6. Cái Chính
Mình : Bốn Mắt Nhìn Nhau
Thiền
sư Chân Nguyên (1647-1726) năm 19 tuổi lên chùa Hoa Yên yết
kiến Thiền sư Tuệ Nguyệt Chân Trú. Ngài Tuệ Nguyệt hỏi
: “Ngươi ở đâu đến đây ?” Sư thưa : “Vốn không đi
lại.” Tuệ Nguyệt biết sư là pháp khí về sau, bèn thế
phát xuất gia cho với pháp danh là Tuệ Đăng. Không bao lâu
sau Tuệ Nguyệt tịch. Sư cùng bạn đồng học là Như Niệm
phát nguyện tu hạnh đầu đà đi du phương tham vấn Phật
pháp. Thời gian sau Như Niệm trở về trụ trì chùa Cô Tiên,
sư lên núi Côn Cương tham vấn Thiền sư Minh Lương là đệ
tử của Chuyết Chuyết. Sư hỏi : “’Bao năm dồn chứa ngọc
trong đãy, hôm nay tận mắt thấy thế nào’ là sao ?” Thiền
sư Minh Lương đưa mắt nhìn thẳng vào Sư, Sư nhìn lại, hai
mắt gặp nhau, Sư liền cảm ngộ, sụp xuống lạy. Minh Lương
bảo : “Dòng thiền Lâm Tế trao cho ông, ông nên kế thừa
làm thạnh ở đời.” Rồi đặt cho sư pháp hiệu Chân Nguyên
và bài kệ phó pháp :
Ngọc
quý ẩn trong đá
Hoa
sen mọc từ bùn
Hãy
biết chỗ sanh tử
Ngộ
đó, tức Bồ đề.
Chính
vì do việc ‘Bốn mắt nhìn nhau’ (tứ mục tương cố) này
mà ngộ nhập thực tại nên về sau trong những sáng tác của
mình, Thiền sư Chân Nguyên nhiều lần nói đến ‘bốn mắt
nhìn nhau’.
* *
*
Qua
sự việc bốn mắt nhìn nhau này, chúng ta thấy một khi tâm
thức đã chín muồi, đã qua một thực hành sơ bộ đủ để
tâm thức bớt đi hai sự che chướng của phiền não và sở
tri, thì bất cứ một sự tiếp xúc nào, nhất là với một
người đang sống trong thực tại ấy thì như lửa đá xẹt,
ánh điện chớp (kích thạch hỏa, thiểm điện quang), người
ta thấy ngay, thể nhập ngay thực tại. Mặc dầu có thể chúng
ta không hiểu kinh nghiệm bốn mắt nhìn nhau này thực sự
là cái gì, nhưng đang trên con đường tích tập và chuẩn
bị cho trí huệ bùng phát, ít nhất chúng ta cũng có niềm
tin rằng Cái Đó (Thực Tại) có thể xuất hiện bất cứ
lúc nào, ở bất cứ đâu một khi chúng ta đã chuẩn bị đầy
đủ, đã chín muồi. Niềm tin này là động lực cho sự tích
tập chuẩn bị và nỗ lực của chúng ta, vì khi tâm thức
đủ thanh tịnh, nó liền thấy Pháp thanh tịnh.
Chúng
ta hãy xem xét tiếp thêm ‘bốn mắt nhìn nhau’ để thấy
ra một vài đặc tính của cái thực tại trong bốn mắt nhìn
nhau này :
Hiện
ra nhãn nhĩ thanh âm
Tứ
mục tương cố chẳng tâm thời gì
Tâm
nguyên không tịch vô vi
Ngộ
được tức thì quả chứng Như Lai.
Thực
tại ấy đầy khắp trong mắt tai mũi lưỡi thân ý, đầy
khắp trong sắc thanh hương vị xúc pháp…, và ở đây thiền
sư Chân Nguyên gọi thực tại ấy là Tâm. Nhưng sở dĩ chúng
ta không thấy được, không biết được vì tâm thức chúng
ta chưa được thanh tịnh. Quá trình tu hành chuẩn bị chính
là sự tịnh hóa tâm thức này. Như ở đây Thiền sư Chân
Nguyên đã ‘phát nguyện tu hạnh đầu đà đi du phương tham
vấn Phật pháp’. Trong quá trình tịnh hóa đó, tâm thức
Sư đã trưởng thành, đã chín muồi. Vì đã chín muồi, đã
tiếp cận, đã tiến đến rất gần, Sư mới có được câu
hỏi từ đáy lòng mình : “’Bao năm dồn chứa ngọc trong
đãy, hôm nay tận mắt thấy thế nào’ là sao ?” Và bốn
mắt nhìn nhau, và ‘đá xẹt, điện chớp’, và thấy, và
‘ngộ đó, tức Bồ đề’.
