Ghi Sau Khi Duyệt Thức Xoa Ma Na Ni
Giới
Xin ghi rõ ở đây về chính văn
mà tôi căn cứ để dịch Thức xoa ma na ni giới. Chính văn
ấy có tên là Thức xoa ma na ni giới bản, nằm trong Tục tạng
kinh bản chữ Vạn, tập 64, các trang 97 - 104. Trong lời nói
đầu tôi đã quên ghi như vậy.
Kế đến, chính ở Thức xoa ma na
ni giới này mà những lời nguyên chú của tác giả đem lại
cho ta một số hiểu biết hơn về Tỷ kheo giới, nhất là
Tỷ kheo ni giới.
Mười hai tháng
5, 2537 (1993).
Trí Quang
Lời
Nói Đầu [^]
Phật không tự động chế ra giới
điều. Mỗi giới điều là do một trường hợp. Trường hợp
nhiều khi khác nhau mà giới điều không khác. Nên thật ra
giới điều có thể qui nạp lại được. Tức như cái số
292 của Thức xoa giới có thể qui nạp còn quá nửa mà thôi.
Thế nhưng giới điều nhiều đến
mấy đi nữa, chỉ cần thiểu dục tri túc đi đôi với tàm
quí là giữ được trọn vẹn.
Nếu gặp nghịch cảnh, to lớn cũng
như vụn vặt, thì nên niệm Phật. Nên đi như Phật đi, đứng
như Phật đứng, nhìn như Phật nhìn, nói như Phật nói (Đại
ái đạo, chính 24/951).
Thức xoa cũng được Phật gọi
là người con gái của dòng họ Thích. Thức xoa hãy làm cho
tiếng gọi ấy linh thiêng suốt đời mình, đừng bao giờ
để tiếng gọi ấy biến thành mỉa mai.
-
Mồng 7 tháng 6, 2535 (1991)
-
Trí Quang
Tựa
[^]
Giáo dục thế gian thì lễ nghi đi
trước, qui tắc xuất thế thì giới luật đứng đầu. Phi
lễ nghi thì không có gì để trở thành hiền trí, có giới
luật thì mới có thể đi mau đến bồ đề. Thế nên đại
kinh đã dạy giới là thang là thuyền của hết thảy đạo
quả, cũng là rễ là gốc của tất cả thiện báo. Nếu không
giữ giới luật thì làm sao sẽ thấy Phật tánh. Chúng sinh
tuy có Phật tánh, nhưng phải giữ giới thì sau đó mới thấy.
Thấy Phật tánh mới thành vô thượng bồ đề.
Vì lý do ấy mà đại thừa tiểu
thừa cùng thọ giới pháp, 5 chúng xuất gia cùng tuân giới
luật. Nhưng thời này là mạt pháp, người ta đa số ưa lãnh
thọ mà bỏ chấp trì, bước lên phẩm bậc của giới pháp
mà rồi biến phẩm bậc ấy thành ra cái phao rách nát trong
biển khổ. Cũng có kẻ đem cái tuệ cuồng si mà nói lếu
láo về bát nhã, khinh chê tỳ ni, làm cho những kẻ ngu ngơ
bắt chước, những người đi sau mất cả cửa ngõ.
Như lai hóa đạo cho mọi căn cơ,
giáo pháp thì thiết 3 thừa, giới pháp thì lập 5 chúng. Riêng
nữ giới căn tánh hơi chậm, phiền não lại dày, nên đức
Như lai chế định 6 pháp, dạy họ phải 2 năm học trước
mọi giới pháp và oai nghi của đại ni; khi giới thể tuần
tự thành tựu mới cho phép lãnh thọ cụ túc giới. Tuy chế
định như vậy, nhưng chỗ dựa của họ phải lấy bậc đại
ni rành luật mà làm thầy. Có điều bậc đại ni ấy lại
không được phép nói cho cái tên của 5 thiên 7 tụ, chỉ được
phép nói cho các giới pháp và oai nghi về bất dâm, bất đạo,
và những giới điều đồng đẳng.
Điều đáng than là mạt pháp ít
gặp đại ni, biết luật càng ít. Như vậy họ đã không được
trực tiếp giáo thọ, lại không được đọc đến giới văn,
không còn do đâu để biết thế nào là giữ giới, thế nào
là phạm giới; giả sử có cái chí hướng thượng cũng không
có cái chỗ để đặt chân.
Do vậy, tôi kê cứu các luật bản,
biên tập giới pháp mà họ phải học. Để những kẻ có
tàm quí, muốn học giới, có thể học mà tập theo thì gian.
Niên hiệu Thuận trị, năm canh dần,
tháng đầu mùa hạ, sa môn đại bồ đề tâm Hoằng tán ghi.
-
Giới
Bản Thức Xoa Ma Na Ni [^]
-
(xuất từ bộ Đàm-mô-đức)
Biên tập: Quảng châu, Nam hải, rừng
Bảo tượng, sa môn Hoằng tán Tại sâm.
Thức xoa ma na ni, Phạn tự này Hoa
văn dịch nghĩa là Học pháp nữ. Là trong 2 năm phải học
đủ 3 pháp: một, học căn bản, là 4 trọng giới; hai, học
6 pháp, là những pháp được bởi kiết ma; ba, học hành pháp,
là mọi giới pháp và oai nghi của đại tỷ kheo ni. Nay đây
y theo Tứ phần luật kê ra 3 pháp nói trên để tiện cho họ
học tập mà lãnh thọ đại giới.
Một, Học Căn Bản[^]
(tổng cọng có 4 sự)
1.- Không được làm điều bất
tịnh, làm sự dâm dục. Nếu Thức xoa ma na làm sự dâm dục,
đến nỗi cùng với súc sinh, thì không phải thức xoa ma na,
không phải con gái dòng họ Thích, vì đó là phạm trọng tội.
2.- Không được trộm cắp, dầu
chỉ một lá cỏ. Nếu thức xoa ma na trộm lấy của người
5 tiền hay hơn 5 tiền, tự lấy hay bảo người lấy, tự làm
đứt hay bảo người làm đứt, tự làm vỡ hay bảo người
làm vỡ, hoặc đốt, hoặc chôn, hoặc phá hủy màu sắc, thì
không phải thức xoa ma na, không phải con gái dòng họ Thích,
vì đó là phạm trọng tội. (Đứt là chặt đồng tiền đứt
ra làm hai. Vỡ là đập đồng tiền vỡ ra. Đốt, chôn, phá
hủy, đều là làm cho màu sắc và hình dáng đồng tiền biến
dạng. Năm tiền là 5 tiền lớn, 1 tiền lớn bằng 16 tiền
nhỏ; lấy 5 tiền hay đồ vật trị giá 5 tiền thì phạm trọng
tội cả). (1)
3.- Không được cố ý làm đứt
mất sinh mạng chúng sinh, dầu nhỏ như loài kiến. Nếu thức
xoa ma na cố ý tự tay giết chết mạng người, hoặc cầm
dao trao cho người, bảo chết, khen chết, cho thuốc bậy, làm
sẩy thai, van vái, bùa chú, tự làm những cách ấy hay bảo
người làm, thì không phải thức xoa ma na, không phải con gái
dòng họ Thích, vì đó là phạm trọng tội. (Khen là khen ngợi
làm cho người ta chết. Thuốc bậy là thuốc độc; hoặc người
biểnh mà cho thuốc không đúng, làm cho họ chết. Van vái là
van vái quỉ thần ác. Bùa chú là dùng bùa chú ác).
4.- Không được nói dối, dầu chỉ
giỡn chơi. Nếu thức xoa ma na không thật thà, không phải
đã có mà tự xưng được pháp thượng nhân, được thiền,
được giải thoát, được tam muội, được chánh thọ, được
đạo quả tu đà hoàn cho đến được đạo quả a la hán,
trời đến, rồng đến, quỉ thần đến cúng dường tôi,
thì không phải thức xoa ma na, không phải con gái dòng họ
Thích, vì đó là phạm trọng tội. (Giải thoát là 8 giải
thoát. Tam muội, Hoa dịch chánh định. Tu đà hoàn, Hoa dịch
nhập lưu, là nhập vào dòng thánh nhân. A la hán, Hoa dịch
vô trước, cũng dịch vô sinh, vì giải thoát sinh tử trong
3 cõi).
Bốn giới nặng trên đây hễ phạm
1 giới thì phải bị trục xuất liền, sau đó không được
thọ giới tỷ kheo ni, cũng không được trở lại làm thức
xoa ma na, làm sa di ni hay làm ưu bà di. Nếu do thầy mà gượng
thọ lại thì cũng không đắc giới, vẫn bị trọng tội,
và lãnh thọ cái gì của tín thí cũng gọi là phạm tội ăn
trộm.
