Tập
III
CHƯƠNG
THỨ BẢY
1.
Phật khai thị về hiệu năng của Mật giáo
2.
Phật tuyên nói Thủ Lăng Nghiêm tâm chú
3.
Sự lợi ích của Thủ Lăng Nghiêm chú với mọi giai tầng
xã hội
4.
Hỏi về cấp bậc và địa vị trên đường tu chứng
5.
Đức Phật chỉ rõ hai nguyên nhân điên đảo vọng chấp về
thế giới và chúng sanh trước khi giải đáp vấn đề địa
vị trên đường tu chứng.
I -
PHẬT KHAI THỊ VỀ HIỆU NĂNG CỦA MẬT GIÁO
Phật
dạy: A Nan ! Người muốn thể nhập tam ma đề (chánh quán)
tu học pháp môn nhiệm mầu, cầu đạo Bồ tát, trước hết
cần giữ luật nghi trong như giá, sạch như sương để chặn
đứng những hành động bất thiện của thân khẩu ý tam nghiệp.
Và cũng từ đó lục căn tự tại đối với lục trần, các
ma sự không có cơ hội lung lạc hoành hành. Nếu người nặng
nhiều bất thiện nghiệp, tập khí khó trừ thì nên nhất
tâm trì tụng thần chú "Vô thượng Phật đảnh quang minh ma
ha tát đát đa bát đát ra". Đó là tâm chú vô kiến đảnh
tướng của Như Lai là vô vi tâm Phật, từ nơi đảnh Phật
hiện ra đức Hóa Như Lai ngồi trên hoa sen báu mà nói.
A Nan
! Ông cùng nàng Ma Đăng Già do nhân duyên nhiều kiếp trước,
tập khí ái ân lâu đời còn vương vấn. Song một phen Như
Lai tuyên dương thần chú thì nàng Ma Đăng Già dứt bỏ ái
tâm thành A La Hớn quả. Vốn là một dâm nữ, căn lành kém
ít, thế mà sức thần chú còn giúp cho cô ta chứng quả vô
học, còn bọn ông là hàng Thanh văn trong Lăng nghiêm hải hội,
có chí cầu tối thượng thừa thì quyết định sẽ thành
Phật quả ví như bụi bặm gặp gió cuốn, những gì vẩn
đục sẽ tan biến hết nào có khó khăn gì.
A Nan
! Đời sau, nếu có người muốn kiến lập đạo tràng chuyên
trì Thủ Lăng Nghiêm tâm chú, phải cần lấy cho được cái
phân của con "đại lực bạch ngưu" ở Tuyết sơn, đem về
hòa trộn với các thứ hương chiên đàn, trầm thủy mà tráng
lên mặt đất để làm nền. Vì con "đại lực bạch ngưu"
nầy chỉ ăn toàn cỏ thơm, non trong sạch ở Tuyết sơn và
nó chỉ uống nước trên núi cho nên sạch mịn và không nhơ
nhớp như những con trâu bình thường khác. Nếu không tìm
được phân "đại lực bạch ngưu" ở núi Tuyết có thể tạm
lấy đất ở bình nguyên, nhưng phải đào bỏ lớp đất mặt
xuống sâu năm mét, chọn lấy đất vàng thật sạch đem về
hòa trộn với mười thứ bột hương: chiên đàn, trầm thủy,
tô hợp, huân lục, uất kim, bạch giao, thanh mộc, linh lăng,
cam tùng và kê thiệt tô trên mặt đất làm nền.
Kiến
thiết đạo tràng theo hình bát giác, rộng 6 mét lọt lòng.
Tám phía vách bên trong mỗi vách treo một tấm gương lớn,
đối diện và phản chiếu lẫn nhau. Trên nóc đàn cũng treo
tám tấm gương chiếu xuống. Trung tâm đàn xây một trụ cột
bát giác cao khoảng 1m,65, đường kính chừng 1m,50, mỗi cạnh
cũng treo mỗi tấm gương phản chiếu với tám tấm gương
lớn tám phía bên ngoài. Trên đầu trụ cột thiết kế một
tòa sen to, làm bằng vàng, đồng, bạc hoặc gỗ sơn thết
như hoa sen thật. Giữa đài sen để một cái bát đựng nước
mù sương tháng tám và tùy ý cắm các loại hoa hiện có. Chung
quanh trang trí 8 tấm gương tròn, trước mỗi tấm gương có
hai lư hương cộng có 16 lư hương cả thảy. Các lư hương
để đốt trầm thủy, chiên đàn cúng dường Phật và Bồ
tát, nhưng đốt mà không cho thấy lửa.
Trong
đàn tôn trí hình tượng chư Phật và chư Bồ tát lồng bóng
trong các tấm gương trên dưới, tám hướng, bốn phương làm
cho hình ảnh chư Phật, Bồ tát ảnh hiện trùng trùng nhiều
lớp.
