THƯ VIỆN HOA SEN
Search English  Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
.
THƯỜNG TRÚ VÀ BẤT ĐỊNH
Niềm tri-ân sâu thẳm vô bờ xin gởi về Bổn-sư và Pháp-sư tôn kính
   Nhuận Bảo
Vừa nhập viện để cấp cứu, chứng bệnh nhồi máu cơ tim của tôi được các thầy thuốc can thiệp kịp thời bằng phẫu thuật. Chừng gần một tháng sau, tôi lành bệnh, an ổn ra về. Liền ngay đó, một số bạn đồng đạo đã đến nhà ân cần thăm hỏi. 

Thấy mọi người tỏ ra ái ngại, lo lắng, tôi mới lên giây cót tinh thần, vui vẻ nói cười với những bạn thiết của mình, để làm giảm bớt cái không khí không đáng phải căng thẳng. 

 -"Ồ !  Không sao đâu. Cám ơn sự quan tâm của các bạn. Các bạn chớ lo. Người ta tống cổ tôi về, vì chẳng có việc gì thích hợp cho tôi, trong khi ở đây tôi còn nhiều việc cần phải làm, nên chưa ….đi đâu cả!".

Thấy tôi tươi tỉnh, lại còn bông đùa hóm hỉnh như thường ngày, nên ai nấy đều phì cười, yên tâm.   

Một đạo hữu hỏi tôi rằng, chẳng lẽ ông không sợ chết sao?

Tôi bảo, sợ chết hay không sợ chết cũng đều là do cái tâm chấp mà ra cả; nghĩa là từng mỗi chúng sanh lầm tưởng "thật có" một cái tướng ta riêng biệt và những pháp tướng khác tương quan hay đối lập, ngăn ngại, là hai là khác đối với cái tướng ta, cùng hệ lụy thời gian và không gian. Cũng bỡi sự lầm tưởng ấy nên mới khiến cái thấy biết nguyên ủy, tuyệt đối, vô ngã, chơn thường, vượt quá không gian và thời gian, thấy biết hoàn toàn, trọn vẹn, không gì ngăn ngại trở thành cái thấy biết tương đối, hữu hạn, vị ngã, chủ quan, có đối tượng, bó buộc trong một giới hạn nhỏ nhoi của bản ngã sanh diệt. Cái thấy biết của bản ngã là cái thấy biết vô thường của tâm ý thức do duyên khởi, cái thấy biết hữu hạn, chia cắt, rời rạc, bất định, ngăn cách và giới hạn chỉ trên bề mặt của sự vật, có chủ thể thấy biết và khách thể đối lập được thấy biết (đều sanh diệt vô thường), cũng là cái thấy biết phân biệt, trói buộc thời, không, nhơn, quả. 

Chợt khởi niệm "chấp ngã" thì ngay đó chúng sanh tự rời lìa, tự đánh mất cái tánh thấy biết sáng suốt, tuyệt đối, vô ngã, tự tại để tức khắc bị hệ lụy vào biên kiến tử sanh, mặc nhiên tiếp nhận phân biệt nhị nguyên làm lẽ sống của bản ngã. 

Vừa móng niệm chấp, cũng tức là ngã kiến khởi sanh; ngã kiến sanh thì liền thấy có tướng ngã và các tướng tương quan, tương tác tức khắc hiện tiền (ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng) liền thấy có phân biệt đối đãi, vướng mắc ta người, thấp cao, sang hèn, đến đi, sống chết. 

Sợ chết là vọng tâm chấp thường, tức lầm nhận thân tâm này và các pháp tướng hữu vi trước mắt làm thật có và thường còn. Và cũng do lầm chấp như thế nên người ta mới ham chuộng, chấp thủ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, cũng như sợ các pháp này cùng bản ngã rời lìa; đó là cái thấy thường kiến, tà pháp. Còn không sợ chết là chấp đoạn, nghịch lại với chấp thường, tức lầm chấp thật có thân tâm này và chỉ một lần hoại diệt là hết sạch, mất tiêu, không có nhơn quả luân hồi, không có tội phước báo ứng gì cả; đó là cái thấy đoạn kiến, tức tự trói buộc vào đoạn diệt pháp. Nhưng dù chấp thường hay chấp đoạn, nghĩa là sợ hay không sợ cũng đều không ra ngoài biên kiến tử sanh.

