Tập
II
CHƯƠNG
THỨ SÁU
Do
nhĩ căn được viên thông
Bồ
Tát Quán Thế Âm trần thuật pháp tu chứng của mình
Do
từ tâm Bồ Tát Quán Thế Âm hiện 32 ứng thân
Do
bi tâm Bồ Tát Quán Thế Âm thành tựu 14 đức vô úy
Quán
Thế Âm có 4 đức nhiệm mầu không thể nghĩ bàn
Phật
bảo Văn thù so sánh chọn căn ưu việt nhất
-
So sánh sự ưu khuyết của sáu trần, năm căn, sáu thức và
bảy đại
Nhược
điểm của sáu trần
Nhược
điểm của năm căn
Nhược
điểm của sáu thức
Nhược
điểm của bảy đại
Sự
ưu việt của nhĩ căn
-
Sự chuyển biến tốt sau khi nghe và nhận thức tánh ưu việt
của nhĩ căn
Phật
khai thị về ba môn vô lậu học và bốn điều cơ bản xuất
trần
Ba
môn vô lậu học
Bốn
điều cơ bản xuất trần
Đoạn
tâm dâm dục
Trừ
tâm sát sanh
Dứt
tâm thâu đạo
Bỏ
tâm vọng ngữ
DO
NHĨ CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
BỔ
TÁT QUÁN THẾ ÂM TRẦN THUẬT PHÁP TU CHỨNG CỦA MÌNH[^]
Khi
bấy giờ Bồ Tát Quán Thế Âm đứng dậy cung kính chấp tay
thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi nhớ hằng hà sa kiếp trước, có
đức Phật ra đời hiệu là Quán Thế Âm và tôi đã phát
Bồ Đề tâm thời ấy. Đức Phật Quán Thế Âm dạy tôi phương
pháp nghe, suy nghĩ và tu để được thể nhập tam ma đề (chánh
định).
Bạch
Thế Tôn ! Trước hết tôi sử dụng tánh nghe: Nghe động và
nghe tĩnh, rồi tôi xóa đi ý niệm động tĩnh ấy; từ đó
sức tịch tĩnh tăng dần, tôi dứt được năng văn và sở
văn. Sức tịch tĩnh không dừng ở đó bấy giờ giác tánh
tôi lại hiển hiện ra. Tôi tiếp tục tư duy: Dù là giác tánh
nhưng tánh "năng giác", "sở giác" hãy còn, tôi bèn xóa đi
về ý niệm giác; bấy giờ tâm tánh tôi rỗng rang lặng lẽ
như hư không. Tôi lại diệt đi cái giác tri "như hư không"
ấy. Cuối cùng tôi diệt cả cái khái niệm "diệt". Khi tôi
diệt hết khái niệm vi tế về "diệt sanh, sanh diệt" bỗng
dưng tôi nhận thấy toàn thể pháp giới trong mười phương
chỉ còn là cảnh giới "bất nhị" tịch diệt hiện tiền.
Tâm tánh của tôi viên mãn khắp giáp mười phương vượt
hẳn tầm nhận thức thường tình của thế gian, tôi được
hai món thù thắng: Một là tâm tôi hợp với bản giác nhiệm
mầu của mười phương Như Lai, đồng một từ tâm hướng
hạ cứu độ chúng sanh. Hai là hợp với tâm của lục đạo
chúng sanh trong mười phương, đồng một bi tâm hướng thượng
cầu vô thượng Bồ Đề.
DO
TỪ TÂM BỔ TÁT QUÁN THẾ ÂM HIỆN 32 ỨNG THÂN [^]
Bạch
Thế Tôn ! Do tôi cúng dường Quán Thế Âm Như Lai, được
Phật truyền thụ cho tôi như huyễn văn huân văn tu kim cang
tam muội nên thân tôi thành tựu 32 ứng thân vào các cõi nước.
Bạch
Thế Tôn !
1.
Nếu các Bồ Tát vào tam mà đề tiến tu pháp vô lậu, thắng
giải viên mãn, tôi hiện thân Phật vì họ mà thuyết pháp
khiến cho được giải thoát.
2.
Nếu các hàng hữu học tu pháp tịch tĩnh diệu minh viên mãn,
tôi hiện thân Độc Giác vì họ mà thuyết pháp.
3.
Nếu các hàng hữu học đoạn 12 nhơn duyên, phát ra thắng
tánh viên mãn, tôi hiện thân Duyên Giác vì họ mà thuyết
pháp.
4.
Nếu các hàng hữu học được pháp không của tứ đế, tu
đạo đế, thể nhập diệt đế, thắng tánh viên mãn, tôi
hiện thân Thanh Văn vì họ mà thuyết pháp.
5.
Nếu chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, không vướng vào ngũ dục,
muốn thân được thanh tịnh, tôi hiện thân Phạm Vương vì
họ mà thuyết pháp.
6.
Nếu chúng sanh muốn làm thiên chủ thống lãnh chư thiên, tôi
hiện thân Đế Thích vì họ mà thuyết pháp.
7.
Nếu chúng sanh muốn thân được tự tại dạo khắp mười
phương, tôi hiện thân Tự Tại Thiên vì họ mà thuyết pháp.
8.
Nếu chúng sanh muốn thân được tự tại, bay đi trên hư không,
tôi hiện thân Đại Tự Tại Thiên vì họ mà thuyết pháp.
9.
Nếu có chúng sanh thích thống lãnh quỷ thần cứu quốc hộ
dân, tôi hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, vì họ mà thuyết
pháp.
10.
Nếu chúng sanh muốn thống lãnh quỷ thần, cứu giúp cõi nước,
tôi hiện thân Thiên Đại Tướng Quân vì họ mà thuyết pháp.
11.
Nếu các chúng sanh muốn sanh ở thiên cung, tôi hiện thân Thái
tử, con Tứ Thiên Vương vì họ mà thuyết pháp.
12.
Nếu các chúng sanh muốn làm vua cõi người, tôi hiện thân
Vua vì họ mà thuyết pháp.
13.
Nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đình danh tiếng, thế
gian kính nhường, tôi hiện thân Trưởng giả vì họ mà thuyết
pháp.
14.
Nếu các chúng sanh thích luận lời hay, giữ mình trong sạch
tôi hiện thân Cư sĩ vì họ mà thuyết pháp.
15.
Nếu các chúng sanh muốn kinh bang tế thế, tôi hiện thân Tể
quan vì họ mà thuyết pháp.
16.
Nếu các chúng sanh thích chú thuật toán số, thu nhiếp nhân
tâm, tôi hiện thân Bà La Môn vì họ mà thuyết pháp.
17.
Nếu các thiện nam muốn xuất gia tu học, tôi hiện thân tỳ
khưu vì họ mà thuyết pháp.
18.
Nếu có người tín nữ muốn xuất gia, tôi hiện thân tỳ
khưu ni vì họ mà thuyết pháp.
19.
Nếu có người thiện nam muốn giữ giới tu hành, tôi hiện
thân ưu bà tắc vì họ mà thuyết pháp.
20.
Nếu có người tín nữ, muốn thọ năm giới tập tu, tôi hiện
thân ưu bà di vì họ mà thuyết pháp.
21.
Nếu có người nữ thích đường chánh trị phụ quốc an bang
tôi hiện thân mệnh phụ phu nhân, thân nữ chúa vì họ mà
thuyết pháp.
22.
Nếu có chúng sanh nam căn chưa ô nhiễm, tôi hiện thân đồng
nam vì họ mà thuyết pháp.
23.
Nếu có người nữ thích thân xử nữ, tôi hiện thân đồng
nữ vì họ mà thuyết pháp.
24.
Nếu có hàng chư thiên muốn ra khỏi loài trời, tôi hiện
thân Chư Thiên vì họ mà thuyết pháp.
25.
