Mục
lục
Lời
giới thiệu của TT Thích Như Điển
Lời
của người dịch Thích Nguyên Tạng
01
Cần phải hiểu rằng Luân hồi là có thật
02
Đức Phật dạy về Thuyết Luân Hồi
03
Bằng chứng của Luân Hồi
a/Nhớ
lại kiếp trước của mình
-
Nhớ lại tự nhiên
-
Nhớ lại qua tu tập
-
Nhớ lại qua thôi miên
b/
Được người khác nói cho biết về kiếp trước của mình
-
Nhận biết từ kiếp trước
-
Biết kiếp trước của người khác
04
“Bằng chứng” lý luận: Thuyết luận hồi
-
Bằng chứng dựa trên thân bên ngoài
-
Bằng chứng dựa trên tâm trí
05
Phật giáo, Khoa Học và chủ nghĩa Khoa học
06
Chi tiết về Luân Hồi
-
Tái sinh trong những loài phi nhân
-
Sự hiếm có của cơ hội tái sinh làm người
-
Tâm vô thủy
-
Trạng thái trung ấm thân
07
Kết luận
Phụ
Lục
Đạo
đức học PG trong hoàn cảnh Tây Phương.GS J. Whitehill. T Nguyên
Tạng dịch
Người
Phật tử Tây Phương nghĩ gì về Thuyết Luân Hồi? GS
W.L. King. T Nguyên Tạng dịch
Những
câu hỏi phê bình đưa đến việc tự nhiên hóa ý niệm nghiệp
báo trong Đạo Phật . GS. D. L. Wright T Nguyên Tạng dịch
Lời giới
thiệu
Khi tham dự lễ kỵ Tổ Minh Hải, thuộc môn phái Lâm Tế Chúc
Thánh, tại chùa Pháp Hoa, Nam Úc, vào ngày mồng 7 tháng 11 năm
Ất Dậu, nhằm ngày 7 tháng 12 năm 2005 vừa qua, Đại Đức
Thích Nguyên Tạng đưa tôi bản dịch quyển “Rebirth and Western
Buddhist“ (Thuyết Luân Hồi và Phật Giáo Tây Phương) nhờ
đọc lại bản dịch và viết lời giới thiệu. Ở đây, chúng
tôi xin ghi lại những điểm chính như sau:
Về nội dung của sách, Tác giả tóm lược thuyết luân hồi
và sự hiểu biết của mình qua kinh nghiệm của một Tiến
Sĩ Vật Lý, xuất gia học đạo theo truyền thống Phật Giáo
Tây Tạng. Nhờ đó qua 7 chương, kể cả chương kết luận,
Tác giả đã nêu ra những bằng chứng đầy thuyết phục người
đọc, nhất là những người Tây Phương, kể cả Phật Tử
cũng như không Phật Tử.
Chương thứ nhất, tác giả nói về quan điểm của mình đối
với những người Tây Phương khi đánh giá sai lầm về thuyết
luân hồi của Đạo Phật.
Chương hai tác giả chứng minh thuyết luân hồi qua kim khẩu
của Đức Phật, sau khi chứng đạo và các kinh điển khác
của cả Bắc Tông lẫn Nam Tông về luân hồi và tái sanh là
những việc có thật.
Chương ba gồm nhiều bằng chứng về luân hồi khác nhau để
chứng minh cho người Tây Phương thấy rõ đó là sự thật,
gồm có những việc như: nhớ lại kiếp trước một cách
tự nhiên và qua sự tu tập, người ta có thể tự nhớ lại
quá khứ của mình, đồng thời ngày nay có những nhà thôi
miên học đã thôi miên nhiều người, để họ nhớ về kiếp
trước. Ngoài ra, có nhiều người khác cho biết về kiếp
trước của mình như thế nào, qua sự tự cảm nhận chính
mình và sự nhận biết người khác trong một kiếp quá khứ
nào đó.