Mà thật ra, trong chỗ thực tế trước mắt, dù có sợ chết hay không sợ chết, thì cũng không làm cho cái chết có thể trở thành khác đi được. Đến lúc phải ra đi thì dẫu sợ cũng chết, mà không sợ cũng vẫn phải chết. Chết là lẽ bình thường và tất nhiên của qui luật hiện tượng, vậy thì việc gì ta phải sợ. Đối với người học đạo mà nói, thì cái chết không đáng phải sợ, mà sự sợ chết mới đáng để chúng ta sợ hơn, vì sợ tức là chấp ngã, là tự trói buộc nhị nguyên, cũng là khó bề vượt thoát nhơn quả. Bỡi vì sao? Vì người ấy khởi tâm vọng chấp có ngã-pháp, nên mới thấy có sợ hay không sợ. Còn nếu biết an nhiên tiếp nhận cái chết, chẳng sợ cũng chẳng phải chẳng sợ, tức dùng cái tâm vô tâm, rổng rang, vô phân biệt mà nhìn ngắm vạn sự vạn vật, thì đó mới đúng là cái tâm trở về, huyền đồng cùng cội nguồn nguyên ủy, vô ngã, vô sanh.  

Có sanh thì có hóa, đó là luật tắc bất biến của nhơn quả, tức cái lẽ bất dịch trong sự biến dịch của mọi hiện tượng, tức vạn pháp. Nói bất dịch là chỉ ra cái trật tự nhất định, cái lý đương nhiên, tất nhiên "phải là" của tất thảy mọi hiện tượng nhơn quả; như hết ngày thì tới đêm, hết sáng thì tới tối, cùng cực thì phản phục, dương tối cực thì âm khởi sanh, cũng như xuân - hạ -thu - đông bốn mùa luân chuyển vần xoay bấy nhiêu không đổi, cũng là cái lẽ bất dịch trong biến dịch, nên hễ có sanh ắc phải có hóa, mà không thể nào khác được. Sanh, già, bệnh, chết là luật tắt bất biến của con người nói riêng và vạn vật hữu tình nói chung. Nên dù sợ hay không sợ, thì tất thảy các pháp được duyên hợp từ tứ đại, ngũ uẩn, đều phải tan rã khi hết duyên. Tóm lại, với người đương mê, nghĩa là lầm biết bằng thức biết hư vọng do duyên sanh, chấp thân tâm nhỏ nhoi, vô thường, huyễn hóa này và các pháp hữu vi trước mắt làm thật có, vọng chấp theo thường kiến hoặc đoạn kiến, nên mới có vọng tưởng sợ hay không sợ. Còn người đã thức tỉnh, tự thấy biết bằng tánh biết bổn lai, sáng suốt, vô ngã, biết rõ ràng nhứt thiết pháp không, thật tướng vạn pháp không một tướng nào, nên cái hình bóng đến đi, sống chết cũng chỉ là cái  tướng huyễn hóa, hư vọng, tuỳ duyên sanh diệt, nên người ấy chẳng sợ, cũng chẳng phải chẳng sợ, mà tự thấy đối cùng tất thảy tướng đến đi trước mắt, kể cả thân tâm này, đều vô can. 

Thế nên, do biết như thật rằng, vì có tướng nên mới có đến đi, sống chết, một điều "tất nhiên phải là" của các pháp huyễn hoá hư vọng, thì việc gì ta (đương thể, đang-là bản thể tuyệt đối) phải sợ hay không sợ nó (cái chết) mà tự thấy vô can, không chỗ dính dấp. Người học đạo rành đạo lý này thường thể hiện cái tâm "vô tâm" trong cuộc sống, tức thường an trú trong trạng thái tâm thể "hư rỗng", thanh tịnh, vô phân biệt, thì cái tâm thức sanh diệt do duyên khởi cũng lập tức không còn, một chút pháp đối đãi cũng không sanh, liền tự tại, an ổn, tuỳ duyên và mặc nhiên tiếp nhận cuộc sống và cái chết trước mắt, tức đi vào trung đạo, là không vướng mắc nhị nguyên, là tự cởi trói nhơn quả, là gần gũi kề cận đạo thường.  

