Tập
I
CHƯƠNG
THỨ BA
Trong
thân thể vô thường sanh diệt còn có cái thường bất sanh
bất diệt
Rằng
ngược xuôi chỉ là sự áp đặt chủ quan, một ý thức chấp
mắc
Lựa
bỏ tâm vương víu cảnh duyên để chỉ tánh thấy không chỗ
trả về
Vật
là đối tượng phân biệt của tâm. Tâm biểu hiện qua tánh
thấy là chủ thể phân biệt vật
Tánh
thấy không lớn nhỏ đứt nối chỉ do tiền trần ngăn ngại
mà thôi
Tánh
thấy và vật bị thấy vốn là tâm tánh bồ đề nhiệm mầu
sáng suốt
Không
có cái nào là tánh thấy
Tất
cả cái nào cũng là tánh thấy
Bồ
Tát Văn Thù cầu Phật thương xót… Phật dạy: Tánh thấy
không thể đặt vấn đề: "là" hay "không là".
Tánh
thấy rời tất cả tướng, nhưng nó không ngoài tất cả Pháp.
Giáo lý nhơn duyên vẫn chưa là đệ nhất nghĩa. Thuyết tự
nhiên là một nhận thức sai lầm chơn lý vũ trụ.
Do
nhận thức sai lầm khiến cho con người bỏ mất bản tâm
thanh tịnh, bản giác thường trú của mình.
Tánh
thấy ngoài hai nghĩa: Hòa hợp và không hòa hợp
Bốn
khoa bảy đại vốn là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai
tàng
Năm
ấm là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng:
Sắc
ấm
Thọ
ấm
Tưởng
ấm
Hành
ấm
Thức
ấm
Sáu
nhập là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng:
Nhãn
nhập
Nhĩ
nhập
Tỷ
nhập
Thiệt
nhập
Thân
nhập
Ý
nhập
Mười
hai xứ là hiện tượng biểu hiện từ Như Lai tàng.
Sắc
và kiến
Thanh
và thính
Hương
và khứu
Vị
và thường
Xúc
và thân
Pháp
và ý
1.
TRONG THÂN THỂ VÔ THƯỜNG SANH DIỆT CÒN CÓ CÁI THƯỜNG, BẤT
SANH BẤT DIỆT
Ông
A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái,
nghĩ mình vô thỉ đến nay bỏ mất bổn tâm, lầm nhận sự
phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm. Ngày nay được Phật
khai ngộ, như em bé mất sữa bỗng được gặp mẹ hiền,
đồng chấp tay lễ Phật, cầu xin chỉ cho chỗ chân vọng
thực hư, ở nơi thân tâm hiện tiền phát minh hai tánh: sanh
diệt và không sanh diệt.
Bấy
giờ vua Ba Tư Nặc đứng dậy thưa:
- Bạch
Thế Tôn: Khi chưa được gặp Phật, tôi nghe bọn Ca Chiên
Diên, Tỳ La Chi Tử nói rằng: Thân này chết rồi là mất
hẳn, gọi đó là Niết Bàn. Nay tuy được gặp Phật, nghe
pháp, nhưng tôi vẫn còn hồ nghi, xin Thế Tôn chỉ dạy, làm
thế nào để được nơi thân tâm này cái gì không sanh diệt
?
Phật
bảo: Này Đại Vương ! Như Đại Vương đã biết: Cái thân
vô thường, vận động, sanh diệt chuyển biến theo năm tháng
của thời gian, không có một giây phút, một sát na dừng trụ.
Từ thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, độ thanh xuân
nào rồi cũng đến lúc da mồi tóc bạc… mà Đại Vương
biết chắc là nó sẽ tiêu mà hoại diệt. Thưa Đại Vương
! Đó là chân lý của cuộc đời; hữu tình vô tình cùng chung
một định luật sanh diệt, diệt sanh của vạn pháp hiện
tượng.
Nhưng
nầy ! Thưa Đại Vương ! Như Đại Vương vừa nói: Lúc 3 tuổi
cùng mẹ đi cúng lễ thần Kỳ Bà Thiên, đó là lần đầu
tiên Đại Vương thấy nước sông Hằng, rồi năm 13 tuổi
cho đến nay Đại Vương 62 tuổi mà "cái thấy" của Đại
Vương thấy nước sông Hằng vẫn y nguyên không sai khác !
Thưa
Đại Vương ! Dựa trên khái niệm thời gian tương đối mà
đánh giá tuổi tác con người. Hiện nay mặt Đại Vương tuy
nhăn, nhưng tánh thấy của Đại Vương không nhăn; tóc Đại
Vương bạc, mà cái thấy của Đại Vương không bạc. Cái
có bị nhăn, bị bạc là những cái có sanh diệt, đổi thay.
Cái không nhăn, không bạc, không bị chi phối bởi luật vô
thường thì làm chi có thay đổi ! Có đổi thay thì có hoại
diệt, không thay đổi, đồng nghĩa với bất diệt, bất sanh.
Đại Vương còn sợ gì cái thuyết "đoạn kiến" của bọn
Mạt Già Lê, bảo rằng: "Thân nầy chết là mất hẳn"?
Nhà
vua nghe lời Phật, nhận biết về sau khi bỏ thân nầy không
phải mất hẳn. Vua và đại chúng hớn hở vui mừng, được
cái chưa từng có.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Đọc
đoạn kinh trên, tôi chợt liên tưởng đến câu thơ của Tố
Như tiên sinh, một thi hào Việt Nam, thế kỷ 18 viết:
"…
Rằng: những đấng tài hoa
Thác
là thể phách, còn là tinh anh".
Cái
"Tinh anh" mà Tố Như tiên sinh nói, ta có thể hiểu cái từ:
"Linh tri", "Giác Linh", "Linh hồn" hay "Thần thức" tuyệt đại
đa số loài người trên mặt đất đều tin tưởng, rằng
sau khi con người chết, còn "một cái" trong những từ đó.
Nhưng "cái đó" sẽ ở đâu và sẽ đi về đâu, điều đó
tùy tập quán tín ngưỡng và tôn giáo mà người đó tôn thờ.
Ở
đoạn kinh nầy, cái "tinh anh" không mất của con người sau
khi chết, người đệ tử Phật có thể hiểu đó là: "Bản
thể chơn như của hiện tượng vạn hữu", cũng gọi là "Như
Lai Tàng" và ta sẽ thấy đức Phật dạy rõ ở những đoạn
kinh sau: Bởi vì theo giáo lý Phật không có một hiện tượng
sanh diệt nào rời ngoài bản thể chơn như của nó; cũng như
không có một bản thể chơn như nào không biểu hiện qua hiện
tượng vạn hữu. Những đợt sóng sanh diệt, sanh trên mặt
nước phẳng lặng vốn dĩ bất sanh. Nếu sóng lặng đi rồi,
mặt nước phẳng lặng như tờ hãy còn nguyên đó.
Phật
khai thị cho vua Ba Tư Nặc và đại chúng: Sắc thân là một
hiện tượng, một dạng vật lý cho nên bị chi phối bởi
định luật vô thường sanh diệt của vạn pháp hiện tượng
hữu vi. Trong cái vô thường còn có cái thường, đó là cái
tánh thấy, tánh thấy cũng là một hiện tượng, nhưng là
hiện tượng của một dạng tâm lý của bản thể chơn như,
cho nên sự sanh diệt của hiện tượng tâm lý chỉ là sự
tùy duyên biểu hiện của bản thể. Do vậy, thân già nhưng
tánh thấy không già; tóc bạc mà tánh thấy không bạc… Cái
có già có bạc có đổi thay rồi sẽ hoại diệt mất đi.
Bản thể chân thường thì không chịu sự chi phối của hiện
tượng vật lý hữu vi sanh diệt…
"Xuân
đến trăm hoa nở
Xuân
đi trăm hoa rụng
Sự
vật đổi thay trông trước mắt
Già
nua biểu hiện mái tóc nâu
Đừng
tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Trước
sân, xuân nọ cành mai hãy còn"
(Xuân
đáo bách hoa khai
Xuân
khứ bách hoa lạc
Sự
trục nhãn tiền quá
Lão
tùng đầu thượng lai
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình
tiền tạc dạ nhất chi mai)
MÃN
GIÁC THIỀN SƯ
Mai
nở mai rụng là hiện tượng sanh diệt của hoa mai trong một
thời kỳ 5 đến 7 ngày. Còn cây mai trước sân của đêm xuân
hôm ấy, sẽ tiếp nối trưởng thành để rồi xuân tới và
xuân tới nữa cứ lại trổ hoa mai…
*
* *
2.
RẰNG NGƯỢC RẰNG XUÔI CHỈ LÀ SỰ ÁP ĐẶT CHỦ QUAN, MỘT
Ý THỨC CHẤP MẮC !(^)
Ông
A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật, chấp tay quỳ
gối và thưa:
- Bạch
Thế Tôn ! Nếu tánh thấy thật không sanh diệt, cớ sao Thế
Tôn lại gọi bọn chúng tôi là bỏ mất chơn tánh làm việc
trái ngược ? Xin Phật mở lòng thương xót rửa sạch trần
cấu cho chúng tôi !
Bấy
giờ Phật duỗi cánh tay hướng xuống đất bảo ông A Nan
rằng:
- Ông
thấy tay tôi như thế này là xuôi hay ngược ?