Chương bốn, Tác giả trích dẫn lập luận của Ngài Lama Losan
Gyatso về tâm thức và vật thể dựa theo Trung Quán Luận của
Ngài Long Thọ, Nhơn Minh Luận cũng như các thuyết khác của
Đại Thừa. Tuy những dẫn chứng nầy có tính cách thuyết
phục, nhưng chưa làm cho người Tây Phương tin tưởng. Ở
đây có hai vấn đề được nêu ra. Một là sự tái sanh ấy
do chính một vị Thánh Nhơn nói ra, có lẽ không ai bác bỏ
và vấn đề thứ hai phải được chứng minh là cái tâm ở
đâu và từ đâu mà có, thì người Tây Phương mới tin. Do
vậy, tác giả dựa vào một số sự kiện Đức Đạt Lai Lạt
Ma đã trình bày để dẫn chứng về việc nầy.
Chương năm nói về Phật Giáo, Khoa học và chủ nghĩa khoa
học. Tác giả phản bác lập luận của Lénin và của Dawin.
Vì Tác giả dựa theo Duy Thức Học để chứng minh và chấp
nhận một sự tương tức của tâm thức cũng như sắc uẩn,
mà giữa Phật Giáo và Khoa Học có thể giải thích được
về sự hiện hữu nầy của tâm thức, qua cái nhìn của Phật
Giáo và sự cấu thành thể chất, qua lý luận của Khoa Học.
Thật ra, những việc đánh giá như thế nầy không mới, theo
nhà bác học Albert Einstein, một người Đức gốc Do Thái,
dạy học ở Thuỵ Sĩ và có quốc tịch Hoa Kỳ. Vào thế kỷ
thứ 20, khi nhân loại có mặt trên quả địa cầu nầy cả
6 tỷ người, mà các khoa học gia trên thế giới đã bình
chọn ông là người đại diện cho 6 tỷ người ấy, là cha
đẻ của thuyết tương đối. Chính Albert Einstein đã
xác định rằng: “Phật Giáo không cần đi tìm nơi khoa học.
Vì trong Phật Giáo đã đầy đủ tính chất khoa học rồi“
Ngày nay, các nhà khoa học của Tây Phương vẫn đi tìm mọi
thứ, trong đó có cái tâm, nhưng kết quả là vô vọng. Vì
khoa học chỉ chứng minh được là A hoặc B, chứ làm sao thấy
được trong A có B, ngoài A không thể tồn tại được
B. Do vậy mà khoa học muôn đời, nếu có đi tìm cũng chỉ
đi tìm được cái giới hạn của nó, chứ không thể đi tìm
được cái vô hạn của tâm thức và cái vô giới hạn của
kiếp nhân sinh được.
Chương thứ sáu, theo tác giả là một chương tương đối
quan trọng. Vì Tác giả bác bỏ lập luận, ngay cả của các
vị Lama Tây Tạng cho rằng, trước con gà phải có cái trứng
và trước cái trứng phải có con gà; nhưng trên thực tế
ngày nay khoa học đã chứng minh lùi lại rằng, con gà ấy
chẳng nhứt thiết phải là một con gà nguyên thuỷ, mà là
một loại tổng hợp và bị biến thể, bởi nhiều loại sinh
vật khác nhau, để trở thành con gà và từ đây tác giả
chứng minh rằng, tâm thức cũng như vậy. Đó chỉ là
kết quả do sự chung đụng và sự kết hợp để trở thành
con gà và cái tâm cũng trải qua nhiều thời gian khác nhau,
để thay đổi và thành tựu.
Tác giả chấp nhận thuyết luân hồi và sự tái sanh từ cõi
nầy sang cõi khác, và cõi người không nhất thiết phải là
khó đầu thai vào, như kinh điển vẫn thường hay nói. Sự
đầu thai ấy có nhiều giai đoạn ở trước, trong và sau khi
thai nhi sanh ra, chứ không nhất thiết phải là lúc tâm thức
vừa rời khỏi thân trung ấm. Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng
định cõi người là cõi dễ đi lên mà cũng dễ đi xuống,
cho nên sanh làm người khó là thế.
Chương thứ bảy cũng là chương cuối cùng. Tác giả xác định
luân hồi là có thật. Tuy nhiên, thuyết duy vật biện chứng
và thuyết tiến hoá vẫn còn ngự trị ở người Tây phương.