Hai, Học 6 Pháp[^]
(chính thức có 6 sự)
1.- Nếu thức xoa ma na thân thể
xoa chạm với thân thể người nam có tâm ô nhiễm, thì phạm
giới, phải thọ giới lại, (Tâm ô nhiễm là muốn dâm dục).
2.- Nếu thức xoa ma na với ý thức
trộm cắp mà lấy dưới 5 tiền, thì phạm giới, phải thọ
giới lại. (Dưới 5 tiền là 1 tiền, 2 tiền, 3 tiền, 4 tiền).
3.- Nếu thức xoa ma na giết chết
sinh mạng của súc sinh không thể biến hóa, thì phạm giới,
phải thọ giới lại. (Không thể biến hóa là súc sinh không
thể biến thể làm hình người, hình trời, hình rồng, hình
quỉ thần, v/v. Súc sinh là cho đến côn trùng nhỏ nhất cũng
gọi là súc sinh).
4.- Nếu thức xoa ma na cố ý vọng
ngữ đối với tăng chúng, thì phạm giới, phải thọ giới
lại. (Ở đây vọng ngữ là nói dối loại nhỏ).
5.- Nếu thức xoa ma na ăn phi thời,
thì phạm giới, phải thọ giới lại. (Sau đứng bóng ngày
nay đến trời chưa sáng ngày mai, gọi là phi thời).
6.- Nếu thức xoa ma na uống rượu,
thì phạm giới, phải thọ giới lại.
Sáu pháp trên đây nếu phạm 1 pháp
thì gọi là thiếu giới. Phải làm kiết ma cho 2 năm khác.
Thức xoa ma na thiếu giới ấy phải bắt đầu học tập lại.
Nếu học tập lại không đủ 2 năm thì không được lãnh
thọ đại giới.
Ba, Học Hành Pháp[^]
(tổng cọng 292 pháp. Phật dạy
thức xoa ma na phải học cho biết và tập làm theo tất cả
giới pháp của đại ni, trừ sự tự lấy thức ăn, trao thức
ăn, cho thức ăn. Tăng kỳ luật qui định thức xoa ma na nhận
thức ăn từ nơi sa di ni).
1.- Không được đem tâm ô nhiễm
chịu cho người nam cũng có tâm ô nhiễm nắm tay, nắm y, vào
chỗ khuất, đứng chung, nói chung, đi chung, thân thể dựa
nhau, hoặc hẹn hò với nhau. (Chỗ khuất là chỗ người khác
không thấy không nghe). (2)
2. Không được che giấu tội lỗi
người khác. Nếu biết người khác có tội lỗi mà mình không
tự cử tội, không bạch chư tăng, không nói với người;
sau đó, vào thì gian khác, người có tội lỗi bị mạng chung,
bị trục xuất, hoặc thôi tu, v/v, mới nói như vầy, trước
đây tôi biết người ấy có việc như vậy như vậy, thì
đó là che giấu trọng tội cho người khác.
3.- Nếu biết tỷ kheo cho đến người
giữ vườn, sa di, bị chư tăng cử tội đúng giáo pháp, đúng
giới luật, đúng Phật huấn dụ, mà không phục tùng, không
sám hối, và chư tăng cũng chưa tác pháp kiết ma cho sống
chung, vậy mà mình tùy tùng với họ. Khi tỷ kheo ni và thức
xoa ma na khác can gián thì phải từ bỏ, không được không
từ bỏ. (Tùy tùng là tùy tùng lời họ mà trao kinh sách hay
cho áo cơm).
4.- Không được làm mai mối, đem
ý người nam nói với người nữ, đem ý người nữ nói với
người nam, để thành vợ chồng hay tư thông dầu chỉ trong
chốc lát.
5.- Không được vì giận dữ không
vui mà, một cách vô căn cứ, phỉ báng người khác phạm trọng
tội, ý muốn phá hoại sự thanh tịnh của người ấy. (Vô
căn cứ là không thấy không nghe và không nghi người ta phạm
tội, mà lại cố ý nói để phỉ báng).
6.- Không được vì giận dữ không
vui, lấy một cạnh khía trong việc khác, một cách vô căn
cứ mà phỉ báng người khác, ý muốn phá hoại phạn hạnh
của người ấy. (Việc khác là trọng tội. Lấy một cạnh
khía là lấy lỗi nhỏ trong trọng tội để phỉ báng người
ta phạm trọng tội ấy).
7.- Không được đến cửa quan,
dầu chỉ trong chốc lát, thưa cư sĩ hay con cư sĩ, thưa tôi
tớ hay người làm thuê. (Đến cửa quan là đem việc báo cáo
với quan. Nếu bị người khinh khi, lăng nhục, thì nên nói
với cha mẹ hay bà con của họ, với tỷ kheo hay tỷ kheo ni,
với cận sự nam hay cận sự nữ, để những người này can
gián họ. Làm thuê là người chịu thuê làm việc).
8.- Nếu biết trước là nữ tặc,
có tội đáng chết, và ai cũng biết, vậy nếu không hỏi
vua hay đại thần của vua, không hỏi đến thành phần xã
hội của họ, thì không được độ ngay cho họ xuất gia.
(Thức xoa ma na tuy không có phép có đồ đệ, nhưng phải học
trước việc này).
9.- Không được một mình lội nước,
một mình vào làng xóm, một mình ngủ lại, một mình đi sau.
(Một mình ngủ lại là ngủ lại một mình nơi nhà thế tục
ở trong làng xóm).
10.- Nếu biết người nam có tâm
ô nhiễm thì không được từ nơi người ấy nhận lấy thức
ăn và những vật khác.
11.- Không được bảo người khác
từ nơi người ấy nhận lấy thức ăn và những vật khác.
12.- Không được phá hoại tăng
hòa hợp, và được can gián mà không từ bỏ.
13.- Không được làm phe cánh với
kẻ phá hoại tăng hòa hợp, và được can gián mà không từ
bỏ.
14.- Nếu ở trong thành thị hay thôn
xóm mà làm hoen ố tín đồ và làm những việc xấu, thì chư
tăng trục xuất, không được không phục tùng. (Hoen ố tín
đồ là đem đồ vật tặng cho cư sĩ. Làm những việc xấu
là trồng các thứ hoa quả, tưới nước hái trái, cho đến
cùng người lớn hay cùng trẻ con ngồi chung giường, ăn chung
bát, ca múa, đánh thổi, chịu thuê, giỡn cợt, v/v).
15. Không được ngoan cố không chịu
nghe ai nói. Khi được can gián thì phải từ bỏ.
16.- Không được người này người
kia sống gần gũi nhau, cùng nhau làm những điều bất thiện,
tiếng xấu lan tràn, triển chuyển che giấu tội lỗi cho nhau,
và được can gián mà không từ bỏ. (Gần gũi là luôn luôn
giỡn cười với nhau, bỡn cợt với nhau).
17.- Nếu ai bị chư tăng tác pháp
kiết ma sống riêng hay bị khiển trách răn đe, thì không được
chỉ bày cho họ, rằng đừng chịu sống riêng, hãy cứ sống
chung; tôi thấy có những người khác không chịu sống riêng,
cùng nhau làm những điều bất thiện, tiếng xấu lan tràn,
che giấu tội lỗi cho nhau. Chư tăng chỉ vì tức giận nên
bảo cô sống riêng mà thôi. Chỉ bày như vậy là phỉ báng
chư tăng, nên khi được can gián thì phải từ bỏ.
18.- Không được vội vã vì một
việc nhỏ mà tức giận không vui, nói liền rằng tôi bỏ
Phật, bỏ Pháp, bỏ Tăng, không phải chỉ có sa môn Thích
tử mà còn có sa môn bà la môn khác tu tập phạn hạnh, tôi
cũng có thể tu tập phạn hạnh nơi họ. Nói như thế mà được
chư tăng can gián thì phải từ bỏ.
19.- Không được ưa tranh cãi vì
không khéo nhớ sự việc tranh cãi, chư tăng phê phán thì nói
chư tăng có tham có sân có si có sợ ; nói mà được can gián
cũng không từ bỏ.
20.- Không được cất giữ trường
y (3) quá 10 ngày mà không tịnh thí. (Tịnh thí có 2. Một là
tịnh thí thật sự, là thật sự cho người. Hai là tịnh thí
triển chuyển, là tác pháp kiết ma rồi mình tự cất giữ).
21.- Không được rời y mà ngủ
chỗ khác, dầu chỉ trải qua 1 đêm.
22.- Không được xin y nơi cư sĩ
hay vợ cư sĩ không phải bà con; nếu y bị cướp, bị mất,
bị cháy, bị trôi, thì được xin.
23.- Nếu y bị cướp, bị mất,
bị cháy, bị trôi, mà cư sĩ hay vợ cư sĩ xin tùy ý (4) và
cúng nhiều y, thì phải nhận một cách biết vừa đủ, không
được quá đáng.
