Tập
I
CHƯƠNG
THỨ NHẤT
TỒNG
KHỞI
Đề
kinh
Nhơn
duyên và thời điểm Phật nói kinh Thủ Lăng Nghiêm
ĐỀ
KINH
Thủ
Lăng Nghiêm, Trung Hoa dịch: Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên
Cố. Đó là tên một đại Thiền định. Hành giả thành tựu
được thứ Đại Thiền định này sẽ có sức trí tuệ giác
ngộ Cứu Cánh, một nghị lực Kiên Cố đối với hiện tượng
vạn hữu, với Nhất Thiết Sự trên cõi đời này.
Đề
kinh nầy nói đầy đủ thì có 19 chử: Đại Phật Đảnh,
Như Lai Mật Nhơn, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh
Thủ Lăng Nghiêm.
Thủ
Lăng Nghiêm là tên gọi tắt qua cái từ trọng tâm 19 chữ
của đề kinh.
Đề
kinh này gồm cả Nhơn, Pháp và Dụ. Đại Phật Đảnh là dụ.
Như Lai Mật Nhân là nhơn, Thủ Lăng Nghiêm là Pháp vậy.
Định
Thủ Lăng Nghiêm rất sâu nhiệm, dùng tâm phan duyên thường
tình mà nhận thức, thì khó mà thể nhận được định nầy.
Ví như đem nhục nhãn nhìn Phật đảnh không sao thấy được
trọn vẹn.
Tất
cả Như Lai trong mười phương có Bồ Đề Niết Bàn đều
do thành tựu đại định Thủ Lăng Nghiêm. Định Thủ Lăng
Nghiêm là cái nhân kín nhiệm của tất cả Như Lai, cho nên
gọi là Như Lai mật nhân. Nói một cách khác: Thành tựu định
nầy đồng nghĩa với thể nhập Phật tri kiến, Như Lai Viên
Giác Diệu Tâm.
Tu
chứng định Thủ Lăng Nghiêm là tu chứng liễu nghĩa khác
với kinh điển dạy tu chứng bất liễu nghĩa của Nhị thừa.
Tu chứng ở đây là tu chứng đến Bảo sở, không như sự
tu chứng tạm nghỉ ở Hóa thành.
Thành
tựu định Thủ Lăng Nghiêm cũng tức là thành tựu vạn hạnh
của chư Bồ Tát. Nói ngược lại: Bồ Tát thể hiện lục
độ vạn hạnh được viên mãn là khi Bồ Tát đã có định
Thủ Lăng Nghiêm.
Đối
tượng cứu cánh của Kinh Thủ Lăng Nghiêm là: Chơn Tâm Thường
Trú, Thể Tánh Tịnh Minh.
Công
dụng của Thủ Lăng Nghiêm là hàng phục phiền não trần lao
để trở về Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh ấy.
Mục
đích cứu cánh của Thủ Lăng Nghiêm là giải thoát giác ngộ
đưa con người từ phàm phu đến địa vị Vô thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.
Hiểu
rõ ý nghĩa của 19 chữ đề kinh là đã nắm được cái tôn
chỉ then chốt của toàn bộ kinh rồi vậy.
[^]
---
o0o ---
NHƠN
DUYÊN VÀ THỜI ĐIỂM PHẬT NÓI KINH THỦ LĂNG NGHIÊM
Tạng
kinh và công trình kiết tập tạng kinh là do ông A-Nan thực
hiện. A-Nan là một thị giả tận tụy luôn luôn thân cận
tùy tùng Phật, cho nên được nghe tất cả kinh Phật nói trong
mọi thời gian. Ông có thiên tư xuất chúng, được Phật khen
là đệ nhất đa văn, ông cũng có một ký ức vượt người
thường, ghi nhớ trọn vẹn lời Phật không quên sót. Bốn
chữ: Tôi Nghe Như Vầy ở đầu mỗi bộ kinh là lời của
ông A-Nan ghi theo di chúc của Phật, nhằm xác minh sự trần
thuật của mình, rằng kinh nầy là chính ông nghe Phật nói,
chớ không phải ông tự ý đặt ra.