Nếu có rồng muốn ra khỏi loài rồng, tôi hiện thân rồng
vì họ mà thuyết pháp.
26.
Nếu có dược xoa muốn ra khỏi loài mình, tôi hiện thân dược
xoa vì họ mà thuyết pháp.
27.
Nếu có càn thát bà muốn thoát khỏi loài mình, tôi hiện
thân càn thát bà vì họ mà thuyết pháp.
28.
Nếu có a tu la muốn ra khỏi loài mình, tôi hiện thân a tu
la vì họ mà thuyết pháp.
29.
Nếu có khẩn na la muốn thoát khỏi loài mình, tôi hiện thân
khẩn na la vì họ mà thuyết pháp.
30.
Nếu có ma hầu la già muốn thoát khỏi loài mình, tôi hiện
thân ma hầu la già vì họ mà thuyết pháp.
31.
Nếu có chúng sanh thích làm người, tôi hiện thân người
vì họ mà thuyết pháp.
32.
Nếu có loài phi nhân hoặc có hình hoặc không hình, hoặc
có tưởng hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài mình,
tôi hiện thân như họ vì họ mà thuyết pháp.
Đó
là 32 ứng thân nhiệm mầu có thể hiện vào các cõi nước
trong mười phương, do kết quả của văn huân văn tu tam muội
mà thành tựu sức nhiệm mầu "vô tác" như vậy.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Ở
đoạn kinh trước, Phật gạn hỏi đại chúng về nguyên nhân
của sự đạt đạo được viên thông, thứ lớp trước sau
có 25 vị Thánh đệ tử, mỗi người đều trình bày cái nguyên
nhân chứng đắc của mình.
Như
chúng ta đã biết, 6 căn, 6 trần, 6 thức và 7 đại đều là
dữ kiện tạo nên Thánh quả chứng đắc viên thông. Nhĩ căn
viên thônglẽ ra phải được theo thứ lớp mà trình bày ở
trong nhóm người dựa trên 6 căn được viên thông ở đoạn
kinh trước. Nhưng ở đây trái lại, nhĩ căn viên thông được
Bồ Tát Quán Thế Âm trình bày sau rốt. Đó không phải là
một sự kiện bình thường càng không nên hiểu đó là sự
ngẫu nhiên hay do sơ sót, mà đó là tánh chất trọng đại
của nhĩ căn, ta sẽ thấy rõ ở đoạn kinh sau.
Hằng
hà sa số kiếp trước có Phật ra đời hiệu là Quán Thế
Âm, đến thời Phật Thích Ca lại có Bồ Tát cùng hiệu Quán
Thế Âm. Điều này nhằm dạy cho mọi người đệ tử Phật
phải hiểu rằng: Cùng là nhĩ căn năng văn; cùng là âm trần
sở văn, mà người sử dụng khác nhau thì hiệu quả giải
thoát giác ngộ cũng khác nhau.
Quán
là trí quán niệm của con người.
Âm
là đối tượng nghe, là thang trần đó.
Niệm
quán âm là chỉ cho lúc trí năng quán và âm văn sở quán chưa
được thường xuyên liên tục. Khi con người vận dụng trí
năng quán và âm văn sở quán không gián đoạn, chính lúc đó
là Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân trong ta, thuyết pháp cho
ta nghe rồi đó.
Kinh
nói: Bồ Tát hiện 32 ứng thân vào các cõi nước khắp mười
phương thuyết pháp cho chúng sanh theo sở thích đáp ứng theo
yêu cầu của họ. Sự kiện này phải được hiểu rằng tất
cả chúng sanh trừ ba hạng người ác nghiệp cực trọng ở
loài địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh, còn lại tất cả mọi
hạng người từ phàm phu đến Thánh vị đều có thể được
Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân cứu độ. Nói một cách khác
là những bậc thượng căn phát tâm tu hành cầu thành Phật
quả cho đến những người hạ trí, nhơn và phi nhơn đều
có khả năng quán niệm về âm văn để được có an lành,
tự tại giải thoát và giác ngộ theo khả năng trình độ
của chính bản thân mình.
Nếu
có ít nhiều thiền định tư duy nếu biết dụng ý lắng nghe
người ta có thể nghe trong mọi nơi chốn, mọi trường hợp
những âm văn thanh tịnh giải thoát. Âm văn đó, nghe được
nhiều hay ít là do ta vận dụng quán trí của ta nó liên tục
được ít hay nhiều. Cho nên kinh nói: Quán Thế Âm hiện thân
thuyết pháp cho chúng sanh bằng "Vô tác diệu lực" nghĩa là
bằng sức mầu nhiệm "không có làm". Nói "hiện thân" nhưng
kỳ thực chẳng tốn sức "thần biến" "hóa hiện" ra thân.
Nói "thuyết pháp" kỳ thực chẳng tốn một tí hơi và một
âm thanh nào vang dội. Quán Thế Âm hiện thân bằng chính bản
thân của mọi người. Quán Thế Âm thuyết pháp bằng chính
âm thanh thanh tịnh trong lòng trong sáng của mọi người, khi
người đó biết sử dụng tánh nghe.
Quán
Thế Âm là Diệu âm; Quán Thế Âm là Phạm âm; Quán Thế Âm
là Hải Triều âm; Quán Thế Âm còn là âm thanh vượt hơn
những âm thanh của thế gian thường nghe và xưng gọi ấy
nữa. Quán Thế Âm là Thánh của thanh tịnh, của giải thoát
và giác ngộ; vì tánh quan trọng tàng ẩn một chân lý thẩm
sâu, nên đặt cách để vấn đề nhĩ căn viên thông của
Bồ Tát Quán Thế Âm rốt sau 25 vị Thánh.
*
* *
DO
BI TÂM BỔ TÁT QUÁN THẾ ÂM THÀNH TỰU 14 ĐỨC VÔ ÚY THÍ[^]
Bạch
Thế Tôn ! Do vô tác diệu lực VĂN HUÂN VĂN TU kim cang tam muội
cho nên tôi và tất cả lục đạo chúng sanh trong mười phương
ba đời cùng có một bi tâm hướng thượng cho nên tôi và
tất cả chúng sanh thành tựu được 14 thứ công đức vô
úy:
1.
Tôi không quán âm thanh đối tượng mà tôi quán cái tâm năng
quán của mình, khiến cho chúng sanh khổ não trong mười phương
quán âm thanh như vậy thì được giải thoát.
2.
Tôi xoay tri kiến của mình soi rọi nội tâm, khiến chúng sanh
dù vào trong lửa mà lửa không đốt cháy (lửa dâm, lửa sân,
lửa hận thù…)
3.
Tôi quán tánh nghe xoay vào nội tâm, khiến chúng sanh dù có
bị nước to cuốn đi mà không hề bị chìm đắm (nước ái,
nước nhẹ dạ yếu lòng, nước yêu thương mù quáng…).
4.
Tôi đoạn diệt hết vọng tưởng, không còn tâm sát hại,
khiến chúng sanh dù phải vào trong cõi nước của quỷ, quỷ
cũng không hại được (quỷ sát, quỷ đạo, quỷ dâm, quỷ
thấy ác… nghe ác và làm ác…).
5.
Tôi huân tập cái tánh nghe, nghe vào tự tánh. Tánh thấy, tánh
ngửi, tánh nếm, tánh xúc, biết cũng như vậy, khiến chúng
sanh đang khi bị hại dao mác, vũ khí gãy rơi từng khúc chẳng
xúc phạm được (dao hai lưỡi, dao ưu sầu, dao tâm…).
6.
Tánh nghe, tôi huân tập đến độ tinh thuần, sáng suốt khắp
trùm pháp giới; tất cả những gì đen tối không tồn tại
được, khiến cho chúng sanh dù ở gần bên với ác quỷ: Dược
xoa, cưu bàn trà, tỳ xá xà, phú đơn na v.v… mà chúng không
nhìn thấy được (quỷ thô bạo, quỷ bất nghĩa, quỷ vô
lương…).