Thiền
tông cũng như những tông khác, sự tu hành dù có hình thức
gì thì bản chất cũng là tịnh hóa tâm thức. Thiền tông
cũng như Đại thừa, cho rằng Phật và chúng sanh đồng một
tâm, chỉ có điều tâm thức chúng sanh thì bất tịnh, nghĩa
là có nhiễm ô, còn tâm Phật thì thanh tịnh, nghĩa là không
có nhiễm ô. Và khi tâm thanh tịnh thì thấy các pháp bản
lai thanh tịnh, thấy cõi Phật này thanh tịnh. Như thế muốn
thấy được thực tại vốn xưa nay thanh tịnh này chỉ cần
‘hồi đầu thị ngạn’, quay đầu lại là bờ. Nhưng sự
tịnh hóa, sự quay đầu lại của Thiền tông thì khá đặc
biệt ; ở đây chúng ta dẫn một phong cách thường thấy trong
Thiền Trung Hoa :
“Thiền
sư Vô Nghiệp (760-821) nghe tiếng Mã Tổ, tìm đến yết kiến.
Mã Tổ thấy tướng mạo Sư kỳ đặc, tiếng nói trong như
chuông, bèn bảo :
–
Cao lớn nghiêm trang mà trong ấy không có Phật.
Sư
lễ lạy quỳ thưa :
–
Về Kinh điển con có hiểu biết qua, thường nghe Thiền Môn
nói “Tức Tâm là Phật”, thật chưa hiểu thấu.
–
Chỉ cái tâm chưa hiểu đó chính là nó, ngoài ra không có
vật gì khác.
–
Thế nào là tâm ấn mật truyền của Tổ sư từ Ấn Độ
sang ?
–
Tự đại đức đang ồn ào. Hãy đi, khi khác đến.
Sư
vừa đi ra, Mã Tổ gọi :
–
Đại đức !
Sư
xoay đầu lại.
Mã
Tổ hỏi :
–
Là cái gì ?
Sư
liền lãnh hội, lễ lạy.
Mã
Tổ bảo : Gã khờ, lễ lạy làm gì ?”
* *
*
Thực
tại thì ở khắp tất cả chỗ, đụng vào đâu cũng có thể
‘đá chớp điện xẹt’, ở nơi nào cũng hiển lộ trong
‘bốn mắt nhìn nhau’. Sở dĩ như vậy là vì nơi chúng ta
luôn luôn có Cái Đó. Cái Đó vẫn ở với chúng ta từ vô
thủy đến vô chung, cho nên khi đủ duyên, khi đã mỏng bớt
ngăn che thì ‘đá chớp điện xẹt’ bèn lộ toàn thân vậy.
Quả thật không có an ủi nào bằng, không có phấn khích nào
bằng ! Đức Thích Ca đã chứng ngộ hoàn toàn Cái Đó mà
thành Chánh Đẳng Chánh Giác, đức A Di Đà đã chứng ngộ
hoàn toàn Cái Đó mà thành Phật và kiến lập Tịnh độ Tây
phương, Bồ tát Quán Thế Âm đã chứng ngộ hoàn toàn Cái
Đó mà khắp hiện Hóa thân, Trí Bi tròn đủ… Vậy mà bây
giờ Cái Đó vốn có nơi mỗi chúng ta, là quyền lợi tối
thượng của mỗi chúng ta, chúng ta có thể nào lơ là, không
tinh tấn ?
Cái
Đó chưa từng cách chúng ta một mảy tóc, cọng lông, chưa
từng lìa chúng ta một khoảnh khắc, một sát na, thế mà chúng
ta không khám phá nó, thể nghiệm nó thì có phải cuộc đời
chúng ta rất uổng phí hay không ? Cái Đó gần chúng ta hơn
cả máu thịt, cả hơi thở, cả sự sống và cái chết, bởi
vì Cái Đó là cái Chính Mình, thật sự là chính mình, của
chúng ta vậy :
Ta
có một thân Phật
Người
đời ít kẻ biết
Không
một giọt bùn, tro
Không
một điểm hình sắc
Vàng
ròng khó đúc thành
Gỗ
đá khó chạm khắc
Thợ
trời tạo chẳng thành
Trộm
đất cắp chẳng được
Nước
lửa chẳng can gì
Nghiễm
nhiên gió chẳng đổi
Lặng
sáng đầy thái hư
Đoan
nghiêm rất kỳ đặc
Tròn
sáng có một thân
Hóa
thân trăm ngàn ức.
