thân bên ngoài và thân bên trong các giọt trắng và giọt đỏ
từ Cha Mẹ.
Nguyên
nhân của mỗi loại tâm là tâm kiếp trước của nó, hay tập
khí của tâm kiếp trước. Tăng thượng duyên bất thường
của nhãn thức là nhãn căn ( Tăng thượng duyên thông thường
của nhãn thức là thức tâm). Các thức khác cũng tương tự.
Tăng thượng duyên bất thường của tâm thức là hành
uẩn vốn được sinh ra từ những hành động của ý thức
tạo thành từ tâm thức kiếp trước. Xác thân cũng là Tăng
thượng duyên của tâm thức kiếp sau.
Đó
là mô hình lý thuyết của Lạt Ma Losang về việc sinh ra một
con người từ thai bào. Vì con người là một vật phức tạp,
nên người ta không thể nói mô hình này rắc rối. Từ mô
hình này, bằng chứng của tái sinh xuất hiện theo sau ngay
tức khắc. Tất cả các thành phần, ngoại trừ các giọt,
đều có nguyên nhân tùy thuộc vào kiếp trước. Vì vậy,
theo GĐ3 ở trên, sự sinh ra của một con người phải có sự
dẫn trước của những kiếp trước của người đó.
Phần
trình bày như trên là chuyện dễ, còn chứng minh mô hình này
đúng sự thật là chuyện không đơn giản. Người ta không
cần phải chứng minh tất cả, vì chỉ một sự biện luận
dựa trên một thành phần cũng đủ để chứng minh thuyết
luân hồi, nhưng ngay cả như vậy công việc cũng vẫn khó
khăn, khi đối với đa số chúng ta rất khó tin, và nhiều
người Tây phương vẫn cho rằng ngoài hệ thần kinh trung ương
không có một tâm nào cả. Nếu chứng minh luân hồi là điều
đáng tin thì như vậy không lợi ích gì cả, mà chúng ta phải
chứng minh cho chính mình rằng luân hồi là điều có thật
một trăm phần trăm để có thể thực hành tu tập một cách
nghiêm túc.
Chúng
ta hãy xét hai điều: bằng chứng dựa trên thân bên ngoài
và bằng chứng dựa trên tâm trí.
1/Bằng
chứng dựa trên thân bên ngoài:
Việc
quan trọng ở đây là chứng minh rằng thể xác không thể
được sinh ra chỉ bởi những nguyên nhân vật chất mà thôi.
Lạt Ma Losang đưa ra hai điều kiện luận, cả hai cách biện
luận này đều không phù hợp với phương pháp quan sát khoa
học.
a/.
Điều biện luận này nói rằng nguyên nhân của thân bên ngoài
của một vật sinh ra từ bào thai là tinh của cha và huyết
của mẹ. Ngày nay chúng ta sẽ sai lầm nếu dịch “ tinh và
huyết” là “ tinh trùng và trứng”, vì ngày xưa người
Tây Tạng không có ý niệm gì về sự hiện hữu của những
tế bào di truyền đó. Vì vậy do không biết về tiến trình
sinh sản mà Lạt Ma Losang đã biện luận rằng sự phối hợp
giữa tinh và huyết không đủ để sinh ra thân năm uẩn, vì
“ người ta nhận thấy là tinh và huyết phối hợp với nhau
không thể sinh ra một thân phức tạp như vậy”. Lối biện
luận này không phù hợp với thuyết của khoa học nói rằng
thể xác sinh ra từ sự phối hợp của hai tế bào di truyền
là tinh trùng và trứng, cũng như biện luận rằng một cây
mọc lên từ một cái hạt mà thực ra phải có một tiến
trình phối hợp các tế bào di truyền đực và cái tương
tự.
b/.
Điều biện luận thứ hai mà Lạt ma Losang Gystso khá xem trọng
dựa trên một quan niệm cổ cho rằng côn trùng và những con
thú nhỏ khác sinh ra từ “hơi nóng, sự ẩm ướt, đất,
phân, và những thứ khác” thuộc loại sinh sản tự nhiên.
Nếu không cần phải có tâm tinh tế và thân khí tinh tế từ
kiếp trước hiện diện như duyên nổi trội thì tất cả
những loài vật như vậy sẽ được sinh ra từ bất cứ một
phần vật chất nào trong mọi lúc, vì nguyên nhân độc nhất
phải có chỉ là sự có mặt của vật chất, như hơi nóng,
sự ẩm ướt, đất, phân v.v... Luận sư Dharmakirti viết: “Không
có một phần đất hay một phần vật chất nào mà không có
những sinh vật được sinh ra từ hơi nóng, ẩm ướt, và những
thứ khác”.
