Chương
ba
Bằng Chứng
của Luân Hồi
Người
Tây Phương sống trong một xã hội không có thiện cảm với
thuyết luân hồi, vì vậy những lời dạy được xem là của
Đức Phật khó có thể làm cho họ tiếp nhận, nếu không
có bằng chứng, chúng ta có thể nghĩ rằng Đức Phật dạy
như vậy vì trong thời đại của ngài người ta tin vào thuyết
luân hồi, nhưng thật ra ngài dùng thuyết luân hồi như một
ẩn dụ. Tuy nhiên có thể chúng ta không nghĩ như vậy sau khi
đọc vài cuốn sách nghiên cứu về thuyết luân hồi ở Đông
Phương cũng như Tây Phương của Joseph Head và S.L. Cranston,
nhưng dù sao những ý kiến đáng tin tưởng và phổ quát cũng
không đủ.
Các
học giả PG Ấn Độ thời trung cổ và sau đó là các học
giả Tây Tạng đã cống hiến nhiều cho việc cung cấp những
bằng chứng về luân hồi, giảithoát và những triết thuyết
khác của PG. Nhưng ở đây chúng ta gặp phải một trong những
điểm khác biệt chính giữa nền văn minh của họ và nền
văn minh của Tây Phương: Tây Phương vốn được xem là cấp
tiến đã không còn tin vào lý luận nữa. Phái Ngụy Biện
(Sophists) ở Hy Lạp thời xưa đã dùng lý luận để thiết
lập chủ nghĩa Hư Vô (Nihilism) và những chủ nghĩa khác. Thời
trung cổ các học giả dùng lý luận để thiết lập sự hiện
hữu của Thượng Đế, và bây giờ “Ngụy biện: và “Triết
học kinh viện” (Scholasticism) là những từ ngữ được dùng
để chê bai. Edward Conze, là người chính yếu phổ biến Kinh
Bát Nhã (Prajna-paramita sutra) ở Tây Phương và là người không
ưa gì khoa học, đã nói: “ Tôi không quan tâm nhiều đến
lý luận, mà chỉ thích sự quan sát trực tiếp” (I have never
paid much attention to logical reasoning, but prefer direct observation).
Bất cứ nhà khoa học nào cũng phải đồng ý với quan điểm
này. Immanuel Kant cũng nói: “ Biết sự vật chỉ bằng kiến
thức suông hay lý luận suông thì như vậy là ảo tưởng.
Chỉ ở trong kinh nghiệm bản thân mới có sự thật”. Vậy
trước khi tiếp cận sự “chứng minh” luân hồi bằng lý
luận, chúng ta hãy xét bằng chứng của luân hồi qua quan sát
trực tiếp.
Ở
Tây Phương có rất nhiều sách viết về luân hồi, và số
lượng mỗi lúc mỗi tăng. Ở đây tôi chỉ có thể sơ lược
về những loại bằng chứng có thể tìm thấy. Quý độc giả
có thể xem các nguồn tài liệu nguyên thủy để biết tất
cả những chi tiết vốn không thể thiếu cho việc thiết lập
niềm tin vào thuyết luân hồi.
Người
ta có thể nhớ lại kiếp trước của mình, hoặc được một
người khác nói cho họ biết về kiếp trước của mình. Nếu
nhớ lại kiếp trước của mình thì đó có thể là sự nhớ
lại một cách tự nhiên, không qua tu luyện, hoặc nhớ lại
do đã tu hành trong kiếp này hay kiếp trước, hoặc nhớ lại
khi được thôi miên. Trong tất cả những trường hợp này,
sự nhớ lại kiếp trước của mình trong khi được thôi miên
cũng không nhất thiết tin vào luân hồi. Trong trường hợp
nhớ lại bằng thôi miên, người ta thường nghĩ “chắc
chắn mình đã dựng lên cái vụ kiếp trước này”.
1/
Nhớ lại kiếp trước của mình
a/
Nhớ lại tự nhiên: sự nhớ lại tự nhiên thường là sự
nhớ lại của một đứa trẻ về kiếp ngay trước kiếp hiện
tại của nó, và thường là về cái chết của nó trong kiếp
đó trước khi tái sinh trong kiếp này. Sự nhớ lại tự nhiên
không phải là hiếm có. Thông thường một đứa trẻ nói
về kiếp trước của mình sẽ được người lớn bảo là
không nên nói đến những điều này, đặc biệt là đối
với những đứa trẻ ở Tây Phương. Chắc chắn các bà mẹ
không muốn nghe đứa con của mình cứ nói đến những chuyện
đi về “nhà”, gia đình cũ trong kiếp trước của nó. Có
thể nó còn nói: “ mẹ kiếp trước của con tốt hơn mẹ
bây giờ”.
Trong
trường hợp nhớ lại tự nhiên, kiếp trước thường rất
gần kiếp hiện tại, vì vậy rất có thể có những người
trong kiếp đó còn sống và còn nhớ đến đương sự. Trong
những trường hợp này người ta có thể kiểm chứng với
nhiều bằng chứng vững chắc.