Tôi nói thêm với các bạn mình rằng, trong số muôn, vạn ức người thế tục chưa từng học đạo, chưa hiểu đạo là gì, mà theo chỗ tôi biết, bên cạnh chúng ta vẫn có không ít người biết an trú trong hiện tại; nghĩa là trọn sống trong trạng thái tâm thể không trói buộc không gian và thời gian, không đối đãi phân biệt, tự an lạc với những gì mình đang là, "một" tuyệt đối, rổng rang, hư vô, tịch lặng, sáng suốt. 

Nghĩa là, không động tâm tính toán suy lường hơn thiệt, họ (trong trạng thái vô tâm, vô phân biệt) bình thản đón nhận cuộc sống trước mắt cũng như cái chết sẽ đến một cách hồn nhiên, vô tư lự. Nhờ trực giác bẩm sinh, họ nhận rõ từng mỗi động tác đến đi, ngồi nằm, nói năng, động tịnh của thân tâm này bằng cái thấy biết chơn thật, bất động, thông lưu, xuyên suốt cùng khắp. Họ biết cái bóng hình mà họ đang tạm nương gá (mà người thế tục coi là cái ta quí giá, đáng trân trọng hơn hết trên đời) để có thể tuỳ thuận nhơn duyên đi dứng, nói năng, hay hành Bồ-tát đạo cũng chỉ là cái tướng huyễn hóa, không thường định, không thật có. Họ biết thân tâm này là thứ do duyên sanh từ thức biết, như muôn vàn hiện tượng khác ở trước mắt. Bản chất của mọi pháp do duyên sanh đều vô thường, tạm bợ, không có thật. 

Hay nói rõ hơn, những hiện tượng do duyên sanh này đều như huyễn, như hoá, như hoa đóm trong không do mắt bị bệnh mà thấy như có. Chúng như những bong bóng xà phòng được thổi vào không trung, chợt hiện đó rồi biến đó, có đó rồi không đó, còn đó rồi mất đó, sanh đó rồi diệt đó. Nhờ bẩm sinh mà họ biết như thật, cái tánh biết sáng suốt, tự tại, như như, vô chung thuỷ, không phải trong thân cũng chẳng phải ngoài thân, mà trùm khắp, xuyên suốt, tự tại, rổng rang, không gì ngăn ngại mà họ "đang-là" mới chính là cái "thật ta" thường hằng, tự tại, cũng là pháp thân thường trụ. Họ biết như thật, dù cho cái thân tâm thuộc về tứ đại ngũ uẩn này có tan rã, biến mất thì tánh biết cũng tự như, không sống chết, không đến đi, không còn mất, linh diệu, bất biến, mà thường hay khởi sanh vạn pháp. Tánh ấy mới chính thiệt là cái "thật ta" muôn thuở, là pháp thân thường trụ, là chỗ dừng nghỉ an ổn trọn vẹn, tịch lặng, vô thỉ vô chung, không sanh không mất.    