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Mọi người thế gian cho như vậy
là ngược, còn tôi thì không biết thế nào là ngược, thế
nào là xuôi.
Nếu
người thế gian cho như vậy là ngược thì họ gọi thế nào
là xuôi ?
- Như
Lai đưa cánh tay hướng lên trên không thì gọi là xuôi.
Bấy
giờ Phật đưa cánh tay lên và bảo ông A Nan: Cái trái ngược
của các ông là ở chỗ đó chỉ một việc thay đổi lẫn
nhau, vậy mà người thế gian gán cho cái thấy một ý niệm
Ngược, Xuôi ! A Nan ! Thân ông và thân Như Lai chẳng khác gì
nhau, nhưng thân Như Lai là pháp thân thanh tịnh chánh biến
tri giác, còn ông thì gọi là người làm việc trái ngược
bỏ mất chân tánh. Vậy ông hãy chín chắn nghĩ suy tìm xem
sự trái ngược của thân ông và thân Phật khác ở chỗ nào
?
Ông
A Nan và đại chúng chăm chăm ngó Phật mắt không lay động
chẳng biết thân tâm trái ngược do ở nơi đâu ?
Đức
Phật khởi lòng thương xót, phát tiếng hải triều, bảo khắp
đại chúng: Các thiện nam tử ! Tôi thường nói: Sắc, tâm
và tâm Sở pháp đều duy tâm hiện. Thân tâm các ông chỉ
là vật ở trong chân tâm minh diệu. Tại sao các ông bỏ mất
đi cái chân tâm minh diệu quý báu mà nhận lấy cái mê trong
ngộ ?
A Nan
! Do mê muội nhận thấy không. Cái không phải không, nhận
cho là sắc. Sắc có xen tưởng thì nhận đó là thân. Cảnh
sắc bên ngoài phản ánh tư tưởng bên trong rồi cho cái tác
dụng nghĩ ngợi lăng xăng là tâm tánh. Một phen lầm cho đó
là tâm thì quyết định cũng lầm cho "tâm ở trong thân". Do
đó, không thể hiểu được rằng: Sắc, tâm, núi, sông, đất
liền cho đến cả hư không đều là những vật trong Chân
Tâm Minh Diệu. Thật chẳng khác trăm ngàn biển lớn sạch
trong chỉ nhận một cái bọt nước rồi cho đó là nước
của toàn thể đại dương. Bọn các ông là kẻ mê trong những
người mê, chỉ một cánh tay tôi mà nảy sanh quan niệm Ngược
xuôi, tranh biện. Như Lai gọi các ông là những người đáng
thương xót.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Duy
thức luận nói:
"Danh
sư hổ vi khách
Kỳ
tánh ưng tầm tư"
Đứng
bên mặt chơn tế, vạn pháp vốn không có tuổi tên. Đặt
ra tên tuổi là do biến kế chấp của ý thức con người.
Bên mặt tục đế, xã hội loài người không thể không đặt
tên sự vật để khái niệm để nhận thức và xưng gọi.
Đặt cho sự vật vạn pháp một danh ngôn để xưng gọi mà
con người sống phù hợp theo tánh hiện thực khách quan của
nó, thì cũng chẳng có gì tội lỗi đáng trách. Trái lại,
đó còn là một yêu cầu tự nhiên của quá trình tiến hóa,
cho cuộc sống loài người. Tai hại của danh ngôn là do sanh
lòng chấp mắc. Chỉ một cánh tay Phật duỗi xuống mà sanh
khởi ý niệm ngược xuôi. Mầm mống tranh chấp thị phi dựa
trên cơ sở "biến kế" ấy phát sanh. Cái cánh tay hiện thực,
thì mọi người đánh mất cái vai trò Như Thị khách quan của
nó. Lấy một cánh tay Phật làm ước lệ, để chỉ rõ cho
đại chúng cái tánh chất tai hại của "biến kế danh ngôn".
Do "biến kế sở chấp", con người không nhận thức đúng
tự tánh "y tha khởi" của sự vật hiện tượng. Vì vậy,
con người không sao biết được tánh "thắng nghĩa" "chơn như"
và tánh "thường như viên thành thật" của hiện tượng vạn
pháp.
Cùng
là thân, mà thân Phật gọi là pháp thân thanh tịnh Chánh biến
tri giác. Bởi vì Như Lai làm chủ bản thân, làm chủ vạn
pháp, làm chủ tâm tánh mình. Như Lai nhìn hiện tượng vạn
pháp với cái Tri kiến Vô kiến. Vì vậy, Như lai là bậc Pháp
Vương. Ông A Nan và tất cả chúng sanh nhận thức vạn pháp
theo Tri Kiến Lập Tri cho nên Phật gọi là những người làm
việc trái ngược bỏ mất chơn tánh.
"Sắc,
tâm và tâm Sở pháp đều duy tâm hiện". Chữ tâm phải được
hiểu là đệ bát thức Alaya. Chỉ có đệ bát Alaya mới đủ
tiêu chuẩn là "Chân tâm minh diệu".
Duy
thức luận nói:
"Tính
duy vô phú, ngũ biến hành
………………………………
Hạo
hạo tam tàng bất khả cùng
Uyên
thâm thất lảng cảnh vi phong
Thọ
huân trì chủng căn thân khí…"
Nếu
cho rằng tâm ở trong thân, chẳng khác nhận một cái bong bóng
nước cho là nước của toàn thể đại dương. Nên biết rằng
sắc, thân, núi, sông, đất liền… cho đến cả hư không,
đều là những vật trong Chân Tâm Minh Diệu ấy !
*
* *
3.
LỰA BỎ TÂM VƯƠNG VÍU CẢNH DUYÊN
ĐỂ
CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG CHỖ TRẢ VỀ(^)
Ông
A Nan nghe lời dạy bảo thâm thiết của Phật, sung sướng
rơi nước mắt, vòng tay mà bạch Phật rằng: Tôi nghe diệu
âm của Phật, dù nhận rõ chân tâm minh diệu vốn là tâm
địa thường trú viên mãn, nhưng chỉ nhận trên pháp âm Phật
nói. Tôi đang dùng tâm vương víu cảnh duyên thỏa mãn lòng
ái mộ Phật. Tôi cũng chỉ nhận thức được một cách mơ
hồ chưa dám nhận đó là tâm địa vốn có của mình. Mong
Phật thương xót dùng viên âm dạy bảo, nhổ gốc nghi ngờ
cho tôi được về với đường vô thượng giác.
Phật
bảo: Bọn ông còn lấy tâm vướng víu cảnh duyên mà nghe
pháp, thì pháp đó cũng chỉ là pháp tướng vướng víu tạm
thời, chưa phải nhận được pháp tánh. Ví như có người
lấy ngón tay chỉ trăng, người trí nương ngón tay để tìm
thấy trăng, nhưng nếu cho ngón tay là trăng, thì không bỏ
mất mặt trăng mà cũng bỏ mất luôn cả ngón tay nữa; vì
ngón tay mà đã tưởng là trăng, thì cũng không biết thế
nào là sáng, thế nào là tối ! Nay ông lấy sự phân biệt
pháp âm của tôi mà cho là tâm, thì lúc không có pháp âm,
lẽ ra ông phải còn phân biệt. Ví như người ngủ trọ, hết
ngủ thì đi, còn chủ quán trọ thì vĩnh viễn ở luôn không
đi đâu nữa. Cũng vậy, nếu thật là tâm của ông thì không
đi đâu, tại sao rời âm thanh thuyết pháp của tôi, cái phân
biệt của ông không còn ? Sự phân biệt về âm thanh đã vậy.
Sự phân biệt sắc, hương, vị, xúc, cho đến các phi sắc
phi không của pháp trần cũng vậy. Rời đối tượng phân
biệt ra cái phân biệt của ông phải thường còn, thì đó
mới thật là tâm tánh của ông. Trái lại, hễ đối tượng
không có, phân biệt cũng không còn, thế là tâm tánh của
ông có chỗ trả về, như khách đến rồi đi, không còn là
địa vị chủ nhân ông thường trú.
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tâm tánh tôi có chỗ trả
về, vậy cái chơn tâm minh diệu Như Lai nói, vì sao lại không
có chỗ trả về ? Xin Phật thương xót vì chúng tôi dạy bảo.
Phật
bảo: A Nan ! Cái thấy mà ông thấy tôi, dù không phải là
chân tâm minh diệu, nhưng nó là tánh thấy trong sáng chưa nhuốm
trần lao. Nó như vành trăng thứ hai chứ không đến nỗi như
bóng trăng đáy nước. Ông hãy chín chắn lòng nghe, nay tôi
chỉ cho ông cái nghĩa không chỗ trả về.
A Nan
! Đại giảng đường này mở rộng, phương đông mặt trời
lên thấy sáng suốt. Đêm ba mươi không trăng mây mù, thấy
tối đen. Chỗ có cửa mở thấy thông thương. Chỗ có tường
thấy ngăn bít. Chỗ có phân biệt được thấy cảnh sắc.
Chỗ trống trơn thấy hư không. Chỗ bụi cát tung lên thấy
mịt mù. Chỗ mưa tạnh mây tan thấy quang đãng.