7.
Tánh năng văn tôi quán xoay vào, thanh trần đối tượng tiêu
vong, khiến chúng sanh xa tránh tất cả gông cùm xiềng xích
không vương chạm đến thân (gông luật pháp, cùm hận thù
vay trả, thích đấu tranh thị phi ân oán giang hồ…).
8.
Tôi diệt âm thanh đối tượng, tánh nghe viên mãn sanh sức
từ cùng khắp, khiến chúng sanh đi qua đường hiểm mà giặc
cướp không thể cướp được (giặc phiền não có 6 thằng
túc trực phục kích ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý để
cướp của báu công đức của ta).
9.
Do tôi huân tập tánh nghe được thanh tịnh, tách khỏi trần
tướng. Sắc, thanh… không cám dỗ được, khiến cho những
chúng sanh đa dâm xa lìa được lòng tham dục nặng nề.
10.
Tôi chỉ lưu lại thuần một viên âm thanh tịnh, không còn
đối tượng thanh trần, căn cảnh viên dung, dứt đối đãi
năng văn sở văn khiến chúng sanh xa lìa được tham sân si
phẩn nhuế.
11.
Tiêu diệt thanh trần đối tượng tôi xoay cái nghe về tánh
bản minh, thân tâm cảnh giới trong sáng như lưu ly, chẳng
vương chút trần ai vọng chấp, khiến chúng sanh xiển đề
mê tối xa lìa câm điếc tối tăm (nói không chơn lý là câm,
không nghe nổi chơn lý là điếc, không nhận được chân lý
là tối tăm).
12.
Viên dung các hiện tượng, tôi xoay tánh nghe trở về bất
động. Hài hòa thế gian mà không hủy hoại thế gian; cúng
dường Như Lai mười phương như số vi trần, tôi ở bên mỗi
mỗi Phật làm Pháp Vương Tử, khiến trong pháp giới những
chúng sanh không con, cầu có con trai, sanh được con trai phúc
đức trí tuệ (phúc đức trí tuệ chính là con trai đó !).
13.
Sáu căn tôi viên thông, soi sáng không hai, khắp trùm thập
phương thế giới, đứng trước đại viên kính ở trong Như
Lai tàng, tôi vâng lãnh những pháp môn bí mật của thập phương
Như Lai như vi trần không hề thiếu sót, khiến cho trong pháp
giới những chúng sanh không con, cầu có con gái, sanh được
con gái tướng tốt đoan chính, phúc đức và dịu dàng được
nhiều người kính quý.
14.
Trong tam thiên đại thiên thế giới này các Pháp Vương Tử
đông như số cát 62 sông Hằng. Trí tuệ và phương tiện giáo
hóa chúng sanh mỗi Ngài đều khác. Vậy mà chúng sanh chấp
trì một danh hiệu của tôi, bằng ngang với công đức chấp
trì danh hiệu số lượng Pháp Vương Tử nói trên.
Bạch
Thế Tôn ! Sở dĩ tôi được những điều ưu việt như vậy
là do tôi tu tập pháp văn huân văn tu kim cang tam muội, cho
nên tôi được tánh viên thông chơn thật, gọi đó là 14 đức
vô úy thí đem lại phúc lành cho tất cả chúng sanh.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Nếu
mọi người đệ tử Phật biết quay về quán chiếu cái âm
văn của chính mình thì Quán Thế Âm Bồ Tát thể nhập vào
thân ta rồi vậy. Thân tâm ta lúc bấy giờ trở thành Quán
Thế Âm Bồ Tát vì chính ta là người đang quán cái âm văn
mầu nhiệm thanh tịnh sẵn có ở lòng mình.
Kinh
nói: "Do vô tác diệu lực văn huân văn tu kim cang tam muội
cho nên tôi và tất cả lục đạo chúng sanh trong mười phương
ba đời cùng có một bi tâm như nhau, cho nên tôi và tất cả
chúng sanh thành tựu được 14 thứ công đức vô úy thí".
Rằng
do 14 đức "vô úy thí" của Quán Thế Âm mà khiến cho chúng
sanh xa lìa các khổ nạn…, nhưng xét thâm nghĩa tàng ẩn bên
trong giáo lý, ta thấy: "Không phải do Quán Thế Âm có 14 đức
vô úy thí rồi Bồ Tát đem bố thí để thay thế để cứu
khổ cứu nạn chúng sanh. Sự thật, Kinh đã nói: Quán Thế
Âm và tất cả chúng sanh trong mười phương cùng có lòng Bi
như nhau, ý chí hướng thượng như nhau (Bi ngưỡng); cho nên
nói rằng Quán Thế Âm có, đồng nghĩa với tất cả chúng
sanh cũng đã có. Quán Thế Âm tu pháp văn huân văn tu Kim Cang
tam muội đã được tự tại giải thoát thì chúng sanh hành
theo pháp văn huân văn tu… rồi cũng được giải thoát xa
lìa tất cả khổ ác là lẽ tất nhiên.
Là
đệ tử Phật hãy chín chắn tư duy. Đừng để thói quen ỷ
lại nơi cái gọi là "tha lực" siêu hình ám ảnh, trông cậy
Quán Thế Âm bằng những ý niệm mong chờ mòn mỏi, những
ngôn ngữ cầu khẩn thiết tha mà thiệt mất một đời: "vào
biển tính số cát, đến ngân khố đếm tiền" vô ích cho
bản thân một kiếp !
Đức
Thế Tôn ta hy sinh cả cuộc đời vương giả, đi tìm chân
lý chẳng ngại gian lao… Rồi 49 năm dài, rày đây mai đó
thuyết giáo độ sanh nói hẹp, nói rộng, nói biệt, nói viên,
nói tiệm, nói đốn, vận dụng vô vàn phương tiện, để
lại cho chúng ta ba kho tàng giáo lý. Đó không phải là "Tha
lực Phật" gia bị cho chúng ta là gì ? Là đệ tử Phật mà
phủ nhận "Tha lực Phật" "Tha lực Bồ Tát" gia bị là bọn
con cái của ma, nhưng toàn bộ giáo lý Phật trước sau như
một, không có vấn đề ân sủng ô dù, vì ô dù ân sủng
là hành động phản bội quy luật nhân quả phát triển khách
quan của hiện tượng vạn hữu trong vũ trụ.
*
* *
QUÁN
THẾ ÂM CÓ BỐN ĐỨC NHIỆM MẦU KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN[^]
Bạch
Thế Tôn ! Tôi được viên thông vô thượng cho nên có bốn
đức vô tác nhiệm mầu không thể nghĩ bàn:
1.
Tôi xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu nhiệm của nội tâm.
Tánh nghe này không chút nhiễm ô. Tôi ngăn dứt tất cả âm
thanh đối tượng của nhĩ căn; bấy giờ tánh thấy, nghe,
ngửi, nếm, xúc, biết của sáu căn còn là một tánh giác
thanh tịnh có thể dùng thay thế cho nhau mà không ngăn ngại.
Tôi còn có thể hiện ra nhiều hình tướng và nói vô số
chân ngôn bí mật; từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu,
11 đầu, 108 đầu, 1.000 đầu, 10.000 đầu cho đến 84.000 đầu.
Tôi có thể hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12 tay, 14 tay, 16 tay, 18
tay, 20 tay, 24 tay, 108 tay rồi 1.000 tay, 10.000 tay cho đến 84.000
tay uyển chuyển. Tôi có thể hiện ra 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt,
108 mắt, rồi 1.000 mắt, 10.000 mắt, cho đến 84.000 mắt thanh
tịnh, hoặc từ, hoặc uy, hoặc định, hoặc tuệ cứu độ
chúng sanh được đại tự tại.