Nhờ cái biết bẩm sinh đó mà họ coi (phải nói là nhìn mới đúng) sự sống và sự hết sống (chết) của cái thân xác giả hợp do tứ đại, ngũ uẩn duyên thành như là một sự tuỳ thuận nhơn duyên đơn giản, bình thường, tự nhiên như nhiên, như hít vào và thở ra, trong từng giây từng phút không ngơi nghỉ, mà chưa từng nghĩ tưởng là mình đang có hít thở. Nghĩa là họ biết an ổn tuỳ duyên tiếp nhận cuộc sống và cái chết vô tư lự như một người thông lẽ đạo thường, mặc dù chẳng phải là người tu Phật, hay đang hành trì bất cứ pháp môn của một đạo giáo nào khác, hay ý niệm thế nào là đạo thường. Họ chỉ biết một điều rõ ràng, chân thật rằng trọn sống "một" cùng tánh sáng suốt, vô ngã, tự tại mà họ đang-là, thì an ổn, diệu lạc, không thấy có một ý niệm nào của sự đến đi, còn mất, khổ vui, tốt xấu. Nhược bằng họ chợt niệm tưởng phân biệt, cũng là chấp ngã, thì liền ngay đó chính họ tự tách rời, tự chia lìa cùng bản thể vắng lặng, rổng rang, diệu lạc, an ổn, tự tại, để tự trói buộc tử sanh, cũng là hệ luỵ khái niệm nhị nguyên, là mất tự chủ. Nhờ được cái tánh bẩm sinh này tiềm ẩn và theo họ trong suốt cuộc đời, nên đối với họ, hễ cứ đói thì ăn, khát thì uống, mệt thì đi nghỉ, khoẻ lại tiếp tục làm việc để có cái ăn nuôi sống cơ thể, để làm mọi hạnh lành tự và lợi lợi tha mà chưa từng nghĩ có chủ đích phải nên làm lành. Nghĩa là, với họ những việc thiện lành kia đều là việc bình thường, là việc tất nhiên phải làm, tự nhiên như nhiên, như đói cần phải ăn, khát cần phải uống, mệt thì đi nghỉ mà không phân biệt, khen chê, ngon dở, tốt xấu hoặc tác ý có nên hay không nên làm. Với những việc ố ác cũng là chuyện bình thường, đương nhiên không làm, đơn giản thế thôi, như không bao giờ tự mình lại cầm dao cắt thịt của mình ra, hay buột giây vào cổ cho hết cái sự thở của thân xác. Họ biết như thật thân tâm này cùng mọi chúng sanh khác đều là các pháp huyễn hoặc, vô thường do duyên sanh, nhưng đồng tự tánh, tức từ một tánh duy nhất là tánh pháp giới trùng trùng duyên khởi duyên sanh mà ra. Cho nên, cái chết đối với họ có nghĩa là từ bỏ hình bóng giả tạm do các duyên hợp thành, tức hết duyên với cuộc sống trước mắt, thế thôi, đơn giản là vậy. Cái xác vô tích sự sắp thối rã từ chỗ "không" do nhơn duyên tụ hợp thành có, giờ hết duyên "có" trở về lại thành không, với tánh biết chơn thật của họ thì đó là điều rất bình thường, không cần phải nghĩ suy thắc mắc hay tiếc rẻ, vì các tướng này cùng con người thật của họ vô can.  Bỡi họ tự biết như thật, dù họ có là trở thành hình tướng này hay hình tướng nọ trong một cảnh giới khác, thì tất thảy các pháp kia cũng đều là tướng hư vọng, huyễn hoặc, tuỳ thuận nhơn duyên sanh diệt mà thôi. 

Chỗ an trú chơn thật của họ không phải là những hình bóng giả hợp, chia cách, biệt lập, ngăn ngại kia mà là bản thể tuyệt đối, vĩnh cửu, bất biến, mà ngay đó họ đang-là, một, tức pháp thân thường trụ. Đó là chỗ an trú thanh tịnh, diệu lạc, viên mãn, thường định. 

Cũng nhờ cái tánh biết sáng suốt bẩm sinh ấy tồn tại trong họ mà họ sống với cái tâm bình thường, tự nhiên như nhiên. Thật ra ai ai cũng tự có cái tâm trong sáng bình thường này, chỉ vì vô minh tập nhiễm sâu dày nên không nhận ra được. Những người có được tánh bẩm sinh này không hề lo sợ hay thắc mắc cái chết sẽ đến với mình, cũng giống như họ chưa từng thắc mắc tại sao mình phải ăn, uống, ngủ, nghỉ gì cả. Họ biết rất rõ cái thân xác vô thường mà họ đang đeo mang cũng chỉ là cái tướng hư vọng, bất định đang tương tác đối đãi với các hiện tượng thường biến, sanh diệt ở chung quanh và trước mắt, mà tự tâm thanh tịnh lại vượt lên trên mọi trói buộc của hiện tượng và khái niệm sanh diệt. Nghĩa là biết như thật, cái thân tâm biết động tay, động chân, nghĩ suy, nói nín này và cảnh giới trước mắt là huyễn hóa, rỗng không, hư vọng, nên tự sáng suốt không chấp trước vào chúng.  Nhờ biết trọn sống một, không rời lìa tánh "biết" bẩm sinh tuyệt đối, sáng suốt, thông lưu không ngăn ngại mà họ đã coi sự sống và sự hết sống (chết) của thân tâm này và mọi hiện tượng hợp thành hay tan rã trước mắt do duyên sanh như là một việc bình thường và tuỳ thuận nhơn duyên.  