Phật
nói kinh Thủ Lăng Nghiêm tại tịnh xá Kỳ Hoàn, trong thành
Thất La Phiệt. Chúng tỳ kheo thường tùy tùng Phật có 1.250
người đều là bậc vô lậu đại A-La-Hớn. Đứng đầu trong
chúng có các ông Đại Trí Xá Lợi Phật, Đại Mục Kiền
Liên, Đại Câu Si La, Phú Lâu Na, Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề
và ông Ưu Ba Ly. Ngoài ra còn có hàng Bích Chi Phật, Vô Học
và những hàng sơ tâm đồng đến chỗ Phật rất đông.
Bấy
giờ vào những ngày mãn hạ và tự tứ của chúng tăng, vì
vậy Bồ Tát trong mười phương cũng đến cầu Phật giải
quyết những mối tâm nghi trên đường tu tập. Đứng đầu
số chúng Bồ Tát là Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Pháp
Vương Tử.
Nhằm
kết duyên với chúng sanh, làm phước điền cho tín thí, trong
những ngày nầy Phật và đại chúng phải chia từng nhóm đi
chứng trai ở các nhà thí chủ thỉnh mời. Duy có ông A-Nan
đã được mời riêng, đi xa chưa về nên không kịp dự vào
hàng tăng chúng.
Trên
đường về một mình không có thượng tọa cùng đi, ông A-Nan
thứ lớp khất thực đúng phép hóa trai, lòng những mong được
một đàn việt cúng dường, không luận giàu nghèo hèn, địa
vị giai cấp mà chỉ nhằm làm ruộng phước cho họ gieo hạt
Bồ Đề, trồng cây Chánh giác ở tương lai. Ông không muốn
rơi vào ý niệm cực đoan mà ông Đại Ca Diếp và ông Tu Bồ
Đề từng bị Phật quở: Là Sa môn mà tâm không bình đẳng,
còn phân biệt… Xả phú thủ bần…
Một
bất trắc xảy đến không ngờ, khi ông A-Nan đi qua nhà nàng
Ma-Đăng-Già, một cô gái làng chơi. Ma-Đăng-Già dùng tà chú
Tiên Phạm Thiên của đạo Satìcala bắt ông vào phòng riêng
dụng ý lẳng lơ, diễn trò má dựa vai kề, nâng niu âu yếm,
làm cho ông A-Nan gần mất giới thể.
Phật
biết ông A-Nan đang mắc nạn Ma-Đăng-Già đến hồi nguy cấp.
Khác với mọi lần thọ trai xong ở Hoàng Cung của vua Ba Tư
Nặc, Phật liền trở về tịnh xá Kỳ Hoàn. Sự kiện lạ
thường nầy làm cho vua, quan, trưởng giả và cư sĩ rất đông
cùng theo Phật về tịnh xá, hy vọng được Phật dạy cho
những pháp yếu mới lạ nào chăng !
Bấy
giờ tướng vô kiến đảnh của Phật, phát ra một vầng sáng
rực rỡ không gian trong ánh sáng báu có đức Hóa Phật ngự
tòa sen báu nghìn cánh, tuyên nói thần chú Thủ Lăng Nghiêm.
"Án
A Na Lệ. Tỳ Xá Đề. Bệ Ra Bạt Xà Ra Đà Rị. Bàn Đà Bàn
Đà Nễ. Bạt Xà Ra, Bàn Ni Phấn, Hổ Hồng Độ Rô Ung Phấn,
Tóa Bà Ha".
Phật
bảo Bồ Tát Văn Thù đem chú đó diệt trừ tà chú của Ma-Đăng-Già.