A Nan
! Ông đã thấy các tướng biến hóa như vậy, nay tôi trả
các tướng ấy về chỗ bản nhơn của nó. A Nan ! Cái sáng
trả về cho mặt trời, vì không mặt trời thì không sáng;
bản nhơn cái sáng thuộc về mặt trời, cho nên trả về cho
mặt trời. Tối đen trả về cho đêm ba mươi. Thông thương
trả về cho cửa. Ngăn bít trả về cho tường. Cảnh sắc
trả về cho phân biệt. Hư không trả về cho khoảng trống.
Mịt mù trả về cho cát bụi. Quang đãng trả về cho mưa tạnh
mây tan. Sự vật thế gian tuy nhiều, nhưng không ngoài các
thứ đó. Còn cái thấy mà ông thấy tám thứ đó, ông định
trả nó về đâu ? Nếu ông trả về cho sáng thì lúc không
có sáng lẽ ra ông không thấy được tối. Nhưng trước mắt
ông, sáng và tối có sai khác mà cái thấy của ông thì không
sai khác. Cái có chỗ trả về hẳn nhiên không phải là ông.
Còn cái thấy không thể trả về đâu, nếu không phải ông
thì là ai len vô đó ?
Vậy
nên biết rằng: Tâm ông vốn nhiệm mầu, thanh tịnh sáng suốt
mà ông tự mê mờ bỏ mất gốc, nhận chịu luân hồi thường
bị chìm đắm trong biển sanh tử. Thế nên Như Lai gọi các
ông là những người đáng thương xót !
*
* *
TRỰC
CHỈ
Nghe
mà sanh lòng hoan hỷ, sung sướng rơi nước mắt là thành tựu
bước đầu: "âm hưởng nhẫn" của người đệ tử Phật.
Sanh lòng ái mộ, nhận rõ chân tâm minh diệu qua pháp âm Phật,
nhưng chỉ nhận một cách mơ hồ đấy là hiện tượng "nhu
thuận nhẫn" được phát sanh. Chưa dám nhận chân tâm diệu
minh là tâm địa vốn có của mình, vì ông A Nan bấy giờ
chưa thể nhập "vô sanh pháp nhẫn".
Nghe
pháp mà chỉ nghe bằng tâm vướng víu pháp âm, dù là pháp
âm Phật, thì cũng chưa lắng nghe được pháp tánh thanh tịnh
bản nhiên của vạn pháp vốn có ở lòng mình. Phải tự uống
trà mới biết hương vị của trà ngon. Chỉ nghe nói trà ngon
thì mới biết hương và vị trà không đời nào hiểu đúng.
Nương ngón tay để nhìn trăng, chứ ngón tay không bao giờ
là trăng được.
Dùng
tâm phân biệt tiếp nhận pháp âm Phật, tâm đó không thể
là chơn tâm được, vì nếu pháp âm không còn nữa thì cái
tánh "thường trú" cũng đã mất theo. Chả lẽ ông A Nan lúc
bấy giờ đã trở thành người gỗ đá vô tri vô giác ! Đối
với sắc, hương, vị, xúc cũng vậy. Tiền trần lúc có lúc
không, nhưng cái tâm thanh tịnh "vô phân biệt" của con người
không vì tiền trần mà theo sanh theo diệt. Phát hiện được
cái tâm thanh tịnh "vô phân biệt" vốn có của mình, Phật
gọi đó là "chơn tâm thường trú". Cái đó không có chỗ
trả về.
Thế
gian, hiện tượng tuy nhiều, nhưng tóm thu, không ngoài tám
tướng: Sáng, tối, thông, bít, sắc, không, trong, đục. Tám
tướng đều có thể trả về chỗ sở nhơn phát sanh ra nó.
Nhưng tánh thấy của ông A Nan nhận thấy tám tướng kia, không
thể trả về đâu. Rõ ràng cái tánh thấy ấy là của ông
A Nan chớ chẳng phải của ai khác. Tiền trần đối tượng
có đến có đi, có sanh có diệt, như người "khách" cho nên
ví "khách trần". Nhận thức chủ thể thường xuyên hiện
hữu, như "chủ" cho nên gọi: "chơn tâm thường trú".
Dù
vậy, sự thường trú của tánh thấy chỉ là hiện tượng
biểu hiện của chơn tâm, chớ chưa phải chơn tâm, nên ví
vành trăng thứ hai, chưa phải mặt trăng thật. Nói cách khác
đó là chân tâm, bên mặt hiện tượng tùy duyên. Chừng nào
nhận thức và thể nhập Bản Thể bất biến của chơn tâm
mới gọi là người thấy được mặt trăng thật.
Ô
hô ! Pháp hải u huyền trần tâm nan hội ! Chơn tâm hạo đảng
như nguyệt lâm thủy diện, bát khai thủy diện, nguyệt hoàn
thâm !
*
* *
4.
VẬT LÀ ĐỐI TƯỢNG PHÂN BIỆT CỦA TÂM. TÂM BIỂU HIỆN QUA
TÁNH THẤY LÀ CHỦ THỂ PHÂN BIỆT VẬT(^)
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn: Tuy tôi biết tánh thấy không thể
trả về, nhưng làm sao biết được đó là chơn tánh của
tôi ?
Phật
bảo: A Nan ! Ông chưa được quả vô lậu, nhờ thần lực
Phật mà thấy được cõi Sơ thiền: trong khi, ông A Na Luật
thì thấy cõi Diêm phù đề như quả quýt để trên bàn tay.
Bồ Tát thấy cùng tột các quốc độ thanh tịnh của mười
phương chư Phật. Còn chúng sanh thì thấy chẳng được xa
hơn gang tấc.
A Nan
! Tôi cùng ông xem cung điện Tứ Thiên Vương, chặng giữa
các hiện tượng đất liền biển cả và hư không, tuy có
nhiều hình sắc khác nhau, sáng tối không đồng, nhưng không
cái gì không phải tiền trần đối tượng phân biệt. Những
thứ mà ông thấy, ông hãy lựa xem cái gì là chủ thể, cái
nào là đối tượng phân biệt của ông ?
A Nan
! Cùng tột sức thấy của ông, từ mặt trời, mặt trăng…
cho đến thất kim sơn, xem xét khắp cùng, dù có thấp cao lớn
nhỏ và màu sắc không đồng nhưng cũng đều là vật chớ
chẳng phải ông. Lần xem mây kéo, chim bay, gió động, bụi
tung, cây, rừng, sông, núi, cỏ, hoa, súc vật… cho đến con
người đều là vật chớ chẳng phải ông.
A Nan
! Các vật gần xa đó, tuy khác nhau, nhưng đều do tánh thấy
thanh tịnh (hiện lượng, đệ nhất sát na) của ông. Các vật
loại kia có sai khác mà tánh thấy của ông thì không sai khác.
Tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu đó, rõ là chủ thể phân
biệt của chính ông, chứ còn ai nữa ! Nếu tánh thấy là
vật, thì ông đã thấy cái thấy của tôi. Nhưng sự thật
thì không như vậy. Điều đó chứng minh rằng: tánh thấy
không phải vật, mà là chủ thể phân biệt của chính ông.
Sự thể quá rõ ràng, sao ông còn nghi ngờ cái chơn tánh của
ông ? Chơn tánh của ông, ông không tự nhận, vướng chấp
pháp âm của tôi mà cầu thực chứng thì làm sao có được
?
*
* *
TRỰC
CHỈ
Tánh
thấy tức là nhãn thức. Nhãn thức là một trong tám thức
tâm vương. Tánh thấy thanh tịnh, sáng suốt nhiệm mầu, vì
tiếp thu trần cảnh, nó chỉ thu nhận "tánh cảnh" và "hiện
lượng" cho nên tự tánh của cái thấy vốn không có tội
lỗi gì. Nó là hiện tượng biểu hiện của chơn tâm, nó
gần với bản chất thanh tịnh của chơn tâm hơn các hiện
tượng khác, nên ví nó như vành trăng thứ hai do mắt nhặm
mà thấy, chứ nó không hư ảo, đảo điên như bóng trăng
in đáy nước.
Nếu
một tánh thấy để đơn cử công dụng phát thức của một
căn. Kỳ thật tánh cảnh hiện lượng là đặc tánh chung của
nhỉ, tỷ, thiệt, thân, năm thức trước. Năm thức trước
hoạt động trong một bối cảnh "tùy duyên". Chỉ có ý thức
đối với sự hoạt động của con người, tương đối nó
thường trú túc trực hơn năm thức trước. Nó chỉ không
hiện hữu ở năm trường hợp: Vô tưởng thiên, vô tưởng
định, diệt tận định, ngủ không chiêm bao và chết ngất.
Sáu
thức tác động vào sáu căn, biểu hiện ra thành sự nhận
thức của con người. Đối tượng nhận thức của năm thức
trước là "tánh cảnh" nghĩa là những sự vật có bản chất
cụ thể, rờ, mó, cầm, nắm được, gọi đó là Vật. Chủ
thể nhận thức thì biểu hiện thông qua sáu giác quan (lục
căn), nhưng vì không bản chất chỉ có tác dụng thì gọi
đó là TÂM. TÂM và VẬT đều là "hiện tượng" biểu hiện
phát xuất từ Thể tánh tịnh minh, Như Lai Tàng bản thể:
Không
gian cộng thời gian là bản thể Như Lai tàng vậy.