Sống có cái vui sống, là cơ hội để làm tất thảy mọi điều thiện lành cần làm; chết có cái vui chết, là cơ hội để nghỉ ngơi, an dưỡng, cũng như chuẩn bị cho một cuộc hành trình tiếp theo của Bồ-tát hạnh mà tự tâm họ chưa từng nghĩ là mình có sở hành. Sự chết đối với họ cũng vậy, hình như không là vấn đề để phải nghĩ suy, cột buộc, không phải là cái gì ghê gớm lắm, mà chỉ đôi lúc bất chợt nghĩ về điều ấy một cách giản đơn như là một sự đi, về. Tự nó bình thường, tự nhiên như nhiên, như có việc thì đi, xong việc thì về, như cần làm thì phải đi đứng, động tay múa chân, xong việc thì nằm ngồi, ngơi nghỉ, an dưỡng, không việc gì phải bận tâm, nhọc trí nghĩ suy vô ích; bỡi họ biết rất rõ, tất thảy đều là tuỳ duyên, chẳng có gì can hệ tới chỗ chơn thật mà họ đang-là, hoàn toàn khác với những người mất tự chủ, bị dẫn dắt, xô đẩy, trói buộc nhơn quả. 

Với những người biết an trú trong hiện tại (tức hiện và tại, tức thời và không, mà thật ra trong chỗ hiện tại này, khái niệm về không gian và thời gian tự triệt tiêu, vì tất thảy chỉ còn là bản thể chân thật "một" tuyệt đối), họ biết như thật, cốt lõi cuộc sống trước mắt, trong chỗ thâm u kín nhiệm của bổn tâm, phảng phất bóng hình một đại nguyện-lực từ muôn kiếp trước, mà bổn phận thiêng liêng của họ khi có mặt ở cõi này, không gì hệ trọng hơn ngoài việc thực hành một cách tốt nhất bài học làm người của chính mỗi người. Cái "biết chân thật" bẩm sinh tiềm ẩn và phảng phất trong tâm họ, không hình không ảnh rõ rệt, không do ai dạy dỗ hay chỉ bảo cho, nhưng lại khiến cho họ có được một niềm an lạc vô biên, bất tận, mà chính họ tự trải nghiệm và biết rằng, không có một thứ gì trên cõi đời thường biến này có thể sánh bằng. Cho nên, trước mắt họ, bằng sự an ổn và diệu lạc của tự tâm, bài học làm người mà họ đang đối mặt, như một thách thức buộc họ phải tỉnh táo và an nhiên vượt qua nó, làm sao để có một kết thúc trọn vẹn nhất, để lại được trở về chốn cũ yên bình mà không bị lầm lạc. 

Còn nếu quên mất bài học làm người, buông thả thân tâm theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, những hấp lực của trần cảnh huyễn hoặc dối trá, thì con đường chông gai, tăm tối và đầy cạm bẩy của cảnh giới vô minh ắc sẽ chờ trói buộc họ, và đương nhiên quên mất lối về. Thí như con thuyền khi xưa có nhiệm vụ trọng đại, phải tách bến, băng mình vào đại hải mênh mông, tối đen, mờ mịt, ngược xuôi trăm đường ngàn nẻo, chống chọi sóng gió bão bùng; nhiệm vụ xong thì cũng là lúc phải quay về lại cái bến yên bình tự thuở xưa nào để ngơi nghỉ, an dưỡng; người hoa tiêu trên chiếc thuyền ở đây cũng vậy, trong suốt cuộc hành trình đi và về, ắc cần phải tỉnh táo, kiên trì và dũng mãnh để không bị sóng gió làm lạc mất phương hướng, để khỏi bị dập vùi chìm nổi trong biển cả mịt mù, quên mất đường về. Người thực hành bài học làm người, trước mắt cũng phải gắng sức và cần mẫn tập tành trong tâm ngoài thân để sao cho thành một con người đúng như ý nghĩa ban sơ của nó, còn sau đó là sự trở về, an nghỉ, buông xả, tịch lặng, rỗng không, chỉ đơn giản thế thôi. 