Do vậy tác giả mong muốn và đề nghị là phải làm sao chứng
minh thuyết luân hồi trong Phật Giáo thật rõ, dưới dạng
khoa học nhiều hơn nữa chứ không phải dưới dạng mê tín,
chắc chắn Phật Giáo sẽ được người Tây Phương ngày càng
tin tưởng vào Phật Giáo nhiều hơn nữa.
Nhận xét về tác giả, chúng ta thấy rằng Ngài có đầy đủ
tư cách để nói về khoa học qua sự nghiên cứu của mình.
Đồng thời từ khoa học, ngài đã vượt cao hơn một bực
nữa, đi vào lãnh vực tái sanh của Phật Giáo, đặc biệt
là Phât Giáo Tây Tạng. Dưới một hình tướng của một vị
Tăng sĩ người Anh, mặc Tăng bào theo Phật Giáo Tây Tạng.
Hy vọng rằng khi diễn giảng tại Thuỵ Sĩ, tại Anh, tại
Úc, hay tại Mỹ, hoặc bất cứ nới nào trên thế giới, tác
giả tạo ra được nhiều lợi lạc cho người nghe hơn, mà
người nghe đó lại là người Tây phương nữa.
So với người Đông phương, việc nầy họ chấp nhận một
cách dễ dàng hơn, vì họ tin nơi Đức Phật hoặc qua
phát Bồ Đề Tâm, để rõ như Ngài Santideva đã hướng dẫn.
Tuy nhiên, để khuynh hướng tái sanh ấy được nhiều người
Tây Phương chấp nhận dễ dàng, tác giả viết ra quyển sách
nầy, để chứng minh và thuyết phục họ; nhưng rất tiếc
là sách quá mỏng để đọc và hy vọng lần khác, khi tái
bản, tác giả sẽ thêm vào nhiều câu chuyện chứng đạo
của các bậc Thánh hay những kiếp trước của Đức Phật,
để có nhiều minh chứng hơn. Nhưng dẫu sao đi nữa, đây
vẫn là tác phẩm hay đáng đọc.
Trong sách này còn có thêm Phần Phụ Lục, phần nầy Đại
Đức Thích Nguyên Tạng đã dịch các bài tiểu luận của
nhiều Tác giả liên quan về vấn đề tái sanh theo quan niệm
của cả Đông phương lẫn Tây phương.
Riêng tiểu luận “Đạo Đức học Phật Giáo trong hoàn cảnh
Tây phương“ tác giả James Whitehill cho rằng các nhà nghiên
cứu Tây phương, Phật Tử cũng như không Phật Tử đã đi
quá xa về vấn đề đạo đức học của Phật Giáo qua cái
nhìn của tánh không. Tác giả đề nghị rằng Phật Giáo phải
được ghép vào tư tưởng đạo đức của Tây phương thì
Phật Giáo mới có thể phát triển mạnh ở những nước Tây
phương được.
Phần’’ Đạo lý Phật Giáo Tây phương“ Tác giả cũng
đã nhận xét rất xác thật rằng: Đức hạnh của một Tăng
sĩ Phật Giáo Tây phương hay một tín đồ Phật Giáo, nên
dựa vào các Ba La Mật để triển khai, khiến cho ’’đức
hạnh giác ngộ“ ấy có thể thâm nhập vào trong cộng đồng
và xã hội.
Về ’’những câu hỏi phê bình đưa đến việc tự nhiên
hóa ý niệm nghiệp báo trong đạo Phật“ của Giáo Sư Dale
S. Wright đã cho thấy được rằng: Tác giả muốn tách rời
quan niệm về nghiệp báo trong quá khứ mà Phật Giáo đã chủ
trương. Nghĩa là nên tổ chức một xã hội tự do, tự quyết
và có trách nhiệm thì con người thời nay dễ thâm nhập hơn.
Vì lẽ cho đến ngày nay vẫn còn nhiều người Tây phương
vẫn chưa chấp nhận thuyết luân hồi va nghiệp báo một cách
rốt ráo.
Trong khi đó ’’Kinh Nhân Quả Ba Đời“ do Hòa Thượng
Thích Thiền Tâm dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt bằng lối
câu hỏi theo thể thơ và đã trả lời cũng theo thể ấy.