Hành
giả ở trong đàn thân tâm thanh tịnh, chí thành lễ bái danh
hiệu Phật, Bồ tát trong mười phương, ngày đêm 6 thời đi
kinh hành trì Thủ Lăng Nghiêm tâm chú 108 biến mỗi thời.
Nhiếp tâm tinh tấn hành trì từ 1 thất, 2 thất, 3 thất cho
đến 7 thất hoặc 100 ngày, những người căn tánh nhanh nhẹn
có thể ngay nơi đạo tràng được quả Tu đà hoàn và tự
biết mình sẽ thành Phật
*
* *
TRỰC
CHỈ
"Kiến
lập đạo tràng" điều đó đủ nói lên rằng: pháp môn đó
chỉ là một pháp môn "phương tiện". Hình thức đạo tràng
được kiến tạo theo như một cái đàn "bát giác". Rồi thiết
kế đài sen, rồi tôn trí tượng chư Phật, chư Bồ tát, chưng
hoa đẹp, đốt hương thơm, cúng bánh ngon, mật ngọt, nào
những tấm gương lồng bóng làm cho Phật và Bồ tát xuất
hiện trùng trùng… tất cả đều là thứ Đạo Tràng "phương
tiện".
Đạo
Tràng "đệ nhất nghĩa", ta hãy nghe Bồ tát Duy Ma Cật nói:
Trực
tâm là đạo tràng, không có các điều hư dối.
Phát
hạnh là đạo tràng: làm tất cả điều thiện.
Thâm
tâm là đạo tràng: chân thành trên con đường đạo.
Bồ
đề tâm là đạo tràng: nhận thức chơn lý không sai lầm.
Bố
thí là đạo tràng: xứng tánh mà làm không mong cầu phước
báo.
Trì
giới là đạo tràng: nguyện lành được đầy đủ.
Nhẫn
nhục là đạo tràng: đối với chúng sanh tâm không chướng
ngại.
Tinh
tấn là đạo tràng: không biếng trễ trên con đường Bồ
đề.
Thiền
định là đạo tràng: tâm nhu thuận và an ổn.
Trí
tuệ là đạo tràng: nhận thức rõ thực tướng của các pháp.
Từ
là đạo tràng: đồng sự với chúng sanh.
Bi
là đạo tràng: nhẫn chịu các sự khó nhọc vì chúng sanh.
Hỉ
là đạo tràng: ưa thích và vui mừng được sống trong chánh
pháp.
Xả
là đạo tràng: dứt sạch hết tâm thương ghét.
Thần
thông là đạo tràng: thành tựu pháp lục thông.
Giải
thoát là đạo tràng: chống trái với những tập quán vô minh.
Đánh đổ hủ tục lạc hậu.
Phương
tiện là đạo tràng: hay giáo hóa chúng sanh.
Tứ
nhiếp là đạo tràng: không bỏ một chúng sanh nào.
Đa
văn là đạo tràng: nghe chánh pháp, hành chánh pháp, và truyền
bá chánh pháp…
Như
vậy đó Thiện nam tử ! Bồ tát Duy Ma Cật nói với Đồng
tử Quảng Nghiêm; nếu Bồ tát theo đúng các pháp ba la mật
giáo hóa chúng sanh thì nhất cử nhất động phải biết, đều
là từ nơi "đạo tràng" mà ra, ở nơi chỗ Phật mà đến
đây.
Trong
đạo Phật, các thiền gia kim cổ thường ví cái tâm giác
ngộ của con người như con trâu trắng lớn, còn tâm mê muội
chưa tí nào giác ngộ ví như con trâu đen. Người tu hành thường
xuyên canh giữ cái tâm tạp vọng loạn tưởng như canh giữ
con trâu đen chưa thuần nết. Ngày con trâu trở thành toàn
trắng, đó là nói lên cái kết quả của quá trình cải tạo
chuyển hóa cái tâm đến hồi nhu nhuyến thuần thiện. Hành
giả hãy lấy cái tâm thuần thiện nhu nhuyến đó làm nền
tảng mà kiến lập đạo tràng.
Hãy
luôn luôn soi xét về thân về khẩu về ý của mình qua những
tấm gương lòng trong sáng, qua lớp lớp chiếu soi và chợt
thấy rằng hình ảnh của chư Phật, chư Bồ tát và hình ảnh
của chính mình giao hiệp với nhau trùng trùng trong một bầu
pháp giới nhất chân không ranh giới. Cho nên, đừng cầu khẩn
thương tình, đừng quỳ lạy van xin với Phật với Bồ tát
ở một thế giới xa xăm nào là luống công vô ích.
Trầm
thủy, chiên đàn, cam tùng, kê thiệt, linh lăng v.v… dù có
thơm tho đến cỡ nào, Như Lai há chẳng biết đó là "vật
hữu vi, như mộng, huyễn, bào, ảnh…" hay sao ? Chỉ có giới,
định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến mới là thứ
hương cung dưỡng Phật và Bồ tát có chân giá trị. Bánh
ngon, hoa đẹp chưng dọn lên cúng Phật cũng chỉ là cách nói:
"Phổ vị thế giới tất đàn". Nếu ai có làm theo thì cũng
biểu hiện được "một tấm lòng" tôn kính…
Con
số 108 là con số tiêu biểu, phiền não nghiệp của chúng
sanh mê vốn có. Lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp
khả dĩ tạo thành ba bậc nhiễm ô. Bậc một, nó làm cho con
người đam mê đến độ không còn lý trí. Bậc hai, nó đáp
ứng cho con người sự đắc ý vui lòng. Bậc ba, những thứ
làm cho con người sanh ghét, chê cần khử trừ triệt hạ.
Vì
vậy, khi sáu căn tác động vào sáu trần có khả năng sanh
ra 36 món nhiễm ô. 36 món nhiễm ô nầy xuất hiện trong ba
thời: đã, đang và sẽ. Đó là hệ quả của con số 108 được
đặt ra. Ngày đêm sáu thời, mỗi thời trì tụng 108 biến,
nhằm nhắc nhở với mọi người: Lòng hãy dặn lòng rằng:
trì chú cốt yếu để hóa giải những phiền não chướng
có thể xảy đến, thông qua 6 căn, 6 trần và 6 thức của
chính ta đó. Vì thế, không nhất thiết khư khư với con số
108 biến rồi thôi. Mà trì càng nhiều, càng liên tục, càng
chiếm lĩnh thì giờ rảnh rỗi của tạp tưởng mông lung,
càng tỏ rõ sức tinh tấn kiên trì thì hiệu lực "tam mật
tương ưng" càng nhanh chóng.
Đó
là sự thành công có hiệu quả, là đỉnh cao của pháp môn
Mật Giáo được đánh giá trên "Tam Mật Tương Ưng" vậy.
II
- PHẬT TUYÊN NÓI THỦ LĂNG NGHIÊM TÂM CHÚ[^]
Bấy
giờ đức Thế Tôn từ nơi nhục kế phóng ra hào quang bách
hảo, hào quang nầy hiện ra hoa sen báu ngàn cánh. Có đức
Hóa thân Như Lai ngồi trên hoa sen. Trên đỉnh đầu Như Lai
phóng ra mười đạo hào quang bách hảo. Trong mỗi mỗi hào
quang đều hiện ra những vị thần Kim Cang mật tích, số lượng
bằng mười số cát sông Hằng. Ông cầm chày, vị vác núi
đầy khắp cõi hư không. Đại chúng ngước xem vừa kính yêu,
vừa lo sợ, cầu Phật thương xót chở che và đồng nhất
tâm lóng nghe đức Phóng quang Như Lai nơi vô kiến đảnh tướng
của Phật tuyên nói thần chú:
Nam
mô tát đát tha tô gia đa gia a la ha đế tam miệu tam bồ đà
tỏa.
Tát
đát tha Phật đà cu chi sắt ni sam.
Nam
mô tát bà bột đà bột địa tát đa bệ tệ.
Nam
mô tát đa nẩm tam miệu tam bồ đà câu chi nẩm.
Ta
xa ra bà ca tăng già nẩm.
Nam
mô lô kê A La Hớn đa nẩm.
Nam
mô tô lô đa ba na nẩm.
Nam
mô ta yết rị đà dà di nẩm.
Nam
mô lô kê tam miệu dà đa nẩm.
Tam
miệu dà ba ra đễ ba da na nẩm.
Nam
mô đề bà ly sắt noãn.
Nam
mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắt noãn.
Xá
ba nô yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm.
Nam
mô bạt ra ha ma nê.
Nam
mô nhân đà ra đa.
Nam
mô bà dà bà đế.
Lô
đà ra da.
Ô
ma hát đế.
Ta
hê dạ da.
Nam
mô bà già bà đế.
Na
ra dã noa gia.
Bàn
giá ma ha tam mộ đà ra.
Nam
mô tất yết rị đa gia.
Nam
mô bà già bà đế.
Ma
ha ca ra gia.
Địa
rị bát lạt na già ra.
Tỳ
đà ba noa ca ra gia.
A địa
mục đế.
Thi
má xa na nê bà tất nê.
Ma
ha đát rị già noa.
Nam
mô tất yết rị da gia.
Nam
mô bà già bà đế.
Đa
tha già đa câu ra gia.
Nam
mô bát đầu ma câu na gia.
Nam
mô bạt xà ra câu ra gia.
Nam
mô ni câu ra gia.
Nam
mô già xà câu ra gia.
Nam
mô bà già bà đế.
Đế
rị trà du ra tây na.
Ba
ra ha ra noa ra xà gia…
...
419.
Đát điệt tha.
420.
Án.
421.
A na lệ.
422.
Tỳ xá đề.
423.
Bệ ra bạt xa ra đà rị.
424.
Bàn đà bàn đà nể.
425.
Bạt xà ra báng ni phấn.
426.
Hổ hồng độ rô úng phấn.