Còn những ngừơi không làm tròn bổn phận của mình, bài thực tập học làm người không hoàn tất trọn vẹn, ắc phải trở thành những bóng hình méo mó, dị dạng, đen đúa, tối tăm, không đúng như bản tánh nguyên sơ nó là (hiểu theo nghĩa bóng), ắc khó lòng tránh khỏi phải bị mang lông, đội sừng, phiêu bạc muôn phương ngàn nẻo, chìm nổi bất định trong biển thức tối tăm, bị nghiệp lực đẩy đưa, dẫn dắt, mất tự chủ. Trên thế gian này vẫn có những con người thế tục may mắn có được tánh bẩm sanh như thế; mặc dù trong đời họ chưa từng học đạo, chưa từng biết định nghĩa một tiếng "đạo" là gì, nhưng tự tâm lại hồn nhiên trọn sống "một" trong "đạo", mà không hề hay biết rằng mình đang cùng đạo chan hoà, thông lưu, làm một. Người chưa học đạo, chưa biết thế nào là lý giải thoát và hạnh giải thoát mà còn được như thế, chẳng lẽ chúng ta có pháp Phật đưa đường chỉ lối, ngày đêm kiên cố hành trì đúng như pháp, mà sự hiểu biết về lẽ đến-đi lại không sáng tỏ bằng như những ngươiø trên kia hay sao, mà hỏi sợ chết hay không sợ chết ! 
Một ông bạn khác có vẻ như còn chưa thấu lý, mới hỏi tiếp rằng, thế ông thiệt không sợ chết sao ?

Đến đây thì người viết không sao nhịn được cười, thầm nghĩ rằng, có lẽ ai cũng đều tưởng tượng cái chết có hình tướng như một con quái vật đen đúa, tối tăm, vô hình, hung hãn, dữ tợn, to lớn sẵn sàng nhai tươi, nuốt chửng thân xác họ. Rồi họ tưởng tượng đến không gian và thời gian phía trước, chẳng rõ cái thân biết động tay múa chân, đứng ngồi, nói nín cùng với cái tâm biết nghĩ suy, buồn vui, mừng giận, thương ghét kia rồi sẽ đi về đâu, gởi gắm ở chốn nào, sướng khổ ra sao? Trong tâm tưởng họ còn đèo bòng cả những hình bóng thân thương, cột buộc với những bóng hình mà họ thù ghét, cũng như tư tài, sản nghiệp mà họ đã từng gầy dựng, từng yêu quí như máu thịt của chính mình, rồi tất cả sẽ ra sao? Đó là sự chấp ngã, chấp pháp, cũng là tâm trạng bình thường của thế nhân khi nghĩ về hay khi đối diện trực tiếp với cái chết, hoàn toàn khác biệt với những người đang tự một ngay trong chỗ đang sống và cũng là đang chết của đạo thường.  

Tôi nói với ông bạn rằng, cùng đối mặt trước cái chết, nhưng có người thì rất sợ, có người thì không sợ, mà cũng có người thì bình thản, an nhiên tiếp nhận nó, chẳng phải sợ cũng chẳng phải không sợ. Mà sở dĩ cùng trực diện với một sự việc nhưng lại có hai tâm trạng khác xa nhau, cách biệt nhau một trời một vực như thế, chung qui cũng đều do ở cái chỗ "biết" sai biệt nhau trong từng mỗi con người mà thôi. 

**

Thế nào là có hai cái biết khác biệt nhau? Đó là, thứ nhất, cái biết của tâm bổn lai, tức tánh biết bổn lai, cái biết tuyệt đối, thường hằng, tự tại, vô phân biệt và thứ hai, cái biết của tâm ý thức, tức cái biết phân biệt, cái biết bất định, vô thường, tuỳ duyên sanh diệt trói buộc trong một pháp sanh diệt, vô thường.     

a. Tâm bổn lai, còn gọi là Phật tâm, là bản thể chơn thật tuyệt đối, như  như, thường hằng, vô ngã, bất biến, không phải có cũng không phải không, mà như không như có, như thật như hư, cũng là pháp giới thường trụ. Bản tánh của tâm bổn lai, còn gọi là Phật-tánh, hay Tự-tánh, là tánh pháp giới trùng trùng duyên khởi. 