Đối
với chúng ta ngày nay, ý tưởng sinh sản tự nhiên là một
điều dị đoan đáng buồn cười, nhưng nên nhớ rằng ở
Âu Châu, thuyết này được duy trì rộng rãi cho đến giữa
thế kỷ 18, còn thuyết sinh sản tự nhiên của vi sinh vật
thì tồn tại cho đến khi bị Pasteur và các nhà khoa học khác
chứng minh là sai lầm.
Trong
cuốn “Georgies” của mình, nhà văn La Mã Virgil (thế kỷ
thứ nhất trước Tây Lịch) trình bày cách sinh ra những con
ong từ một con bò con, đó là đánh một con bê vô phước
cho đến chết mà không làm rách da của nó, ở trong một căn
phòng có những cửa sổ mở ra bốn hướng đông, tây, nam,
bắc. Van Helmont (1577-1644) cũng cho chúng ta một công thức làm
ra những con chuột bằng những hạt lúa mì và một cái áo
lót bẩn” (C. L. Duddington, “The Living World”, 1968).
Ngày
nay người ta biết rằng tất cả loài côn trùng và những
sinh vật nhỏ mà người Tây Tạng cho là sinh ra một cách tự
nhiên thì thực ra được sinh ra từ trứng của cha mẹ chúng.
Về những hóa thạch sinh vật thì người Tây Tạng nghĩ rằng
đó là xác chết của những con vật sinh ra tự nhiên trong
đá do một nghiệp quả nặng nề nào đó, nơi chúng trải
qua một kiếp sống khốn khổ trong bóng tối và cô đơn, không
thể cử dộng được một chút nào cả. Bây giờ chúng ta
biết rằng đó là xác của những sinh vật sống trên mặt
đất và sau khi chết đã được chôn vùi trong đát đá. Như
vậy điều biện luận thứ nhì này sụp đổ, vì không có
lý do gì để tin vào thuyết sinh sản tự nhiên. Nếu sự sinh
sản tự nhiên diễn ra từ rất lâu trong quá khứ, trong thời
nguyên thủy của sự sống trên trái đất, thì nó đã phải
trải qua vô số những điều kiện môi trường cực kỳ bất
lợi và như vậy không hổ trợ cho luận điểm của Losang
Gyatso.
Đại
đức Losang Gyatso cũng viết rằng các Thánh Nhân (Arya, Tôn
Giả, các vị thành tựu) cảm nhận trực tiếp khí và tâm
tinh tế (tức là bất hoại”). Điều này được viết theo
lời của những người được xem là “Thánh Nhân”
hay chỉ là lý thuyết? Nếu được viết theo lời của các
Thánh Nhân thì các vị đó có phải là những hành giả Mật
Giáo đã bỏ ra nhiều năm cố gắng quán tưởng về khí và
tâm tinh tế? Nếu như vậy thì điều này không phải là một
bằng chứng giá trị.
Vậy,
bằng chứng về những kiếp trước dựa trên thân bên ngoài
là điều không thể thiết lập được, trừ khi người ta
chính là một Arya, mà trong trường hợp đó, thì người ta
không cần bằng chứng nào cả.
2.
Bằng chứng dựa trên tâm trí:
Đây
là bằng chứng quan trọng nhất, vì được cả ba tác giả
Tây Tạng là Đức Dalai Lama, Lama Zopa Rinpoche, và Losang Gyatso
nói đến. Trong hình thức suy diễn đơn giản nhất, điều
biện luận này được viết:
“Về
sự biết của một phàm nhân vừa mới sinh ra: sự biết này
có từ sự biết của kiếp trước; vì nó là sự biết”
(With respect to the knowing of an ordinary being just born: It is preceded
by earlier knowing;Because it is knowing).
“Sự
biết” là tâm thức, hay tâm, theo các văn bản Lo-rig?. Phật
giáo nói rằng (1) tâm là một pháp hữu vi (vô thường, và
do đó phải có nguyên nhân), và (2) nguyên nhân của một tâm
không thể hoàn toàn là vật chất mà phải bao gồm một tâm
có trước cùng loại ở trong cùng giòng sinh mệnh của một
người. Nếu chối bỏ một điều hoặc cả hai điều này
thì đó là “duy vật”. Ở Ấn Độ ngày xưa cũng đã có
những quan điểm duy vật khác nhau, và những người duy vật
(Lokayata, thuận thế phái, thế tục) là một nhóm thiểu số
nhỏ lập dị. Ngày nay họ đã đông hơn khi những hình thức
chủ nghĩa duy vật trở nên chính thống ở nhiều nơi trên
thế giới. Vấn đề “tâm và vật”, đã là nguồn gây nhiều
tranh luận giữa các triết gia Phật giáo cũng như ngoài Phật
giáo trong hàng ngàn năm, và vẫn tiếp tục được các nhà
sinh học, vật lý học, siêu tâm lý học, triết học và những
người khác tranh luận dữ dội. Như vậy nếu người nào
nói rằng đã tìm ra một lời giải đáp chỉ bằng lý luận
không thôi thì người đó sẽ gặp nhiều phản đối.
Chấp
nhận điều (1) tạm thời trong lúc này, chúng ta có thể xác
lập điều (2) một cách trực tiếp hoặc bằng cách bác bỏ
những quan điểm duy vật từng điểm một. Xác lập trực
tiếp nghĩa là ghi nhận rằng kinh nghiệm tâm trí hiện tại
của mình là một giòng liên tục những trạng thái tâm và
gồm cả ký ức về kiếp trước của mình, và tự thuyết
phục mình rằng nó phải như vậy chứ không thể nào khác
hơn. Có lẽ khi một người hiểu tính chất của tâm thì người
đó sẽ thấy rằng nó phải như vậy, cũng giống như Thánh
Anselm (Anh Quốc, thế kỷ 11) đã nói:
“Một
người hiểu Thượng Đế là gì thì không thể nào nghĩ rằng
Thượng Đế không có thật” ( No one who understands what God
is can conceive that God does not exist).
Một
người đạt được sự hiểu biết sâu xa như vậy không thể
không gặp những dấu vết trực tiếp của những kiếp trước
của mình, và như vậy những bằng chứng thuộc loại suy luận
là thừa, không cần thiết. Tuy nhiên đối với những người
không có tri kiến đó thì cần phải có sự phản biện những
quan điểm duy vật.
Theo
các tác giả Tây Tạng thì những người duy vật Ấn Độ
đưa ra ít nhất là ba cách, trong đó tâm trí phụ thuộc thể
xác vì được sinh ra với thể xác và sẽ diệt khi thể xác
không còn. Đại đức Losang Gyatso ghi nhận những ý kiến duy
vật này như sau:
“Tâm
trí là hệ quả của thể xác, giống như ánh sáng là hệ
quả của một cái đèn; hoặc nó là tính chất của thể xác,
giống như vị của bia là tính chất của bia; hoặc nó là
kết quả đặc biệt của thể xác, giống như một bức tường
và bức tranh trên bức tường đó”.
Những
điều này sẽ được xét riêng rẽ sau đây:
(a)
Losang Gyatso nói:
“Một
thân thô kệch không thể là duyên nổi trội đặc biệt của
tâm thức vì bất cứ một cái gì giúp đỡ hoặc làm hại
thể xác cũng không thể đơn độc giúp đỡ hoặc làm hại
tâm thức, và vì tuổi trẻ hoặc sự lão nhược của thể
xác không mang lại sự trẻ trung hoặc sự suy nhược của
tâm trí”.
Không
có lý do nào vững chắc, vì sự can thiệp vào bộ óc (thí
dụ như với những điện cực) có thể có ảnh hưởng đến
tâm thức, và vì tâm trí có thể thay đổi với tuổi tác.
Như vậy chúng ta khó hiểu là Losang Gyatso muốn nói gì.
(b)
Toàn bộ thể xác không phải là nguyên nhân của tâm, điều
này mới nghe thì có vẻ hiển nhiên vì như vậy có nghĩa là
tất cả thể xác trở thành tâm thức và do đó biến mất.
Nhưng, như thí dụ về đèn và ánh đèn gợi ý, tiến trình
chuyển hóa này có thể chậm đến mức không thể nhận ra
được, với thân vật chất được nuôi dưỡng bằng thực
phẩm v.v... trước khi sự kiện trở nên rõ ràng. Thật vậy
hoạt động của hệ thần kinh tiêu thụ năng lượng hóa học
có từ thực phẩm, và điều này có thể được nêu lên để
cho thấy là có một tiến trình như vậy. Trong cuốn “Mở
Huệ Nhãn “ (Opening of the Wisdom Eye)) của Đức Dalai Lama đưa
ra hai hệ quả của duy vật để phản biện như sau:
“Nếu
nói như vậy thì sự trưởng thành và sự già suy của thể
xác sẽ gây ra sự trưởng thành và sự suy nhược của tâm
trí. Thêm nữa, như vậy thì tâm trí có thể xuất hiện trong
một xác chết (vì theo quan điểm duy vật, tâm trí chỉ là
một hoạt động của các thành tố vật chất)”.