*
* *
5.
TÁNH THẤY KHÔNG LỚN NHỎ ĐỨT NỐI CHỈ DO TIỀN TRẦN NGĂN
NGẠI MÀ THÔI(^)
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh thấy là tôi, không phải
ai khác, khi Như Lai và tôi xem cung điện Tứ Thiên Vương, mặt
trời, mặt trăng cùng lúc thấy khắp cõi Ta bà, khi trở về
tịnh xá chỉ thấy khu đất già làm, đến trai đường chỉ
còn thấy giới hạn của một căn phòng.
Thưa
Thế Tôn ! Tánh thấy vốn khắp cùng một cõi, mà nay ở trong
nhà chỉ thấy một gian phòng. Vậy tánh thấy lớn rút lại
thành nhỏ hay do tường nhà ngăn chặn làm cho đứt đoạn
? Điều đó, tôi chưa hiểu, xin Phật từ bi chỉ dạy !
Phật
bảo: A Nan ! Tất cả các hiện tượng xa gần lớn nhỏ trong
ngoài của thế gian đều thuộc tiền trần, ông không nên
nói tánh thấy có giãn ra hay rút lại. Tánh thấy vốn khắp
trùm phổ biến ví như hư không. Đặt cái đồ vuông thì dung
tích hư không vuông, để cái vật tròn thì dung lượng khoảng
hư không tròn. Nếu muốn hư không, không vuông, không tròn,
chỉ cần bỏ đi những cái đồ khí mảnh ấy mà không cần
có ý nghĩa phải loại bỏ tướng vuông tròn của hư không.
Như lời ông hỏi: Khi vào phòng cái thấy bị rút lại, hay
bị vách nhà ngăn đứt ? Nghĩa đó không đúng. Nếu vào phòng
nhỏ, cái thấy bị rút lại, vậy khi trông xa phải kéo giãn
ra ? Nếu vào nhà bị vách cắt đứt, khi xoi một lỗ nhìn
ra cái thấy phải có dấu nối ?
A Nan
! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay lầm mình là vật,
bỏ mất bổn tâm, bị vật xoay chuyển cho nên trong đó thấy
lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được vật thì đồng với Như
Lai, thân tâm tròn đầy sáng suốt, ngồi ở một chỗ mà đầu
mảy không hàm chứa mười phương quốc độ.
*
* *
TRỰC
CHỈ
"Tánh
kiến giác minh, Giác tinh minh kiến, thanh tịnh bản nhiên, chu
biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm ứng sở tri lượng, tuần
nghiệp phát hiện". Đó là ý tứ của một đọan kinh sau,
Đức Phật dạy về ý nghĩa công dụng của thất đại. Rằng
tánh thấy vốn là "giác minh" nó là cái "tinh kiến", nghĩa
là tánh thấy không trải qua "tỷ lượng" và "phi lượng" sai
lầm, mà luôn luôn ở trong phạm vi "hiện lượng". Nó thanh
tịnh bản nhiên, nó khắp cùng pháp giới, đáp ứng yêu cầu
tâm tưởng chúng sanh, theo nghiệp của mỗi loài mà biểu hiện.
Ví như hư không, tùy đồ vật: Cốc, ly, chum, chóe mà biểu
hiện theo hình thể vuông tròn sâu cạn mà thể tánh hư không
thanh tịnh bản nhiên, khắp đầy thế giới, không hạn cuộc
trong một hình thức khuôn khổ nào.
Chúng
sanh dứt sạch mê lầm Ngã Pháp, phản chiếu hồi quang, xoay
về Thể tánh tịnh minh, thể nhập Như Lai Tàng vốn có, chuyển
vật, làm chủ lấy mình, bấy giờ chợt thấy rằng: Vật
tâm bất nhị, chúng sanh Phật không hai. Một là tất cả,
tất cả là một. Ngay nơi chỗ ngồi, mỗi đầu mảy lông
hàm chứa cõi nước mười phương chư Phật.
*
* *
6.
TÁNH THẤY VÀ VẬT BỊ THẤY VỐN LÀ TÂM TÁNH BỔ ĐỀ NHIỆM
MẦU SÁNG SUỐT(^)
Không
có cái nào là tánh thấy.(^)
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh thấy là tâm tánh nhiệm
mầu của tôi, hiện ở trước mắt tôi, thì thân tâm tôi
là vật gì, mà thân tâm có phân biệt, tánh thấy kia thì không
phân biệt được thân tôi ?
Phật
bảo: A Nan ! Ông nói tánh thấy ở trước mắt ông không đúng.
Nay tôi cùng ông ngồi trong rừng Kỳ Đà, trông khắp suối
rừng điện đường, trên thì mặt trời mặt trăng, trước
có sông Hằng. Ông hãy đưa tay chỉ trong các tướng kia: Chỗ
rậm là rừng, phát ra ánh sáng là mặt trời, ngăn ngại là
vách, mênh mông bãng lãng là hư không, đến cả cỏ cây mảy
mún, lớn nhỏ khác nhau, nhưng đã có hình thì không cái gì
không chỉ ra được. Ông bảo rằng tánh thấy hiện ở trước
mắt ông, vậy ông hãy chỉ chính xác, gì là tánh thấy ?
A Nan
! Ông nên suy nghĩ: Nếu hư không là tánh thấy, thì còn cái
gì là hư không ? Nếu vật là tánh thấy, còn cái gì là vật
? Ông hãy chín chắn lựa chọn trong muôn vàn hiện tượng,
tách tánh thấy nhiệm mầu thanh tịnh ấy ra và chỉ cho tôi
xem cụ thể rõ ràng, như các vật mà không lầm lộn ?
A Nan
thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi ở giảng đường, trông xa đến
sông Hằng… nhìn cao đến mặt trời, mặt trăng, những cái
chỉ được, đều là vật chứ không có cái nào là tánh thấy.
Bạch
Thế Tôn ! Lời Phật vừa dạy, chẳng những hàng Thanh Văn,
sơ học chúng tôi, dù cho các Bồ Tát cũng không thể ở nơi
hiện tượng vạn pháp chỉ ra cái nào là tánh thấy rời ngoài
mọi vật.
Phật
dạy: Đúng vậy ! Đúng vậy !
Tất
cả cái nào cũng là tánh thấy.(^)
Phật
bảo: A Nan ! Như lời ông nói: Rời tất cả vật, tánh thấy
không có. Trong tất cả vật đã chỉ ra được, không có cái
nào là tánh thấy. Giờ đây ông cùng tôi ngồi trong rừng
Kỳ Đà nầy, ta hãy nhìn xem vườn rừng cho đến mặt trời,
mặt trăng, và vô vàn hình tượng, trong đó không có cái thấy
để ông chỉ ra được. Vậy ông hãy phát minh trong các vật
đó, cái nào không phải tánh thấy.
Ông
A Nan bạch Phật: Rằng, tôi trông khắp rừng Kỳ Đà, tập
trung tâm ý, quan sát tư duy, nhưng không tìm ra trong đó cái
nào không phải tánh thấy. Vì sao ? Nếu cây không phải tánh
thấy, sao thấy được cây ? Cho đến, nếu hư không, không
phải tánh thấy làm sao thấy được hư không ? Nhưng nếu
hư không là tánh thấy, thì sao lại là hư không. Tôi nay suy
nghĩ chín chắn và phát minh trong muôn vàn hiện tượng, không
cái nào không là tánh thấy.
Phật
bảo: Đúng vậy ! Đúng vậy !
*
* *
TRỰC
CHỈ
Đức
Phật đã bao lần mở rộng lòng từ đinh ninh dạy dỗ, vậy
mà ông A Nan vẫn còn mơ hồ trong nhận thức về cái tánh
thấy: Rằng tánh thấy là tâm tánh hay không là tâm tánh của
ông.
Sự
mê mờ về tâm tánh chưa lóe tí ánh sáng khả quan nào, thì
lại chồng lên một sai lầm mới. Rằng tánh thấy hiện ở
trước mắt.
Xét
cho cùng, ông A Nan chưa nhận rõ cái tánh thấy cũng có lý
của ông. Bởi vì muốn nhận thức tinh tường vấn đề nầy,
cần phải được học hiểu kỹ về Kiến Đại:
…
"Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên,
chú biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng,
tuần nghiệp phát hiện".
Từ
trước đến đây, trong nhận thức của ông A Nan chỉ xoay
sở quần quanh qua bóng dáng của pháp trần và ý thức. Ông
chỉ nghe và tiếp thu mơ hồ về "kiến tinh minh giác". Thể
tánh của kiến tinh là hiện lượng, phát xuất từ Như Lai
tàng. Ông A Nan chưa có khái niệm vững vàng về nguồn tư
tưởng sâu thẳm của môn pháp tánh học nầy. Vì vậy, ông
chỉ tiếp nhận và đề cao vai trò phân biệt của ý thức
minh liễu ở trong ông. Ông chưa hiểu cái ý thức minh liễu
mà ông có, cũng chỉ là sản phẩm của Như Lai tàng được
biểu hiện thông qua "ngũ câu ý thức". Ông chưa hiểu vấn
đề "tánh kiến giác minh" "kiến tinh minh giác". Từ đó, nảy
ra ý niệm hoang mang ngờ vực: Rằng tánh thấy là tâm tánh,
hay không là tâm tánh ? Tánh thấy ở trước mắt, hay không
ở trước mắt… ?