Tự tánh chơn như, thường hằng, bất biến, duyên khởi, duyên sanh, nên các pháp trùng trùng sanh khởi sai biệt, mà từng mỗi pháp xuất sanh vẫn không hề mất bản thể vô ngã, tự tại, chơn thường; nên mới nói, tự tánh thường hằng bất biến tuỳ duyên sanh vạn biến mà bản thể vẫn tự như, không vì các huyễn pháp kia mà tánh bổn lai tăng giảm, mất còn hay suy suyển. 

Tất thảy vạn sự vạn vật từ bổn lai tâm tuỳ duyên khởi sanh, tuỳ duyên khởi diệt. Thế nên, bản thể chơn thật của mọi sự vật, mọi hiện tượng trước mắt, kể cả thân tâm này đều như huyễn, như hóa, như thật như hư, là "không" (tức cái diệu không của tánh chơn như, chứ chẳng phải nghĩa không của hữu-vô, đối đãi trong nhị nguyên phân biệt) không có thật tánh. 

Sở dĩ nói "cái biết của tâm bổn lai", cũng chỉ là cách tạm mượn từ ngữ để trỏ Phật tánh, cũng là Phật tri-kiến mà thôi. Nghĩa là nói "cái biết của tâm bổn lai" cũng vẫn chưa thật đúng như tánh nó, mà phải nên nói là "tánh biết bổn lai" mới trọn vẹn chỉ về nó, nghĩa là không có giới từ "của" ở đây, vì bản thể nó là tuyệt đối, cũng là tánh biết tuyệt đối, tức cái biết vô phân biệt, phi năng sở.  

Tánh biết bổn lai là cái biết không đổi, cái biết trên toàn thể "một", không chỗ dừng, vô hạn lượng, bao trùm, xuyên suốt, vượt quá khái niệm của "có và không" theo đối đãi của hai, của khác. Nghĩa là với tánh biết tuyệt đối, có cũng biết mà không có cũng biết, vì "có-không" đều là pháp hư vọng do phân biệt theo khái niệm nhị nguyên của phàm phu. 

Tánh biết "biết" toàn thể, biết chơn thật, cũng có thể gọi là vô tri. Vô tri là không biết. Nói không biết ở đây tức không có cái gì là đối tượng để được biết, nghĩa là cái không biết toàn thể, tức là chính nó, là cái vô sở bất tri. Nói vô sở bất tri, tức không gì không biết, cũng là toàn biết, cũng thật chính nó là. Không gì không biết cũng là Nhứt thiết trí. Thánh nhơn tự "một" trong tánh biết, cùng nó không hai, không khác, nên gọi nó là cái biết của không biết, cái biết không có khởi đầu và kết thúc, tức tự chính nó, là nghĩa Giác của nhà Phật vậy. Thí như mặt trời chưa từng biết khái niệm sáng là gì, vì tánh sáng nguyên uỷ của nó cùng nó là một, không hai, không khác. Nghĩa là sao, nghĩa là giả như hiện tại tâm ta "đang-là" cùng tâm bổn lai, tức tất thảy cùng tự một, cũng là một nhất hợp tướng. Một nhất hợp tướng thì liền tự có cái biết toàn thể, vượt quá thời gian, không gian, phi nhơn quả. Bằng tâm ta cùng cùng tâm bổn lai đương thể "một", bất chợt tự chia lìa (khởi tâm chấp, phân biệt) thì ngay đó cái chỗ biết kia của tâm ta chỉ còn là cái biết của tri thức, bó buộc trong một pháp huyễn vọng là cái hình bóng này mà ta đang nương gá, là cái biết bằng huyễn thức, tức lầm biết trói buộc khái niệm nhị nguyên, nhơn quả phân biệt, nhìn tất thảy mọi pháp thấy có đối đãi, đến đi, sống chết. 

Từng mỗi chúng sanh, mỗi hiện tượng sanh diệt trước mắt chính là một pháp trong muôn vạn pháp "duyên khởi" từ tâm bổn lai, sẵn chứa đầy đủ trọn vẹn cái tánh biết thường định, vô thỉ vô chung này. Nghĩa là sao? Nghĩa là pháp pháp như huyễn, như hóa, rỗng không, không tự tánh, duyên khởi từ một tánh duy nhất, cũng là Phật tánh hay Tự tánh, mà từng mỗi pháp đều sẵn trọn đủ tánh Phật, không khác tánh Phật, nghĩa là không có một pháp riêng nào. 