2.
Tánh nghe và suy nghĩ của tôi thoát ngoài sáu trần, như âm
thanh luồn xuyên qua vách. Do sức nhiệm mầu vô tác, tôi hiện
nhiều hình tướng nói nhiều chơn ngôn đem lại cho chúng sanh
sức vô úy. Vì vậy cõi nước trong mười phương nhiều như
vi trần đều gọi tôi là vị Bồ Tát "thí vô úy".
3.
Sự tu tập của tôi là phát huy căn bản thanh tịnh sẵn có
nên tôi được viên thông mầu nhiệm. Đi đến thế giới
nào, chúng sanh cũng xả thân, hy sinh trân bảo cầu được
tôi thương xót.
4.
Tôi có được Phật tâm, chứng ngộ đến chỗ cứu cánh cho
nên có thể đem các thứ trân bảo cúng dường thập phương
Như Lai. Đến như lục đạo chúng sanh trong pháp giới muốn
cầu trường thọ được trường thọ, cho đến cầu đại
niết bàn cũng được đại niết bàn.
Bạch
Thế Tôn ! Nay Phật hỏi nguyên nhân chứng đắc viên thông
xin thưa rằng: Tôi từ cửa ngõ nhĩ căn quán chiếu đến tột
cùng viên mãn về âm văn (nghe và tiếng) mà được tam muội.
Đối với tôi, tư duy và quán chiếu tánh nghe và tiếng của
nhĩ căn là ưu việt nhất.
Bạch
Thế Tôn ! Đức Quán Âm Như Lai từ thuở xa xưa ấy đã khen
tôi khéo được pháp môn viên thông, ở trong đại chúng, Phật
thọ ký cho tôi danh hiệu Quán Thế Âm bởi vì tánh nghe và
thấy tròn sáng châu biến mười phương, danh hiệu Quán Thế
Âm cũng phổ cập trong lục đạo chúng sanh mười phương thế
giới.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Như
chúng ta đã biết, Quán Âm hay Quán Thế Âmchỉ là nhân cách
hóa một pháp môn chỉ quán mà lục đạo chúng sanh trong mười
phương ai cũng sẵn có cái khả năng chỉ quán như vậy để
được chứng viên thông. Người đệ tử Phật có tư duy yên
tĩnh có thực hành chỉ quán sẽ nghe được tiếng lương tâm
mầu nhiệm của mình, không cần có thanh trần đối tượng.
Chừng nào hành giả nghe được âm vang đó thường xuyên liên
tục ở lòng mình thì 32 ứng thân, 14 đức vô úy, 4 diệu
đức nhiệm mầu chỉ là sự biểu hiện vô tác, không cần
gắng sức dụng công mà tự có, như ánh sáng sẵn có của
mặt trời rạng rỡ buổi ban mai.
Nhiều
đầu tất nhiên nhiều óc. Có được nhiều bộ óc, con người
sẽ có khả năng tư duy nhận thức nhiều. Người không có
tư duy không thể là người thông minh được. Nhận thức chân
lý, đòi hỏi phải nhiều tư duy hơn cả người thông minh
của thế trí. Do vậy, Bồ Tát cần có nhiều đầu, nhiều
bộ óc để tư duy.
Mắt
để mà thấy. Thấy để mà nhận biết. Muốn thấy nhiều
cần có mắt nhiều. Là đệ tử Phật, phàm phu cũng như thánh
vị, phát chí tu nhân, ai cũng mong giác ngộ chân lý giải thoát
vô minh, cho nên cần thấy nhiều để nhận thức, biết nhiều
để quán sát tư duy. Một tướng lãnh ở thời đại văn minh
khoa học quan sát chiến trường cần có viễn vọng kính để
tầm quan sát được rộng xa, để nhận thức đánh giá lực
lượng tương quan giữa quân ta và quân địch. Sự "hóa hiện"
nhiều mắt của Bồ Tát Quán Thế Âm nhằm dạy bảo mọi
người đệ tử Phật về sự cần thiết: thấy xa và hiểu
rộng.
Tay
để mà làm việc. Mọi thành tựu cụ thể trong cuộc sống
con người là do tay. Nói cách khác, tay là công cụ hữu hiệu
nhất để thực hiện, cụ thể hóa nguồn trí tuệ thông qua
bộ óc điều khiển của con người. Trí tuệ, tài năng hay
sự khéo léo… không thể không biểu lộ qua sự thực hiện
của tay.
Bồ
Tát là người đang đi trên đường tìm chân lý, vì cần tư
duy nhiều nên nói Bồ Tát đầu nhiều; vì cần thấy biết
nhiều nên nói mắt nhiều; vì cần thực hành nhiều nên nói
tay nhiều; vì cần tri hành hợp nhất cho nên nói Bồ Tát nhiều
đầu, nhiều mắt và nhiều tay.
Sự
thật tất nhiên, không thể có một con người đầu, mắt
loạn khởi, tay mọc tua tủa, nhìn qua như trái lôm chôm. Nếu
có một con người thật như vậy thì quả là một quái thai
vô tiền khoáng hậu !
Đức
Thích Ca Mâu Ni là một Đức Phật. Phật là đấng lưỡng
túc tôn, lưỡng túc tề tôn. Chẳng lẽ Quán Thế Âmvượt
ngoài hàng "lưỡng túc" của thập giới thánh phàm ? Người
đệ tử Phật hãy sử dụng lý trí mà tư duy. Đừng để
cho Phật đau lòng chỉ vì "Y Kinh giải nghĩa mà hàm oan cho
ba đời chư Phật".
*
* *
PHẬT
BẢO VĂN THÙ SO SÁNH CHỌN CĂN ƯU VIỆT NHẤT[^]
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn ngồi trên tòa sư tử, ngũ thể đồng
phóng ra ánh sáng báu soi sáng trên đảnh của thập phương
Như Lai, các pháp vương tử, các Bồ Tát như số vi trần.
Chư Như Lai trong mười phương cũng phóng ánh sáng như vậy
soi đến đảnh Phật Thích Ca và các Bồ Tát các chúng Thanh
Văn trong đại hội. Rừng cây ao hồ đều diễn ra tiếng pháp,
ánh sáng của chư Phật giao xen như lưới tơ báu. Tất cả
đại chúng được cái chưa từng có. Trời mưa hoa sen báu
đủ màu: Xanh, vàng, đỏ, trắng xen lộn lẫn nhau. Thập phương
hư không thành màu thất bảo. Cõi Ta bà bỗng nhiên không hiện
chỉ còn thấy vi trần quốc độ trong mười phương hợp thành
một cõi, tiếng ca ngâm thanh thoát tự nhiên dìu dặt nổi
lên.
Phật
bảo Bồ Tát Văn Thù: Ông hãy xét nghiệm thành quả tu chứng
viên thông của 25 vị Bồ Tát và Thanh Văn vừa đã trình bày.
Vẫn biết rằng lục căn, lục trần, lục thức, thất đại
đều là những dữ kiện tu chứng viên thông, nhưng nay Như
Lai muốn cho ông A Nan nghe và nhận xét để tự chọn một
pháp môn tu thích hợp. Như Lai cũng cần một pháp môn phương
tiện để dạy cho chúng sanh mạt thế cõi Ta bà, những người
đại thừa cầu vô thượng đạo một phương pháp tu hành
tu hành hiệu quả tốt, chóng thành công phổ biến mọi căn
cơ sau Như Lai diệt độ.
Bồ
Tát Văn Thù vâng từ chỉ của Phật cung kính chấp tay, nói
bài kệ kính dâng lên Phật:
Biển
giác tánh lặng trong
Vốn
nhiệm mầu trong sáng
Tánh
bản minh chiếu ra như "sở"
Chấp
tướng "sở" mất tánh bản minh
Do
phân biệt vọng thấy hư không
Tựa
hư không hình thành thế giới
Chủng
tử vô tri thành cõi nước
Sắc
tâm minh liễu tức nhơn sinh
Hư
không sanh trong "Đại Giác"
Như
bong bóng nổi giữa đại dương
Cõi
nước hữu lậu như vi trần
Sanh
khởi trong bầu hư không ấy
Hư
không chưa ví tày nước bể !
Thì
sá chi ba cõi vốn bọt bèo
Về
nguồn không hai đích
Phương
tiện có nhiều đường
Quả
chứng chẳng ngại nhau
Thuận
nghịch là phương tiện
Sơ
tâm vào tam muội
Mau
chậm chẳng đồng nhau.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Phật
Thích Ca ở cõi Ta bà cùng chư Phật mười phương đồng phóng
ra ánh sáng báu… Hiện tượng này nhằm nói lên chân lý:
Phật và chư Phật đã biểu đồng tình. Chơn lý mà Phật
Thích Ca nói cũng tức là chơn lý của mười phương chư Phật
nhất trí với nhau rồi. Nói Phật phóng ra ánh sáng thất bảo,
có nghĩa rằng: Trí tuệ giác của Phật là trí tuệ tuyệt
trần vô thượng, chẳng còn thứ trí tuệ nào hơn. Tuy nhiên,
Bồ Tát, Thanh Văn, La Hán và tất cả chúng sanh hằng tắm
mình trong ánh sáng trí tuệ ấy. Trí tuệ của chúng sanh chưa
chiếu sáng, ví như bóng đèn khói đóng quá nhiều. Ngày nào
lau sạch khói đen thì cùng những ánh đèn rực rỡ xen lộn
lẫn nhau lung linh màu sắc.
Vô
thường, khổ, vô ngã và bất tịnh, chúng sanh bị dày vò,
đau khổ, ở trên mặt đất này. Thường, lạc, ngã, tịnh
của Niết bàn Phật có, cũng ở trên mặt đất này. Với
tâm hồn thanh tịnh thể nhập bản giác tịnh minh thì nhìn
đâu cũng là hoa, nghe đâu cũng là nhạc.
Phật
thì biết quá rõ Căn nào ưu việt đối với chúng sanh cõi
Ta bà rồi. Nhưng Phật bảo Bồ Tát Văn Thù so sánh để rồi
"lựa", cốt cho hợp tinh thần dân chủ và khách quan. Đức
Phật hy sinh một cuộc đời vương giả, đấu tranh giai cấp
để xóa bỏ áp bức bất công cho xã hội mà còn độc tài
phi dân chủ thì phí đi cái lý tưởng "vị nhân sinh" cao đẹp
thuở ban đầu.
Qua
lời kệ mở đầu của Bồ Tát Văn Thù, ta có thể nhận thấy:
Tất cả chúng sanh vốn có tánh giác minh trong sáng nhiệm mầu.
Trong tánh giác minh không có tướng "Sở", tướng "Năng", không
có ai là chủ thể, gì là đối tượng. Hữu tình, vô tình
cùng một bản thể chơn như nhiệm mầu trong sáng ấy. Hư
không sanh trong giác tánh như chiếc bong bóng nổi giữa đại
dương. Hư không chỉ là một hiện tượng đối đãi có không
sanh diệt (… tứ sở hiển thị cố…) tam hữu sanh trong hư
không càng nói rõ cái vai trò ảo hóa. Thành đô Niết bàn
là đích đến phương tiện di chuyển có chậm mau. Máy bay,
tàu thủy, ô tô hay đi bộ còn tùy người sử dụng.
*
* *
SO
SÁNH SỰ ƯU KHUYẾT CỦA SÁU TRẦN, NĂM CĂN, SÁU THỨC VÀ BẢY
ĐẠI[^]
1.
Nhược điểm của sáu trần[^]
Sắc
bị vọng tưởng tác động vào thanh trần làm mất đi cái
hồn nhiên như thị khách quan của sự vật, khó mà tu chứng
viên thông.
Thanh
âm kết hợp bởi ngữ ngôn, biểu hiện cụ thể của âm thanh
là danh ngôn và cú nghĩa. Tác dụng của âm thanh còn phiến
diện khó mà tu chứng viên thông.
Hương
có hợp mới thành tác dụng; nếu để ly ra, dù hương có
cũng như không. Hương trần không tương tục hiện hữu, khó
mà tu chứng viên thông.
Vị
không phải đương nhiên tự có, cần phải nếm mới biết
có vị. Đối với vị giác cũng không liên tục, nên khó mà
tu chứng viên thông.
Xúc
có vật chạm mới biết, nếu không biết xúc không thành.
Xúc trong lúc hợp, chẳng xúc được lúc ly, khó mà tu chứng
viên thông.
Pháp
còn gọi là nội trần. Trần là đối tượng "Sở tri". Năng
sở khổ là một khó mà tu chứng viên thông.
2.
Nhược điểm của năm căn[^]
Tánh
thấy vốn rỗng rang bao quát nhưng chỉ thấy được phía trước
chẳng thấy được phía sau; bốn hướng tám phương mất đi
một nửa, khó mà tu chứng viên thông.
Mũi
thở ra thở vào, chặng giữa không có thở; không dung thông,
còn cách trở, khó mà tu chứng viên thông.
Lưỡi
không vị, tánh nếm không thành. Vị không phải lúc nào cũng
sẵn có nên khó mà tu chứng viên thông.
Thân
biết xúc, nhưng phải có đối tượng. Năng sở xúc không
thường liên tục thì khó mà tu chứng viên thông.
Ý
căn thường xen với vọng tưởng. Loạn tưởng dừng thì chẳng
thấy biết gì. Tưởng niệm không dễ gì dứt bỏ thì khó
mà tu chứng viên thông.
3.
Nhược điểm của sáu thức[^]
Cái
thấy của mắt phải có căn trần. Cạn xét tột cùng nó không
tự thể; không tự thể thì không có gì nhất định nên khó
ma tu chứng viên thông.
Sử
dụng cái nghe, nghe suốt mười phương hàng sơ tâm không dễ
dàng thực hiện khó mà tu chứng viên thông.
Quán
điểm trắng ở tỷ căn đó chỉ là quyền phương tiện, nhằm
thu nhiếp để trụ tâm. Trụ mà trở thành "sở trụ" thì
khó mà tu chứng viên thông.
Thuyết
pháp vận dụng âm thanh văn tự chỉ khai ngộ cho những ai
Phật chủng đã trồng sâu. Danh cú, văn tự không phải là
vô lậu thì khó mà tu chứng viên thông.
Giữ
giới chỉ câu thúc cái thân, ngoài cái thân lấy gì câu thúc
? Giới và thân vốn không cùng khắp thì khó mà tu chứng viên
thông.
Thần
thông do tập nhân từ trước, không dính dáng với ý thức
phân biệt pháp trần. Niệm lự, không rời sự vật thì khó
mà tu chứng viên thông.
4.
Nhược điểm của bảy đại[^]
Đất,
tánh của nó là ngăn ngại, nếu quán cái tánh của địa đại
thì không thể thông suốt. Vả lại pháp hữu vi không là giác
tánh thì khó mà tu chứng viên thông.
Nước
do quán mới thấy có. Nếu quán thủy đại cần vận dụng
nhiều quán trí. Đã là quán thì không phải chơn, chưa đạt
đến như như phi giác quán, thì khó mà tu chứng viên thông.
Lửa
đem so sánh với nỗi khổ của dâm tâm, nếu quán hỏa đại
để trừ lửa dâm ở nội tâm, đó chỉ là người chán cái
khổ hoành hành, chưa phải là viễn ly chơn thật. Đó là phương
tiện không phải phát xuất bởi tâm ban đầu nên khó mà tu
chứng viên thông.
Gió
lúc động lúc yên, nếu quán cái tánh của phong đại thì
chỉ là pháp đối đãi. Còn đối đãi thì không là tánh giác
minh vô thượng, khó mà tu chứng viên thông.
Không
thì rỗng suốt chẳng có gì, nếu quán cái tánh của không
đại thì đồng như vô tri vô giác. Vô tri vô giác trái với
bồ đề thì khó mà tu chứng viên thông.
Thức
thì sanh diệt không thường, nếu quán cái tánh của thức
đại chỉ là quán sự phân biệt diệt sanh hư vọng, khó mà
tu chứng viên thông.
Kiến
là tánh thấy, kiến đại biểu hiện qua tưởng niệm. Tất
cả các hành đều vô thường, tưởng niệm vốn trong vòng
sanh diệt. Đem nhân sanh diệt, cầu được quả chân thường
bất diệt, khó mà tu chứng viên thông.
5.
Sự ưu việt của nhĩ căn[^]
Tôi
nay kính bạch Thế Tôn:
Phật
ra đời ở cõi Ta Bà
Trong
cõi này giáo môn thích ứng
Hiệu
quả tốt ở: nói và nghe
Muốn
thành tựu được tam ma đề
Phải
vận dụng tánh nghe mà nhập
Lìa
khổ được giải thoát
Hay
thay Quán Thế Âm
Kiếp
số như cát sông Hằng
Vào
cõi nước vi trần Phật độ
Sức
tự tại không thể nghĩ lường
Vô
úy bình đẳng thí chúng sanh
Quán
Thế Âm là Diệu Âm
Quán
Thế Âm tức Phạm Âm
Quán
Thế Âm, hải triều âm đó
Cứu
thế vững an khang
Xuất
thế hằng thường trú
Tôi
kính bạch Như Lai
Như
lời Quán Âm nói
Ví
như ngồi chỗ tĩnh
Mười
phương cùng đánh trống
Mười
hướng thảy đồng nghe
Đấy
là viên chơn thật
Cách
vách nghe âm tưởng
Xa
gần có thể nghe
Năm
căn không sánh được
Thông
chân thật, nhĩ căn
Tiếng
chuông, tánh nghe không diệt
Tiếng
có, chẳng phải mới sanh
Có
không, không quan hệ
Thường
chơn thật của nhĩ căn
Dù
có đang say ngủ
Chẳng
vì ngủ không nghe
Tánh
nghe ngoài suy nghĩ
Thân
ý chẳng so bằng
Hiện
tại cõi Ta Bà
Thanh
luận được biểu dương
Mê
muội đối với tánh nghe
Bị
thanh trần cuốn theo dòng lưu chuyển
Dùng
tánh nghe trú trì Phật Pháp
Hãy
tự mình nghe lấy tánh nghe
Xoay
cái nghe thoát khỏi thanh trần
Tánh
nghe ấy là tánh nghe thường trú
Một
căn đã xoay về bản tánh
Thì
năm căn sẽ được giải thoát theo
Sắc
thanh… trần như bệnh lòa huyễn hóa
Ba
cõi dường hoa đốm trong không
Xoay
tánh nghe là trừ hết bệnh lòa
Trần
tưởng diệt, giác tâm hiển hiện
Tột
thanh tịnh trí quang thông suốt
Tịch
như mặt trời chiếu tợ thái dương
Quay
nhìn xem hiện tượng thế gian
Như
vật sắc chiêm bao chẳng khác
Ma
Đăng Già há không là mộng huyễn
Thì
còn ai quyến rũ ! Hởi A Nan ?
Như
các huyễn sư khéo tạo hình người
Giỏi
trang điểm làm ra trai hay gái
Dù
các căn có cử động rung rinh
Do
cái máy giật dây điều khiển
Động
cơ nghỉ, tứ chi "người" tê liệt
Trò
múa men đến lúc trở thành không
Tư
duy kỹ, sáu căn người cũng thế
Phát
xuất từ một thể tánh tịnh minh
Chia
ra thành sáu thứ "hợp" "hòa"
Một
đã tịch thì sáu căn đều thanh tịnh
Trần
cấu còn thì gọi là học vị
Giác
tột cùng thì gọi đó Như Lai
Hởi
A Nan ! Và đại chúng hiện tiền
Hãy
chỉ tức nghe thanh trần điên đảo
Xoay
tánh nghe, nghe tự tánh của mình
Nghe
tự tánh là thành Vô Thượng Giác
Xin
đảnh lễ như lai tàng tánh
Gia
bị cho mạt thế chúng sanh
Đủ
khả năng làm chủ lấy nhĩ căn
Giàu
nghị lực sống với viên thông thường ba chơn thật tánh
*
* *
SỰ
CHUYỂN BIẾN TỐT SAU KHI NGHE VÀ NHẬN THỨC TÍNH ƯU VIỆT CỦA
NHĨ CĂN[^]
Ông
A Nan và đại chúng được sự hướng dẫn rõ ràng của Bồ
Tát Văn Thù, mọi người cảm thấy khinh an sảng khoái, tâm
trí sáng bừng, nhận thức rõ: Rằng Bồ Đề Niết Bàn Phật
là gia bảo chung của tất cả chúng sanh, mọi người đều
có quyền thừa hưởng. Từ lâu mình tự bỏ cha bỏ nhà đi
hoang, biến mình thành những kẻ lạc loài cùng khổ, xa quê
hương rời nguyên quán, đánh mất gia tài cự phú vô tận
của cha ông. Nay đại chúng nhận rõ: Rằng dù họ chưa về
nhưng đã biết đường về và tin ở khả năng trở về của
họ. Họ xác định rõ cái quyền thừa hưởng của họ đối
với sự nghiệp vĩ đại của cha ông mình.
Hàng
hữu học vô học nhị thừa, hàng sơ phát tâm Bồ Tát đông
như số cát mười sông Hằng, xa lìa trần cấu được pháp
luân thanh tịnh. Vô lượng chúng sanh phát tâm cầu Vô Thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Chúng
ta đã biết 25 vị đại đệ tử Phật đều tu chứng viên
thông dựa trên cơ sở trần, căn, thức, đại. Qua nhãn quan
của bực đại trí, ở đoạn kinh này Bồ Tát Văn Thù phân
tách rõ chỗ ưu khuyết của 25 dữ kiện.
Nhìn
bên bản thể, trần, căn, thức, đại vốn là hiện tượng
biểu hiện từ Như Lai tàng. Tự tướng của chúng không có
cái nào làm nên tội lỗi và cũng không có món nào là nguyên
nhơn của tội lỗi. Tuy nhiên, đứng bên hiện tượng mà nhìn
thì mỗi mỗi khác nhau, sự tác động qua lại của căn trần
thức không đồng, công dụng biểu hiện có hơn kém từ sự
phản vọng quy chân có ưu khuyết là lẽ đương nhiên vậy.
Nói
một cách khác, Bồ Tát Văn Thù "phê phán" là đứng bên phương
diện "tục đế" để mà tỉ giảo chọn lấy cái tối ưu.
Nếu đứng bên "chơn đế" mà nhìn thì: "Một là tất cả,
tất cả là một", không còn có vấn đề hơn kém.
Do
đó, vấn đề ưu khuyết của trần, căn, thức, đại vẫn
là sự thật có trở ngại trên đường tu chứng viên thông.
Tuy nhiên cái có thể trở ngại, không thích hợp với người
này lại là dữ kiện thuận lợi cho một căn cơ khác. Mã
tiền, thạch tín ai cũng biết là độc dược, nhưng cũng chính
chúng là diệu dược cứu tử bệnh nhơn khi sử dụng đúng
người, đúng bệnh và đúng liều.