427.
Ta ba ha.
A Nan
! Đức Phật dạy tiếp, đó là những câu tâm chú bí mật,
nhiệm mầu "tát đát đa bát đát ra" (dịch là Đại bạch
tán cái) của Hóa thân từ hào quang trên đảnh của Như Lai.
Tâm chú đó sản sanh tất cả chư Phật trong mười phương.
Mười phương Như Lai Nhân tâm chú nầy mà thành vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Mười
phương Như Lai Nắm tâm chú nầy mà nghiêm trị các ma quân,
chế ngự bọn ngoại đạo. Mười phương Như Lai Cởi tâm
chú này mà ngồi được tòa sen báu, có mặt trong các cõi
nhiều như số vi trần. Mười phương Như Lai Ngậm tâm chú
nầy mà chuyển bánh xe pháp ở các cõi nước trong mười phương.
Mười phương Như Lai Giữ tâm chú nầy mà trong lúc tu nhân
được chư Phật thọ ký. Mười phương Như Lai Nương tâm
chú nầy mà hóa giải tất cả khổ trong bát nạn, tam đồ.
Mười phương Như Lai Theo tâm chú nầy mà phụng sự thiện
tri thức trong mười phương, cúng dường như ý, được suy
tôn là bậc pháp vương. Mười phương Như Lai Hành tâm chú
nầy mà thu phục được nhân tâm, khiến cho hàng Tiểu thừa
nghe tạng bí mật không sanh tâm kinh sợ. Mười phương Như
Lai Tụng tâm chú nầy mà được thành bậc vô thượng Bồ
đề và vô thượng Niết bàn. Mười phương Như Lai Truyền
tâm chú nầy mà sau khi diệt độ, phó chúc Phật pháp cữu
trụ và truyền trì giới luật được thanh tịnh. A Nan ! Sự
lợi ích của Thủ Lăng Nghiêm tâm chú, nếu Như Lai nói từ
sáng đến tối liên tục không ngừng, và ngôn từ không trùng
điệp, nói mãi nói hoài trải qua số kiếp như cát sông Hằng
cũng không sao hết được. Vì vậy chú nầy còn được gọi
là Như Lai Đảnh.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Hào
quang được tượng trưng cho trí tuệ, cho nên đã là Phật
thì Phật nào cũng có hào quang và kinh điển rải rác đề
cập việc Phật sử dụng hào quang. Vì không có hào quang đồng
nghĩa với không trí tuệ. Mà không có trí tuệ đồng nghĩa
với chưa được Bồ đề, thì không là Phật được.
Lúc
ông A Nan sắp sa ngã trước sức cám dỗ của Ma Đăng Già
nữ là lúc vô minh phát triển thế lực hoành hành. Nhằm soi
thủng màn đen vô minh, đức Phật hiện hào quang để nói
thần chú. Sự kiện đó có ý ngầm bảo cho đại chúng biết:
"Gặp lúc như vậy cần sử dụng đến trí tuệ". Hãy đem
trí tuệ mà công phá vô minh. Hãy phóng hào quang để xé tan
màn u tối.
Thật
tánh của vô minh vốn là Phật tánh, cho nên vô minh chỉ là
một Huyễn Pháp. Vì vậy, cho nên Như Lai chỉ cần hiện ra
vị Huyễn Phật nói Huyễn Chú là đã diệt được Vô Minh
Như Huyễn của ông A Nan rồi ! Thần Kim Cang mật tích đông
như số cát của mười sông Hằng bảo hộ thần chú Thủ
Lăng Nghiêm. Đó là vận dụng văn tự ngữ ngôn để làm chỗ
nương tựa tâm hồn, để an lòng những ai muốn phát tâm tu
hành đi theo con đường Mật Giáo. Chứ sự thật, một chân
lý hiển nhiên, người trì chú tu tập Thủ Lăng Nghiêm định
thì sẽ tự tại an nhiên bất động tựa hồ như có vô số
Kim Cang thần bảo hộ đầy khắp hư không. Vì các tai họa
không có lý do bộc khởi, mọi đau khổ không còn dữ kiện
phát sanh.
Các
bậc tiền bối như ngài Đơn Hà, ngài Trường Thủy v.v…
cho rằng Thủ Lăng Nghiêm chú chỉ có tám câu, kể từ câu
420 về sau:
420
- Án
421
- A na lệ
422
- Tỳ xá đề
423
- Bệ ra bạt xà ra đà rị
424
- Bàn đà bàn đà nể
425
- Bạt xà ra báng ni phấn
426
- Hổ hồng độ rô hung phấn
427
- Ta bà ha
Còn
lại 419 câu về trước, được xem là mật ngữ của chư Phật,
mỗi chữ mỗi câu hàm nhiều ý nghĩa, cho nên xưa nay vấn
đề nguyên âm, các dịch giả không một người nào dịch.
Có lẽ đó cũng là cách áp dụng nguyên tắc "ngũ chủng bất
phiên", của ngài Huyền Trang đề xuất:
1/-
Trang trọng bất phiên
2/-
Đa hàm bất phiên
3/-
Bí mật bất phiên
4/-
Thuận cổ bất phiên
5/-
Thử phương vô bất phiên
Trì
Thủ Lăng Nghiêm chú, điều quan trọng là còn phải sống trong
môi trường Thủ Lăng Nghiêm định thì hiệu quả giải thoát
giác ngộ mới phát huy cao. Nếu xa rời Thủ Lăng Nghiêm định,
chỉ chuyên trì tụng bằng âm thanh, văn tự, thêm vào đó
vọng tâm tham muốn "Linh thiên hiệu nghiệm…" thì có thể
phản tác dụng gây điều nguy hại không lường trước được.
Hành giả nên lưu ý quan tâm !
Sự
thành tựu hiệu quả lớn lao của Thủ Lăng Nghiêm chú, các
đức Như Lai không phải chỉ có Tụng. Nói cách khác là đối
với Thủ Lăng Nghiêm ngoài cách Tụng, các đức Như Lai còn:
Nhân.
Nắm. Cởi. Ngậm. Giữ. Nương. Theo. Hành. Truyền trong mọi
cơ hội mọi môi trường qua cuộc sống của mình. Do vậy,
mà Phật nói:
"Các
đức Như Lai được vô thượng Bồ đề và Đại Niết bàn,
du hí thần thông tự tại ở khắp mười phương".
III
- SỰ LỢI ÍCH CỦA THỦ LĂNG NGHIÊM CHÚ VỚI MỌI GIAI TẦNG
XÃ HỘI [^]
Phật
dạy: A Nan ! Nay tôi vì ông mà tuyên nói thần chú Thủ Lăng
Nghiêm và cũng nhằm giúp cho thế nhân ở đời sau có thể
tu học để được nhiều lợi ích.
A Nan
! Chú Thủ Lăng Nghiêm nếu ai chuyên tâm trì tụng đúng như
pháp mà tu hành thì kết quả thành tựu Thủ Lăng Nghiêm tam
muội, bấy giờ vào lửa, lửa không đốt cháy, vào nước,
nước không nhận chìm được, các thứ độc hại không hại
được. Quỉ thần, tịnh mị, ác ma không khuấy phá được.
Những người thiện nam, thiện nữ hoặc biên chép hoặc đọc
tụng, hoặc truyền bá Thủ Lăng Nghiêm chú sẽ được phước
đức vô biên, hiện kiếp không sa đọa vào cảnh nghèo nàn
hạ tiện. Những người đó dù không có cơ hội làm phước,
nhưng mười phương Như Lai có bao nhiêu phước đều cho họ
hết và người đó được cùng chư Phật ở chung. Nếu là
người nữ muốn cầu có con trai sẽ sanh con trai phước đức
trí tuệ, muốn cầu con gái thì được con gái tướng hảo
đoan chánh mọi người kính quí, cho đến người cầu trường
thọ, cầu phước báo, cầu sắc lực mạnh khỏe, cầu được
bình an… đều được toại nguyện.
Ở
một quốc độ chẳng may có nhiều khổ nạn: Dịch tể, mất
mùa, giặc giã, đao binh, hạn hán, thủy tai mà vua quan cùng
dân chúng trong nước một lòng tin kính, biên chép, trì tụng,
lễ bái, tôn trọng, đeo mang, truyền bá tu hành, thì thiên
long bát bộ, các thiện thần hoan hỉ, khiến mọi khổ nạn
vượt qua, mưa thuận gió hòa, chốn chốn thái bình, người
người no ấm.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Nhằm
khuyến khích cho mọi căn cơ cho nhiều hạng người trong xã
hội phát tâm tu học theo kinh Thủ Lăng Nghiêm mà đức Phật
vận dụng lối thuyết pháp: "Thế giới tất đàn", cho nên
đọc đoạn kinh văn trên, nghe qua ai cũng thấy pháp môn tu
tập nầy có đáp ứng nguyện vọng của mình đang mong muốn.
Và sự thật, nếu ai đó nghe qua, rồi vì cái lợi trước
mắt dựa trên ngữ ngôn văn tự ấy mà tu thì vẫn có được
lợi, nhưng cái lợi đó hẳn không phải là cái lợi cứu
cánh lâu dài.
Nếu
chỉ sao chép, tôn thờ, ấn tống truyền bá, đọc tụng và
đeo mang, mà cầu gì được nấy, diệt họa trừ tai cho cá
nhân, cho xã hội một cách quá dễ dàng thì thử hỏi tám
vạn bốn ngàn pháp môn khác, đức Phật bỏ cả cuộc đời
khổ công dạy bảo để làm gì ? Nền giáo lý Nhân quả trong
nếp sống tu hành của người đệ tử Phật, không còn giá
trị nữa hay sao ?
Người
học Phật "Lãm ngũ thời bát giáo để làm kỷ cương kinh
luật luận… chiếu thất đại tứ khoa biết thế nào là
khai hợp văn tư tu" sẽ được có cái lợi lớn trong sự nhận
thức kinh điển như giáo lý của đoạn kinh nầy.
IV
- HỎI VỀ CẤP BẬC VÀ ĐỊA VỊ TRÊN ĐƯỜNG TU CHỨNG [^]
Bạch
Thế Tôn, ông A Nan thưa, từ lâu chúng tôi ngu độn, chỉ ham
học rộng nghe nhiều mà chưa có ý chí mong cầu giải thoát
phiền não trần lao vượt ra hữu lậu. Nhờ lòng từ bi rộng
lớn của Phật khai thông giác đạo chỉ nẻo Niết bàn khiến
cho chúng tôi được lợi ích lớn lao.
Nay
chúng tôi cầu xin Phật chỉ dạy cho chúng tôi về cấp bậc
và địa vị trên đường tu chứng:
Càn
Tuệ địa là hạng người thế nào ?
Trong
44 tâm, đạo hạnh phải như thế nào thì được gọi là những
Bồ tát đăng địa ?
Đẳng
giác Bồ tát là người thế nào ?
V -
ĐỨC PHẬT CHỈ RÕ HAI NGUYÊN NHÂN ĐIÊN ĐẢO VỌNG CHẤP VỀ
THẾ GIỚI VÀ CHÚNG SANH, TRƯỚC KHI GIẢI ĐÁP VẤN ĐỀ ĐỊA
VỊ TRÊN ĐƯỜNG TU CHỨNG [^]
Đức
Phật dạy: A Nan ! Ông nên biết: Diệu Tánh Viên Minh rời các
danh tướng, xưa nay không có thế giới và chúng sanh. Nhân
vọng mà thấy có sanh; nhân sanh mà thấy có diệt; sanh diệt
gọi là vọng; diệt vọng gọi là chân. Đó là hai cách chuyển
y thành tựu vô thượng Bồ đề và Đại Niết bàn của chư
Phật.
A Nan
! Nay ông muốn tu tam ma đề để thẳng đến Niết bàn Phật,
trước hết ông phải nhận biết cho rõ hai nguyên nhân điên
đảo về thế giới và chúng sanh. Chừng nào hết điên đảo
thì ngay nơi đó là tam ma đề vậy.
Thế
nào là điên đảo về chúng sanh ?
Nầy
A Nan ! Tâm chúng sanh bản tánh vốn Minh. Tánh minh ấy viên
mãn khắp cùng. Nhân tánh minh ấy mà vọng, nhận cho là có
tánh. Do đó mà vọng kiến sanh ra. Đã có vọng kiến thì những
pháp vốn không, trở thành pháp có. Những pháp được cho
là có, truy tìm nguyên nhân của nó vốn phi nhân. Vì thế,
tìm xét nguyên nhân thì hoàn toàn không có gốc nguồn. Tánh
vọng kiến năng trụ, tướng cảnh giới sở trụ cả hai đều
là pháp vô trụ. Dựa trên pháp vốn vô trụ ấy mà kiến
lập thế giới và chúng sanh.
Vì
mê không nhận được tánh viên minh vốn sẵn có nên sanh ra
hư vọng. Tánh hư vọng không có tự thể, không chỗ gá nương.
Do vậy, cho nên móng ý trở về chân làm cho chân hóa ra vọng.
Không vọng tức là chân, đừng móng ý "trở về" hay nguyện
ước mong tìm cái chân ở nơi đâu khác.
Vì
không nhận thức chân lý cho nên thế giới và chúng sanh vốn
không phải sanh cho là thật có sanh, không phải thật trụ
cho là trụ, không phải tâm cho là tâm, không phải pháp cho
là pháp. Do vậy, vọng kiến ngày một sâu rộng thêm theo quá
trình huân sanh huân trưởng, sanh diệt diệt sanh biểu hiện
qua hành động thân khẩu ý của cuộc sống con người, gọi
đó là nghiệp báo. Hễ đồng nghiệp thì cảm hợp nhau. Dị
nghiệp thì chống trái nhau, thương thì sanh nhau, ghét thì diệt
nhau. Do nhận thức sai lầm như thế, nên gọi đó là: Điên
Đảo về Chúng Sanh.
Thế
nào là điên đảo về thế giới ?
Nầy
A Nan ! Đã cho là có pháp sở hữu, có vật chất thì khái
niệm kích thước, diện tích, cự ly, qui mô… giả dối sanh
ra. Vì vậy khái niệm "không gian" được thành lập. Do phi
nhân làm nhân cho nên không thật có sở trụ và năng trụ.