Tự trọn "một" cùng bản thể chơn thật, liền biết như thật, không một pháp nào có thể làm, tức làm mà không làm, vi mà vô vi, nghĩa là toàn thể lặng lẽ, không tịch, sáng suốt, do bổn tâm không khởi lên một pháp sai biệt nào. Nghĩa là làm tất thảy việc, đi đứng, nằm ngồi, nói năng, hành động mà không tác ý, không động tâm, thì vạn pháp tự như, bản thể sáng trong vắng lặng, bao trùm. Như nước để yên không khuấy động, thì tất thảy cặn cáu lắng, nước trở nên trong trẻo, nhìn rõ thấu suốt. Cái biết mà nhìn rõ toàn thể thấu suốt, trong trẻo, thanh tịnh, thì liền tự tại an nhiên, không lầm nhơn quả vậy.  

b.  Tâm ý thức cũng tức là tâm chúng sanh. Trong từng mỗi chúng sanh có tâm chúng sanh. Tâm này cũng do tự tánh duyên khởi mà thành, như hư như thật, như huyễn như hoá, là "không", không có thật tánh. Cái biết của tâm ý thức là cái biết phân biệt, hệ lụy khái niệm nhị nguyên, câu hữu vô minh, do tập nhiễm lâu đời lâu kiếp trong nhơn quả. Đó là cái biết sanh diệt, hữu hạn trói buộc trong một pháp (hiện tượng) sanh diệt hữu hạn là thân tâm này. 

Trong từng mỗi con người, ai ai cũng đều sẵn gồm đủ cả hai cái tâm ở trên này, tức sẵn dung chứa bổn lai tâm và ý thức tâm. Thế nhưng người bình thường (phàm phu) chỉ thấy biết bằng cái tâm y thức mà thôi. Nghĩa là chúng sanh dùng cái tâm thức phân biệt của hiện tượng bất định, vô thường, không thật có mà chấp làm "ngã" thật có để nhìn vạn sự vạn vật bất định, vô thường và không thật có khác ở quanh ta chấp làm "pháp" thật có, để rồi tự cuốn hút theo bằng cách so sánh, phân biệt, trói buộc vào nhị nguyên, trôi lăn bất định trong sanh tử luân hồi. 

Tạo sao nói cái thấy biết của người bình thường là không thật? Bỡi vì cái thấy biết ấy chỉ phớt chạm trên lớp mặt ngoài của mọi hiện tượng huyễn vọng trước mắt, nên chỗ biết ấy không đúng như tánh nó là. Cái biết kia sẽ chân thật chỉ khi nào nó tự một cùng cái được biết, nghĩa là khi ấy tất thảy chỉ một, cũng là toàn một tánh biết mà không có cái biết và cái được biết, vì như ta đã biết, vạn pháp trước mắt là như huyễn, như hóa, rỗng không, không thật có. Bỡi hễ có biết thì đương nhiên chỗ biết ấy có điểm dừng, nghĩa là có năng tri thì ắc phải có sở tri. Còn người mà đã tự "một" cùng tánh biết tuyệt đối thì ngay đó tự có cái biết xuyên suốt, thông lưu, vô ngại trên tất thảy pháp, tức như như trên mọi hiện tượng, không còn có năng tri sở tri, mà toàn thể chỉ là một tánh biết tuyệt đối, thường hằng, tự tại, bất biến. Cho nên, như trên đã có nói, có thể gọi tánh biết này là tánh "không-biết" (vô tri) cũng được, vì tự trong đây, toàn thể tuyệt đối là chính nó, tánh không biết cũng là chính nó, nghĩa là tất thảy "một" vượt ngoài cái "biết và cái không biết" đối đãi theo phạm trù khái niệm, phân biệt của tri thức thế gian. Chỗ không biết này độc diệu, tịch nhiên, vắng lặng, không sáng tối, không có, không không, không sanh không diệt, vô thỉ vô chung, gọi là không biết mà không gì không biết, cũng là Nhứt thiết trí vậy. 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap