TẬP
01
Lời
nói đầu
Chương
01
Đề
kinh
Nhơn
duyên và thời điểm Phật nói kinh Thủ Lăng Nghiêm
Chương
02
Tâm
là căn bản của Bồ Đề Niết Bàn và cũng là căn bản của
luân chuyển sanh tử
Ông
A Nan cho rằng tâm ở trong thân
Ông
A Nan cho rằng tâm ở ngoài thân
Ông
A Nan cho rằng tâm núp sau con mắt
Ông
A Nan cho rằng nhắm mắt thấy tối là tâm ở trong thân
Ông
A Nan cho rằng sự suy nghĩ hợp với chỗ nào thì tâm liền
có ở chỗ đó
Ông
A Nan cho rằng tâm ở chặng giữa
Ông
A Nan cho rằng tâm là cái không dính dáng vào đâu cả
Luân
hồi sanh tử không phải là hiện tượng họa gởi tai bay.
Bồ Đề Niết Bàn không phải là cảnh giới siêu nhiên do
đấng siêu nhân nào ban tặng.
Lại
gạn hỏi cái tâm
Tâm
thì phải có thể tánh, không thể tánh không phải là tâm
Cái
tánh thấy của mắt chỉ là hiện lượng
Gạn
hỏi nghĩa khác trần nhằm chỉ rõ hiện tượng vọng tưởng
diệt sanh. Ví dụ chủ và hư không để khai thị bản thể
chơn tâm thường trú
Chương
03
Trong
thân thể vô thường sanh diệt còn có cái thường bất sanh
bất diệt
Rằng
ngược xuôi chỉ là sự áp đặt chủ quan, một ý thức chấp
mắc
Lựa
bỏ tâm vương víu cảnh duyên để chỉ tánh thấy không chỗ
trả về
Vật
là đối tượng phân biệt của tâm. Tâm biểu hiện qua tánh
thấy là chủ thể phân biệt vật
Tánh
thấy không lớn nhỏ đứt nối chỉ do tiền trần ngăn ngại
mà thôi
Tánh
thấy và vật bị thấy vốn là tâm tánh bồ đề nhiệm mầu
sáng suốt
Không
có cái nào là tánh thấy
Tất
cả cái nào cũng là tánh thấy
Bồ
Tát Văn Thù cầu Phật thương xót… Phật dạy: Tánh thấy
không thể đặt vấn đề: "là" hay "không là".
Tánh
thấy rời tất cả tướng, nhưng nó không ngoài tất cả Pháp.
Giáo lý nhơn duyên vẫn chưa là đệ nhất nghĩa. Thuyết tự
nhiên là một nhận thức sai lầm chơn lý vũ trụ.
Do
nhận thức sai lầm khiến cho con người bỏ mất bản tâm
thanh tịnh, bản giác thường trú của mình.
Tánh
thấy ngoài hai nghĩa: Hòa hợp và không hòa hợp
Bốn
khoa bảy đại vốn là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai
tàng
Năm
ấm là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng:
Sắc
ấm
Thọ
ấm
Tưởng
ấm
Hành
ấm
Thức
ấm
Sáu
nhập là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng:
Nhãn
nhập
Nhĩ
nhập
Tỷ
nhập
Thiệt
nhập
Thân
nhập
Ý
nhập
Mười
hai xứ là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng.
Sắc
và kiến
Thanh
và thính
Hương
và khứu
Vị
và thường
Xúc
và thân
Pháp
và ý
Chương
03 Tiếp Theo
Mười
tám giới là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng.
Nhãn
thức giới
Nhĩ
thức giới
Tỷ
thức giới
Thiệt
thức giới
Thân
thức giới
Ý
thức giới
Bảy
đại là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng.
Địa
đại hoàn nguyên
Thủy
đại hoàn nguyên
Hỏa
đại hoàn nguyên
Phong
đại hoàn nguyên
Không
đại hoàn nguyên
Kiến
đại hoàn nguyên
Thức
đại hoàn nguyên
Ông
A Nan và đại chúng tán dương Phật, phát nguyện và trình
Phật những điều tâm đắc của mình.
LỜI
NÓI ĐẦU
Kinh
Thủ Lăng Nghiêm là một bộ kinh thuộc hệ tư tưởng thượng
thừa liễu nghĩa. Từ xưa nhẫn nay, khắp chốn tòng lâm, những
hàng long tượng trong giới truy lưu đều xem Thủ Lăng Nghiêm
kinh là một trong những bộ kinh then chốt trong nền giáo lý
Phật. Bộ kinh này có mặt ở Trung Quốc từ đời nhà Đường
(618-907). Ngài Bát Lạt Mật Đế và Di Già Thích Ca dịch từ
Phạn văn ra Hán văn.
Mãi
đến đời nhà Minh (1366-1661) tư tưởng Thủ Lăng Nghiêm, được
các giới truy lưu, những hàng long tượng để tâm nghiên cứu
rầm rộ một thì. Các tiền bối ra sức phát huy diệu lý
của kinh. Mỗi Ngài chú giải, sở thích, sáng tác theo sở
kiến, sở ngộ của mình. Có những vị phát huy cái thâm cái
diệu tàng ẩn trong kinh làm cho sáng tỏ rõ ràng đem lại cho
Phật Tử hậu lai nhiều lợi lạc. Cũng có những vị sớ
giải mơ màng, gieo vào lòng người con Phật những tư tưởng
huyễn hoặc hoang đường, vô phương lý giải. Do vậy, những
bậc thạc đức chân tu cùng thời, Ngài Thích Truyền Đăng
phải viết ra hai quyển, nhan đề: Lăng Nghiêm viên thông sớ
tiền mao. Nội dung để báo động trong giới truy lưu về sự
sai lầm của những nhà sớ giải vô tình đã gieo vào lòng
nguời con Phật tư tưởng mê tín dị đoan, con đường giải
thoát giác ngộ mơ hồ không hy vọng có ngày hiện thực. Trong
lời tựa của bộ "Thủ Lăng Nghiêm chính mạch" thì Ngài Chơn
Giám cũng than phiền tương tợ !…
Ở
Việt Nam ta, từ những thập niên 30 về sau, phong trào chấn
hưng Phật giáo, các trường cao cấp Phật học đều dùng
bộ Thủ Lăng Nghiêm trực chỉ của Ngài Hàm Thị mà giảng
dạy trong giáo trình.
Qua
quá trình tu học và nghiên cứu, bỉ nhân tôi, thấy phần
"Trực Chỉ" của bộ kinh này, đại cương mà nhận xét, có
nhiều ý thú thâm sâu, cũng có thể làm kim chỉ nam cho giới
truy lưu giồi mài, tư duy và tu dưỡng có đem lại được
những điều bổ ích. Dù vậy, sự bổ ích đó chỉ nghiêng
nặng cho giới truy lưu, cho những người dồi dào đức tin
đối với Tôn giáo của mình, đức tin đó được khép kín
trong chốn tòng lâm "thanh tịnh" cổ kính "u nhàn".
Cái
tâm nhận thức của Tăng tín đồ Phật tử trong xã hội ngày
nay đòi hỏi nền giáo lý Phật giáo phải khế cơ, khế lý;
nghĩa là phải được cụ thể hóa rõ ràng hơn. Phải biến
nền giáo lý đó thành một thứ chất dinh dưỡng đem lại
cho con người sự bồi bổ, sự ích lợi cho bản thân, cho
gia đình, cho xã hội và đáp ứng yêu cầu tri thức của người
đệ tử Phật ngang bằng tầm cỡ của thời đại. Bởi vì,
xã hội loài người, vật chất cũng như tinh thần luôn luôn
trong tiến trình vận động và chuyển hóa, mà cái gì không
tiến tức đã lùi.
Đất
nước của chúng ta đang ở trong tiến trình chuyển mình và
hoàn toàn đổi mới. Mới về chính trị, kinh tế, xã hội,
văn hóa, tất nhiên phải mới cả tư tưởng. Nói đến sự
kiện này, tôi thành thật không giấu giếm rằng: Tôi rất
may mắn, có phúc duyên, tôi được kịp thời và đúng lúc,
hòa mình vào xã hội mới để học tập. Tôi tìm học những
cái hay cái mới để bồi dưỡng cho kiến thức của mình.
Và sự thật, thời gian qua đem lại cho tôi một kết quả
rất bằng lòng, và bằng lòng thật sự, bằng lòng trọn vẹn.
Tôi vận dụng những kiến thức của thời đại, dung hòa
vào cái vốn liếng Phật học sẵn có của mình. Tôi thấy
vô cùng sáng tỏ. Rồi vì đàn em hậu tiến trong giới truy
lưu vận dụng vào kinh điển trong giáo trình mà mình đã có,
tôi viết thành những giáo án Phật học. Việc làm này tôi
chưa dám nói là hoàn bị mọi mặt yêu cầu, nhưng sự thật
trước mắt là người học có cái nhìn chính xác hơn đối
với lời kinh, ý Phật. Và tự mình gỡ bỏ cho mình những
cặp kính ảm đạm mơ hồ, nhìn đâu cũng thấy toàn bộ một
màu buồn tẻ hoang đường, huyễn hoặc, siêu hình vô phương
lý luận. Tai họa của sự nhận thức sai lầm chơn lý, có
nuôi dưỡng trong con người một tâm hồn yếu đuối, làm
cho con người mất hết sức tự tin; con người không tin khả
năng thành Phật của mình, không tin nổi rằng: mình vốn có
Phật tánh. Con người đã mất khả năng tự tin thì suốt
cuộc đời mệnh danh là đệ tử Phật nhưng "linh hồn" thì
đã gởi gấm cho "đấng siêu nhiên" nào đó ở một thế giới
xa xăm ngoài tầm lý luận của trí thức con người. Đó là
cái buồn chung cho trong hàng đệ tử Phật lạc lối ngày nay.