Có
thể đứa trẻ nói nhiều chi tiết về gia đình cũ của mình,
thường ở không xa gia đình hiện tại của nó và gia đình
kiếp này không biết gia đình kiếp trước, nhưng sự việc
có thể được chứng minh bằng cách viếng thăm chỗ ở kiếp
trước của những đứa trẻ. Nếu có một cuộc thăm viếng
như thế (mà đứa trẻ thường rất muốn), nó sẽ nhận ra
những nơi chốn, những ngôi nhà và những người đã quen
biết nó trong kiếp trước. Nó cũng nhận biết những vật
sở hữu trước kia của mình, hỏi về những đồ vật bị
thiếu, hỏi về những người quen cũ và hỏi về những điều
khác. Những chuyện riêng tư mà nó biết sẽ làm cho người
vợ kiếp trước của nó (nếu có) tin rằng nó chính là người
chồng quá cố. Có thể nó sẽ nói về những món nợ lúc
nó qua đời, kể cả những món nợ mà người thân trong kiếp
trước hiện còn sống của nó không biết tới, và sau đó
có thể xác nhận. Nếu kiếp trước nó đã chết vì bị người
khác giết (do đó có nhiều khả năng mau tái sinh và nhớ lại
một cách tự nhiên) nó có thể nói về kẻ sát nhân và những
chi tiết có thể được kiểm chứng với hồ sơ cảnh sát
và các nhân chứng.
Một
đứa trẻ nói rằng kiếp trước của mình đã sống ở xứ
khác thường biểu lộ những đặc điểm về hành vi, những
sự ưa thích về món ăn..v.v… đặc biệt ở xứ đó. Nó
có thể phô diễn những tài năng mà trong kiếp hiện tại
đã không có cơ hội để học, thí dụ như nói một thứ
ngôn ngữ xa lạ đối với tất cả những người trong cộng
đồng hiện tại của nó, hoặc có thể trình diễn những
vũ điệu rất phức tạp của Ấn Độ, phù hợp với sự
kiện nó nói rằng kiếp trước mình là một vũ công Ấn Độ.
Có
thể có những bằng chứng khác hỗ trợ cho lời nói của
đứa trẻ. Nếu người mẹ kiếp này đã quen biết nó trong
kiếp trước, rất có thể bà ta đã có một giấc mộng hay
hình ảnh báo trước nó sẽ gặp lại bà trong kiếp này. Cũng
có thể có một người nào khác nằm mộng thấy điều này.
Đứa trẻ có thể có những dấu vết trên người như những
vết bớt, những nốt ruồi đỏ, giống và ở cùng chỗ với
những vết thương gây ra cái chết của nó trong kiếp trước,
hoặc tái xuất hiện một dấu hiệu mà người ta đã áp đặt
lên thân thể kiếp trước của nó để có thể nhận ra nó
trong trường hợp nó tái sinh trở lại trong một gia đình
đó. Có đến ba trăm trường hợp được khảo sát có những
dấu vết như vậy hoặc những khuyết tật bẩm sinh.
Khoảng
một ngàn sáu trăm trường hợp nhớ lại tự nhiên ở nhiều
nơi khác nhau trên thế giới, kể cả hai trăm bốn mươi mốt
trường hợp ở Châu Âu, đã được Bác sĩ Ian Stevenson thuộc
Đại học Virginia khảo sát tường tận. Công trình này cung
cấp bằng chứng khoa học mạnh mẽ nhất về luân hồi mà
chúng ta đã có. Bất cứ người nào có đầu óc khoa học
vẫn còn nghi ngờ về luân hồi nên đọc những cuốn sách
viết về công trình này. Những thí dụ về các loại bằng
chứng nói trên được lấy từ cuốn sách của Franci Story,
một Phật tử người Anh, đã cộng tác với Bác sĩ Ian Stevenson
ở Tích Lan, Thái Lan và Ấn Độ. Cuốn sách này đã thuyết
phục tôi rằng thuyết duy vật (materialist) chối bỏ luân hồi
là sai lầm.
Một
số hiện tượng này liên quan đến các tu sĩ PG Tây Tạng
cao cấp hay các vị Lạt Ma hóa thân cũng đã được viết
tới, nhưng không có sự khảo sát bởi những người được
đào tạo một cách khoa học. Có một điều mà người Tây
Phương có thể công nhận, đó là sự thông minh sớm của
các “Rinpoche” (danh xưng đặc biệt dành để gọi các em
bé được thừa nhận là tái sinh của các Lạt Ma Tây Tạng)
trẻ tuổi, một đặc điểm cũng được ghi nhận trong nhiều
trường hợp mà Stevenson và Story đã khảo sát.
b/
Nhớ lại qua tu tập:
Nhớ
lại qua tu tập có thể xảy ra do thực hành thiền định trong
kiếp hiện tại. Như đã nói ở trên, theo lời Phật dạy,
người ta có thể đạt đến trí tuệ nhớ lại kiếp trước
do tu thiền định cho đến khi nào đạt đến trạng thái định
(Samatha) gồm chín cấp, rồi tiếp tục đạt đến bốn thiền
(dhyana). Sự nhớ lại này có thể diễn ra sau nhiều năm tinh
tấn tu tập trong điều kiện yên tĩnh và cô tịch, là điều
kiện mà thế giới Tây Phương đã bị ma vương (mara) tước
bỏ gần hết. Một hành giả đạt được loại khả năng
tâm linh này cũng có những quyền năng khác như khinh thân,
tàng hình, phân thân và đi xuyên qua tường hay núi (xem Vinaya-vastu),
không cần phải nói là những thần thông này ngày nay hiếm
có. Trước khi tu thiền định, hành giả phải thực hành các
pháp môn căn bản theo thứ tự trước sau mà PG Tây Tạng gọi
là“ Lam rim”. Khi thực hành những pháp môn căn bản này
hành giả cũng cần phải xác lập niềm tin về luân hồi,
nhân quả và các giáo lý khác. Như vậy đây không phải là
cách để những người nghi ngờ bị thuyết phục là mình
đã sống trong những kiếp trước.