Người
học hãy ý thức rằng: Sự "phê phán" của Bồ Tát Văn Thù
không phải "phê phán" để mà "phê phán". Mà phê phán nhằm
để giới thiệu tính ưu việt của nhĩ căn:
"Ngã
kim bạch Thế Tôn
Phật
xuất Tà Bà giới
Thử
phương chân giáo thể
Thanh
tịnh tại âm văn
Dục
thủ tam ma đề
Thực
tùng văn trung nhập".
*
* *
PHẬT
KHAI THỊ VỀ BA MÔN VÔ LẬU HỌC VÀ BỐN ĐIỀU CƠ BẢN XUẤT
TRẦN[^]
Ba
môn vô lậu học[^]
Trước
Phật và đại chúng. Ông A Nan sửa áo chỉnh tề, chấp tay
thưa: Bạch Thế Tôn ! Tôi nay đã nhận thức rõ pháp môn thành
Phật không còn nghi hoặc. Tôi từng nghe Phật dạy: tự mình
chưa được thành Phật mà phát tâm cứu độ chúng sanh, đó
là chỗ phát tâm của các bậc Bồ Tát. Tự mình giác ngộ
viên mãn rồi giáo hóa khiến cho người khác cũng được giác
ngộ, đó là sự ứng thân vị nhân thế của các Như Lai.
Tôi tuy chưa giác ngộ hoàn toàn song tôi nguyện độ chúng
sanh đời mạt pháp. Chúng sanh cách Phật ngày xa, tà sư ngụy
thuyết càng nhiều, nếu muốn cho đệ tử Phật được tam
ma đề (chánh quán niệm) thì phải học thế nào để khỏi
rơi vào ma sự, không thoái thoát bồ đề tâm ?
Phật
bảo: A Nan ! Lời thưa hỏi của ông có lợi lạc cho chúng
sanh hậu thế.
A Nan
! Trong giáo pháp của Như Lai các ông hãy siêng năng thu nhiếp
tâm mình. Người thu nhiếp làm chủ được tâm gọi là người
có giới. Nhân nơi giới mà có được định tâm. Nhân nơi
định tâm mà phát sanh trí tuệ. Đó là ba môn học làm cho
những người phát tâm tu hành không lọt rớt trong lục thú
tam đồ.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Giáo,
lý, hành, quả, là một quá trình liên tục không thể tách
rời trong toàn bộ giáo lý Phật. Từ chương một mở đầu
cho đến đây, ông A Nan và đại chúng tiếp thu có kết quả
tốt. Toàn chúng nhất trí nói lên cảm nghĩ và nhận thức
của mình đối với quả Bồ Đề Niết Bàn Vô Thượng: Rằng
đến sớm hay muộn chỉ còn là vấn đề tinh tấn đi nhanh
hay giải đải lang thang, bằng lòng làm người "cùng tử";
còn đường đi và đích đến, đại chúng đã nói lên sự
quả quyết rằng đã nắm vững lộ trình. Đó là kết quả
bước đầu của Đức Phật trong sự nghiệp giáo hóa chúng
sanh trên chặng đường giáo lý của thời pháp Thủ Lăng Nghiêm.
Ba
môn vô lậu học, bốn điều cơ bản… Đức Phật đang dạy
và sẽ dạy cho ông A Nan mở đường cho giai đoạn hành quả
cuối cùng để đến thành đô Niết bàn Phật. Giới định
tuệ tương quan mật thiết với nhau, ví như bóng đèn, ngọn
đèn và ánh sáng của cái đèn dầu. Nhờ bóng mà ngọn đèn
đứng yên. Nhờ ngọn đèn đứng yên mà tỏa ra ánh sáng.
Nhơn giới sanh định, nhơn định phát tuệ đó là nền tảng
để xây dựng lâu đài Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Trong
quá trình tu học: "Lý tuy đốn ngộ, sự nải tiệm trừ".
Hiểu thì có thể hiểu nhanh, nhưng hành phải có quá trình
tu tập. Ở đoạn kinh này ông A Nan cầu Phật chỉ dạy phương
pháp tu hành tế độ quần sanh, kiến lập đạo tràng… càng
xác định rõ: hành quả không thể không có giáo lývà giáo
lý không phải để thỏa mãn cho sự hiểu biết suông !
*
* *
BỐN
ĐIỀU CƠ BẢN XUẤT TRẦN
1.
Đoạn tâm dâm dục[^]
A Nan
! Người có thu nhiếp cái tâm thì tâm được thanh tịnh. Phật
gọi đó là người có giới. Giới là phương tiện thù thắng
ngăn dứt những hậu quả khổ đau. Gốc rễ của khổ đau,
dâm dục là một trong những mầm nhân gây ra khổ quả. Ông
và các chúng sanh tu tập tam ma đề là nhằm xa lánh mọi nghiệp
nhân bất thiện để mong ra khỏi trần lao. Nhưng nếu các
ông không đoạn tâm dâm thì trần lao không sao ra khỏi được.
Dù có thiền định trí tuệ rốt cuộc cũng lạc vào con đường
của ma. Hạng ưu thành ma vương, hạng giữa thành ma dân, hạng
thấp thành ma nữ. Các bọn ma kia cũng có đồ chúng và tự
xưng mình thành đạo vô thượng. Sau khi tôi diệt độ có
nhiều bọn ma này sôi nổi trong thế gian ra sức ngợi khen
về dâm dục, dụ dỗ người đời sa vào cạm bẫy dâm dục.
Họ tự xưng là thiện tri thức mê hoặc nhiều người sa vào
hầm ái kiến sẽ mất nẻo bồ đề, dấn thân mãi vào hang
sâu ái dục đen tối khổ đau.
A Nan
! Ông phát tâm muốn cứu thế nên dạy cho những người tu
tập pháp tam ma đề đoạn hẳn cái tâm đắm nhiễm dâm dục.
Đó là lời dạy chân chính, điều cơ bản thứ nhất của
các Như Lai Thế Tôn. Nương đó mà tu tập sẽ được Niết
bàn vô thượng. Nếu nói ngược lại lời dạy của Như Lai
là lời của bọn ma ba tuần không nên tin mà lầm lạc !
2.
Trừ tâm sát sanh[^]
A Nan
! Sát sanh đoạn mạng người là biểu hiện của tâm hung ác.
Muốn tu tập tam ma đề, tạo nhân giải thoát giác ngộ mà
không trừ bỏ tâm sát sanh thì không thể nào ra khỏi trần
lao. Dù có tu tập thiền định trí tuệ mà còn tâm háo sát
rốt cuộc lạc vào thần đạo. Bậc thượng thành đại lực
quỷ, bậc trung thành phi hành dạ xoa, bậc hạ thành địa
hành la sát. Các loài quỷ đó cũng có môn đồ đệ tử và
cũng tự xưng là thành đạo vô thượng. Sau Như Lai diệt độ
có nhiều quỷ thần loại này xuất hiện sôi nổi trong thế
gian. Họ rao giảng cho môn đồ rằng: Giết hại chúng sanh
cũng được đạo bồ đề.
A Nan
! Ông nay phát tâm tế độ chúng sanh, hãy dạy cho những người
ham tu tập pháp tam ma đề phải trừ bỏ hung hăng giết hại.
Đó là lời dạy chân chính, là điều cơ bản thứ hai của
các Như Lai Thế Tôn. Nếu nói ngược lại lời dạy của Như
Lai là lời của ma ba tuần, không nên tin mà lầm lạc !
3.
Dứt tâm thâu đạo[^]
A Nan
! Tất cả chúng sanh trong thế gian nếu không dứt bỏ tâm
trộm cướp thì dòng sanh tử còn tương tục để trả đền.
Những người ham tu tập tam ma đề nhằm ra khỏi trần lao,
dứt dòng sanh tử cần phải diệt hẳn tâm tham lam trộm cướp.