Ở đây đã ví dụ rất rõ ràng về kiếp trước như do thường
ăn chay niệm Phật; nên kiếp nầy thông minh trí tuệ. Hoặc
giả sở dĩ đời nay sống lâu là do đời trước đã phóng
sanh nhiều loài vật.
Tóm lại Hòa Thượng Thích Thiền Tâm qua ’’Kinh Nhân Quả
Ba Đời“ đã chứng minh có nhân quả và luân hồi do nghiệp
báo của đời trước liên hệ đến đời nay qua 45 hình thức
đầu thai khác nhau là việc hiển nhiên.
So ra giữa Đông và Tây vẫn còn khác biệt nhiều về vấn
đề tái sanh. Do vậy muốn cho người Tây phương dễ chấp
nhận về thuyết tái sanh và luân hồi của Đạo Phật, Phật
Giáo Tây phương cần phải có nhiều thời gian hơn nữa để
hiểu và làm quen với Phật Giáo; không nhất thiết phải đứng
trên quan điểm hữu thần để nhìn Phật Giáo, lúc ấy việc
tái sanh mới dễ dàng chấp nhận được.
Dịch giả từ Anh văn sang Việt ngữ cũng là một Tăng sĩ.
Do vậy, các danh từ Anh văn dầu khó đến đâu, Đại Đức
Thích Nguyên Tạng cũng chuyển dịch một cách tài tình, không
vấp phải lỗi chính tả hay ý chính của tác giả là một
điều “bất khả tư nghì“. Thầy Nguyên Tạng vừa là Phó
trụ trì Tu Viện Quảng Đức tại Melbourne, vừa là chủ biên
trang nhà quangduc.com rất nổi tiếng trên thế giới, thế nhưng
còn dành nhiều thời giờ để dịch và viết cho đến nay
đã hơn 10 tác phẩm như thế nầy, không phải là điều mà
ai cũng có thể làm được. Xin trân trọng giới thiệu dịch
giả và dịch phẩm nầy đến với quý vị Phật Tử Việt
Nam của chúng ta, làm quen với ngôn ngữ Phật Giáo, qua thuyết
luân hồi và tái sanh, với ngòi bút điêu luyện của Thầy
Nguyên Tạng.
Tôi chỉ tốn có 4 tiếng đồng hồ, để xem lại bản thảo
và một tiếng đồng hồ, để viết lời giới thiệu nầy,
thì quả thật là quá ít, so với một tác phẩm giá trị như
vậy; nhưng điều quan trọng ở đây không phải là thành phẩm
mà là tính chất, nội dung của quyển sách mới là điểm
chính. Kính mong quý vị hãy trang trọng mở sách ra đọc và
nghiền ngẫm những dẫn chứng mà Tác giả, để rõ thêm về
một kiếp sống của nhân sinh trên quả địa cầu nầy.
Viết
tại núi đồi Đa Bảo Sydney, Úc Đại Lợi
nhân
lúc nhập thất lần thứ 3 tại đây.
Ngày
8 tháng 12 năm 2005.
Sa
Môn Thích Như Điển
Lời của người
dịch
Người
Tây Phương thường được nuôi dạy với ý tưởng cho rằng
không có sự thật về thuyết luân hồi, nhưng khi tiếp xúc
với Phật Giáo (PG) họ nhận thấy rằng truyền thống PG luôn
xem sự thật của luân hồi là điều tất nhiên, và thường
xem thuyết luân hồi là một trong những giáo lý căn bản.
Sự bất đồng ý kiến này là một vấn đề đối với nhiều
người mà vì lý do này hay lý do khác đã cảm thấy sự hấp
dẫn của PG. Ít có người Tây Phương nào có thể chấp nhận
mà không thắc mắc về những giáo lý của một tông phái
PG nào đó, nhưng ngược lại sự cực lực bác bỏ thuyết
luân hồi sẽ làm cho một pháp tu nào đó trở nên vụn vặt,
không còn là một pháp môn trọn vẹn có hiệu quả.
Cuốn
sách mà bạn đang cầm trên tay sẽ trình bày khá khúc chiết
về tất cả những luận cứ xoay quanh thuyết luân hồi tái
sinh theo cái nhìn của một tăng sĩ PG người Tây Phương, người
đã được huấn luyện về khoa học thực nghiệm để tìm
ra một con đường trung dung thích hợp nhất giữa hai thái
cực chấp nhận không thắc mắc và cực lực bác bỏ.
Vị
tăng sĩ tác giả sách này chính là Martin Willson, sinh năm 1946
tại Anh quốc. Sau khi lấy bằng Tiến sĩ Vật lý ở Đại
học Cambridge năm 1973 về môn Phóng xạ thiên văn học, ông
đến Úc để nghiên cứu Vật lý học thêm vài năm nữa, lần
này về môn Khí hậu học. Sau đó ông nhận thấy việc nghiên
cứu khoa học không thể giải quyết được những vấn nạn
của thế gian, ông quay sang tìm hiểu về đạo học. Ông đến
cư trú tại Học Viện Văn Thù (Chenrezig) một Trung Tâm Phật
Giáo Tây Tạng ở vùng rừng núi thuộc tiểu bang Queensland.
Chính tại nơi này, vào năm 1997 ông xuất gia và được cho
thọ giới Sa Di. Trong ba năm, ông theo học với Lạt Ma Tiến
sĩ Thubten Lodan và Lạt Ma Zasep Tulku, và với sự khuyến tấn
của hai vị này ông bắt đầu phiên dịch những kinh sách
cần thiết cho các chương trình giảng dạy. Năm 1980, Ngài
chuyển đến Trung Phật Giáo Tharpa Choeling của Lạt Ma Tiến
Sĩ Rabten, một nơi đào tạo tăng tài cho Tây phương ở Thụy
Sỹ. Hiện nay Ngài chỉ đạo Ban Phiên Dịch cho Nhà Xuất Bản
PG Wisdom ở Anh quốc.
Tập
sách này Ngài viết ở Tharpa Choeling, Thụy Sỹ trong khoảng
năm 1981-1982 cho một tạp chí PG và sau đó được góp lại
để in thành sách vào năm 1986.
Nhận
thấy tài liệu này có nhiều điều mới mẻ đối với đề
tài Luân hồi và tái sinh nên chúng tôi chuyển ngữ sang tiếng
Việt để cung cấp thêm một tài liệu nghiên cứu cho nền
Phật học VN.
Chúng
con xin chân thành cảm tạ TT Thích Như Điển, Phương Trượng
Chùa Viên Giác, Hannover, Đức Quốc đã hoan hỷ dành thời
giờ đọc bản dịch và viết lời giới thiệu cho tập sách
này. Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn quý Đạo hữu Gia
Khánh, Diệu Mỹ, Cao Thân, Tâm Lạc, Trọng Khương, Nhị Tường,
Nguyên Thiện Bảo đã giúp nhiều việc khác nhau để hoàn
tất dịch phẩm này trên máy vi tính trước khi gởi đến
nhà in. Cuối cùng, chúng tôi cũng không quên tán thán công
đức của gia đình Đạo hữu Nguyên Từ đã phát tâm ấn
tống tập sách song ngữ Việt-Anh này để làm quà tặng cho
quý đồng hương Phật tử và bè bạn xa gần nhân lễ Tiểu
Tường Thân phụ của chị.
Xin
chắp tay nguyện cầu cho Chánh Pháp được trường tồn , chúng
sanh được an lạc. Và cũng xin nguyện cầu cho Cữu Huyền
Thất Tổ, Cha Mẹ nhiều đời của chúng ta sớm tái sinh về
cõi giới an lành.
Nam
Mô A Di Đà Phật
Melbourne,
Xuân Di Lặc, Bính Tuất - 2006
Tỳ
Kheo Thích Nguyên Tạng
Chương một
Cần phải
hiểu rằng Luân Hồi là có Thật
Theo
những lời dạy của đạo sư Asita và của các vị kế tục
ngài về các pháp tu tập theo thứ tự trước sau (Tiếng Tây
Tạng là Lam Rim) một người trở thành tín đồ PG và bắt
đầu tu tập theo PG khi người đó quy y Tam Bảo Phật, Pháp,
Tăng, với một trong ba động lực: thứ nhất là sợ tái sinh
trong các cõi giới thấp như súc sinh, ngạ quỹ hay địa ngục,
tìm sự gia hộ của Tam Bảo để được sinh vào những cõi
cao hơn như cõi người, cõi thiên thần hay bán thần (Atula).