Tiến
sĩ John Lilly, một khoa học gia người Mỹ, nói rằng mình đã
đạt quyền năng nhớ lại kiếp trước trong khi thám hiểm
những trạng thái tâm thức, nhưng có lẽ ông không xem điều
này là quan trọng, và không nói thêm chi tiết. Kỹ thuật của
ông gồm cả việc dùng một cái thùng biệt lập được thiết
kế đặc biệt để loại bỏ những sự kích thích giác quan
thông thường. Nếu người Tây Phương muốn tu thiền thì họ
nên tìm một dụng cụ như vậy.
Có
rất ít người chỉ cần tu tập một chút mà cũng được
đạt được khả năng nhớ lại kiếp trước với nhiều chi
tiết mà ở Anh Quốc người ta gọi là “ ký ức xa” (far
memory). Khả năng rất khác so với sự nhớ lại tự nhiên
đã nói ở phần trên, vì những kiếp được nhớ lại xa
hơn rất nhiều, khả năng này chỉ có được trong tuổi trưởng
thành, và sự nhớ lại gồm cả nhớ lại là mình đã từng
tu tập tương xứng với khả năng ký ức xa xôi trong nhiều
kiếp trước. Một thí dụ nổi tiếng là Joan Grant, người
đã nhớ lại là mình từng tu luyện mười năm để phát triển
ký ức xa khi bà là Công chúa Sekeeta thuộc triều đại thứ
nhất của xứ Ai Cập ( khoảng năm trăm trước Tây lịch),
và với kết quả lâu dài là trong kiếp hiện tại bà vẫn
giữ được khả năng đó cùng với những quyền năng tâm
linh khác. Bà kể lại mấy kiếp trước của mình với hình
thức tiểu thuyết trong một loạt sách. Những cuốn mà tôi
đã tìm được (đặc biệt là cuốn đầu tiên nói về kiếp
trước của bà như công chúa Sekeeta), có đầy đủ những
hình ảnh trong sáng và rõ rệt, mỗi chi tiết sinh hoạt hằng
ngày, thí dụ như một trò chơi của trẻ em, đều sống động
và vui tươi. Các nhà Ai Cập học nhận thấy những chi tiết
này chính xác một cách kỳ lạ. Nếu những cuốn sách này
là kết quả của việc nghiên cứu lịch sử một cách tỉ
mỉ thì họ cũng công nhận tác giả là một người có sự
thông hiểu rất sâu xa. Nhưng thật ra nội dung của những
tập sách này bà đã được đọc cho người ta ghi lại trong
một loạt trạng thái xuất thần và với những chi tiết rời
rạc mà tác giả không thể kiểm soát được thứ tự, nhưng
được ráp lại với nhau một cách hoàn hảo khi nội dung được
biên soạn. Trong một loạt kiếp trước ở Ai Cập, bà sinh
ra trong hoàng gia và quý tộc, có khi là đàn ông, có khi là
đàn bà. Những kiếp này hoàn toàn phù hợp với kiếp hiện
tại của bà là tiếp tục làm việc cho người khác, như vậy
chắc chắn không phải là hạng người mơ mộng, tự bịa
ra kiếp trước của mình. Trong kiếp hiện tại bà làm việc
ở Luân Đôn với chồng là bác sĩ Denys Kelsey, một nhà tâm
bệnh học, điều trị những người bị bệnh tâm lý có nguyên
nhân từ kiếp trước.
Một
trường hợp nhớ lại kiếp trước xa xôi khác là Elisabeth
Haich, hướng dẫn môn Yoga, cũng từng tu luyện như công chúa
trong kiếp trước ở Ai Cập, nhưng với một cách rất khác.
Theo lời bà thì rất có thể đặc điểm di truyền của hoàng
tộc Ai Cập trong thời kỳ đầu, ngoài những đặc điểm
thân thể được nhận thấy trên những bức tượng và những
xác ướp của họ, cũng đặc biệt thích hợp cho việc tu
tập. Chúng ta sẽ trở lại trường hợp trong chương sáu.
Các
tác giả khác cũng nói rằng họ đã viết sách bằng ký ức
xa. Cuốn sách độc nhất mà tôi đã đọc là “ Hoang đảo”
(The desert island) của Guirdham, có bối cảnh là Hy Lạp trong
khoảng năm 1300 trước Tây lịch. Nếu được để riêng ra
thì cuốn này không thể thuyết phục được, người ta nghi
ngờ rằng nó không được soạn từ những tài liệu lịch
sử có sẵn và từ tưởng tượng. Có lẽ cuốn sách đáng
tin cậy hơn khi được đọc cùng với những tác phẩm khác
của tác giả.