24.- Nếu cư sĩ hay vợ cư sĩ sắm
tiền mua y, muốn mua y cúng cho, nhưng thức xoa ma na trước
chưa nhận lời xin tùy ý, thì không được vì muốn có y tốt
nên đến nhà họ mà khen ngợi để đòi y.
25.- Nếu có 2 cư sĩ và vợ 2 cư
sĩ sắm tiền mua y, muốn mua y cúng cho, nhưng thức xoa ma na
trước chưa nhận lời xin tùy ý, thì không được vì muốn
có y tốt mà đến nhà 2 cư sĩ, khen ngợi, khuyên họ chung
tiền lại sắm 1 y. (Chưa nhận lời xin tùy ý là thức xoa
ma na chưa nhận được lời 2 cư sĩ xin tùy ý đến nhà họ
mà yêu sách y).
26.- Nếu thí chủ phái người đến
đưa tiền sắm y cho thức xoa ma na, nhưng thức xoa ma na vì
không được nắm giữ tiền ấy nên không nhận lãnh. Người
được phái đem tiền ấy giao cho người giúp việc rồi về.
Khi thức xoa ma na cần y thì nên hai ba lần đến chỗ người
giúp việc mà nói tôi cần y. Nói như vậy mà không được
y thì bốn năm sáu lần đến đứng yên lặng trước người
giúp việc, và được y thì tốt. Nếu vẫn không được y
thì không được quá số ấy mà đến đòi y. Phải nói cho
thí chủ biết mình không nhận được y để họ lấy lại
tiền sắm y, đừng để mất đi.
27.- Không được tự tay cầm lấy
vàng bạc và tiền, hoặc bảo người khác cầm lấy, hoặc
nhận lấy bằng cách miệng nói được. (Nhận lấy bằng cách
miệng nói được là miệng nói vâng).
28.- Không được làm những cách
bán mua.
29.- Nếu dùng cái bát dưới 5 chỗ
hàn bịt, bát ấy cũng chưa rỉ nước, thì không được vì
tốt đẹp mà kiếm bát mới.
30.- Không được tự kiếm chỉ
sợi, bảo thợ dệt không phải thân quyến của mình dệt
y giúp. (Chỉ sợi là chỉ tơ hay gai).
31.- Nếu thí chủ bảo thợ dệt
dệt y cho thức xoa ma na, mà trước đó thức xoa ma na chưa
nhận lời xin tùy ý, thì không được vì tốt đẹp mà đến
nơi thợ dệt bảo dệt cho rộng, dài, bền, tỉ mỉ, ngay thẳng,
và hứa trả thêm tiền dầu chỉ đáng giá một bữa ăn.
32.- Nếu đem y cho người khác rồi,
sau đó không được vì tức giận mà đoạt lại hay bảo người
khác đoạt lại.
33.- Nếu vì bịnh nên cất sữa
tô, dầu, sữa tô tươi, mật, đường phèn, thì được dùng
cách đêm trong 7 ngày, không được quá 7 ngày mà còn dùng.
(Sữa tô là sữa bò sữa dê v/v biến thành. Dầu là man thanh,
chi ma v/v. Mật là mật ong. Đường phèn là đường mía chưng
luyện mà thành. Những loại thuốc này khi nhận được của
người, thì đó là ngày đầu. Rồi giới hạn trong 7 ngày
có thể đem dùng, và nếu có thừa thì nên cho người khác,
không được cất đến ngày thứ 8).
34.- Nếu còn 10 ngày nữa hết kiết
hạ an cư, có người vì lý do vội vàng mà đem y cúng cho,
thì nên nhận, nhận rồi chỉ cất giữ trong thì hạn của
y, không được cất giữ nhiều hơn. (Chư tăng lấy ngày 16/7
nhận y công đức, ngày 15/12 thì xả, trong thì gian 5 tháng
ấy gọi là thì hạn của y; nếu không nhận y công đức thì
thì hạn ấy chỉ có 1 tháng, là 16/7 đến 15/8. Thức xoa ma
na tuy không có y công đức, nhưng vì họ kiết hạ có công
đức, chuẩn lẽ thì cũng đáng cùng chư tăng được lợi
ích của 2 thì hạn, cất giữ trường y mà không phạm giới.
Nếu quá 2 thì hạn rồi, không làm tịnh thí thì phạm giới.
Tất cả y, vật, phải đến kiết hạ an cư rồi mới được
cất giữ, nhưng đây là y cúng vội vàng nên mở thêm 10 ngày
trước. Lý do vội vàng là thí chủ cúng vì đi xa, vì chinh
phạt, hoặc vì bịnh nhân mà cúng, hoặc cúng vì sản nạn
v/v).
35.- Nếu biết là vật người ta
muốn cúng cho chư tăng thì không được tìm cách xoay lại
cúng cho mình.
36.- Không được muốn đòi hỏi
cái này rồi lại đòi hỏi cái khác. (Nghĩa là đến nhà thí
chủ kiếm vật này rồi lại kiếm các vật khác).
37.- Nếu biết thí chủ cúng cho
chư tăng là để làm việc khác, thì mình không được đổi
làm những việc khác. (Nghĩa là thí chủ cúng tiền của để
làm pháp đường mà mình đổi làm y phục, hoặc cúng để
làm y phục mà mình đổi làm pháp đường, hoặc cúng cho chỗ
này mà mình đổi cho chỗ khác. Nếu hỏi thí chủ, thì tùy
lời thí chủ nói mà sử dụng. Hoặc khi thí chủ cúng đã
nói tùy ý sử dụng, thì được sử dụng tùy ý).
38.- Nếu biết thí chủ cúng đồ
vật là để làm việc khác, mình kiếm cũng là kiếm cho chư
tăng, thì mình không được đổi làm việc khác. (Cúng cho
việc khác ở đây là cúng để ăn mà đem làm y, cúng để
làm y mà đem ăn, hoặc cúng cho chỗ này mà lại sử dụng
cho chỗ khác. Mình kiếm là xin khắp nơi).
39.- Nếu biết thí chủ cúng đồ
vật là để làm việc khác, thì không được đổi làm việc
khác. (Cúng đồ vật để làm nhà mà mình đem vật ấy đổi
y. Không phạm là hỏi thí chủ như điều 37. Điều 37 cúng
để làm pháp đường cho chư tăng, còn ở đây cúng để làm
nhà cho một vài vị khác, hoặc cho chính mình).
40.- Nếu biết thí chủ cúng đồ
vật là để làm việc khác, mình kiếm cũng là kiếm cho chư
tăng, thì mình không được đổi làm việc khác. (Tăng chúng
vì làm phòng làm nhà mà kiếm tiền của khắp nơi, rồi đem
tiền của ấy đổi làm y, chia nhau).
41.- Không được cất giữ trường
bát (5) . (Ngày nào được bát thì ngày ấy nên dùng 1 cái
thôi, dư ra thì phải tịnh thí hay trả lại người cho).
42.- Không được cất giữ nhiều
đồ màu tốt. (Ngày nào được đồ thì ngày ấy được dùng,
và đồ được dùng là 16 thứ, ngoài ra thì phải tịnh thí
hoặc trả lại người cho; 16 thứ là chõ lớn, vung chõ lớn,
vò lớn, và mòi vò lớn, chõ nhỏ, vung chõ nhỏ, vò nhỏ,
và mòi vò nhỏ, bình nước, nắp bình nước, hũ, và mòi của
hũ, bình nước rửa, nắp bình nước rửa, ? , và mòi của
?). (6)
43.- Nếu hứa cho người bịnh y
thì sau đó nên cho. (Bịnh y là khi có kinh nguyệt thì dùng
ngăn trên thân thể để mặc quần. Hứa cho ai vật gì thì
cũng nên cho họ).
44.- Không được phi thời y nhận
làm thời y. (Thời y là 1 tháng nếu không nhận y công đức,
và 5 tháng nếu nhận y công đức; y được có trong 2 thì gian
này gọi là thời y. Phi thời y là trường y được có trong
thì gian còn lại ngoài 2 thì gian nói trên. Thời y thì chư
tăng an cư phân phát, phi thời y thì chư tăng hiện diện phân
phát).
45.- Nếu đổi y với người khác,
sau đó không được giận dữ đoạt lại, hoặc bảo người
đoạt. (Đổi y là đem y đổi y, hoặc đem vật khác đổi
y, hoặc đem y đổi vật khác).
46.- Nếu kiếm áo dày thì nên ngang
với giá tiền 4 tấm vải mịn, không được quá hơn. (Áo
dày là áo mùa lạnh).
47.- Nếu kiếm áo mỏng thì cao lắm
cũng chỉ đến giá 2 tấm rưỡi vải mịn, không được quá
hơn. (Áo mỏng là áo mùa nóng).