Qua
cuộc vấn đáp trắc nghiệm giữa hai thầy trò Phật đồng
ý với ông A Nan rằng:
"Không
có một vật nào là tánh thấy".
Cuộc
trắc nghiệm lại được tiếp theo. Rồi Phật cũng đồng
ý và xác định với ông A Nan rằng:
"Không
có một vật nào không phải là tánh thấy".
Sự
xác định của đức Phật đối với ông A Nan rõ là mâu thuẫn
lạ kỳ, làm cho ông A Nan và đại chúng dao động hoang mang
cao độ. Đại chúng vẫn biết rằng: lời nói của Như Lai
là chơn chánh là thành thật, không tráo trở, dối gạt phỉnh
phờ. (Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất dị
ngữ giả, bất cuống ngữ giả). Và sự thật, Như Lai khai
thị cho ông A Nan và đại chúng về chơn lý "bất tức bất
ly" của bản thể và hiện tượng. Là hiện tượng, không
có hiện tượng nào không ở trong bản thể. Một bản thể,
không bản thể nào không biểu hiện thông qua hiện tượng.
Hiện tượng không là bản thể, nhưng bỏ hiện tượng tìm
bản thể, như bỏ sóng tìm nước không sao có nước. Bản
thể không rời hiện tượng nhưng bảo hiện tượng là bản
thể, như trẻ con, ngỡ sóng là nước thì không sao biết được
nước là gì. Sóng không là nước, nhưng sóng không rời nước.
Nước không là sóng, nhưng nước không rời sóng. Nước và
sóng bất tức bất ly".
Tánh
thấy và vật bị thấy vốn là tâm tánh nhiệm mầu cũng "bất
tức bất ly" như vậy.
*
* *
7.
BỔ TÁT VĂN THÙ CẦU PHẬT THƯƠNG XÓT… PHẬT DẠY: TÁNH THẤY
KHÔNG THỂ ĐẶT VẤN ĐỀ: "LÀ" HAY "KHÔNG LÀ" (^)
Bấy
giờ trong đại chúng, những vị chưa chứng quả vô học,
nghe Phật khai thị chân lý thậm thâm ấy, mờ mịt chưa hiểu
thế nào, sanh lòng sợ hãi, không giữ được chánh niệm.
Như
Lai biết đại chúng tâm ý rối loạn, khởi lòng từ an ủi
ông A Nan và đại chúng: Các thiện nam tử ! Bậc vô thượng
pháp vương, lời nói chân thật, đúng như tánh chân như, không
dối gạt và lừa đảo quẩn quanh như bốn thứ nghị luận
bất tử của bọn Mạt Già Lê. Các ông hãy suy nghĩ chín chắn,
chớ phụ lòng thương xót của tôi.
Bấy
giờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, thương xót hàng
tứ chúng, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh lễ Phật,
chấp tay cung kính thưa rằng: Bạch Thế Tôn ! Đại chúng đây
không hiểu được chỗ Như Lai phát minh hai nghĩa: "Là" hay
"Không là" đối với cái thấy và sắc không. Bạch Thế Tôn
! Nếu những hiện tượng sắc không tiền cảnh là cái thấy
thì lẽ ra có chỗ chỉ được. Nếu không là cái thấy thì
lẽ ra không thể thấy. Nay đại chúng không hiểu nghĩa ấy
do đâu, nên mới kinh sợ, chớ không phải vì thiện căn nhiều
đời ít ỏi. Kính mong Như Lai thương xót phát minh chỉ rõ
các vật tượng ấy và cái thấy vốn là thứ gì mà rời
ngoài các ý nghĩa: "Là" hay "Không là" như vậy ?
Phật
bảo Bồ Tát Văn Thù và đại chúng:
Thập
phương Như Lai và các đại Bồ Tát tự trụ tam ma đề, thì
cái "thấy" cái "bị thấy" và các nhớ nghĩ, tưởng tượng
đều như hoa đốm trong không chẳng có thật. Bản thể của
chúng vốn là tâm tánh Bồ Đề nhiệm mầu, thanh tịnh sáng
suốt, cho nên trong đó không có vấn đề: "Là" hay "Không là".
Văn
Thù ! Nay tôi hỏi ông: Như ông là Văn Thù, còn có "là Văn
Thù" hay "không là Văn Thù" nữa chăng ?
Bạch
Thế Tôn, Văn Thù thưa. Thật vậy, tôi, thật Văn Thù thì
không thể có "là Văn Thù". Vì sao ? Nếu có "Là" hay "Không
là" hóa ra đã có hai Văn Thù. Nhưng tôi là Văn Thù không còn
có Văn Thù nào khác, cho nên không thể đặt vấn đề "Là"
hay "Không là".
Phật
bảo: tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt và các thứ sắc không
cũng như vậy. Tất cả là biểu hiện của chân tâm thanh tịnh
tròn đầy, là Bồ Đề vô thượng, trong sáng nhiệm mầu.
Vì mê lầm, nhận là sắc, không, thấy, nghe, ví như mặt trăng
thứ hai. Sự thật mặt trăng vốn không thêm bớt, do mắt
lòa mà thấy ra như vậy. Trong đó không thể đặt vấn đề:
Cái nào "là" trăng, cái nào "không là" trăng. Các ông phát
minh ra cái thấy và trần cảnh bị thấy đều là vọng tưởng.
Không thể trong đó, nêu ra cái nào "là" cái nào "không là".
Tất cả đều là chân tánh nhiệm mầu, một thể sáng suốt
thanh tịnh, cho nên vượt ngoài sự "chỉ" hay "không chỉ" được
của các ông.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Lục
căn của con người, ở mặt trái của nó, người ta chỉ biết
qua cái công dụng thấy, nghe… tầm thường của nó. Những
cái thấy nghe đó, thường làm cho con người đau đầu, nhức
óc căng thẳng thần kinh hơn là làm cho con người hưởng được
những phút giây thoải mái. Ít có ai phát hiện phía mặt thật
của lục căn mình. Mặt thật của lục căn, thiền gia gọi
là "bản lai diện mục" của chúng ta.
Bản
lai diện mục của con người, vốn trong trắng hiền lành,
an nhiên tự tại, chẳng vướng vô minh, không vương triền
phược. Từ vật lý đến tâm lý của con người, thanh tịnh
bản nhiên, chu biến pháp giới. Vì vậy, không thể đem thứ
ý thức thô phù vọng tưởng để phân biệt đúng đâu là
cái thấy và đâu không là cái thấy.
Pháp
giới tánh hàm dung bất nhị. Như Lai tàng bản thể nhất chân.
Một là tất cả. Tất cả là một. Còn lấy cái nào để
chỉ cái nào ? Còn gì vô lý bằng khi người ta lấy tay chỉ
đây là vàng, kia không là vàng trong toàn thân con sư tử vàng
duy nhất.
*
* *
8.
TÁNH THẤY RỜI TẤT CẢ TƯỚNG, NHƯNG KHÔNG NGOÀI TẤT CẢ
PHÁP. GIÁO LÝ NHƠN DUYÊN VẪN CHƯA LÀ ĐỆ NHẤT NGHĨA, THUYẾT
TỰ NHIÊN LÀ MỘT NHẬN THỨC SAI LẦM CHƠN LÝ VŨ TRỤ(^)
Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Đúng như lời pháp vương dạy:
tâm tánh cùng khắp mười phương thế giới, yên lặng thường
trú, không có sanh diệt. Song nếu đem lời dạy nầy, so sánh
với thuyết của Phạm Chí Sa Tỳ Ca La về "minh đế" và thuyết
của bọn ngoại đạo Đầu Khôi về "chân ngã khắp cùng",
khác nhau chỗ nào ?
Hồi
ở núi Lăng Già, Thế Tôn dạy cho ông Đại Huệ rằng: Bọn
ngoại đạo thường nói "tự nhiên" còn Phật thì nói "nhân
duyên".
Tôi
nay suy nghĩ cái tâm tánh vốn "tự nhiên", vì nó không phải
sanh cũng không diệt. Nó xa rời tất cả điên đảo hư vọng.
Tôi nghĩ cái "tự nhiên" nầy khác với thuyết "tự nhiên"
của bọn ngoại đạo. Xin Thế Tôn khai thị cho chúng tôi để
được tâm tánh sáng suốt, khỏi rơi vào tà kiến.
Phật
bảo: A Nan ! Như Lai đã dùng phương tiện chỉ dạy như vậy
mà ông còn chưa tỏ ngộ, lại lầm là "tự nhiên".
A Nan
! Nếu là "tự nhiên" thì ông thử chứng minh cái gì là "tự
thể" của cái "tự nhiên" ấy ? Ông hãy xét kỹ tánh thấy
nhiệm mầu lấy cái gì làm tự ? Lấy sáng làm tự hay lấy
tối làm tự ? Lấy rỗng không làm tự hay lấy ngăn bít làm
tự ?
A Nan
! Nếu lấy sáng làm tự lẽ ra không thấy được tối. Nếu
lấy rỗng không làm tự lẽ ra không thấy được ngăn bít.
Bởi vì nếu lấy sáng làm tự, thì đến khi tối tánh thấy
đã diệt mất đi rồi làm sao thấy được tối… ?