Những
tôn giáo ngoài PG có những phương pháp giúp cho những người
tu tập sơ cấp cũng có thể nhớ lại những sự kiện xảy
ra trong những kiếp trước gần với kiếp hiện tại. Swami
Prajnanpal ơe Bengal đã dùng một kỹ thuật như vậy để giúp
các đệ tử người Tây Phương của ông giải trừ những
tập khí nặng nề có từ kiếp trước gây chướng ngại cho
việc tu tập của họ. Điều này có phần giống như phân
tích tâm lý, với một nhà trị liệu có khả năng và một
đệ tử trong nhiều tiếng đồng hồ nỗ lực từ những cảm
xúc hiện tại lùi về quá khứ để sống lại những khoảng
thời gian đau khổ của người đệ tử cho đến khi chướng
ngại phiền não chính yếu ẩn ở trong mỗi khoảng thời gian
đó lộ ra và được giải trừ. Phương pháp này hiện đang
được thực hành ở Pháp bởi các đệ tử của vị Swami
này là Arnand Desjardins và Denise Desjardins. Cuốn sách của Denise
Desjardins nói về hai mươi trường hợp ở Pháp, cho thấy kinh
nghiệm sống trong những kiếp trước ảnh hưởng đến kiếp
hiện tại của chúng ta như thế nào. Trong số tám mươi tám
người đã trải qua tiến trình trị liệu này, bảy mươi
ba người nhớ lại những kiếp trước, nhiều người trong
số mười lăm người kia vẫn còn là những người sơ cơ.
Mục
đích của công việc này không phải là cung cấp bằng chứng
của luân hồi: không ra sức nhớ lại tên tuổi hay thời gian
và không có nhiều cơ hội kiểm chứng qua hồ sơ lịch sử
một sự kiện kiếp trước được nhớ lại nào. Tuy nhiên,
khi viết về sự nhớ lại kiếp trước của mình, Denise Desjardins
nói rằng cuộc gặp gỡ giữa bà và Sri Ma Anandamayi vào cuối
kiếp trước của bà đã hai lần được ông này xác nhận
trước các nhân chứng). Nhưng những kinh nghiệm nặng nề
của kiếp hiện tại (thí dụ kinh nghiệm sinh ra đời) cũng
như kiếp trước (thí dụ kinh nghiệm chết) được sống trở
lại tương tự nhau, và người ta nhận thấy rằng kinh nghiệm
sinh ra đời thường có thể được xác minh bởi cha mẹ
của đương sự, còn kinh nghiệm chết thì có tầm quan trọng
không kém về mặt cảm xúc đối với đương sự. Nếu sự
kiện kiếp trước được nhớ lại chỉ là ảo tưởng thì
tại sao đương sự lại cảm thấy nó quan trọng như vậy,
tại sao sự kiện kiếp trước lại giải thích cá tính hiện
tại của đươngsự một cách hợp lý như vậy, và tại sao
công việc nhớ lại kiếp trước lại có kết quả ích lợi
như vậy? Sự thật là người ta nhận thấy rằng kinh nghiệm
sinh ra đời hay kinh nghiệm thời thơ ấu cũng có một sự
nhớ lại kinh nghiệm kiếp trước và điều này gây ra hiệu
ứng mạnh. Thí dụ một trẻ sơ sinh được đặt nằm trong
nôi theo một kiểu cách mà nó không nhúc nhích được hai cánh
tay, sẽ thấy điều này không thể chịu được, vì nó được
đặt nằm trong lòng đất để chết. Thêm nữa, tại sao một
ảo giác lại có vẻ thật như vậy và bền bỉ như vậy?
Nếu đương sự chỉ diễn một màn đau đớn lúc chết tưởng
tượng thì tại sao y lại trình diễn giống hệt nhau mỗi
lần, giống như một cuốn phim được chiếu đi chiếu lại
nhiều lần? Khi xét kỹ, người ta không thấy có cách nào
để giải thích những hiện tượng này khác hơn luân hồi.
c.
Nhớ lại bằng thôi miên lùi lại quá khứ:
Đây
là phương pháp khảo sát kiếp trước được ứng dụng rộng
rãi nhất và hiện đang cho những kết quả ngoạn mục. Phương
pháp này bắt đầu được công luận chú ý tới vào năm 1956
khi Morey Bernstein, một doanh nhân người Mỹ và cũng là một
nhà thôi miên (hypnotist), xuất bản cuốn “ The Search for Bridey
Murphy” mà sau đó trở thành một cuốn sách bán chạy nhất.
Sau khi đọc về những cuộc thí nghiệm của nhà tâm bệnh
học ( psychiatrist) người Anh, Sir Alexander Cannon trong việc làm
cho các đối tượng lùi lại quá khứ tới trước khi tái
sinh ra trong kiếp này, Bernstein tự mình thí nghiệm với đối
tượng tốt nhất của ông, và kết quả là người này nhớ
lại kiếp trước mình là một người đàn bà Ái Nhĩ Lan trong
thế kỷ mười chín. Cuốn sách của ông bao gồm những văn
bản ghi lại những cuộc thôi miên, trình bày phương pháp
này một cách rõ ràng. Nhiều chi tiết mà Bridey Murphy nói ra
trong giấc ngủ thôi miên được kiểm chứng và nhận thấy
là chính xác về mặt lịch sử, dù Bernstein chỉ là một người
bình thường, không có tiếng tăm gì, và người ta không tìm
thấy một hồ sơ đặc biệt nào về bà. Nữ tác giả Cerminara
cũng viết về phản ứng của công luận và những điều xuyên
tạc mà người ta đã dùng để hạ uy tín vụ này nhằm bảo
vệ Ca Tô Giáo và phân tâm học chính thống.