48.- Không được cố ý nói dối.
(Nói dối trong 6 pháp ở trên là cố ý nói dối trong chư tăng,
ở đây chỉ nói dối với 1 người là phạm).
49.- Không được chưởi mắng. (Là
làm nhục người khác cho họ xấu hổ).
50.- Không được nói ly gián. (Là
truyền đạt lời nói của đôi bên cho họ đấu loạn với
nhau).
51.- Không được ngủ một nhà với
người nam.
52.- Không được cùng với người
nữ chưa thọ đại giới ngủ chung một nhà mà quá 3 đêm.
(Tăng kỳ luật nói đại ni được ngủ với thức xoa ma na
3 đêm, thức xoa ma na được ngủ với sa di ni 3 đêm).
53.- Không được cùng với người
chưa thọ đại giới đọc tụng kinh pháp. (Tứ phần luật
không cho cùng người chưa thọ đại giới đọc tụng kinh
pháp, các luật khác không cho đối diện với người chưa
thọ đại giới mà nói về đại giới ấy. Ở đây thức
xoa ma na không được nói với sa di ni và người tại gia).
54.- Nếu biết người khác có tội
lỗi nặng thì không được nói với người chưa thọ đại
giới. (Nếu chư tăng kiết ma sai nói thì không phạm).
55.- Không được nói những pháp
hơn người với người chưa thọ đại giới. (Là thật tự
chứng được thiền định, giải thoát, tam muội, sơ quả
cho đến tứ quả, cũng không được nói với người chưa
thọ đại giới).
56.- Không được nói pháp cho người
nam quá năm sáu lời. (Năm là 5 ấm, sáu là 6 căn hay trần,
hoặc còn có những lời tương ứng với năm sáu pháp khác.
Nếu bên cạnh có người nữ trí thức thì nói quá hơn cũng
không phạm).
57.- Không được tự tay đào đất
hay bảo người đào.
58.- Không được hủy hoại thôn
xóm của quỉ thần. (Hết thảy cỏ cây đều là chỗ quỉ
thần nương ở, như là thôn xóm của người vậy, nên không
được thương tổn, hủy hoại. Cho đến tất cả cây sống
đều không được thương tổn, hủy hoại).
59.- Không được bày đặt nói quanh
để làm người khác bực mình. (Là khi người đúng phép hỏi
mình, mình không thích, nên đem sự việc khác mà trả lời,
làm cho họ phát bực).
60.- Không được ghét mắng người
khác. (Là mắng trước mặt hay mắng sau lưng).
61.- Nếu đem đồ của chư tăng
như giường giây, giường cây, đồ nằm, nệm ngồi, tự mình
sắp ra trên mặt đất trống hay bảo người sắp ra, thì khi
đi phải tự xếp cất hay bảo người xếp cất.
62.- Nếu sắp đồ nằm của chư
tăng ra trong tăng phòng, tự mình sắp ra hay bảo người sắp
ra, thì khi đi phải tự xếp cất hay bảo người xếp cất.
63.- Nếu biết chỗ của người
ở trước, mình đến sau, thì không được trải đồ nằm
ra ở giữa mà ngủ nghỉ, ý muốn họ hiềm chật quá mà tự
tránh đi.
64.- Không được tức giận không
vui với người khác, nên trong phòng của chư tăng mà tự lôi
họ ra hay bảo người lôi ra.
65.- Không được ở trên gác mà
nằm ngồi trên giường giây giường cây sút chân. (Sút chân
là chân ghép, chân lỏng; gác không chắc chắn thì rơi xuống
làm người bị thương).
66.- Nếu biết nước có trùng thì
không được tự dùng dội trên đất trên cỏ, hay bảo người
dội. (Các việc rửa, giặt, v/v, cũng gọi là dùng).
67.- Nếu làm phòng lớn, có cửa
cánh, cửa sổ, và những đồ trang trí khác, thì nên chỉ
bảo lợp tranh chừng hai ba bậc, không được quá. (Hai ba bậc
là hai ba lớp).
68.- Nếu thí chủ cúng một bữa
ăn thì, không bịnh, nên ăn 1 bữa, không được quá. (Thí
chủ vì cầu phước nên dựng nhà, cúng thức ăn, nhưng không
thể cúng nhiều, nên chỉ cúng một bữa, mời một đêm).
69.- Không được ăn riêng tăng chúng.
(Nếu khi bịnh, khi may y gấp, khi có người dâng y, khi đi đường,
khi đi thuyền, khi đại hội, khi sa môn ngoại đạo mời ăn,
đều không phạm).
70.- Nếu không bịnh, đến nhà thí
chủ, họ xin cúng thức ăn, thì không được nhận quá vài
ba bát, và về chùa không được không chia cho các vị khác
cùng ăn.
71.- Không được ăn đồ cách đêm.
(Là ngày nay nhận, cất đến ngày mai ăn).
72.- Không được thức ăn hay thuốc
mình không nhận lời mời mà đã bỏ vào miệng. (Trừ nước
và tăm, không nhận lời mời cũng không phạm. Chiếu theo Tứ
phần luật thì cho thức xoa ma na tự tay lấy thức ăn và trao
thức ăn cho ni. Tăng kỳ luật cũng cho cùng đại ni trao thức
ăn. Trừ hỏa tịnh, sinh chủng, lấy vàng bạc tiền, còn thức
xoa ma na nhận thức ăn từ nơi sa di ni).
73.- Nếu trước đã nhận lời mời
rồi, thì không được đến giờ bữa ăn trước và bữa ăn
sau đi đến nhà khác mà không dặn ni khác. (Trừ lúc bịnh,
lúc may y, lúc cho y, không dặn cũng không phạm. Bữa ăn trước
là từ lúc trời sáng cho đến giờ ngọ, bữa ăn sau là giờ
ngọ).
74.- Nếu trong nhà ăn có vật báu
thì không được miễn cưỡng ngồi dai. (Nhà ăn là nhà mà
chồng vợ có dục ý, muốn làm sự bất tịnh, thì mình không
được miễn cưỡng ngồi dai, trở ngại cho họ).
75.- Nếu trong nhà ăn có vật báu
thì không được ngồi chỗ khuất.
76.- Không được một mình cùng
với người nam ngồi chung một chỗ ở đất trống.
77.- Nếu hứa trước với người
khác cùng đến xóm làng thì kiếm thức ăn cho, nhưng rồi
không khuyên cúng thức ăn, lại bảo: tôi với chị ngồi hay
nói với nhau một chỗ thì tôi không ưa; tìm cách xua đuổi
người ta như vậy thì phạm tội.
78.- Nếu thí chủ xin cho thuốc 4
tháng, thì không bịnh cũng nên nhận, nhưng không được nhận
quá thì hạn ấy. (Trừ ra họ xin cho luôn, xin cho thêm, xin
chia mà cho, xin cho suốt đời, thì không phạm. Nếu 1 tháng,
2 tháng, 3 tháng, tùy người ta xin cho bao lâu mà nhận, không
được hết thì hạn lại đến lấy nữa).
79.- Không được đi coi quân trận.
(Trừ lý do có mời gọi thì không phạm).
80.- Nếu có lý do thì được đến
trong quân đội tá túc 2 đêm 3 đêm mà không được quá hơn.
(Dẫu vì duyên sự Tam bảo cần đến tá túc trong quân đội,
thì 1 đêm rồi việc là về; nhiều lắm là 3 đêm, không được
quá hơn).
81.- Khi tá túc trong quân đội 2
đêm 3 đêm thì không được coi quân đội dàn trận, không
được coi lực lượng tượng binh k?inh diễn tập.
82.- Không được giỡn dưới nước.
83.- Không được lấy ngón tay thọc
léc người khác. (Là lấy ngón tay gải hay ngoáy vào da thịt
chỗ mẫn cảm, làm cho người khó nhịn mà phát cười).
84.- Không được không chấp nhận
mọi sự khuyên can.
85.- Không được dọa cho người
ta sợ.
86.- Nếu nửa tháng tắm rửa, không
bịnh thì nên nhận như vậy, không được quá hơn. (Trừ khi
nóng, khi bịnh, khi làm việc, khi gió lớn, khi mưa, khi đến
từ đường xa).
87.- Nếu không bịnh thì không được
đốt lửa giữa đất trống hay bảo người đốt. (Trừ vì
người bịnh mà nấu ăn, hun bát, nhuộm y, thắp đèn, đốt
hương, v/v, thì không phạm).
88.- Không được tự mình hay bảo
người cất giấu vật dụng của người khác như y, bát, đồ
ngồi, ống kim, dầu chỉ để giỡn chơi. (Ngoài mấy vật
trên, mọi vật khác nữa cũng không được cất giấu, trừ
ra sợ mất sợ hỏng nên tạm cất giúp, và đưa lại ngay).
