TẬP
02
Thay
lời tựa
Chương
04
Phật
thuyết minh tánh của các đại vốn không ngăn ngại gì nhau;
nhằm khai thị chân lý: Sắc, không, không sắc
-
Phật chỉ nguồn gốc vọng tưởng của hiện tượng tâm lý
-
Khai thị nguồn gốc duyên khởi của hiện tượng vật chất
-
Phật dạy rõ về ba tướng tương tục: Thế giới chúng sanh
và nghiệp lực
Thế
giới tương tục
Chúng
sanh tương tục
Nghiệp
quả tương tục
Tóm
kết: Giác không sanh mê, thất đại dung được nhau mà không
có gì trở ngại
Giác
không sanh mê
Lại
nói rõ vấn đề các đại có thể dung nhau
Khiển
trách chúng sanh bội giác hiệp trần và khai thị phương pháp
bội trần hiệp giác
Bội
giác hiệp trần
Bội
trần hiệp giác
Phật
khai thị Như Lai tàng rời tất cả tướng là tất cả pháp
Như
Lai tàng rời tất cả tướng
Như
Lai tàng là tất cả pháp
Dùng
Phật nhãn nhìn hiện tượng vạn pháp không có vấn đề là
hay không là trong Như Lai tàng bản thể chơn như mầu nhiệm.
Mê
vọng không có nguyên nhân hết mê là Bồ Đề (giác)
Lại
rơi vào nhận thức đối đãi của thuyết nhân duyên và tự
nhiên.
Phật
chỉ hai nghĩa quyết định.
-
Ông A Nan trần thuật chỗ thâm ngộ và thỉnh vấn tu giải
thoát.
Nghĩa
quyết định thứ nhất
Sự
tác dụng của sắc tâm vô thỉ
Khai
thị về năm thứ ô trược
Dựa
vào nhân tu mà suy biết quả sở chứng
Nghĩa
quyết định thứ hai
Trắc
nghiệm sự điên đảo ở căn hay ở trần để tìm mối manh
mở gút
Căn
cảnh là nguồn gốc của sự buộc ràng. Tháo gỡ buộc ràng
hãy tìm một căn thù thắng nhất
Sắc,
không tác dụng lẫn nhau, phản ánh ra căn trần thành năng
sở
Vọng
năng sanh sở làm hạn chế tánh giác minh.
Lục
căn toàn khuyết tri kiến vẫn không thêm bớt
Phật
bảo đánh chuông để nghiệm xét tánh nghe của nhĩ căn là
thường trú
Ông
A Nan nghi ngờ kiến văn giác tri không có tự thể
Khai
thị tánh nghe của nhĩ căn là thường trú
Chương
05
Hiểu
biết chồng thêm hiểu biết là gốc rễ của vô minh. Hiểu
biết vạn pháp đúng như thật là nhân tố của Niết bàn
hiện tại.
Ông
A Nan lại hỏi vấn đề mở gút
Khai
thị chân lý vốn không hai và Phật Phật đạo đồng
Căn
trần cùng một gốc. Cột mở không hai nguồn
Phật
tóm lược ý thú của những đoạn kinh trên qua bài văn trùng
tụng
Một
cái khăn mà sáu lần cột thì thành sáu gút. Mở hết sáu
gút một cũng không còn.
Nguyên
do của một sáu dị đồng
Cột
gút có thứ lớp thì mở phải có trước sau
Quả
vị có thấp cao, giải thoát giống nhau không khác mấy. Căn
trần thức giới thất đại đều là dữ kiện chứng viên
thông.
Phật
hỏi đại chúng về nhân duyên ngộ đạo, và dữ kiện chứng
đắc viên thông.
1.
Do thanh trần được viên thông
2.
Do sắc trần được viên thông
3.
Do hương trần được viên thông
4.
Do vị trần được viên thông
5.
Do xúc trần được viên thông
6.
Do pháp trần được viên thông
7.
Do nhãn căn được viên thông
8.
Do tỷ căn được viên thông
9.
Do thiệt căn được viên thông
10.
Do thân căn được viên thông
11.
Do ý căn được viên thông
12.
Do nhãn thức được viên thông
13.
Do nhĩ thức được viên thông
14.
Do tỷ thức được viên thông
15.
Do thiệt thức được viên thông
16.
Do thân thức được viên thông
17.
Do ý thức được viên thông
18.
Do hỏa đại được viên thông
19.
Do địa đại được viên thông
20.
Do thủy đại được viên thông
21.
Do phong đại được viên thông
22.
Do không đại được viên thông
23.
Do thức đại được viên thông
24.