Bạch
Thế Tôn ! A Nan thưa, tánh thấy nhiệm mầu nầy, chắc không
phải tự nhiên. Nay tôi phát minh tánh thấy do "nhân duyên"
sanh. Xin Như Lai dạy cho, tôi phải hiểu thế nào cho hợp với
tánh "nhân duyên" của Phật ?
Phật
bảo: Ông nói tánh thấy, do "nhân duyên". Vậy tôi hỏi ông:
Tánh thấy đó, nhân sáng mà thấy hay nhân tối mà thấy ?
Nhân trống không mà thấy hay nhân ngăn bít mà thấy ? Nếu
nhân sáng mà thấy thì lẽ ra không thấy được tối. Nhân
tối thì cũng như vậy…
Ông
bảo rằng cái thấy do "duyên" cũng không đúng. Duyên sáng
mà thấy hay duyên tối mà thấy ? Duyên rỗng không mà thấy
hay duyên ngăn bít mà thấy ? Nếu duyên ngăn bít mà thấy,
lẽ ra không thấy được rỗng không. Duyên tối… cũng lại
như vậy.
A Nan
! Ông nên biết: tánh thấy nhiệm mầu, sáng suốt, không phải
"thân" không phải "duyên", không phải tự nhiên, không phải
không tự nhiên, không có cái "phải", hay "không phải". Không
có cái "là" hay "không là". Nó "rời" tất cả tướng; nhưng
nó không ngoài tất cả pháp. Ông đem các danh tướng hí luận
thế gian mà nhận thức phân biệt, chẳng khác lấy tay nắm
bắt hư không chỉ thêm nhọc sức.
Bạch
Thế Tôn ! A Nan thưa, cái tâm tánh nhiệm mầu, nếu không phải
nhân duyên, cớ sao Đức Thế Tôn đã từng dạy các Tỳ-kheo,
rằng tánh thấy có bốn duyên: Khoảng không, ánh sáng, tâm
và mắt ?
Phật
bảo: Đó là tôi nói về các tướng nhân duyên thế gian, không
phải đệ nhất nghĩa.
A Nan
! Các người thế gian khi họ nói: "tôi thấy". Vậy thế nào
họ gọi là thấy, thế nào gọi là không thấy ?
A Nan
thưa: Người đời nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng hoặc
đèn mà thấy các sắc tướng, họ gọi đó là thấy. Nếu
không có các thứ ánh sáng đó, họ gọi là không thấy.
Phật
bảo: Nếu lúc không có ánh sáng mà gọi là không thấy thì
lẽ ra lúc đó không thấy tối. Nếu đã thấy tối thì đó
chỉ là không sáng, chớ không phải không thấy. Nếu lúc tối,
vì không thấy sáng mà gọi là không thấy thì lúc sáng không
thấy tối cũng nên gọi là không thấy. Vậy thì sáng tối
cả hai đều là không thấy !
A Nan
! Thực tế không phải vậy. Tối và sáng tự lấn át nhau,
tánh thấy của ông chẳng có lúc tạm không. Do đó, biết
rằng tối và sáng đều thấy. Và, khi thấy sáng, tánh thấy
không phải sáng. Lúc thấy tối, tánh thấy không phải tối.
Lúc thấy không, tánh thấy không phải hư không. Khi thấy bít,
tánh thấy không phải tướng bít.
Ông
nên biết rằng:
Tánh
thấy trong khi thấy, tánh thấy đó không phải là tánh thấy
bản thể. Tánh thấy đó còn cự ly đối với tánh thấy bản
thể. Tánh thấy đó chưa là tánh thấy bản thể.
Với
tầm vóc sâu xa nhiệm mầu của tâm tánh, ông lại đem những
thuyết nhân duyên, tự nhiên, hòa hợp, không hòa hợp mà luận
đàm, không sao đến được. Các ông là Thanh Văn hẹp hòi,
nông cạn, không nhận được thật tướng thanh tịnh. Nay tôi
chỉ dạy, ông khéo suy nghĩ, không được biếng trễ trên
đường Bồ Đề !
*
* *
TRỰC
CHỈ
Tìm
hiểu nguyên nhân của hiện tượng vạn hữu phát xuất từ
đâu, thế giới và con người do gì sanh là vấn đề tư tưởng
ở vào tầm cỡ trọng đại. Từ thượng cổ hun hút xa xưa,
đến nay thế kỷ 20 gần hết mà vẫn chưa có được sự
nhất trí nào của con người, dù là người cùng chủng tộc,
ngữ ngôn trong một nước !
Đức
Phật ra đời này đã tròn 25 thế kỷ. Trước Phật đã có,
cùng thời với Phật cũng có nhiều dị phái triết gia, họ
cũng đề ra chủ thuyết, cắt nghĩa vấn đề thế giới và
con người, tức là vấn đề vũ trụ nhân sanh quan của họ.
Chủ thuyết thì nhiều; mỗi mỗi giải thích trình bày theo
sở kiến mình, thật đa dạng và phong phú. Có điều không
mấy lạc quan là khi đúc kết các dòng tư tưởng, người
ta thấy không có chủ thuyết nào giống với chủ thuyết nào.
Nhóm phạm chí Sa tì Ca La chủ trương "minh đế". Phái ngoại
đạo Đầu Khôi chủ trương "thần ngã". Phái ngoại đạo
tự nhiên đề xướng thuyết "tự nhiên". Phái Đại Phạm
tôn sùng Phạm Thiên. Sau này có các phái chủ trương "Thiên
chủ tạo vật", đấng "A La", "Huyền thiên thượng đế"…
Với
Thế Tôn ta, Đức Phật không chủ trương có một đấng "siêu
nhiên", "siêu nhân" như vậy.
Đứng
bên mặt hiện tượng vạn hữu, Phật dạy.
Vạn
Pháp Nhơn Duyên Sanh.
Đứng
bên mặt bản thể chơn như,
Phật
dạy:
Phi
nhơn duyên; Phi tự nhiên. Phi hòa; Phi hợp. Pháp nhĩ như thị.
Kế
thừa truyền thống đó, 600 năm, sau Phật Niết Bàn, thuyết
Chơn như duyên khởi được dựng lên, Mã Minh Bồ Tát đường
hoàng tuyên bố…
"Nhất
thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly văn tự tướng, ly ngôn
thuyết tướng ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng, bất
khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh chân như"…
*
* *
9.
DO NHẬN THỨC SAI LẦM KHIẾN CHO CON NGƯỜI BỎ MẤT BẢN TÂM
THANH TỊNH BẢN GIÁC THƯỜNG TRÚ CỦA MÌNH(^)
Ông
A Nan bạch Phật: Thế Tôn đã vì chúng tôi, chỉ dạy về
nhân duyên, tự nhiên, hòa hợp và không hòa hợp. Tâm chúng
tôi còn chưa tỏ ngộ. Nay nghe Phật dạy: Tánh thấy trong khi
thấy, tánh thấy đó không phải tánh thấy bản thể… làm
cho chúng tôi càng thêm mờ mịt. Cúi xin Phật thương xót bố
thí tuệ nhãn, khai thị cho chúng tôi về bản tâm thanh tịnh,
bản giác thường trú.
Phật
bảo: A Nan ! Ông được năng khiếu nhớ lâu, nhưng cái đó
chỉ giúp cho ông phần học rộng. Đối với pháp Chỉ Quán
thẩm sâu mầu nhiệm ông còn chưa rõ. Tôi sẽ vì ông chỉ
bày và cũng khiến cho những người hữu lậu tương lai được
quả Bồ Đề.
A Nan
! Tất cả chúng sanh trong thế gian, luân hồi sanh tử do hai
thứ nhận thức sai lầm kết thành nguyên nhơn lưu chuyển.
Một,
nhận thức sai lầm biệt nghiệp. Ví như người bệnh mắt
hóa lòa, ban đêm trông ngọn đèn thấy có vầng tròn năm màu.
Cái vầng tròn năm màu vốn không thực có đối với người
không bị bệnh lòa. Nhưngg nó không phải không có đối với
người mắc bệnh. Vầng tròn ấy không phải màu sắc của
cái thấy hay của đèn. Nó không tự sanh, cũng không phải
do đèn hay do mắt đã sanh. Nguyên nhơn của vầng tròn, do mắt
bệnh hóa lòa. Cái vầng tròn và cái thấy vầng tròn đều
là bệnh lòa. Nhận thấy được bệnh lòa thì tánh thấy đó
không bệnh. Do đó, không nên nói cái vầng tròn năm màu là
của đèn hay của cái thấy. Cũng không được nói: Rằng không
phải của đèn hay không phải của cái thấy. Lại ví như
vành trăng thứ hai. Nó không phải trăng mà cũng không phải
bóng. Vành trăng đó vốn không có, nên không thể gán cho nó
"phải" hay là "không phải" mặt trăng. Mặt trăng thứ hai có
là do động tác của ngón tay ấn mắt. Người trí không nên
bảo: Đó là hình trăng, hay không phải hình trăng. Đó là
cái thấy hay ra ngoài cái thấy. Vầng tròn năm màu cũng vậy.
Nó do bệnh lòa thành có. Gọi nó là của đèn hay của cái
thấy đều là sai. Ráng sức đấu tranh, rằng không phải của
đèn hay không phải của cái thấy càng thêm hí luận.