Thứ hai là sợ quả khổ trong tất cả các cõi do nghiệp và
phiền não, nên quy y Tam Bảo để thoát luân hồi. Thứ ba,
vì lòng từ bi lớn không thể chịu nổi khi nhìn thấy chúng
sinh đau khổ, quy y để có khả năng dẫn dắt họ đến giải
thoát và giác ngộ, sau khi chính mình đã đắc Phật quả.
Nếu
không tin thuyết luân hồi thì không thể có một động lực
nào trong ba động lực này. Các tín đồ Ấn giáo cũng có
động lực là thoát luân hồi, giống như động lực thứ
hai của người Phật tử. Arnaud Desjardins viết:
“Sự
giải thoát này được xem là thoát luân hồi sinh tử. Vì chín
mươi chín phần trăm người Âu không tin có luân hồi và xem
điều đó là một sự mê tín của người Á châu nên vấn
đề đã được đóng lại: người Ấn giáo và Phật giáo
ra sức tu luyện để thoát khỏi một điều không có thật”.
Nếu
ý tưởng đạt được giải thoát cá nhân là vô nghĩa đối
với người Tây Phương thì động lực thứ ba nói trên hay
mục tiêu của Bồ Tát hạnh – đạt giác ngộ để có khả
năng giải cứu chúng sinh, lại càng vô nghĩa hơn đối với
họ. Người Phật tử thường biện luận rằng nếu không
có luân hồi thì không có luật nhân quả, và như vậy đối
với những người không tin thuyết luân hồi, mọi sự trở
thành vô nghĩa: mọi sự kiện chỉ là sự ngẫu nhiên, khi
người khác làm hại chúng ta thì đó là lỗi của họ chứ
không phải là nghiệp quả xấu của chính mình, và không có
lý do gì để cho chúng ta tu sửa về mặt đạo đức. Lối
biện luận này không hoàn toàn đúng sự thật, vì chúng ta
thấy rằng có nhiều người Ca Tô giáo cũng như tín đồ các
tôn giáo khác cũng có trình độ đạo đức cao dù họ không
tin thuyết luân hồi, và do đó còn có những lý do khác để
người ta nỗ lực trở nên người đạo đức. Tuy nhiên cuộc
sống hiện nay trên thế giới, người đạo đức thì ít mà
người phạm tội lỗi thì nhiều. Vì sự không hiểu biết
này mà những đau khổ của thế gian được xem là có những
nguyên nhân khác, và những phương pháp khác cải tạo tốt
nhất đã bị bỏ quên.
Vậy,
thông hiểu về luân hồi là điều kiện tiên quyết cho việc
tu hành theo PG và giải trừ sự khổ đau của thế gian.
Nhưng
sự quan tâm đến thuyết luân hồi cũng có những lý do không
tốt. Trong cuốn “ Hồi Ký về sự Ngộ Đạo Hiện Đại”
(Memoir of Modern Gnostic) Edward Conze viết về một số phụ nữ
“nhiều tuổi và giàu có” chú ý đến thuyết luân hồi
với ba lý do:
“Thứ
nhất là vì thuyết luân hồi làm cho họ tin rằng trong
một kiếp trước nào đó họ là những bà hoàng Ai cập hay
những nhân vật tương tự. Thứ hai là vì thuyết luân hồi
giải tỏa cho họ những cảm giác là mình có lỗi với xã
hội, mặc cảm vốn phổ biến trong giới tư sản của thế
kỷ hai mươi, vì theo thuyết luân hồi thì họ xứng đáng
được hưởng sự giàu sang như nghiệp quả tốt mà họ đã
tạo được trong tiền kiếp. Và thứ ba, thuyết luân hồi
bảo đảm với họ rằng bản ngã quý báu của họ rồi sẽ
được tồn tại khi họ qua đời. Thêm nữa, thông thiên học
(theosophy) hứa hẹn rằng họ sẽ được hưởng sự minh triết
của các thời đại và được chia sẻ những kiến thức thuộc
loại huyền bí.