Do kiến đại được viên thông
Chương
06
Do
nhĩ căn được viên thông
Bồ
Tát Quán Thế Âm trần thuật pháp tu chứng của mình
Do
từ tâm Bồ Tát Quán Thế Âm hiện 32 ứng thân
Do
bi tâm Bồ Tát Quán Thế Âm thành tựu 14 đức vô úy
Quán
Thế Âm có 4 đức nhiệm mầu không thể nghĩ bàn
Phật
bảo Văn thù so sánh chọn căn ưu việt nhất
-
So sánh sự ưu khuyết của sáu trần, năm căn, sáu thức và
bảy đại
Nhược
điểm của sáu trần
Nhược
điểm của năm căn
Nhược
điểm của sáu thức
Nhược
điểm của bảy đại
Sự
ưu việt của nhĩ căn
-
Sự chuyển biến tốt sau khi nghe và nhận thức tánh ưu việt
của nhĩ căn
Phật
khai thị về ba môn vô lậu học và bốn điều cơ bản xuất
trần
Ba
môn vô lậu học
Bốn
điều cơ bản xuất trần
Đoạn
tâm dâm dục
Trừ
tâm sát sanh
Dứt
tâm thâu đạo
Bỏ
tâm vọng ngữ
THAY
LỜI TỰA
Vấn
đề SẮC KHÔNG, KHÔNG SẮC trong nền giáo lý của đạo Phật
là một hệ tư tưởng siêu tuyệt, thăm thẳm chiều sâu và
chất ngất chiều cao. Lý giải vấn đề được sáng tỏ,
thể nhập vấn đề một cách chính xác và đích thực bằng
tư duy, bằng trí tuệ của mình, người đệ tử Phật, bấy
giờ mới hạ thủ công phu, mới có thể khởi hành chuyến
đi, trên con đường Bồ đề, Niết bàn vô thượng mà đích
đến chính mình đã biết rõ rồi !
SẮC
chẳng khác KHÔNG, KHÔNG chẳng khác SẮC. SẮC là KHÔNG, KHÔNG
là SẮC, dựa trên sự phân chia liệt loại của tiền bối
cổ kim thì nguồn giáo lý đó thuộc hệ tư tưởng Bát Nhã
của Đại thừa. Nó là then chốt trong hệ tư tưởng Bát Nhã
của Đại thừa. Nó là then chốt của toàn bộ giáo lý Đại
thừa liễu nghĩa của Phật giáo. Trong kinh Bát Nhã Phật dạy:
Chừng nào chưa lý giải được vấn đề SẮC KHÔNG, KHÔNG
SẮC của Bát Nhã, chưa đủ khả năng tư duy quán chiếu Bát
Nhã, chưa thể nhập THỰC TƯỚNG BÁT NHÃ thì ngày thành Phật
còn hun hút xa xăm.
Ở
kinh Thủ Lăng Nghiêm nầy Phật thuyết minh: TÁNH CỦA CÁC ĐẠI
VỐN KHÔNG NGĂN NGẠI GÌ NHAU, NHẰM KHAI THỊ CHƠN LÝ SẮC KHÔNG,
KHÔNG SẮC. Đọc Thủ Lăng Nghiêm Kinh Trực Chỉ Đề Cương
tập hai nầy, lần lượt độc giả sẽ lý giải vững vàng
về "chơn lý sắc không, không sắc" ấy. Chẳng những thế,
độc giả còn có thể nắm vững vấn đề "có" "không" "thật"
"giả" của ĐẤT, NƯỚC, LỬA, GIÓ của HƯ KHÔNG, của CÁI
THẤY và của thức TÁNH PHÂN BIỆT của vạn loại hữu tình
và vô tình, qua giáo lý NHƯ LAI TÀNG duyên khởi.
ĐỊA
THỦY, HỎA, PHONG, KHÔNG, KIẾN, THỨC gọi chung qua cái từ
"thất đại", chúng là những hiện tượng biểu hiện từ
bản thể Như Lai tàng. Bản thể duyên khởi sanh ra hiện tượng,
hiện tượng duyên diệt quy về bản thể. Dù duyên khởi sanh
ra, hay duyên diệt quy về, tánh chất của thất đại vẫn
là "bất biến". Dù "bất biến" nhưng thường biểu hiện qua
trạng thái "tùy duyên". Dù có "tùy duyên" nhưng "tùy duyên"
trong chu trình "bất biến".
Nhận
thức rõ vấn đề SẮC KHÔNG qua chân lý: "TÁNH SẮC CHÂN KHÔNG,
TÁNH KHÔNG CHÂN SẮC, THANH TỊNH BẢN NHIÊN CHÂU BIẾN PHÁP
GIỚI, TÙY CHÚNG SANH TÂM, ỨNG SỞ TRI LƯỢNG TUẦN NGHIỆP
PHÁP HIỆN"… của Kinh Thủ Lăng Nghiêm, độc giả sẽ cảm
nhận cái ý vị thâm trầm của bài tụng:
"Chơn
tánh hữu vi không
Duyên
sanh cố như huyễn
Vô
vi vô khởi diệt
Bất
thật hư không hoa"
Nghĩa
là:
Cái
tánh thực của các pháp hữu vi vốn là không. Chúng là pháp
duyên sanh, cho nên như huyễn, không thật. Pháp vô vi thực
lý cũng chẳng có gì. Nó chỉ có danh mà không có thật, như
hoa đốm giữa không trung.
Quán
triệt chân lý ấy, thì vấn đề SẮC KHÔNG, KHÔNG SẮC qua
nhãn quan của người đạt đạo trở thành trò hí luận bất
tương can.
Viết
tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT
Ngày
10 tháng 4 năm 1993
THÍCH
TỪ THÔNG
Pháp
Sư