Bây
giờ thì việc lùi lại kiếp trước đã trở nên thông thường,
được các nhà thôi miên trị liệu ứng dụng để giải quyết
những vấn đề tâm lý. Khi được thôi miên và được yêu
cầu đi trở về nguồn gốc của những vấn đề của họ,
nhiều bệnh nhân đã trở về kiếp trước của mình. Những
kỹ thuật được dùng khác nhau đáng kể. Kỹ thuật của
Denys Kelsey và Joan Grant có vẻ cũng phức tạp như phương pháp
của Desjardins và cũng có kết quả đáng chú ý. Edith Fiore
là người tiêu biểu hơn vì bà làm cho phương pháp này nghe
có vẻ dễ dàng và có lẽ bà cố gắng chỉ dùng phương pháp
này một hai lần cho mỗi bệnh nhân. Vì mục đích của phương
pháp trị liệu này là chữa cho bệnh nhân trong những trường
hợp này có rất ít việc kiểm chứng Fiore cũng rút ra được
hai điều biện luận giống như Desjardin, bênh vực cho sự
thật của việc nhớ lại kiếp trước: điều thứ nhất là
các đối tượng không thể có ý giả dối vì không ai có
thể diễn xuất giỏi như vậy, và điều thứ hai là chứng
bệnh thuyên giảm với sự lùi lại kiếp trước cũng như
sự lùi lại một sự kiện trong kiếp hiện tại mà thường
được các thân nhân xác nhận.
Người
ta có thể dùng hai cách kiểm chứng những cuộc lùi lại kiếp
trước vốn gần như luôn luôn ở ngoài tầm ký ức của những
người còn sống, vì vậy không thể có phương pháp kiểm
chứng dùng cho trường hợp nhớ lại tự nhiên. Cách thứ
nhất là chọn những trường hợp cá nhân và tìm tài liệu
lịch sử để xác nhận những chi tiết được nhớ lại.
Cách thứ hai là dùng trắc nghiệm thống kê đối với một
nhóm người.
Thời
gian gần đây, đại đa số người (giống như Bridey Murphy)
sống rồi chết mà không để lại một hồ sơ văn bản nào
ghi nhận danh tánh của họ. Không có báo chí, truyền thanh,
hay truyền hình, họ thường biết rất ít những gì đang xảy
ra ở nơi khác. Vì vậy, để tìm một trường hợp có thể
được xác nhận bằng lịch sử, người ta phải thôi miên
nhiều đối tượng và thực hiện nhiều cuộc lùi lại kiếp
trước để tìm một vài trường hợp đặc biệt có những
thông tin có thể kiểm chứng được. Rất ít có cơ hội tìm
được một người nào kiếp trước là một nhân vật lịch
sử quan trọng. (Nhà nghiên cứu Helen Wambach tìm thấy một
tổng thống Hoa Kỳ thuộc giữa thế kỷ mười chín, một
sự may mắn hiếm có dù ở trong một nhóm một ngàn một trăm
trường hợp. Nhưng tìm một người nào có liên hệ với một
nhân vật quan trọng, thí dụ như một người hầu, thì dễ
hơn. Nguyên tắc kiểm chứng (giống như trong những trường
hợp ký ức xa) là: (1) tất cả thông tin do đối tượng được
thôi miên cung cấp phù hợp với các nguồn tài liệu lịch
sử, (2) một số thông tin được xác nhận bởi các tài liệu
lịch sử, và (3) những thông tin được xác nhận đó có mức
độ không rõ ràng đủ để cho thấy đối tượng rất có
thể đã không học được những thông tin đó trong kiếp này.
Nếu một đối tượng cung cấp một thông tin không được
biết bởi các nhà nghiên cứu lịch sử về thời đại đó
nhưng sau đó lại được xác nhận là đúng thì như vậy có
thêm bằng chứng đối tượng đã không biết được thông
tin đó qua các nguồn tài liệu thông thường. Tất nhiên những
trường hợp may mắn như vậy là hiếm có, nhưng Jeffrey Iverson
đã dùng cách này kiểm chứng một loạt những cuộc nhớ
lại kiếp trước của các đối tượng của nhà thôi miên
người Anh và đã tìm thấy một trường hợp đối tượng
là một người Do Thái sống ở thành phố York ở Anh Quốc
thời Trung cổ, trốn trong căn hầm của một nhà thờ trong
một cuộc tàn sát, nhưng đã không thoát. Khi Iverson điều
tra thì ngôi nhà thờ đó không có căn hầm nào cả, nhưng
ít lâu sau người ta tình cờ khám phá ra căn hầm mà xưa kia
đã được xây bít lại.