Lý
do thứ hai nói trên biện minh cho sự bất công xã hội là
không chính đáng và là sự ứng dụng sai thuyết luân hồi.
Sự sai lầm này không chỉ của riêng người Tây Phương. Do
đó chúng ta cần phải hiểu đúng thuyết luân hồi để giải
trừ những sai lầm này.
Chương hai
Đức Phật
dạy về thuyết luân hồi
Trong
tất cả những lời dạy của Đức Phật, từ bài thuyết
pháp đầu tiên ở Lộc Uyển cho đến khi ngài nhập Niết
bàn, thuyết luân hồi luôn được nhắc đi nhắc lại. Một
thí dụ trong đoạn kể lại việc ngài tham thiền dưới gốc
bồ đề để đạt đến giác ngộ viên mãn. Theo Kinh Lalitavistara
(Phổ Diệu Kinh), trong phần đầu của đêm hôm đó, sau khi
trải qua bốn tầng thiền, Bồ Tát dùng thiên nhãn (divine eye/divya-cakshus)
quán sát sự luân hồi sinh tử của chúng sinh.
“
Với
thiên nhãn thanh tịnh, Bồ tát thấy chúng sinh chết rồi lại
tái sinh trong những giai cấp thấp hèn, trong thuận cảnh và
nghịch cảnh. Ngài thấy chúng sinh luân hồi tùy theo nghiệp
quả của mình “ than ôi, những sinh linh này đã tự tạo
nghiệp xấu qua thân, khẩu, ý, họ bất kính với các
thánh nhân và ôm giữ tà kiến. Do tạo nghiệp với tà kiến,
khi thân hoại mạng chung, họ tái sinh trong hoàn cảnh xấu
và trong các địa ngục. Nhưng những chúng sinh tạo nghiệp
tốt qua thân, khẩu, ý, cung kính các bậc thánh và không có
tà kiến, do tạo nghiệp tốt với chánh kiến, khi thân hoại
mạng chung, họ sẽ tái sinh trong hoàn cảnh tốt và trong các
cõi thiên giới”.
Kinh
viết tiếp:
“
Khi
tâm của ngài đã được thu nhiếp, thanh tịnh, không có những
phiền não vi tế nào, thuần thục, lợi ích, vững chắc và
bất thoái chuyển, vào nửa đêm, Đức Bồ Tát đắc Túc mạng
thông (Purva-nivasanusriti-jnana), quán thấy tất cả các kiếp
sống quá khứ của mình cũng như các chúng sinh khác. Ngài
nhớ lại một, hai, ba… cho tới vô số kiếp trước, đại
kiếp sinh, trụ, dị, diệt. “ mình đã có tên như vậy, gia
đình như vậy, đẳng cấp như vậy, màu da như vậy. Thực
phẩm như vậy, tuổi thọ như vậy, mình đã sống lâu như
vậy. Mình đã trải qua những hạnh phúc và khổ đau như vậy.
Khi qua đời trong kiếp đó, mình đã tái sinh ở xứ kia. Sau
khi qua đời ở xứ đó, mình đã tái sinh ở nơi đây”. Như
vậy ngài nhớ lại những hoàn cảnh và những xứ sở của
các kiếp trước của chính mình và của tất cả chúng
sinh”.
Những
đoạn kinh văn khác nói về cuộc tham thiền này của Đức
Phật, trong Vinaya-Vastu (Kiền Độ) và trong Luật Tạng Pali
khác nhau về thứ tự và những phần khác của cuộc tham thiền,
nhưng đều có hai đoạn trên, với những lời lẽ tương tự.
Không
phải chỉ có Đức Bồ Tát mới có thiên nhãn thông và túc
mạng thông, mà hai thần thông này cũng được dạy trong nhiều
kinh điển, thí dụ như Kinh Sa Môn Quả (Samannaphala-sutta), và
là hai trong năm thần thông mà bất cứ hành giả nào cũng
có thể đạt được sau khi đã đắc đến đệ Tứ Thiền.