89.- Nếu tịnh thí y cho người khác
rồi, sau đó không hỏi người chủ của y ấy thì không được
lấy mặc. (Tịnh thí ở đây là tịnh thí thật sự cho người
khác. Nếu tịnh thí triển chuyển, thì, theo phép, có thể
mặc tùy ý, không cần hỏi người chủ).
90.- Nếu được y mới thì phải
nhuộm bằng 3 thứ làm hỏng nguyên màu đi, đó là màu xanh,
màu đen, màu nấu vỏ cây mộc lan. Không làm như vậy thì
không được dùng. (Trong 3 màu, tùy ý dùng 1 màu. Nếu được
cái y mới có màu sắc đúng phép rồi thì cũng nên điểm
tịnh mà dùng. Cho đến đãy, giây lưng, mão, tất, khăn, v/v,
đều phải điểm tịnh cả).
91.- Nếu biết nước có trùng thì
không được uống. (Phải lọc kyլ nhìn kyլ không trùng mới
dùng).
92.- Không được cố quấy rối
người khác, dầu chỉ làm cho họ chốc lát không vui.
93.- Nếu biết người có lỗi thì
không được che giấu giúp. (Giới thứ 2 ở trước là che
giấu tội nặng, giới này che giấu tội nhẹ).
94.- Nếu biết sự việc tranh cãi
đã sám hối đúng phép rồi, thì sau đó không được khơi
dậy trở lại.
95.- Nếu biết là giặc thì không
được cùng đi một đường, dầu chỉ bằng đến thôn xóm.
96.- Nếu phát sinh kiến thức ác
hại, nói rằng theo tôi biết giáo pháp Phật nói thì hành
dâm không phải là sự chướng đạo; nói như vậy mà được
can gián thì phải xả bỏ tức khắc.
97.- Nếu biết đó là người không
chịu xả bỏ kiến thức ác hại và sai lầm, chư tăng chưa
tác pháp kiết ma giải tội cho, thì mình không được chứa
chấp, ngủ chung.
98.- Nếu biết đó là sa di ni có
kiến thức ác hại, bị chư tăng trục xuất, thì mình không
được chứa chấp, ngủ chung.
99.- Nếu khi được can gián đúng
phép thì không được nói rằng tôi nay không học giới này,
tôi sẽ gạn hỏi vị trì luật nào có trí tuệ.
100.- Khi nghe thuyết giới thì không
được khinh chê giới pháp, nói rằng thuyết những giới điều
vụn vặt ấy làm gì, chỉ làm cho người bực dọc, xấu hổ,
thắc mắc mà thôi.
101.- Khi nghe thuyết giới thì phải
chuyên nhất tâm trí, thâu nhiếp thính giác mà nghe cho kỷ
102.- Nếu cùng tăng chúng cho người
ta đồ vật rồi, sau đó không được nói rằng vị đó theo
bạn thân nên lấy vật của chư tăng mà cho họ.
103.- Nếu chư tăng xử việc chưa
xong thì khi đó mình không được không dữ dục mà đứng
dậy đi ra.
104.- Nếu dữ dục rồi sau đó không
được hối tiếc.
105.- Không được lén nghe tranh cãi
rồi sau đó đem lời ấy nói với người khác.
106.- Không được tức giận không
vui mà đánh người khác.
107.- Không được tức giận không
vui mà lấy tay tát người khác. (Tát là trương bàn tay ra mà
đánh người).
108.- Không được tức giận không
vui, đem sự vô căn cứ mà phỉ báng người khác. (Giới thứ
5 ở trước là phỉ báng tội nặng, giới này phỉ báng tội
nhẹ).
109.- Nếu vua chưa ra khách, chưa
cất bảo vật, thì không được vào quá ngưỡng cửa của
cung vua.
110.- Nếu là vàng ngọc hay đồ
trang sức bằng vàng ngọc thì không được cầm giữ hay bảo
người cầm giữ. (Trừ trong chùa và chỗ ngủ nhờ, sợ mất
đi nên lấy cất, nhưng phải biết và nhớ mà trả cho người
chủ).
111.- Không được đi vào làng xóm
không phải lúc mà không dặn lại ai cả. (Nên dặn đại ni,
không có đại ni thì dặn người phạn hạnh đồng hàng, cho
đến dặn sa di ni).
112.- Nếu làm giường giây giường
cây thì chân chỉ cao bằng 8 ngón tay của Phật, không được
quá hơn. (Một ngón tay của Phật dài bằng 2 tấc) (7) .
113.- Không được lấy bông đâu
la độn nệm lót giường giây giường cây, hay độn ngọa
cụ tọa cụ. (Bông đâu la là tên chung của hoa bạch dương,
hoa dương liễu, hoa bồ đài).
114.- Không được ăn hành tỏi.
115.- Không được cạo lông 3 chỗ.
(Là chỗ đại tiểu tiện, và dưới nách).
116.- Nếu dùng nước tác tịnh thì
nên giới hạn 2 ngón tay, mỗi ngón 1 đốt, không được quá.
(Nếu ở trong có trùng có rác phải kéo ra thì không phạm).
117.- Không được dùng những vật
như hồ giao v/v mà làm nam căn.
118.- Không được cùng vỗ nhau (Dùng
tay hay chân, hay nữ căn vỗ nhau, đều phạm tội).
119.- Nếu khi tỷ kheo không bịnh
thì mình không được bưng nước, đứng trước mặt lấy
quạt mà quạt.
120.- Không được xin lúa hay lúa
mạch sống. (Cho đến đậu lớn, đậu nhỏ, và mè, đều
không được phép xin. Trừ ra xin bà con quen biết hay người
xuất gia, thì mình xin cho người, người xin cho mình, không
xin mà được, đều không phạm).
121.- Không được đại tiểu tiện
hay hỷ nhổ trên cỏ tươi. (Nếu có bịnh thì không phạm).
122.- Nếu sáng sớm, không ngó ngoài
tường thì không được đổ bỏ đại tiện tiểu tiện. (Phải
ngó ngoài tường không người mới đổ. Đổ những vật khác
thì trước hết cũng phải dặng hắng, vỗ tay).
123.- Không được đi xem nghe kyՍ
nhạc.
124.- Không được đi vào làng xóm
mà cùng với người nam đứng và nói chuyện ở chỗ khuất.
(Giới thứ 1 là cùng với người nam có ý dâm dục mà ở
chỗ khuất đứng và nói chuyện. Giới này, và 2 giới tiếp
theo, là cùng đứng và nói với người nam không có ý dâm
dục).
125.- Không được cùng với người
nam đi vào chỗ khuất và có vật ngăn che.
126.- Không được vào trong làng
trong hẻm, bảo bạn đi xa đi, rồi cùng người nam ở chỗ
khuất đứng chung và kề tai mà nói.
127.- Nếu vào ngồi trong nhà cư
sĩ thì không được không nói với chủ nhân mà bỏ đi.
128.- Nếu vào trong nhà cư sĩ thì
không được không nói với chủ nhân mà ngồi liền trên giường.
(Trừ ra có chỗ thường ngồi, hoặc nhà thân thiết, hoặc
trên đá, trên gỗ, trên đất cứng, trên thảm cỏ, hoặc
bịnh, thì không phạm).
129.- Nếu vào nhà người, không
nói với chủ nhân thì không được tự sắp liền chỗ mà
ngồi, ngủ, nghỉ.
130.- Không được cùng người nam
vào trong nhà tối.
131.- Không được không thẩm định
lời nói mình tiếp nhận mà đã nói ngay với người khác.
132.- Nếu có lý do hay sự việc
nhỏ nhặt thì không được thề liền rằng đọa ác đạo,
không sinh trong Phật pháp. (Ấy là không nên thề thốt. Nếu
có việc khó chịu đến với mình, nên nói nếu tôi có việc
như vậy thì, "lạy Phật", nếu cô có việc như vậy thì,
"lạy Phật").
133.- Không được tranh cãi với
người khác vì không khéo nhớ sự việc tranh cãi, rồi đấm
ngực khóc la.
134.- Nếu không bịnh thì không được
2 người nằm chung 1 giường.
135.- Không được nằm chung 1 nệm,
cùng 1 chăn. (Nếu mỗi người sắp? riêng nhau, nếu trời lạnh
mà chỉ có 1 chăn, thì được phép người nào cũng mặc áo
lót mà nằm).
136.- Không được vì quấy rối
mà tụng kinh, hỏi nghĩa và chỉ dạy trước mặt người ta.
137.- Nếu người sống chung bị
bịnh thì không được không trông nom. (Sống chung ở đây
là chung cùng lợi dưỡng).
138.- Nếu đầu an cư cho người
ta đặt giường trong phòng mình, thì sau đó không được tức
giận mà đuổi người ta ra. (Trừ người ta phạm giới, hoặc
đáng trục xuất, thì không phạm).