Đồng thời Bồ Tát Văn Thù cũng đưa ông A-Nan và nàng Ma-Đăng-Già
cùng về tịnh xá chỗ Phật ở.
…
Ông A-Nan khóc lóc, trách mình: Từ vô thỉ đến nay, chỉ khuyên
lo học rộng nhớ nhiều, mà đạo lực không tự cứu được
mình, trong cơn vô minh bất giác… Ông tha thiết cầu xin Phật
dạy cho ông pháp Chỉ, Quán và Thiền Na là những phương tiện
đầu tiên mà các Như Lai tu hành thành tựu Bồ Đề, Niết
Bàn của mười phương chư Phật.
Bấy
giờ cùng có hằng hà sa Bồ Tát, Bích Chi, Vô Học và Đại
A La Hớn, những người hữu học, đều ngồi chỗ của mình
cùng yên lặng nghe lời Phật dạy.
---
o0o ---
TRỰC
CHỈ
Phát
tâm tu hành tìm đường giải thoát giác ngộ, văn tư tu là
điều rất cần, nhưng chỉ nếu có đa văn, là một học giả
thì không đủ đảm bảo an toàn khi vô minh phiền não xâm
phạm.
Tà
pháp tuy có nguy hiểm, nhưng rồi sẽ bị diệt vong. Chánh sẽ
thắng tà. Ánh sáng sẽ quét sạch bóng tối.
Tiên
Phạm Thiện là tà chú của đạo Satìcala, diệt trừ tà huyễn,
Như Lai dùng Hóa Phật của Vô thượng Chánh Biến Tri Giác
nói chú Thủ Lăng Nghiêm để diệt trừ. Đây là ý nghĩa:
"Dĩ huyễn Tu huyễn" "Tri huyễn tức ly" ở kinh Viên Giác, Phật
dạy đồng với ý ở đoạn kinh nầy.
Ma
Đăng Già biểu trưng nhiều dục vọng, nặng luyến ái đam
mê. Đại Trí Văn Thù biểu trưng vô phân biệt trí, thứ trí
nhìn hiện tượng vạn pháp bằng cái tướng Như Thị của
chính nó. Đại Trí Văn Thù đem chú Thủ Lăng Nghiêm hóa giải
chú Tiên Phạm Thiên của Ma Đăng Già, có nghĩa là: Tình cảm
đen tối thì hãy đem lý trí rực sáng mà rọi vào. Sáng đến
thì tối phải đi.
Ông
A-Nan gần mất giới thể, nói lên hiện tượng bất giác vô
minh chợt đến bất ngờ rất là nguy hiểm. Đại Trí Văn
Thù đem chú đến hóa giải được an toàn cho ông A-Nan, điều
đó có nghĩa là: Trí huệ sáng đến thì vô minh tan đi. Giác
sanh thì mê diệt.
Phật
Thích Ca bất động, ngồi nơi tịnh xá Kỳ Hoàn cùng đại
chúng, chờ sự chiến thắng ma quân mà không sử dụng sức
lực và một thứ khí giới nào. Qua sự kiện đó, người
Phật tử phải học: Muốn phá yêu thuật, đánh đuổi ma quân
diệt giặc vô minh, phải sử dụng trí lực mà không dùng
thể lực, phải vận dụng tâm thanh tịnh mà không thể dùng
sức lực của bắp thịt chân tay để đối phó trong trường
hợp này.
Do
lẽ đó, nội dung kinh Thủ Lăng Nghiêm rất quan trọng ở sự
nhận thức:
Chơn
Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh sẵn có trong tất cả
mọi người.
Đọc
học kinh Thủ Lăng Nghiêm mà không lý giải, không nhận thức
được vấn đề Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh,
cũng tức là không biết được đại định Thủ Lăng Nghiêm
là gì !
Tụng
kinh giả minh Phật chi lý: Học kinh cốt tìm hiểu trong đó
Phật dạy những gì. Phật tử chúng ta hãy ý thức mà lưu
tâm.