Luân
hồi cũng thường được đề cập đến trong những kinh khi
Đức Phật nói đến những sự kiện của kiếp hiện tại
theo nghiệp của những kiếp trước và khi ngài dạy về nghiệp
quả và về sự cần thiết phải tu tập. Thí dụ, trong kinh
“ Pravrajyantaraya- Sutra”, Phật dạy:
”
Này
Mahanam, nếu một cư sĩ làm bốn hành vi, người ấy sẽ chịu
bốn nghịch cảnh sau nay: y sẽ phải tái sinh nhiều lần, sinh
ra bị mù, thiểu trí, bị câm, hay như một người hạ cấp,
luôn luôn nghèo khổ, luôn luôn bị ngược đãi. Y sẽ trở
thành người lưỡng tính hay người hoạn, hay sinh ra trong cảnh
làm nô lệ suốt đời. Y sẽ trở người nữ, chó, heo, lừa,
lạc đà, hay rắn độc, và do đó không thể thực hành giáo
lý của Đức Phật”.
(Bốn
hành vi là cản trở những người muốn theo Đạo, cản trở
những người thân của mình quy y, không tin Chánh pháp, phá
hoà hợp tăng và những bậc bà la môn đức hạnh). Ngoài sự
tái sinh làm thú vật hay ngạ quỹ, nhiều kinh sách Tiểu Thừa
cũng như Đại Thừa còn dạy rằng tái sinh trong địa ngục
là nghiệp quả từ những hành vi tà dâm và ăn thịt chúng
sinh cho đến hủy báng giáo pháp.
Thêm
nữa kinh sách thường nói đến sự không tin luân hồi và
nhân quả như là một loại tà kiến. Kinh Bát Nhã (Prajna-paramita-sutras)
phân chia các cấp Thánh nhân và nói đến số lần tái sinh
mà họ phải trải qua, và những điều khác. Như vậy thuyết
luân hồi là một thành phần bất khả phân của hệ thống
tư tưởng của PG. Không thể nào thu tóm thế giới quan phong
phú của PG vào tâm trí chật hẹp của những người chối
bỏ thế giới này, vì trong đó mỗi chúng sinh chuyển hóa
qua vô số trạng thái trong vô số đại kiếp.
Những
người không nghiên cứu kỹ PG khi viết về tôn giáo này thường
nói rằng giáo lý luân hồi có phần mâu thuẩn với nguyên
lý vô ngã (Anatman, Nairatmya), vì vậy chúng ta nên
chứng minh rằng đó là một ý tưởng hoàn toàn sai lầm. Trước
hết, như Har Dayal đã viết : “ vấn đề này phát sinh từ
sự sai lầm khi người ta dịch từ ngữ “ Atman (ngã/ego) sang
tiếng Anh là “ Soul” (hồn). Một trong những ý nghĩa của
“ soul” là thành phần tâm linh của con người, được xem
là tồn tại sau khi qua đời và có khả năng cảm nhận hạnh
phúc hay khổ đau trong một trạng thái hiện hữu tương lai”.
Vì vậy “ soul” hay “ hồn” không thể là từ ngữ thích
hợp để dịch. “Atman” tự hiện hữu một cách độc lập,
toàn vẹn và bất biến mà người Phật tử chối bỏ. Một
“atman” như vậy không thể có tích chất như một “ soul”,
nguyên lý vô ngã không chấp nhận những ý kiến sai lầm về
sự hiện hữu của “ soul” hay nói một cái gì khác được
bao gồm trong năm uẩn, hoặc được gán cho năm uẩn, nhưng
không phủ nhận sự hiện hữu của nó. Nếu dùng thuyết đoạn
diệt (hay hư vô chủ nghĩa) để diễn dịch thuyết vô ngã
thì đó là tà kiến nguy hiểm nhất. Trong Kinh “ Kasyapa-Parivarta,
Đức Phật dạy: “ này Ca Diếp, thà chấp có cái “ ta”
lớn bằng núi Tu Di còn hơn là chấp không như phái đoạn
diệt” (It were better, Kasyapa, to abide in a personality-view as big
as Mount Sumeru, than the emptiness-view of the nihilist”. Bản ngã
hiện hữu liên tục trong kiếp hiện tại, mỗi khoảng khắc
thân và tâm phát sinh tùy thuộc vào khoảng khắc trước, cũng
giống như vậy bản ngã hiện hữu từ kiếp này sang kiếp
khác, luôn luôn biến đổi.