139.- Không được mùa xuân, mùa
hạ, mùa đông, tất cả các mùa đều du hành dân gian. (Trừ
ra vì việc của Tam bảo và vì săn sóc bịnh nhân, thì được
phép xuất giới 7 ngày mà đi, 7 ngày đủ rồi phải về ngay).
140.- Nếu kiết hạ an cư rồi không
được không đi. (Vì thí chủ xin cúng dường an cư chỉ giới
hạn đến hết an cư, nên phải ra đi, không được ở lại
dầu chỉ 1 đêm. Nếu bị cản trở vì lý do bất khả kháng,
nếu bịnh, nếu thí chủ xin cúng dường không giới hạn,
nếu an cư ở chỗ không phải nhận lời mời, thì không đi
cũng không phạm).
141.- Không được ngoài khu vức
có chỗ nghi là đáng sợ mà vẫn đi vào dân gian. (Ngoài khu
vức là chỗ xa thành ấp. Nếu bị mời gọi, nếu đến trước
rồi mới nghi có sự đáng sợ xảy ra, thì không phạm).
142.- Không được trong khu vức có
chỗ nghi là đáng sợ mà vẫn đi vào dân gian. (Trong khu vức
là 4 mặt quanh thành).
143.- Không được thân thiết với
cư sĩ và con cư sĩ, sống chung, rồi làm hạnh bất tùy thuận,
can cũng không bỏ. (Thân thiết là luôn luôn nói cười với
nhau, bỡn cợt với nhau).
144.- Không được đi coi hoàng cung
với điện đường sơn vẽ, vườn rừng hồ tắm.
145.- Không được khỏa thân tắm
trong nước sông, nước suối, nước hồ.
146.- Nếu làm khăn tắm thì phải
dài bằng 6 gang tay của Phật, rộng bằng 2 gang rưỡi, không
được quá hơn. (Khăn tắm là cái khăn che mình mà tắm rửa.
Một gang của Phật tương đương 3 gang của người thường,
và theo thước nhà Chu thì có 1 thước 8 tấc).
147.- Không được may y quá 5 ngày.
(Nếu không có kéo, kim, chỉ, hay vải không đủ, cho đến
có việc tai nạn, thì không phạm).
148.- Không được quá 5 ngày không
coi sóc y. (Những vật cần dùng khác cũng phải 5 ngày coi sóc
1 lần, đừng để mất, sâu ăn, màu hỏng. Nếu chỗ cất
chắc chắn, nếu người được gửi coi giúp, thì không phạm).
149.- Không được ngăn cản cúng
y cho chư tăng. (Là thí chủ muốn cúng y cho chư tăng mà mình
khuyên cúng thức ăn, đừng cúng y. Cũng không được cản
trở những người khác cúng những vật khác).
150.- Nếu không hỏi người chủ
thì không được tự tiện mang y của họ. (Trừ người thân
thiết).
151.- Không được cầm y sa môn mà
cho ngoại đạo hay cư sĩ. (Cư sĩ là người tại gia. Trừ
ra cho cha mẹ, cho để người ta trả nợ. Nếu ai đến xin
1 miếng ca sa để trừ khử tai nạn, thì nên bảo tịnh nhân
đưa cho).
152.- Nếu chư tăng chia y đúng phép,
thì không được ngăn cản vì sợ đệ tử không được phần.
(Thức xoa ma na không có phép nuôi đệ tử, nhưng cũng không
được vì bạn thân mà ngăn cản).
153.- Không được có ý thức muốn
hưởng lâu 5 sự nên làm cho chư tăng hiện không xả y công
đức, để sau sẽ xả. (Tăng ni 2 chúng an cư xong rồi, ngày
16/7 cùng lãnh thọ y công đức. Lãnh thọ y này rồi, trong
5 tháng được hưởng 5 sự lợi ích: một là được cất
giữ trường y, hai là được ngủ rời y, ba là được ăn
riêng chúng, bốn là được ăn triển chuyển, năm là được
ăn bữa ăn trước và bữa ăn sau, và đi vào làng xóm mà không
cần dặn ai. Thức xoa ma na tuy không có y công đức, nhưng
vì an cư theo đại ni, nên cũng nên có 5 sự lợi ích. Y công
đức lãnh thọ từ ngày 16/7, đến ngày 15/12 chư tăng kiết
ma mà xả).
154.- Không được có ý thức muốn
hưởng lâu 5 sự nên ngăn cản tỷ kheo ni tăng xả y công đức.
155.- Nếu có ni khác nói với, rằng
xin diệt trừ sự tranh cãi ấy cho tôi, thì thực thi phương
tiện liền mà diệt trừ. (Nếu bịnh, nếu nói họ không nghe,
nếu họ phá giới, v/v, thì không phạm).
156.- Không được tự tay đưa thức
ăn cho cư sĩ và ngoại đạo ăn. (Nên nhờ người đưa mà
cho, hoặc để trên chỗ để nào đó mà cho).
157.- Không được làm người sai
sử cho cư sĩ. (Là lo liệu việc nhà của cư sĩ, hoặc xay
giã, nấu ăn, sắp chỗ ngồi, lấy nước, quét đất, v/v.
Nếu làm cho cha mẹ, cho nữ tín đồ tín tâm chân thành mà
bị bịnh, cho người bị trói giam, thì không phạm).
158.- Không được tự tay xe chỉ
đánh sợi. (Nếu tự tháo rã chỉ sợi, nối tiếp chỉ sợi,
thì không phạm).
159.- Nếu vào nhà cư sĩ thì không
được ngồi hay nằm trên giường lớn giường nhỏ của họ.
160.- Nếu đến nhà cư sĩ ngủ lại
thì sáng ngày phải cáo từ chủ nhân mới đi. (Hoặc dặn
cho người quen thân biết, hoặc có giặc, có rắn độc, có
thú dữ, thì ra đi không phạm).
161.- Không được tụng tập chú
thuật của thế tục, hoặc chỉ dạy cho người tụng tập.
162.- Nếu biết là người như vậy
như vậy thì không được độ cho xuất gia. (Người như vậy
như vậy là dâm nữ. Nếu người ấy có tín tâm lớn lao,
chán bỏ nghề ác, thì nên đem đến chỗ cách năm sáu do tuần,
giấu kyՠcho họ, phó thác cho đại ni giáo thọ. Thức xoa ma
na tuy không có cái phép nuôi đệ tử, nhưng phải học trước
việc này).
163.- Không được không có 2 năm
theo hòa thượng ni. (Lãnh thọ đại giới rồi cũng cần phải
có 2 năm theo thầy. Nếu thầy phá giới thì bỏ đi, không
phạm).
164.- Nếu tỷ kheo ni tăng kiết hạ
an cư rồi, không được không đến giữa tỷ kheo tăng, nói
3 sự thấy, nghe, nghi, để cầu tự tứ. (Phải học trước
giới này. Tứ phần luật nói thức xoa ma na cũng theo ni chúng
đến chỗ đại tăng mà xin tự tứ).
165.- Không được ở chỗ không
có tỷ kheo mà kiết hạ an cư. (Vì sẽ không có giáo thọ,
và nếu có gì hoài nghi thì không thể hỏi ai).
166.- Nếu biết tăng già lam có tỷ
kheo thì phải thưa rồi mới vào. (Phạn tự tăng già lam, Hoa
dịch chúng viên, có nghĩa là chỗ chư tăng cư trú, phải thưa
trước mà vào).
167.- Không được mắng tỷ kheo.
168.- Không được ưa tranh cãi vì
không khéo nhớ sự việc tranh cãi, sau đó giận dữ không
vui, mắng cả ni chúng.
169.- Nếu thân thể sinh ung nhọt
và các thứ ghẻ, mà không bạch trong chúng, không nói với
ai, thì không được nhờ người nam mổ hay băng. (Muốn nhờ
người nam chữa trị cho thì phải đánh kiền chùy, tập hợp
ni chúng, đến trước bịnh nhân, lấy áo bao mình, chỉ để
cái chỗ cần chữa, rồi mới nhờ chữa trị).
170.- Nếu trước nhận lời thỉnh
mời, ăn đủ rồi, thì sau đó không được ăn thức ăn chính.
(Thức ăn chính là cơm, miến, cơm chiên, v/v. Nếu nhận lời
mời không phải ăn chính, nếu lời mời không phải ăn đủ,
nếu trước không được thỉnh mời, thì toàn không phạm).
171.- Không được đối với thầy
mình (8) mà sinh tâm ganh ghét. (Là nhà thí chủ quen biết đem
đồ cúng cho người khác, lòng mình không vui, sinh ra ganh ghét).
172.- Không được dùng hương liệu
mà xoa xát thân thể.
173.- Không được lấy cặn dầu
mè xoa xát thân thể. (Mè ở đây là chi ma).