Cách
thống kê chỉ mới trở nên thông dụng do có sự tiến bộ
về kỹ thuật. Wamback đã phát triển một phương pháp rất
có hiệu quả, trong đó đối tượng không cần phải nói gì
trong giấc ngủ thôi miên, nhưng được yêu cầu nhớ lại
tất cả một cách sống động và thảo luận về những điều
này khi thức dậy. Phương pháp này làm cho việc lấy thông
tin về kiếp trước được dễ dàng hơn đến mức bà có
thể rút ra ký ức kiếp trước của chín mươi phần trăm
đối tượng của mình, và thêm nữa, bằng cách yêu cầu các
đối tượng điền vào một bản những câu hỏi, bà có thể
làm việc với những nhóm đông đến năm mươi đối tượng
hay hơn thay vì mỗi lần một đối tượng, và cũng bớt được
công việc chép lại bằng ghi âm. Như vậy bà đã thu thập
được 1088 bản tự thuật về kiếp trước của những người
Mỹ hiện đại, gồm một loạt những khoảng thời gian trong
bốn ngàn năm qua. Những bản tự thuật này gồm những câu
trả lời cho những câu hỏi mẫu, thí dụ như giới tính của
đối tượng trong kiếp trước, địa vị xã hội, xứ sở,
màu da, tuổi thọ, nguyên nhân qua đời, loại thực phẩm được
dùng, vật dụng, y phục,và những điều khác. Những câu hỏi
này phải được lập lại từng chữ một với mỗi nhóm đối
tượng, vì các đối tượng được thôi miên diễn dịch câu
hỏi theo nghĩa đen, rất giống việc thay đổi dấu chấm câu
trong một chương trình điện toán, một sự thay đổi có vẻ
nhỏ trong việc dùng từ ngữ có thể gây ra thay đổi lớn
trong câu trả lời. Những thống kê đạt được cho phép nhiều
sự kiểm chứng mà trước đây không thể có được. Thí
dụ, nếu không xét giới tính hiện tại thì sự phân phối
giới tính trong những kiếp trước của các đối tượng hầu
như đúng năm mươi phần trăm nam và năm mươi phần trăm nữ,
và sự phân phối giai cấp (xét theo y phục mà các đối tượng
đã mặc trong những kiếp trước) cho thấy rõ ràng là đa
số những kiếp trước được nhớ lại thuộc đẳng cấp
thấp và nghèo, còn số kiếp trước thuộc giai cấp cao thì
ít tới mức đáng tin. Nếu sự nhớ lại kiếp trước chỉ
là ảo tưởng thì có lẽ người ta sẽ thấy số kiếp trước
là đàn ông và thuộc giai cấp cao nhiều hơn. Những dữ kiện
khác được thu thập thì hầu như tất cả phù hợp với nhau
trong khoảng thời gian, và có sự thật khi được so sánh với
tài liệu lịch sử. Thí dụ, nhiều đối tượng nói rằng
mình đã chết trong lúc tuổi còn nhỏ, điều này đáng tin
vì nếu đây chỉ là bịa đặt và ảo tưởng thì họ đã
không nói như vậy. Chúng ta có thể nói chắc rằng trong ảo
tưởng sẽ có nhiều sự không phù hợp thời đại về y phục,
thực phẩm và vật dụng. Người ta nhận thấy thực phẩm
ở những thời kỳ quá khứ thường nghèo nàn. Sự lùi lại
kiếp trước của các bệnh nhân đến với các nhà tâm lý
trị liệu để giải tỏa những vấn đề sợ hãi và tính
dục cho thấy số phần trăm cao của những cái chết vì bạo
động và những vụ cưỡng hiếp tàn bạo, thí dụ như những
trường hợp trong cuốn sách của Edith Fiore, những nhóm lùi
lại quá khứ có tính chất tiêu biểu hơn này cho thấy chết
vì bạo động chỉ có mười tám phần trăm. Một điểm đáng
chú ý là biểu đồ những đối tượng người Mỹ ngày nay
sống trong những thời kỳ quá khứ khác nhau, biểu đồ này
phản chiếu tốt sự gia tăng dân số thế giới từ khoảng
năm 500 Tây lịch trở đi. Điều này là một sự gợi ý quan
trọng về giáo lý PG mà tôi sẽ xét ở phần dưới. Cuộc
nghiên cứu này cũng quan tâm đến kinh nghiệm trong trạng thái
trung gian, tức đời sống trong cõi trung giới, khá phù hợp
với giáo lý tôn giáo.
Cuộc
nghiên cứu của Wamback là một sự đột phá đầy ấn tượng
và có thể đã có tầm ảnh hưởng rộng lớn, vì công việc
này đã được lập lại ở những nước khác và đã được
cải tiến. Nếu những kết quả của Wamback được xác nhận
thì chắc chắn những dữ kiện như vậy sẽ được xem là
có giá trị cho những mục đích khảo cổ học và lịch sử,
và sẽ trình bày một bức tranh trọn vẹn hơn về lịch sử
loài người. Những dân tộc đã suy vong không để lại dấu
tích gì cho các nhà khảo cổ học nhưng vẫn tồn tại trong
những ký ức này, và trong đó cũng có những kiến thức và
kinh nghiệm đã được tích lũy trong hàng ngàn năm bởi những
bởi giống người ‘sơ khai’ và nền ‘văn minh’ của chúng
ta đã tiêu diệt một cách vô ý thức, gồm cả một điều
quan trọng là cảm giác sống trong những xã hội đó thực
sự như thế nào. Đã có nhiều người chú ý đến sự biết
về chính mình mà kỷ thuật thôi miên có thể mang lại. Người
ta không cần phải có một khả năng đặc biệt nào để trở
thành một nhà thôi miên tài tử, vì vậy chắc chắn việc
sống lại kiếp trước sẽ trở nên phổ biến, và nhiều
người sẽ thay đổi thái độ nghi ngờ của mình.