Vì không có năng trụ, sở trụ nên mọi hiện tượng luôn
luôn trong quá trình vận động trong tiến trình chuyển biến,
không có sự vật nào đứng yên nguyên trạng của mình. Vì
thế mà khái niệm "Thời gian" được thành lập. Bốn phương
ba đời hòa hợp tác động lẫn nhau mà biến hóa mà hình
thành 12 loại chúng sanh trong thế giới. Vì vậy cho nên trong
thế giới nhân động có thanh, nhân thanh có sắc, nhân sắc
có hương, nhân hương có xúc, nhân xúc có vị, nhân vị có
pháp, sanh khởi hỗ tương. Do sáu thứ trần tướng ấy làm
điều kiện mà sanh khởi sáu thứ vọng tưởng rối ren kết
thành nghiệp chủng của các loài: thai sanh, noãn sanh, thấp
sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng,
phi hữu sắc phi vô sắc, phi hữu tưởng phi vô tưởng, 12
loại chúng sanh như vậy.
A Nan
! Do vì trong thế giới có tánh "hư vọng" phổ biến và thiên
nặng về "động", hòa hợp với "khí" thành 84.000 loạn tưởng,
thứ bay thứ lặn, cho nên có thứ tế bào chủng thuộc loại
mầm trứng, sanh ra các loại: cá, chim, rùa, rắn… (noãn sanh).
Do
vì trong thế giới có tánh "tập nhiễm" phổ biến và thiên
nặng về "Dục", hòa hợp với chất "nhuận" thành 84.000 loạn
tưởng thuộc giống đứng thẳng, giống xương sống nằm
ngang, cho nên có thứ tế bào chủng bọc nước phôi thai để
rồi sanh ra các loại: Người, súc… (thai sanh).
Do
vì trong thế giới có tánh "Chấp mắc" phổ biến và thiên
nặng về "cõi" (ngũ thú) hòa hợp với "khí ấm" thành 84.000
loạn tưởng ngữa nghiêng nên có thứ tế bào chủng, chất
thịt ướt, sanh ra các loài: nhung nhúc cựa quậy… (thấp
sanh).
Do
vì trong thế giới có tánh "biến dịch" phổ biến và thiên
nặng về "giả" hòa hợp với "xúc" thành 84.000 loạn tưởng
thay cũ đổi mới, cho nên có thứ tế bào chủng chất thịt
cứng, sanh ra các loài bò, bay, lột vỏ, thoát xác… (hóa sanh).
Do
vì trong thế giới có tánh "lưu ngại" phổ biến và thiên
nặng về "chướng" hòa hợp với "dính mắc" thành 84.000 loạn
tưởng vừa "tinh vừa diệu" cho nên có thứ tế bào chủng
sắc tướng sanh ra các loại thần: Hưu trung, cửu trung… (hưu
trung là thiện thần, cửu trung thuộc ác thần) (hữu sắc).
Do
vì trong thế giới có tánh "tiêu tán" phổ biến và thiên nặng
về "hoặc" (lầm lẫn) hòa hớp với "Ám" (ngu độn) thành
84.000 loạn tưởng thầm ẩn, cho nên có thứ tế bào chủng
vô sắc, sanh ra loại thần kỳ quỉ m?không tán tiêu trầm…
(vô sắc).
Do
vì trong thế giới có tánh "võng tượng" phổ biến và thiên
nặng về "ảnh tượng" hòa hợp với "ký ức" thành 84.000
loạn tưởng tiềm tàng cho nên có thứ tế bào chủng hữu
tưởng, sanh ra các loại thần, quỉ, linh ứng (hữu tưởng).
Do
vì trong thế giới có tánh "ngu độn" phổ biến và thiên nặng
về "si" hòa hợp với "ngoan cố" thành 84.000 loạn tưởng khô
khan cho nên có thứ tế bào chủng vô tưởng hóa thành các
loại: đất, đá, cây, kim loại… (vô tưởng).
Do
vì trong thế giới có tánh "bãi bui" phổ biến, thiên nặng
về "dối trá" hòa hợp với "nhiễm" thành 84.000 loạn tưởng
nhân y cho nên có thứ tế bào chủng không phải sắc mà sắc
sanh ra loài thủy mẫu dùng tôm làm mắt… (phi hữu sắc).
Do
vì trong thế giới có tánh "hấp dẫn" phổ biến thiên nặng
về "tánh" (dị tánh tương hấp, đồng tánh tương cự) hòa
hợp với "chú" (chú thuật) thành 84.000 loạn tưởng hú gọi
cho nên có thứ tế bào chủng phi vô sắc mà vô sắc sanh ra
loại trù ếm bùa chú… (phi vô sắc).
Do
vì trong thế giới có tánh "hợp vọng" phổ biến thiên nặng
về "lừa đảo" hòa hợp với "dị" (loài khác) thành 84.000
loạn tưởng tráo trở cho nên có thứ tế bào chủng phi hữu
tưởng mà có tưởng sanh ra loài bồ lô… (loài sanh rồi do
một trợ duyên khác để bảo tồn và trưởng thành. Chẳng
hạn như loài vịt xiêm đẻ ra không ấp, nhờ giống khác
ấp trứng để nở con và nuôi dưỡng, giống rùa đẻ trứng
lấp đất bỏ đi… Các bản dịch xưa nói "bồ lô" là con
tò vò, khi con còn nhỏ chưa bay đi kiếm ăn được, chớ không
phải những con sâu đó hóa ra tò vò như người xưa lầm hiểu).