174.- Không được bảo người khác
xoa xát thân thể. (Không được bảo thức xoa ma na ni, sa di
ni, và phụ nữ tại gia xoa xát thân thể, càng không được
nhờ tỷ kheo ni làm việc xoa xát ấy).
175.- Không được mặc quần lót
độn dày. (Quần lót là quần đùi. Độn là lấy bông mới
hay ? mà độn). (9)
176.- Không được cất chứa đồ
trang điểm thân thể phụ nữ. (Là xuyến đeo tay đeo chân,
nhẫn đeo ngón tay, chuỗi ngọc đeo cổ, v/v).
177.- Không được đi mà mang dép
da và cầm dù. (Dép da là giày da thú. Dù là dù tán. Nếu trời
mưa thì được phép ở trong chùa mà cầm dù, cũng được
phép ở trong chùa mà mang dép).
178.- Không bịnh thì không được
đi xe. (Xe là xe voi, xe ngựa, xe người kéo đẩy. Nếu già,
nếu bịnh, thì được phép ngồi xe kéo, xe người nữ điều
khiển. Nếu có nạn mới được phép ngồi bất cứ xe gì).
179.- Nếu không mặc tăng kỳ chi
thì không được vào làng xóm. (Tăng kỳ chi là áo cánh che
nách. Không mặc áo này thì bày ngực, nhủ bộ, và eo. Nếu
không có, nếu bị mất, nếu sắp may, thì không phạm).
180.- Không được sắp tối mà đến
nhà cư sĩ. (Nếu vì việc của Tam bảo, nếu vì việc trông
nom bịnh nhân, nếu thí chủ mời gọi thì được đi).
181.- Không được sắp tối, mở
cửa chùa ra đi mà không dặn ni khác.
182.- Nếu không việc thì phải tiền
an cư, có việc thì phải hậu an cư, không được không an
cư. (Ngày 16/4 là ngày tiền an cư, ngày 16/5 là ngày hậu an
cư. Nếu có việc Tam bảo, nếu trông nom bịnh nhân, không
kịp tiền an cư thì được phép hậu an cư. Tiền an cư cấm
túc đến ngày 15/7 giải chế, hậu an cư cấm túc đến ngày
15/8 giải chế).
183.- Không được học tập thuật
số thế tục để tự mưu sinh.
184.- Không được đem thuật số
thế tục chỉ dạy cho cư sĩ. (Là không chỉ dạy cho cư sĩ
đừng hướng về miếu thờ thần thái dương và thần thái
âm mà đại tiểu tiện, đừng hướng về miếu thờ thần
thái dương và thần thái âm mà đổ phân rác hay đổ mọi
thứ nước dơ, đừng hướng về miếu thờ thần thái dương
và thần thái âm mà duỗi chân. Lại nói ngày nay có sao ấy
là ngày tốt, nên trồng trỉa, làm nhà, nuôi tôi tớ, cạo
tóc trẻ con, cất của, đi xa, v/v).
185.- Nếu bị trục xuất thì không
được không đi. (Nên phục tùng, hạ ý sám hối, cầu giải
tỏa sự trục xuất).
186.- Nếu muốn hỏi nghĩa lý kinh
pháp nơi vị tỷ kheo, thì trước hết phải cầu xin cho phép
rồi sau đó mới hỏi. (Nếu trước thường cho hỏi, nếu
2 vị hòa thượng và giáo thọ là quen thân, thì không cầu
cũng không phạm).
187.- Nếu biết người ở trước
mình đến sau, người đến sau mình ở trước, thì không được
muốn quấy rối người ta, ở trước mặt họ mà kinh hành,
đứng, ngồi, và nằm.
188.- Nếu biết là chùa có tỷ kheo
thì không được xây tháp nơi chùa ấy. (Là xây tháp ni. Nếu
tháp cũ hỏng, nếu tháp xây trước chùa cất sau, thì không
phạm).
189.- Nếu thấy vị tỷ kheo mới
thọ cụ túc giới thì phải đứng dậy, đón rước, cung kính,
lễ bái, hỏi han, mời ngồi. (Nếu đang ăn mà chỉ ngồi một
lần, nếu có bịnh, thì nên nói: đại đức, con xin sám hối,
con có lý do như vậy, không thể đứng dậy, đón rước).
190.- Không được vì làm dáng cho
đẹp nên đi mà lắc mình rảo bước. (Nếu có bịnh như vậy,
nếu tránh gậy, tránh voi dữ, cho đến tránh chông gai, nếu
lội nước lội bùn, nếu ngoái mình coi y áo có tề chỉnh
hay không, thì không phạm). (10) .
191.- Không được dùng đồ trang
sức của phụ nữ, dùng hương liệu xoa mình.
192.- Không được nhờ nữ nhân
ngoại đạo xoa xát hương liệu vào mình.
193.- Không được không bịnh mà
kiếm để ăn 8 thứ: sữa tô, dầu, mật ong, đường phèn,
sữa, sữa lạc, cá, thịt. (11) . (Trên đây là 193 điều thuộc
về giới pháp; dưới đây là 99 điều thuộc về oai nghi).
194.- Nên mặc quần cho tề chỉnh.
195.- Nên mặc y cho tề chỉnh.
196.- Không được vắt trái y đi
vào nhà cư sĩ.
197.- Không được vắt trái y ngồi
nhà cư sĩ.
198.- Không được quấn y nơi cổ
vào nhà cư sĩ.
199.- Không được quấn y nơi cổ
ngồi nhà cư sĩ.
200.- Không được trùm đầu vào
nhà cư sĩ.
201.- Không được trùm đầu ngồi
nhà cư sĩ.
202.- Không được vừa đi vừa nhảy
vào nhà cư sĩ.
203.- Không được vừa đi vừa nhảy
vào ngồi nhà cư sĩ.
204.- Không được ngồi xoạc đùi
(12) trong nhà cư sĩ.
205.- Không được chống nạnh đi
vào nhà cư sĩ.
206.- Không được chống nạnh ngồi
nhà cư sĩ.
207.- Không được lắc mình đi vào
nhà cư sĩ.
208.- Không được lắc mình ngồi
nhà cư sĩ.
209.- Không được vung tay đi vào
nhà cư sĩ.
210.- Không được vung tay ngồi nhà
cư sĩ.
211.- Khéo che mình kín đáo vào nhà
cư sĩ.
212.- Khéo che mình kín đáo ngồi
nhà cư sĩ.
213.- Không được nhìn bên này liếc
bên kia đi vào nhà cư sĩ.
214.- Không được nhìn bên này liếc
bên kia ngồi nhà cư sĩ.
215.- Yên lặng vào nhà cư sĩ.
216.- Yên lặng ngồi nhà cư sĩ.
217.- Không được giỡn cười đi
vào nhà cư sĩ.
218.- Không được giỡn cười ngồi
nhà cư sĩ.
219.- Chú ý khi ăn (13) .
220.- Lấy cơm chỉ ngang miệng bát
mà ăn.
221.- Cả đồ ăn (14) nữa cũng chỉ
lấy ngang miệng bát mà ăn.
222.- Đồ ăn và cơm phải lấy tương
đương với nhau.
223.- Tuần tự mà ăn (15) .
224.- Không được moi xốc giữa
bát mà ăn.
225.- Không bịnh thì không được
tự hỏi cơm và đồ ăn cho mình.
226.- Không được lấy cơm đậy
đồ ăn lại để mong có đồ ăn nữa.
227.- Không được liếc xem trong
bát của người ngồi bên cạnh.
228.- Phải để ý nơi bát mà ăn.
229.- Không được dồn cơm lớn
miệng mà ăn.
230.- Không được hả lớn miệng
để chờ cơm mà ăn.
231.- Không được ngậm cơm mà nói
chuyện. (Ngậm những thức ăn khác cũng không được nói chuyện).
232.- Không được nắm cơm ngoài
xa ném vào miệng.
233.- Không được ăn mà còn sót
lại (16) .
234.- Không được bung má mà ăn.
235.- Không được nhai (17) ra tiếng
mà ăn.
236.- Không được hớp cơm mà ăn.
237.- Không được le lưỡi liếm
mà ăn.
238.- Không được rảy tay mà ăn.
(Là cất tay mà rảy. Nếu trong đồ ăn có sâu, cỏ, v/v, thì
rảy bỏ, không phạm).
239.- Không được lượm cơm rơi
mà ăn.
240.- Không được tay dơ cầm đồ
đựng thức ăn (18) .
241.- Không được đổ nước rửa
bát trong nhà cư sĩ. (Phải đem ra ngoài mà đổ).
242.- Không được đại tiện tiểu
tiện, hỷ nhổ vào nước sạch (trừ lúc có bịnh).
243.- Không đứng mà đại tiện
tiểu tiện (trừ lúc có bịnh).