ĐƯỢC
NGƯỜI KHÁC NÓI CHO BIẾT VỀ KIẾP TRƯỚC CỦA MÌNH
Phần
này có hai trường hợp: (1) người khác nhận ra mình là một
người mà người đó đã quen biết trong kiếp trước, (2)
một người khác có quyền năng tâm linh cảm nhận kiếp trước
của mọi người, như đã nói trong chương 2. Trường hợp
thứ nhất là trường hợp thông thường hơn.
1/
Nhận biết từ kiếp trước:
Việc
này cũng thông thường như việc người ta nhớ lại kiếp
trước của mình, vì những người đã gặp nhau trong kiếp
trước thường gặp lại nhau trong kiếp này. Một cặp vợ
chồng trong kiếp trước. Liên hệ cha mẹ với các con, liên
hệ anh chị em, và liên hệ bạn bè cũng vậy. Có nhiều thí
dụ trong tất cả nguồn tài liệu mà chúng ta có thể có,
từ kinh sách tôn giáo cho đến những trường hợp thôi miên
ngày nay. Trong cuộc nghiên cứu kiếp trước của bà, Helen
Wambach cũng đặt một câu hỏi để các đối tượng cho biết
là họ có nhận ra một người nào mà mình đã quen biết trong
kiếp trước hay không? Nếu nhớ lại kiếp trước của mình
bằng thôi miên hay bằng một cách nào khác, và nhận ra một
người xa lạ trong kiếp này nhưng quen biết trong kiếp trước,
chúng ta có thể nói cho người đó biết; nhưng không nhất
thiết là người đó sẽ hiểu.
Một
nhà tâm bệnh học người Anh, tiến sĩ Guirdham, được một
bệnh nhân của mình là bà Smith nhận ra đã là người tình
của bà ở Languedoc, nước Pháp, trong thế kỷ mười ba. Những
mảnh ký ức xa của bà Smith thường xuất hiện trong những
giấc mộng, cung cấp nhiều tên người, tên địa phương và
những sự kiện đã xảy ra trong kiếp trước. Điều đáng
chú ý nhất trong trường hợp này là mức độ của sự xác
nhận lịch sử mà Guirdham đã tìm được. Dù bảy thế kỷ
trôi qua, danh tánh của nhiều người vẫn còn được tìm thấy
trong hồ sơ của Tòa Án Dị Giáo (Inquisition). Họ là những
người Cathar dị giáo ở miền nam nước Pháp trong khoảng
đầu thế kỷ mười ba và họ đã bị tra khảo và bị bỏ
tù hay xử tử. Một sự kiện xuất hiện trong giấc mộng
của Guirdham cũng như Smith trong mấy năm liền được nhận
ra là vụ tàn sát do Toà Aùn Dị Giáo thi hành ở Avignonet vào
ngày 28 tháng 5 năm 1242, và được viết rõ trong lịch sử.
Một phần của sự thành công trong việc khảo cứu lịch sử
này là do “các thực thể lìa thể xác” đã giúp cho Guirdham
tìm đúng chỗ. Câu chuyện của Guirdham được mở rộng thêm
với sự giúp đỡ của những người bạn có khả năng tâm
linh của ông, của các thực thể lìa thể xác, tức các vong
linh (thường là những người bạn cũ của ông, sau khi họ
qua đời), và cũng do sự phục hồi khả năng ký ức của
chính ông. Ông viết truyện này thành mấy cuốn sách, dựng
lại hình ảnh của một nhóm hơn hai mươi người, trong số
đó có những người đã tái sinh cùng với nhau trong ít nhất
là bảy kiếp, chắc chắn là để làm công việc chữa bệnh
và để truyền bá thuyết cho rằng có hai nguyên lý thiện
và ác của phái Cathar. Có thể Guirdham là một nhà tâm lý
trị liệu giỏi, nhưng sự trình bày lý thuyết Cathar của
ông có ít tính chất thuyết phục đối với một người nói
rằng mình là đệ tử ruột của Guildabert de Castres, vị thầy
nổi tiếng nhất trong những vị thầy của phái Cathar, nói
chuyện với vị này trong linh thị và viết sách theo lời yêu
cầu của vị này. Trong cuốn “The desert island” của ông,
vị nữ giáo sĩ, một trong những người thông thái nhất trong
nhóm, nói rằng muốn biết cho mau kiếp trước của mình: “hầu
như luôn luôn là tai họa” (is almost always a disaster) và “xé
bỏ tấm màn ngăn cách chúng ta với quá khứ luôn luôn là
điều xấu” (to tear at the curtains which divide us from the past
is always evil). Những lời này cũng gây thắc mắc, vì theo những
điều đã nói ở trên thì việc nhớ lại kiếp trước thường
có nhiều ích lợi. Có những độc giả thấy khó tin những
cuộc nghiên cứu phiêu lưu kỳ lạ mà Guirdham viết trong cuốn
này. Cuốn “The Middle Way” của ông tổng kết những tác
phẩm khác cũng không hẳn sẽ làm cho họ tin tưởng hơn.
2.