Đại
đức Losang Gyatso nói thêm: “Nếu vậy thì vị thực hành
khổ hạnh sẽ có một tâm trí suy nhược; hoặc ngược lại,
cũng giống như sự giảm sức ấm của thân thể là nguyên
nhân gây ra bệnh cảm lạnh, sự suy nhược của thể xác sẽ
là nguyên nhân làm cho trí thông minh phát triển”.
Những
điều phản biện này có vẻ thô kệch, vì không xét đến
tất cả những điểm phức tạp của vấn đề, và thiếu
mọi cố gắng cho thấy chúng theo sát luận điểm của đối
phương, hay cho thấy chúng có hiệu quả lớn đủ để nhận
ra. Đại đức Losang Gyatso không biết chắc kết quả phản
biện của mình đến mức đã đưa ra hai điểm trái ngược
nhau để bác bỏ luận điểm duy vật. Thêm nữa những điều
phản biện này không vững chắc, và người ta nhận thấy
rằng (1) trí thông minh của trẻ em phát triển theo sự trưởng
thành của chúng, và tâm trí suy nhược theo tuổi già; (2) ở
Tây Phương có những người sống lại sau khi được xem là
đã chết lâm sàng, chưa nói gì đến nhiều chuyện xác chết
sống dậy của Tây Tạng; và (3) Đức Phật cũng như Jetsum
Milarepa nhận thấy thực phẩm dinh dưỡng làm tâm trí mạnh
mẽ cho việc tu tập sau khi tuyệt thực lâu ngày.
Các
tác giả Tây Tạng cũng viết rằng vật chất không thể là
nguyên nhân của tâm, vì tâm là vô hình, mà cái hữu hình
thì không thể trở thành cái vô hình, và ngược lại cái
vô hình không thể trở thành cái hữu hình. Luận điểm này
cũng như điều khẳng định (2) ở phần trên (Nguyên nhân
của một tâm không thể hoàn toàn là vật chất, mà phải
bao gồm một tâm có trước cùng loại ở trong cùng dòng sinh
mệnh của một người) có thể làm cho người ta nghi ngờ
nhiều hơn nữa, và không hiểu Phật giáo sẽ diễn dịch như
thế nào mà những lời này đối với họ giống như
một giáo điều mà Phật giáo tự ý đặt ra. Các nhà vật
lý học đã cho thấy ánh sáng là một dạng năng lượng có
thể hoán chuyển được với những dạng năng lượng khác,
kể cả vật chất, như vậy tại sao tâm trí, mà chính Phật
giáo gọi là “tịnh quang”(clear light) lại không thể cũng
chuyển hoán được với vật chất? Một hành giả với nội
lực thâm hậu không thể tạo ra một thân mới bằng ý lực
và thi triển hiện hóa mọi thứ vật chất chỉ bằng sức
mạnh của tâm trí hay sao? Hơn nữa, không phải tất cả các
pháp đều có cùng một tính chất là Chân không hay sao? “Sắc”
và “Không” có ý nghĩa gì khi so sánh với thuyết của Einstein
nói rằng vật chất có thể được xem là không gian cong, di
chuyển? Người ta có chỗ để nghi ngờ điều khẳng định
trên.
(c)
Đối với luận điểm Lokayata cho rằng tâm là một tính chất
của thể xác, các tác giả Tây Tạng không đưa ra một lời
phản biện nào, và đây là một điều đáng buồn, vì luận
điểm này giống với quan điểm của duy vật hiện đại nhất.
Losan
Gyatso lại còn đưa ra một thí dụ tương tự luận điểm
duy vật này. Ông nói rằng không có một bộ phận nào của
thể xác có thể chuyển thành tính chất tâm trí, cũng giống
như gỗ trầm không thể trở thành tính chất của gỗ trầm,
vì mùi trầm là tính chất của gỗ trầm, nếu thí dụ này
đúng thì tâm trí sẽ phải là tính chất của một bộ phận
của thể xác!
Theo
tác giả Tây Tạng Gyel-tsap Je thì thí dụ của phái thế tục
Lokayata không phải là vị của bia mà là khả năng gây say
của bia. Luận sư Candrakirti cũng nói đến một thí dụ tương
tự của phái này: “Cũng giống như rượu có khả năng gây
say và làm cho người uống say và mê muội, từ sự tăng trưởng
vật chất của bào thai nhỏ và những thứ khác, tâm của
một người được sinh ra; và tâm này sẽ phân biệt mọi
vật”.
Candrakirti
viết theo quan điểm của phái Prasangika, không bác bỏ trực
tiếp thí dụ này nhưng ngài biện luận rằng những quan điểm
về những vật khác của phái Lokayata là đáng nghi ngờ, vì
trong thí dụ này họ đã sai lầm ở chỗ xem các pháp sắc
tướng là có thật.