Hai,
nhận thức sai lầm cộng nghiệp. A Nan ! Cõi Diêm phù đề,
trừ nước biển bao la, trong đó đất bằng có 3.000 châu.
Ở giữa có một châu lớn. Chung quanh có đến 2.300 nước.
Châu nhỏ chỉ có hai nước thôi. Những chúng sanh trong một
nước gặp phải năm thời tiết không thuận hòa thì cùng
thấy những hiện tượng bất thường: Hoặc thấy sao phướng,
sao sa, và chỉ có những người trong nước đó thấy, chúng
sanh trong nước kế cận thì không thấy và cũng không nghe.
A Nan
! Nay tôi đem hai việc đó kết hợp so sánh làm thí dụ để
chỉ cho ông.
A Nan
! Cái nhận thức sai lầm biệt nghiệp của chúng sanh, ví như
người bệnh mắt, trông thấy ngọn đèn hiện ra vầng tròn
năm màu, tưởng là cảnh thật trước mắt. Sự thật vầng
tròn do bệnh lòa của người đau mắt tạo thành. Lòa là bệnh
của cái thấy, không phải sắc tướng tạo ra. Cái thấy,
thấy được bệnh lòa cái thấy đó vốn không có bệnh. Cũng
vậy, hiện nay ông dùng con mắt xem thấy núi sông cảnh giới
và các chúng sanh đều do bệnh lòa vô thỉ tạo thành. Cái
thấy và cái bị thấy không thể tách rời ra. Do vô minh, chúng
sanh vọng kiến thấy tiền cảnh in tuồng là "vật đối lập"
với mình. Sự nhận thức sai lầm đó do bệnh lòa NĂNG KIẾN,
SỞ KIẾN của tâm tánh giác minh thanh tịnh. Chừng nào nhận
thức rằng: Cái thấy, thấy vầng tròn năm màu là bệnh, thì
sự nhận thức đó vốn không có bệnh. Đó là ý nghĩa thẩm
sâu: "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly
kiến, kiến bất năng cập". Bản chất của tánh thấy là:
tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên,
chu biến pháp giới.
A Nan
! Do nhận thức sai lầm nghiệp riêng, người bệnh lòa thấy
ngọn đèn có vầng tròn năm màu. Do nhận thức sai lầm nghiệp
chung, chúng sanh cùng thấy những hiện tượng bất thường.
Do nhận thức sai lầm vô thỉ, tất cả chúng sanh nhận lấy
các bệnh: Tham, sân, si… Ta, người, thương ghét… để rồi
nhận lấy sanh tử khổ đau của các nguyên nhân đau khổ đó.
Nếu xa rời các bệnh duyên "năng", "sở" thì chúng sanh mười
phương đồng chung bản thể cùng một tâm tánh nhiệm mầu.
Tất cả đều viên mãn tánh Bồ Đề trong bản giác thường
trú của mình.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Đoạn
kinh nầy Phật nêu ra hai thứ vọng kiến: Biệt nghiệp và
Đồng Phận. Biệt nghiệp vọng kiến là vọng kiến của cá
nhân. Đồng phận vọng kiến là vọng kiến của xã hội.
Sự
thật của biệt nghiệp vọng kiến vốn không có cái vầng
tròn năm màu quanh một ngọn đèn.
Sự
thật của đồng phận vọng kiến là những hiện tượng bất
thường… chỉ có với những người cùng ở trong một nước
gặp phải năm thời tiết bất hòa.
Cá
nhân vọng kiến chỉ vì bệnh lòa mà vầng tròn năm màu sanh
ra.
Xã
hội vọng kiến chỉ do cùng ở chung một nước mà những
hiện tượng bất thường… được thấy.
Người
không bệnh mắt, vầng tròn không có trước đèn.
Chúng
sanh nước kế cận không chung quốc độ nên những hiện tượng
bất thường không có.
Như
Lai Thế Tôn, vì không vọng kiến vô thỉ, nên thấy "pháp
giới bất nhị". Như Lai tàng thanh tịnh "nhất châu".
Chúng
sanh bị nhận thức sai lầm vô thỉ, cái thấy trở thành các
bệnh: Ngã, nhân, bỉ, thử, thủ, xả thân, sơ… Đó là trần
lao, là vô minh bụi bặm. Chúng che lấp mất cái bản thể
vốn thanh tịnh của Chơn tâm thường trú.
Ngày
nào chúng sanh xa rời vọng kiến sẽ nhận thức rõ pháp giới
nhất chân. Chúng sanh trong mười phương đồng một tâm tánh
nhiệm mầu. Hiện tượng vạn hữu chỉ là "vật trang trí"
từ thường trú chơn tâm biểu hiện.
Do
vậy, Như Lai nói: tánh thấy trong khi thấy, tánh thấy đó
không phải tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó còn cự ly
với tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó chưa là tánh thấy
bản thể vốn thanh tịnh bản nhiên…
Lời
dạy thậm thâm của Phật, nhưng thiết tưởng không có gì
vượt quá tâm thiền định tư duy của người hành giả đệ
tử Như Lai.
*
* *
10.
TÁNH THẤY NGOÀI HAI NGHĨA:
HÒA
HỢP VÀ KHÔNG HÒA HỢP(^)
Phật
bảo: A Nan ! Dù ông đã ngộ tâm tánh bản giác nhiệm mầu
sáng suốt, không phải nhân duyên, không phải tự nhiên, nhưng
ông còn chưa rõ tâm tánh sanh ra do hòa hợp hay không hòa hợp.
A Nan
! Ông nghĩ kỹ xem, tánh thấy nhiệm mầu thanh tịnh của ông
nó hòa với ánh sáng hay hòa với tối ? Hòa với thông hay
hòa với ngăn bít ? Nếu hòa với sáng, hiện nay ông thấy
sáng, tánh thấy hòa chỗ nào: Tánh thấy và tướng sáng có
thể nhận được, còn cái hình trạng "hòa" ra sao ? Nếu tướng
sáng ngoài tánh thấy, làm sao thấy được sáng ? Nếu tướng
sáng là tánh thấy, hóa ra thấy được tánh thấy, hóa ra thấy
được tánh thấy, còn gì vô lý bằng ? Với tướng tối,
tướng thông và tướng bít cũng vậy.
Lại
nữa, A Nan ! Hiện nay tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt của
ông, nó hợp với sáng hay hợp với tối ? Hợp với thông
hay hợp với bít ? Nếu hợp với sáng, đến khi tối tướng
sáng mất đi rồi, tánh thấy không còn hợp được với tối,
làm sao thấy được tối ? Nếu không hợp với tối mà thấy
được tối, khi hợp với sáng lẽ ra không thấy được sáng
! Đã không thấy được sáng, làm sao hợp với sáng và biết
được sáng không phải là tối ? Với tướng thông, tướng
bít cũng vậy.
A Nan
thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi lại nghĩ: Tánh thấy nhiệm mầu
đối với trần cảnh và các tưởng niệm nhớ nghĩ không
hòa hợp chăng ?
Phật
bảo: Nay ông lại nghĩ: rằng tánh thấy không hòa hợp với
sáng hay không hòa hợp với tối ? Không hòa với thông hay
không hòa với bít ? Nếu không hòa với sáng thì giữa tướng
sáng và tánh thấy phải có lằn ranh. Ông hãy xét kỹ: Chỗ
nào là tướng sáng, chỗ nào là tánh thấy ? Chỗ nào là ranh
giới giữa hai thứ kia ? A Nan ! Nếu trong tướng sáng không
có tánh thấy, tướng sáng và tánh thấy không đến nhau, tất
nhiên tánh thấy sẽ tối, tướng thông và tướng bít cũng
vậy.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Tánh
thấy là nhân duyên sanh hay tự nhiên sanh đã được Phật
hướng dẫn quá rõ ràng. Nêu hai vấn đề: Biệt nghiệp vọng
kiến và đồng phận vọng kiến ở đoạn trước, cũng nhằm
chỉ rõ tánh chất sai hại của tánh thấy, khi tánh thấy bị
nhận thức sai lầm.
…
"Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên
chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng,
tuần nghiệp phát hiện". Nhận rõ tính chất thanh tịnh bản
nhiên, chu biến pháp giới của tánh thấy thì những vấn đề:
nhân duyên, tự nhiên hay phi nhân duyên, phi tự nhiên; hòa,
hợp hay phi hòa hợp tất cả đều trở thành hí luận !
*
* *
11.
BỐN KHOA BẢY ĐẠI VỐN LÀ
HIỆN
TƯỢNG BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG(^)
A Nan
! Ông còn chưa rõ, tất cả tướng phù trần hư huyễn đều
là vật huyễn sanh huyễn diệt trong bản thể Như Lai tàng.
Các huyễn vọng gọi là tướng, tánh thực của tướng là
thể giác minh mầu nhiệm (Diệu giác minh thể). Năm ấm, sáu
nhập, mười hai xứ, mười tám giới, nhân duyên hòa hợp
vọng gọi là sanh, nhân duyên chi ly vọng gọi rằng diệt.
Chúng sanh không biết sự sanh diệt đi lại, chỉ là sự vận
hành biến dịch mầu nhiệm của Như Lai tàng. Sự vật hiện
tượng luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau. Trong Như Lai tàng tìm
cho ra tử sanh mê ngộ đến đi, không thể được.