Biết kiếp trước của người khác:
Khả
năng này có vẻ hiếm hơn nhiều và cao hơn nhiều khả năng
biết kiếp trước của mình. Người nổi tiếng nhất về
khả năng này là Bác sĩ Edgar Cayce, sinh năm 1877 tại tiểu
bang Kentucky, Hoa Kỳ. Phần tóm tắt sau đây về sự nghiệp
của ông dựa trên hai cuốn “ Many Mansions” và “ The World
Within” của Gina Cerminara mà bất cứ người nào quan tâm đến
luân hồi cũng nên đọc.
Người
ta nhận thấy Bác sĩ Edgar Caycecó khả năng thấu thị khám
bệnh cho mình và cho người khác khi ông nhờ một nhà thôi
miên khám bệnh cổ họng cho mình. Khi được thôi miên, ông
có thể định bệnh và nói cách chữa trị bệnh của chính
ông cũng như bệnh của người khác, với ngôn ngữ y học
mà ở nước ngoài giấc ngủ thôi miên ông không hề biết.
Những cuộc chữa bệnh này thường thành công, ngay cả khi
bệnh nhân ở cách xa ông mấy trăm dặm, và ông đã chưa bao
giờ gặp mà chỉ cần biết tên và địa chỉ của người
đó, chẳng bao lâu sau đó, Cayce dành trọn cuộc đời mình
cho việc chữa bệnh cứu khổ này. Điều đáng chú ý là trong
khi nhiều bệnh tật được xem là có nguyên nhân vật chất,
Cayce nói rằng có một số bệnh có nguyên nhân phát xuất
từ nghiệp của những kiếp trước và người bệnh phải
cố gắng tiêu trừ nghiệp chướng đó, thường là bằng cách
tu thiện tích đức. Lần đầu tiên luân hồi và nhân quả
được nói đến như vậy, đã làm cho chính ông ngạc nhiên
khi thức dậy ông vẫn là người theo Ca Tô Giáo, nhưng vẫn
tiếp tục công việc khi được thuyết phục rằng trong Thánh
Kinh không có gì mâu thuẫn với luân hồi. Từ năm 1923 cho
đến khi qua đời vào năm 1945, bác sĩ Cayce làm 2500 cuộc “soi
kiếp” (life readings), trong đó người ta yêu cầu ông mô tả
nghiệp lực tác động trong một cá nhân và những kiếp trước
mà ở trong đó cá nhân đã tạo nghiệp. Những cuộc soi kiếp
như vậy đối với các trẻ sơ sinh đã tiên tri chính xác
cá tính và thiên hướng của chúng, vốn đã được tạo thành
từ những kiếp trước. Những lời khuyên của ông trong giấc
ngủ thôi miên đều có ích lợi khi người ta làm theo. Những
cuộc soi kiếp của một cá nhân thực hiện cách nhau nhiều
năm đều hoàn toàn khớp với nhau, kể cả những thông tin
về thời gian và nơi chốn và cũng phù hợp với tài liệu
lịch sử. Trong một số soi kiếp, Cayce cho biết rằng có thể
tìm được những văn bản của kiếp trước, và quả nhiên
người ta đã tìm được. Những cuộc soi kiếp bản thân của
Cayce cho thấy trong một kiếp trước ông là một giáo sĩ cao
cấp ở Ai Cập, có nhiều quyền năng tâm linh, nhưng đã phạm
lỗi tự ý hành động và nhiều tham vọng. Trong kiếp hiện
tại ông có cơ hội chuộc lại những sai lầm đó bằng việc
giúp đỡ người khác một cách vô vị kỷ.
Nhiều
thông tin trong những cuộc soi kiếp của Cayce có thể so sánh
với những gì được biết qua sự lùi lại quá khứ bằng
thôi miên của đối tượng, mà lại sâu xa hơn, vì Cayce có
khả năng nhận biết trực tiếp về luân hồi và nhân quả.
Những kiếp trước mà Cayce nói đến thường ở xa trong quá
khứ hơn là những kiếp trước nói trong phương pháp chữa
bệnh tâm lý bằng thôi miên. Hay được tìm thấy bởi những
những người thực hành phương pháp của Desjardin và trong
khi phương pháp thôi miên đối tượng cho thấy thói quen tâm
lý, hay tập khí, tiếp tục từ kiếp này sang kiếp khác, nhưng
cuộc soi kiếp của Cayce còn cho thấy nghiệp quả quy định
những đặc điểm vật chất của thân thể, thí dụ như bị
mù bẩm sinh. Có vẻ như những nghiệp quả loại này thường
chỉ chín muồi sau hàng ngàn năm. Có một điều rõ ràng là
khả năng nhận biết kiếp khác với khả năng nhận biết
nghiệp quả, như đã nói ở Chương 2. Edgar Cayce nói rằng
ông rút ra thông tin về kiếp trước không chỉ từ “vô thức”
của đối tượng mà còn từ “hồ sơ Aksa” (tiếng Sanskrit
“ Akasa” nghĩa là không gian, và là không đại trong năm đại:
địa, thủy, hỏa, phong và không) hay “ký ức của thiên nhiên”.
Như vậy có thể nói rằng một đối tượng thôi miên bình
thường chỉ có thể đạt được ký ức của “vô thức”,
và có lẽ Cayce là người đầu tiên sau khi Đức Phật cho
biết rất có nhiều điều về luật nhân quả. Những văn
bản ghi lại những cuộc soi kiếp của ông đáng được mọi
người cũng như các tín đồ PG chú ý đến.