244.- Không được thuyết pháp cho
người vắt áo lên vai, không cung kính (trừ lúc họ có bịnh).
245.- Không được thuyết pháp cho
người quấn áo nơi cổ (trừ lúc họ có bịnh).
246.- Không được thuyết pháp cho
người che đầu (trừ lúc họ có bịnh).
247.- Không được thuyết pháp cho
người trùm đầu (trừ lúc họ có bịnh).
248.- Không được thuyết pháp cho
người chống nạnh (trừ lúc họ có bịnh).
249.- Không được thuyết pháp cho
người mang dép da (trừ lúc họ có bịnh).
250.- Không được thuyết pháp cho
người mang guốc gỗ (trừ lúc họ có bịnh).
251.- Không được thuyết pháp cho
người cưỡi ngựa (trừ lúc họ có bịnh).
252.- Không được ngủ nghỉ trong
tháp Phật, trừ ra để coi giữ.
253.- Không được cất giấu của
cải trong tháp Phật, trừ ra để cho chắc chắn.
254.- Không được mang dép da vào
trong tháp Phật.
255.- Không được cầm dép da vào
trong tháp Phật.
256.- Không được mang dép da đi
nhiễu quanh tháp Phật.
257.- Không được mang giày ủng
vào trong tháp Phật. (Dày ủng, Phạn tự là phú la, là dày
ống, dày ủng; Phật cho dùng ở những xứ tuyết lạnh).
258.- Không được cầm giày ủng
vào trong tháp Phật.
259.- Không được ngồi ăn nơi tháp
Phật mà xả rác và thức ăn làm dơ đất.
260.- Không được khiêng thây chết
đi qua tháp Phật.
261.- Không được chôn thây chết
nơi tháp Phật.
262.- Không được đốt thây chết
nơi tháp Phật.
263.- Không được hướng về tháp
Phật mà đốt thây chết.
264.- Không được đốt thây chết
bốn phía tháp Phật để hơi hôi bay vào.
265.- Không được mang áo và giường
người chết đi qua tháp Phật, trừ ra đã giặt, nhuộm và
xông hương.
266.- Không được đại tiện tiểu
tiện nơi tháp Phật.
267.- Không được hướng về tháp
Phật mà đại tiện tiểu tiện.
268.- Không được đại tiện tiểu
tiện bốn phía tháp Phật để hơi thối bay vào.
269.- Không được mang ảnh tượng
của Phật đến chỗ đại tiện tiểu tiện.
270.- Không được ở nơi tháp Phật
mà xỉa răng.
271.- Không được hướng về tháp
Phật mà xỉa răng.
272.- Không được bốn phía tháp
Phật mà xỉa răng.
273.- Không được nơi tháp Phật
mà hỷ mũi khạc nhổ.
274.- Không được hướng về tháp
Phật mà hỷ mũi khạc nhổ.
275.- Không được bốn phía tháp
Phật mà hỷ mũi khạc nhổ.
276.- Không được ngồi duỗi chân
trước tháp Phật.
277.- Không được để tượng Phật
ở phòng dưới còn mình ở phòng trên.
278.- Người ngồi mà mình đứng
thì không được thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
279.- Người nằm mà mình ngồi thì
không được thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
280.- Người ngồi ghế mà mình ngồi
chỗ không phải ghế thì không được thuyết pháp cho họ
(trừ lúc họ có bịnh).
281.- Người ngồi chỗ cao mà mình
ngồi chỗ thấp thì không được thuyết pháp cho họ (trừ
lúc họ có bịnh).
282.- Người đi trước mà mình đi
sau thì không được thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
283.- Người ở chỗ kinh hành cao
mà mình ở chỗ kinh hành thấp thì không được thuyết pháp
cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
284.- Người đi giữa đường mà
mình đi lề đường thì không được thuyết pháp cho họ (trừ
lúc họ có bịnh).
285.- Không được dắt tay nhau mà
đi đường.
286.- Không được trèo cây cao quá
đầu người (trừ lý do tai nạn).
287.- Không được đựng bát vào
đãy, xâu vào đầu tích trượng rồi vác trên vai mà đi.
288.- Người cầm gậy, không cung
kính, thì không được thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có
bịnh).
289.- Người cầm kiếm thì không
được thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
290.- Người cầm mâu thì không được
thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
291.- Người cầm dao thì không được
thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
292.- Người che dù thì không được
thuyết pháp cho họ (trừ lúc họ có bịnh).
Tăng kỳ luật nói, thức xoa ma na
ở dưới tất cả đại ni, ở trên tất cả sa di ni. Đến
ngày bố tát, tự tứ, thì đến trước chư tăng mà quì thẳng,
chắp tay, thưa như vầy: Kính bạch chư tăng A lê da, con pháp
danh là XX, thanh tịnh, xin chư tăng ghi nhớ nắm chắc như vậy
cho con. (Nói 3 lần rồi đi ra. A lê da, Hoa dịch là thánh giả).
Cách Sám Hối 292
Hành Pháp [^]
Thức xoa ma na nếu trái với các
hành pháp, trực phạm huấn dụ của Phật, thì phải sám hối
tức khắc, đừng để hỏng mất 6 học pháp. Hãy đến trước
Hòa thượng ni (Thân giáo sư ni), trước A xà lê ni (Quĩ phạm
sư ni), hoặc trước Tỷ kheo ni khác, vắt một vạt y, để
trần vai phải, quì thẳng, chắp tay, tác bạch như vầy: Ngưỡng
bạch Thân giáo sư, xin ngài nhất tâm ức niệm cho con. Con
là thức xoa ma na XX, đã cố ý đem tâm ô nhiễm chịu cho người
nam có tâm ô nhiễm nắm tay (291 hành pháp khác, vi phạm pháp
nào thì nói rõ pháp ấy). Con đã vi phạm hành pháp. Nay con
hướng về Thân giáo sư, phát lộ sám hối, không dám tái
phạm. Nguyện xin Thân giáo sư ức niệm cho con. (Nói 3 lần
như vậy, vị Ni đáp:) Con hãy tự trách cứ tâm mình, hãy
nhàm chán và tách rời tội lỗi. (Thức xoa ma na thưa:) Dạ,
con xin làm đúng như vậy. (Nếu không phải Thân giáo sư và
Quĩ Phạm sư, thì xưng Đại tỷ).
-
Ghi Chú (1)
-
Tất cả những chỗ đóng mở vòng
đơn đều là cước chú của nguyên tác.
-
Ghi Chú (2)
-
Từ đây sắp đi, những điều liên
tiếp mà liên hệ với nhau thì không xuống dòng.
-
Ghi Chú (3)
-
Trường y cũng có nghĩa là y thừa.
-
Ghi Chú (4)
-
Xin tùy ý là người cúng xin người
nhận muốn sao cũng được.
-
Ghi Chú (5)
-
Trường bát: bát dư thừa.
-
Ghi Chú (6)
-
Chỗ này một phần đồ xưa, chữ
xưa, nay cái có cái không, một phần ấn bản không rõ, nên
dịch không chắc chắn.
-
Ghi Chú (7)
-
Thước tấc xưa.
-
Ghi Chú (8)
-
Chính văn là gia. Tác giả ở đây
hiểu là nhà thí chủ. Chỗ khác giải thích phải đọc là
cô, thái cô, nghĩa là bà thầy. Xét trường hợp có ra giới
này thì hiểu là thầy có phần đúng hơn.
-
Ghi Chú (9)
-
Ở đây có 1 chữ nhìn không ra.
-
Ghi Chú (10)
-
Cước chú này là lấy Vạn 63/303 mà
bổ túc.
-
Ghi Chú (11)
-
Cá và thịt là tiểu thừa tùy thí
tùy thực (cho gì ăn nấy).
-
Ghi Chú (12)
-
Chính văn là tôn tọa. Các bản chú
thích nói là cách ngồi mà tiếng thông tục gọi là ngồi
chỏ hỏ. Nhưng từ điển nói tôn là xoạc ra, tôn tọa là
ngồi xoạc đùi ra.
-
Ghi Chú (13)
-
Để khỏi rơi đồ ăn xuống.
-
Ghi Chú (14)
-
Chính văn là canh. Nhưng ở đây rõ
ràng canh là các thức ăn.
-
Ghi Chú (15)
-
Ăn không tuần tự là ngay trong bát
mà đã lấy ăn lung tung.
-
Ghi Chú (16)
-
Dịch theo chú thích ở chỗ khác là
một nửa vào miệng, một nửa còn lại nơi tay.
-
Ghi Chú (17)
-
Dịch đủ là nhai cơm. Nhưng đủ mà
thiếu. Bất cứ nhai gì cũng không được ra tiếng, không phải
chỉ nhai cơm.
-
Ghi Chú (18)
Tỷ kheo giới và Tỷ kheo ni giới
nói nước uống.