Nếu tâm trộm cướp còn dù có tu thiền định trí tuệ thì
cũng lạc vào tà đạo. Hạng trên thì thành tinh linh, hạng
giữa thành yêu mị, hạng dưới thành người tà đạo bị
các loài quỷ dựa vào. Các bọn tà đạo kia cũng có môn đồ
đệ tử và cũng tự xưng mình thành đạo vô thượng. Sau
Như Lai diệt độ, trong hậu thế có nhiều yêu mị, tà đạo
ấy sôi nổi trong thế gian. Chúng gian dối tự xưng mình là
thiện tri thức, là người đã được pháp thượng nhân, lừa
gạt những kẻ dễ tin đe dọa tinh thần, lôi kéo đi theo con
đường tín ngưỡng xằng bậy làm cho một số yếu lòng long
lay chánh tín đối với đạo vô thượng. Những người tin
theo chúng lần lần tài sản hao mòn, gia đình tan nát, vì những
lời rao giảng bịp bợm không có chân lý. Chúng mượn cách
phục sức của đạo Phật, hình thức dáng vẻ của sa môn,
buôn bán danh nghĩa Như Lai, tạo nhiều nghiệp ác.
4.
Bỏ tâm vọng ngữ[^]
A Nan
! Lục thú chúng sanh, giả sử dứt hết được sát sanh, trộm
cướp và dâm dục nhưng nếu mắc phải đại vọng ngữ thì
tu tập tam ma đề cũng không thành tựu.
Thế
nào là đại vọng ngữ ? Rằng chưa đạt đạo tự khoe mình
đạt đạo, chưa chứng quả tự tuyên bố rằng mình chứng
quả… Rằng ta đã thành A La Hớn, là Bồ Tát, Phật, Như
Lai… Những người đáng thương ấy chỉ vì lợi dưỡng,
vì sự lễ bái cúng dường của tín thí đàn việt, họ tự
hủy diệt hạt giống Phật, thành nhất xiển đề trong Phật
Pháp, sẽ bị chìm đắm mãi trong biển khổ luân hồi không
lượng được ngày ra.
Như
Lai dạy các hàng Thanh Văn Duyên Giác, Bồ Tát trong mạt thế
tương lai có thể hiện thân qua các dạng người: Hoặc sa
môn, bạch y cư sĩ, vua, đồng nam, đồng nữ, quả phụ, dâm
nữ, thậm chí dạng người trộm cướp để đồng sự với
chúng sanh, để khen ngợi Phật thừa, hướng dẫn những người
lầm lạc trở về chánh đạo, thành tựu tam ma đề. Nhưng
tuyệt đối không được tự xưng là: A La Hớn, Bồ Tát, Phật
Như Lai…
A Nan
! Ông đã phát tâm vì chúng sanh hậu thế, nên dạy cho những
người ham tu tập tam ma đề bỏ dứt tâm đại vọng ngữ.
Đó là lời dạy chân chính, là điều cơ bản thứ tư của
các Như Lai Thế Tôn. Nếu nói ngược lại lời dạy của Như
Lai là lời của ma ba tuần, không nên tin mà lầm lạc.
*
* *
TRỰC
CHỈ
"Bốn
điều cơ bản xuất trần", nói cách khác là "bốn trọng giới
trong muôn giới luật". Trong quá trình thuyết giáo độ sinh
của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, giáo lý Ngài dạy gồm trong
hai nội dung: tri và hành. Nội dung thứ nhất nhằm đào tạo
bồi dưỡng cho con người có nhiều kiến giải để nhận
thức chân lý của vũ trụ thiên nhiên. Thành tựu nội dung
đó không có cách nào khác hơn là cần phải có trí để tri,
để mà tư duy nhận thức. Cho nên Phật vận dụng nhiều ngôn
từ, nhiều thí dụ, nhiều phương tiện trong suốt quá trình
giáo hóa độ sanh. Những tư tưởng, ngôn từ, phương tiện
đó được ghi chép để lại hậu thế, người ta gọi là
kinh tàng.
Nội
dung thứ hai nhằm hướng dẫn cho người chịu học theo nền
giáo lý Phật phải thực hiện những điều đã học hỏi,
đã nhận thức về chơn lý, cần cải tạo đời sống cho
sáng sủa hơn, an lành hơn, hạnh phúc hơn và đỉnh cao của
cuộc sống là giác ngộ và giải thoát. Để hiện thực hóa
lý tưởng đó, Đức Phật dạy cho các đệ tử về môn giới
luật. Thực hiện giới luật tức là pháp hành. Hành theo quy
tắc, hành trong khuôn khổ, hành trong giới luật không cho sai
phạm những điều Phật đã chế ra để làm cái hàng rào
ngăn cách những hố sâu tội lỗi. Những điều ngăn cấm
đó, được ghi chép để lại, hậu thế gọi đó là luật
tàng.
Bốn
điều cơ bản xuất trần, phát xuất từ nội dung thứ hai,
nó thuộc về giới học, là một trong tam vô lậu học.
Giới
có giới trọng giới khinh, nói cách khác là có tánh giới
và giá giới.
Bốn
điều cơ bản này thuộc về tánh giới. Tánh giới là giới
trọng. Tánh giới có Phật ra đời hay không có Phật ra đời;
Phật chế ra hay không đề cập đến, nếu một người nào
trong xã hội phạm phải những điều đó thì luật pháp của
xã hội cũng kết tội và trừng trị.
Phật
chế giới dâm là ngăn cấm người xuất gia làm việc dâm
dục. Dâm dục và thực dục là hai thứ đam mê làm cho con
người đam mê hơn tất cả. Theo Phật học vì đam mê dâm
dục và thực dục cho nên gọi người đó là người ở trong
cõi dục. Cõi dục mà chưa ra khỏi thì làm sao hy vọng giải
thoát giác ngộ của quả Vô Thượng Bồ Đề. Cho nên điều
cơ bản thứ nhất Phật dạy đoạn dâm dục và đoạn cả
tâm móng khởi đam mê dâm dục. Có vậy mới có tâm hồn thanh
tịnh tu chỉ quán để thành tựu tam ma đề.
Sát
sanh đoạn mạng là hành động biểu hiện của con người
tham sân cực độ. Phật dạy tu tập tam ma đề mong ra khỏi
trần lao phải trừ bỏ tâm tham sát sanh đoạn mạng, đó là
chơn lý tất nhiên.
Trộm
cướp là hành động của con người mạt hạng vô lương trong
xã hội. Tu cốt để tiến lên thánh quả đến giải thoát
giác ngộ đến Vô Thượng Bồ Đề Niết Bàn mà còn trộm
cướp hay còn tâm trộm cướp thì quả là điều phi lý, ai
cũng biết; vì nhân quả tương phản rõ ràng như trắng với
đen vậy.
Vọng
ngôn, ỷ ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu gọi chung là vọng ngữ.
Người thế gian phạm phải vọng ngữ luật pháp xã hội quy
thành hành động "bội tín" rồi. Bội tín là một cái tội,
luật pháp xã hội không dung tha; người đệ tử Phật phạm
phải thì còn gì để gọi là tu với hành được nữa !
Đến
như đại vọng ngữ lại còn tệ hại hơn nhiều. Ngoài cái
tội vọng ngôn bội tín của xã hội, đại vọng ngữ còn
mắc thêm cái tội lạm xưng danh nghĩa Bồ Tát… Phật… để
dối bịp chúng sanh, bán buôn Bồ Tát, Phật để làm nghề
sanh nhai bất chánh.
Nói
rút lại dâm, sát, đạo, vọng là tánh giới, là trọng giới
cơ bản trong muôn giới luật. Đó là pháp hành, là cụ thể
hóa về những nhận thức của tri. Tri hành hợp nhất được
biểu hiện qua giáo lý vị tằng hữu thuyết về thiên thủ
thiên nhãn của Quán Thế Âm Bồ Tát ở đoạn kinh trước.