Học
kinh Thủ Lăng Nghiêm, con người sẽ xác định được vị
trí của mình đối với quả vị Bồ Đề Niết Bàn vô thượng.
Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni của chúng ta sống bằng
"Chơn tâm thường trú" sinh hoạt trong "Thể tánh tịnh minh".
Mà tất cả mọi người đệ tử Phật trong chúng ta đều
có "Chơn tâm thường trú" và "Thể tánh tịnh minh" ấy. Chỉ
khác nhau ở chỗ:
Còn
phiền não khách trần hay phủi hết phiền não khách trần
vậy thôi.
Cái
từ Trực Chỉ trong giáo án "Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ Đề
Cương" nầy không lệ thuộc, không tương quan gì với ý tứ
của Ngài Hàm Thị ở thời Minh xa xưa bên Trung Quốc. Mà phần
trực chỉ nầy, thể hiện từ quá trình học tập trong thời
đại mới với những tư tưởng mà tôi rất bằng lòng như
đã nói ở trên.
Để
trắc nghiệm sự bằng lòng của mình xem có chủ quan không,
tôi đem cái nhận thức mới, vận dụng qua nền giáo lý thậm
thâm của Phật, tôi giảng dạy cho Tăng Ni trường Phật học
Cao cấp cơ sở I ở Thủ đô Hà Nội, từ năm 1981 đến 1985.
Lắng nghe dư luận: Kết quả tốt. Tôi đang thí nghiệm tư
tưởng đó ở Trường Phật học Cao cấp cơ sở II ở Thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 1985 đến nay. Lắng nghe, có kết
quả tốt. Tôi giảng cho Tăng Ni và tín đồ Phật tử ở nhiều
giảng đường khá đông đảo ở thành phố Hồ Chí Minh trong
nhiều năm liên tục. Lắng nghe, đều kết quả tốt.
Nay
tôi viết giáo án "Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ Đề Cương"
nầy nhằm phục vụ cho đối tượng Tăng Ni sinh Phật học
cao cấp. Hiện nay thì tôi đang giảng cho Tăng Ni sinh năm thứ
3 trường Phật học cao cấp cơ sở II tại thành phố Hồ
Chí Minh. Dù vậy, trình độ của người Phật tử trí thức
ngày nay, có rất nhiều người hâm mộ nghiên cứu học tập
tư tưởng liễu nghĩa thượng thừa thâm diệu của kinh Thủ
Lăng Nghiêm nầy.
Đã
là giáo án, tất nhiên còn phải triển khai hướng dẫn rộng
thêm nhiều mặt.
Đã
là đề cương thì không thể đòi hỏi ở đây những chi tiết
quá rộng rãi ở kinh văn nguyên chất.
Tuy
nhiên, Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ Đề Cương tương đối đủ
sức giúp cho người đọc nắm lấy cái bâu của áo, xách
lên cái giềng của lưới, nghĩa là có thể tiếp thụ được
cái ý thú thâm diệu, tư tưởng cốt tủy của lời kinh. Dù
vậy, sự nhận thức và tiếp thụ đến mức độ nào việc
đó còn tùy thuộc một phần ở con người nữa; cũng như
trông một viên ngọc kim cương, chắc chắn ai cũng thấy biết
được sắc màu của viên ngọc, nhưng đánh giá đúng trọn
vẹn màu sắc hay không còn tùy ở sự có biết thay đổi hướng
đứng hay không để nhìn viên ngọc của chính mình.
Việc
phê phán khen chê, tôi đã có dự trù và sẵn sàng hoan hỉ
tiếp thu. Trong kinh Niết Bàn, đức Phật kể câu chuyện năm
chàng mù sờ voi… Rồi họ ấu đả với nhau, vì trong đó,
không có anh nào cho rằng mình không biết rõ con voi thật.
Con voi như cây cột, con voi như cái quạt mo, vẫn chưa phải
vô lý, kia mà !
Này
! Các bạn ơi ! Tôi đã thấy được con voi thật ! Nó thường
phe phẩy hai tai, nó dẫm tới dẫm lui và tỏ vẻ thèm thuồng,
muốn xin những lóng mía của khách nhàn du trong "vườn bách
thú" ấy.
Viết
tại Huỳnh Mai Tịnh Thất
Mùa
thu năm Bính Dần
Ngày
23 tháng 09 năm 1986
Pháp
Sư Thích Từ Thông