*
* *
12.
NĂM ẤM LÀ HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG(^)
Sắc
ấm
Thọ
ấm
Tưởng
ấm
Hành
ấm
Thức
ấm
--------------------------------------------------------------------------------
1.
Sắc ấm:
A Nan
! Sao gọi năm ấm là tánh chân như mầu nhiệm biểu hiện
của Như Lai tàng ?
A Nan
! Ví như có người dùng mắt trong sáng nhìn hư không thanh
tịnh, chỉ thấy hư không trong suốt không có gì khác. Mắt
người kia bỗng dưng đờ đẫn mỏi mệt, trông hư không thấy
hoa đốm lăng xăng, các tướng huyễn hư rối loạn. Sắc ấm
cũng như vậy.
A Nan
! Các hoa đốm không phải từ hư không đến, không phải từ
con mắt ra. Nếu từ hư không đến, hư không chẳng còn là
hư không nữa. Nếu tứ mắt ra, ắt phải có lúc trở vào.
Nếu vậy, khi ra thành hoa đốm làm mờ loạn hư không, lúc
vào tại sao không thấy con mắt ?
Sắc
ấm là hư vọng không phải nhân duyên cũng không phải tự
nhiên.
2.
Thọ ấm
A Nan
! Ví như có người tứ chi an ổn, cơ thể điều hòa, không
bị vui buồn tác động, tịch tĩnh như quên mình. Bỗng nhiên
người kia đưa hai tay lên không xoa nhau, sanh cảm xúc: nóng,
lạnh, trơn, rít… Thọ ấm cũng như vậy.
A Nan
! Những cảm xúc hư vọng kia, không phải từ hư không đến.
Không phải từ bàn tay ra. Nếu từ hư không đến sanh cảm
xúc nơi bàn tay, sao không sanh cảm xúc ở thân thể ? Không
lẽ hư không biết lựa chỗ để sanh cảm xúc ?
Thọ
ấm là hư vọng không phải nhân duyên cũng không phải tự
nhiên.
3.
Tưởng ấm
A Nan
! Ví như nghe nói quả mơ chua, miệng người kia tươm nước
bọt. Nghĩ đứng chỗ chênh vênh, lòng bàn chân cảm nghe ghê
rợn. Tưởng ấm cũng như vậy.
A Nan
! "Mơ chua", vốn là một âm thanh, nó không phải từ quả mơ,
không phải từ miệng vào. Nếu do mơ ra, quả mơ tự nói,
sao phải đợi người ta nói. Nếu do miệng vào, lẽ ra miệng
tự nghe, cần chi đến lỗ tai ! Nếu riêng lỗ tai nghe, sao
nước bọt không chảy lỗ tai lại tươm ra miệng ? Nghĩ đứng
chỗ chênh vênh cũng vậy.
Tưởng
ấm là hư vọng, không phải nhân duyên không phải tự nhiên.
4.
Hành ấm
A Nan
! Ví như dòng nước dốc cuồn cuộn tương tục tuôn tháo.
Dòng nước không nhân hư không sanh, không nhân nước có. Nó
không phải tánh nước nhưng không ngoài hư không và nước.
A Nan ! Nếu nhân hư không sanh, mười phương hư không vô tận,
nước vô tận, thế gian này chìm đắm cả rồi sao ? Nếu
nhân nước có, dòng nước dốc không là nước sữa. Bởi
vì, ai cũng có thể chỉ tướng của nước và dòng nước
khác nhau.
Hành
ấm là hư vọng, không phải nhân duyên cũng không phải tự
nhiên.
5.
Thức ấm
A Nan
! Ví như có người lấy cái độc bình to bịt miệng, trong
có đựng đầy hư không, đi xa ngoài nghìn dặm, tặng cho một
nước khác. Hư không đó, chẳng phải đến từ bên nước
kia, cũng không phải đưa vào nước bên nầy. Vì, nước được
tặng, hư không chẳng dôi thêm ra. Nước đem cho không vì vậy,
hư không vơi bớt.
Thức
ấm là hư vọng, không phải nhân duyên cũng không phải tự
nhiên.
*
* *
TRỰC
CHỈ
Bốn
khoa bảy đại chỉ là hiện tượng trong Như Lai tàng. Như
Lai tàng là bản thể của tất cả chủng tử của hiện tượng
vạn hữu.
Vấn
đề "Hiện tượng vạn hữu do gì sanh", cho đến thế kỷ
20 này vẫn còn là một vấn đề chưa ngã ngũ. Một vấn đề
mà loài người sẽ nói mãi, có lẽ không bao giờ có sự nhất
trí với nhau.
Bảo
rằng hiện tượng vạn hữu do "đấng tạo vật sanh", ở vào
thời đại văn minh nầy, người ta cho đó là quan niệm ngây
thơ ấu trĩ. Bảo rằng do "tự nhiên sanh" đó là một thứ
tri kiến của người không tri kiến tí nào. Bởi vì trước
mắt mọi người, không có cái gì "tự nhiên" cả.
Với
nền giáo lý Phật, trong những năm dài thuyết giáo, Phật
thường dạy cho các đệ tử: rằng "vạn pháp do nhân duyên
sanh"… Cái chân lý đó, càng ngày càng rạng rỡ. Thế kỷ
20 nầy, loài người tiến đến đỉnh cao của trí tuệ, của
khoa học văn minh người ta đã chứng minh được rằng một
nguyên tử, hạt cơ bản của nguyên tử cũng chưa phải là
một đơn vị "tự nhiên" mà nó còn kết hợp bởi những tính…
và chất… mà người ta chưa tìm ra ngôn từ tương xứng để
xưng gọi. Sự gặp gỡ đó, ta có thể tự hào và kết luận
rằng: giáo lý "nhân duyên"…. Của Phật giáo là niềm vui
hãnh diện của những người đệ tử có lòng tín mộ tôn
thờ Đức Phật làm vị "Bổn sư" mình.
Vậy
mà ở kinh Thủ Lăng Nghiêm nầy. Đức Phật thẳng thắn nói
với ông A Nan: rằng giáo lý "nhơn duyên" mà Như Lai nói chưa
phải thứ giáo lý "Liễu nghĩa". Quả là một tiếng sấm lưng
trời ! Nói "đấng tạo vật" sanh, bị Phật rầy; nói "thần
ngã" sanh, bị Phật trách; nói "Phạm Thiên" sanh, bị Phật
chê; nói "tự nhiên" sanh, bị Phật bác; nói "đấng A La" sanh,
Phật không chịu; nói "hòa hợp" sanh, bị Phật nạn,; nhớ
lời Phật dạy, nói "nhân duyên" sanh, nay cũng không xong ! Vậy
thì:
A ?
Cái gì sanh vũ trụ vạn hữu ?
Người
học Phật cần tư duy, phải tư duy sâu sắc, nhà Phật gọi
là "tham thiền". Người ta thường thắc mắc, khi tham thiền
phải tham những gì ? Thì đây chính là "thoại đầu" là một
đề tài lớn để cho người đệ tử Phật "tham" và "tọa":
"Vũ
trụ vạn hữu do gì sanh ?"
Tham
cho đến khi trí tuệ bừng sáng, tháo gỡ hoàn toàn cái gút
thắt của vấn đề, chừng đó, hành giả chợt thấy:
"Bát
nhã hoa khai vạn pháp, tức tâm, tức Phật"
"Bồ
đề quả thục Nhất chân phi sắc phi không".
*
* *
13.
SÁU NHẬP LÀ HIỆN TƯỢNG
BIỂU
HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG(^)
Nhãn
nhập
Nhĩ
nhập
Tỷ
nhập
Thiệt
nhập
Thân
nhập
Ý
nhập
--------------------------------------------------------------------------------
1.
Nhãn nhập
A Nan:
Vì sao bản tánh của sáu nhập vốn là hiện tượng biểu
hiện từ Như Lai tàng ?
A Nan
! Con mắt khi ngó chăm chú… sanh ra sự mỏi mệt. Tánh thấy
và sự mỏi mệt đều là hiện tượng phát sanh từ thể tánh
Bồ Đề trong sáng. Nhơn hai thứ vọng trần sáng và tối phát
sanh tánh thấy bên trong, thu nhập các trần tướng gọi đó
là tánh thấy. Tánh thấy rời hai trần sáng và tối không
có tự thể. A Nan, ông nên biết, tánh thấy không phải từ
sáng hay tối mà đến, không phải từ mắt ra, không phải
từ hư không sanh. Nếu từ sáng đến thì lúc tối nó đã
theo sáng diệt mất đi rồi, lẽ ra không thấy được tối.
Nếu từ tối đến, lúc sáng nó đã theo tối diệt mất đi
rồi, lẽ ra không thấy sáng. Nếu do mắt sanh, không cần có
sáng tối thời mắt chẳng thấy được gì, đồng như không
có thấy. Nếu do hư không ra thì lúc ngó ra thấy các trần
tướng, khi xoay vào ắt phải thấy mắt và mặt. Và nếu thật
vậy, thì hư không tự thấy nào có tương quan gì với sự
thu nạp của ông ? Vì vậy, biết rằng nhãn nhập là hư vọng,
không phải nhơn duyên cũng không phải tự nhiên.