Do
vì trong thế giới có tánh "oán hại" phổ biến và thiên nặng
về "sát" hòa hợp với "quái" (quái dị) thành 84.000 loạn
tưởng ăn thịt cha mẹ cho nên có thứ tế bào chủng phi vô
tưởng mà vô tưởng sanh ra loại chim thổ kiêu ấp đất cục,
chim phá kính ấp trái độc làm con… con lớn lên ăn thịt
cha mẹ…
A Nan
! Đó gọi là 12 loại chúng sanh xoay chuyển trôi lăn trong ba
cõi. Sự luân hồi lên xuống như vậy chẳng khác nào dụi
con mắt thấy hoa đốm nhiều thứ phát sanh ra. Chân tâm của
con người vốn mầu nhiệm trong sáng tròn đầy, một khi vô
minh điên đảo thì đầy dẫy những vọng tưởng rối ren,
giả dối sanh ra, cũng như vậy.
Nay
ông muốn tu chứng tam ma đề chư Phật, Như Lai sẽ chỉ dạy
cho ông về "ba món tiệm thứ", ông hãy y đó mà tu hành để
diệt trừ cho hết mọi nguyên nhân điên đảo. Ví như cái
bình pha lê muốn đựng cam lồ thì cần phải rửa sạch hết
chất bẩn, chất độc vậy.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Vấn
đề "thế giới" và "chúng sanh" nhìn bên mặt chân thì tất
cả là một thể nhiệm mầu, trong sáng, bình đẳng như như.
Nói xa rời tất cả danh tướng, xưa nay không có tên gọi.
Đề
cập đến "thế giới" và "chúng sanh" là do con người đã
đem cái nhìn chủ quan của mình đề nhìn hiện tượng vạn
pháp ở mặt "sanh diệt" của chúng.
Do
vì vọng kiến cho nên thấy hiện tượng có thật sanh. Đã
thấy có thật sanh thì cũng chấp nhận rằng có thật diệt.
Thực chất của hiện tượng vạn pháp, sanh không có thật
sanh và diệt cũng không thật diệt. Cho nên sanh diệt gọi
là vọng. Nhưng vọng không thật vọng, vì vọng không có thật
tánh. Cho nên mọi chúng sanh đều có khả năng diệt vọng.
Diệt hết vọng thì gọi đó là chơn. Vì vậy: chơn không
ngoài vọng. Biết vọng không theo vọng ngay nơi đó đã chơn
rồi. Người học đạo không cầu chơn ở cảnh giới xa xăm
nào khác.
Hai
pháp chuyển y: chuyển phiền não thành Bồ đề, chuyển sanh
tử thành Niết bàn, đức Thế tôn ta thực hiện thành công
ngay trên cõi đời nầy mà không tốn một tí hơi khẩn nguyện,
không phí sức dù một lạy để quì lạy van xin.
Đến
như "tam ma đề" cũng chẳng phải là những gì siêu thực,
viễn vông. Chừng nào "điên đảo" không sanh thì ngay nơi đó
là "tam ma đề" rồi vậy !
"Thế"
là thời gian. "Giới" là không gian. Thấy thế giới là do vọng
kiến phân biệt của con người nương gá vào các pháp hiện
tượng "duyên sanh như huyễn" ấy. Đã đánh giá hiện tượng
vạn pháp là thật thì cũng chấp nhận kích thước, ngắn
dài, diện tích rộng hẹp, qui mô cao thấp… của vạn pháp
là thật. Do vậy, mà khái niệm "không gian" được lập ra.
Đã nhận thức rằng hiện tượng vạn pháp là thật thì cũng
nhận thức rằng chúng luôn luôn vận động theo quá trình:
sanh, trụ, dị, diệt, sanh, lão, bịnh, tử, thành, trụ, hoại,
không. Do vậy, khái niệm "thời gian" được con người xác
lập.
Thời
gian có 3. Không gian có 4. Ba tác động vào bốn: 3 x 4 = 12.
Bốn tác động vào ba: 4 x 3 = 12. Do vậy, Như Lai nói: Nhận
thức "thế giới" bên mặt "sanh diệt" của hiện tượng vạn
pháp chỉ là cái nhận thức Điên Đảo về thế giới mà
thôi !
Mười
hai loại chúng sanh trong thế giới cũng chỉ là những hiện
tượng "Duyên sanh như huyễn". Duyên thì trùng trùng vô tận.
Thế giới thì vô thỉ vô chung.
Hoa
đốm trùng điệp trong hư không, đối với người bệnh nhặm
mắt họ vẫn thấy là có thật. Hoa đốm sẽ không là gì
hết, chừng nào con mắt ai đó trong sáng không còn bệnh nhặm
lòa.