(Thiền
sư Chân Nguyên)
Chính
vì mỗi mỗi chúng ta đều có Cái Này, mỗi mỗi chúng ta đều
là Cái Này, nên mỗi mỗi đụng vào là mỗi mỗi lửa đá
xẹt, tia điện chớp. Chính vì Cái Này mà chư Phật thị hiện
xuất thế khai thị chỉ bày, chư Tổ dày công đẽo gọt dạy
dỗ. Chính vì Cái Này mà các Bồ tát lòng bi như trời như
biển, vì Cái Này còn hơn trời hơn biển. Chính vì Cái Này
là cái Chính Mình của mỗi chúng ta :
“Thiền
sư Minh Trí (?-1196) một hôm đang đàm luận với một vị tăng,
có vị tăng bên cạnh nói : ‘Nói hết là Văn Thù, nín bặt
là Duy Ma.’
Sư
nói ngay : ‘Không nói, không nín, đâu chẳng phải là ông
?’”
Nếu
chúng ta thực sự tha thiết tìm cầu, lấy chỉ một câu này
mà tham thiền, không dừng lại trong những vọng tưởng ý
niệm bọt bèo, không dừng lại trong cái ‘trong trẻo vắng
lặng’ của định tâm, thì có ngày cánh cửa trước mặt
sẽ mở toang ra mà thấy ‘không nói, không nín, đâu chẳng
phải là ông’ vậy.
* *
*
Tâm
nhân địa tu hành – nói theo kinh Viên Giác – của Thiền
chỉ là Cái Đó, cái chính mình, cái Pháp thân… Bởi thế
Thiền không y cứ vào những phương tiện giả lập, những
loại quán tưởng có tính cách đối trị, trung gian, thậm
chí những tầng thiền định – bốn Thiền, tám Định –
vì những tầng thiền định này chỉ là những trạng thái,
dù vi tế, của Tâm. Phương tiện tu hành của Thiền không
phải là một phương tiện nhân tạo và khác với cứu cánh
; phương tiện của Thiền chính là cái cứu cánh đó. Nếu
Thiền có quán là quán ngay ‘Chân Thể’ (hay Pháp thân), có
định là định trong ‘Chân Thể’. Cho nên nhân tu hành của
Thiền chính là quả Ba Thân Phật (Pháp thân, Báo thân, Hóa
thân), và quả Ba Thân này vốn nằm ngay trong tự tánh của
mình. Nhân của Thiền không phải là một nhân phương tiện
giả lập để đạt đến cái Quả ở ngoài nhân, mà nhân
ấy đã vốn nằm trong Quả, nhân tới đâu thì quả hiện
bày tới đó. Sở dĩ Thiền được gọi là Đốn vì thế,
vì nó tu hành, sinh hoạt ngay trong Phật địa, và đối với
Thiền, chỉ có một địa duy nhất là Phật địa, nó chẳng
chú trọng đến những giai đoạn (những địa riêng rẽ) ở
trong Phật địa Pháp thân. Từ bước đầu tiên cho đến bước
cuối cùng đều xảy ra trong một địa duy nhất là Phật địa.
Nhưng
cái Pháp thân, cái Tâm, cái Thực Tại, cái Phật Tánh Chính
Mình ấy chưa hề rời lìa chúng ta đến một mảy may không
gian và một sát na thời gian. Nó chưa hề rời lìa sinh hoạt
sanh tử này đến mảy lông cọng tóc. Thiền sư Chân Nguyên
khai thị :
“Đó
chính là mọi người trong suốt mười hai giờ đi đứng nằm
ngồi, thấy nghe hay biết, nhướng mày chớp mắt, ứng cơ
tiếp vật, đưa tay động chân, một thể tròn sáng, sáu căn
vận dụng, ứng âm ứng thanh, hay thấy hay nghe, biết nói biết
năng, biện rõ phải trái.
Nói
năng đó là gì ? Cái gì biết hỏi đáp ? Đây chính là pháp
thân của mọi người, là tự tánh chân không, hay ứng ra âm
thanh, miệng lưỡi mà hỏi đáp. Đấy là tánh chân không người
người sẵn đủ, kẻ kẻ viên thành, ở thánh chẳng thêm,
ở phàm chẳng bớt, không biến không đổi, không cũ không
mới, không quá khứ hiện tại vị lai, hư không bình đẳng,
trong lặng tròn sáng, từ mênh mông kiếp đến nay tự riêng
ở ngay tại đây, gió thổi chẳng động, mưa tưới chẳng
ướt, lửa đốt chẳng cháy, dùi nhọn chẳng phủng… sạch
làu làu, bày trần trụi, không một vật, nắm chẳng được,
lồ lộ trước mắt, rực rỡ soi khắp. Đây là Pháp thân
chân không thanh tịnh, không hình không tướng, tròn đồng
thái hư, nghiễm nhiên thường trụ vậy. Như hư không rộng
lớn, bao trùm trời đất, xuyên suốt núi sông, suốt xưa tột
nay, vững mãi như vậy. Nên biết núi sông đại địa rốt
ráo là hoa đốm trong hư không, thân thể bốn đại, âm dương
đều là huyễn hóa, ‘phàm hễ có tướng đều là hư vọng’.”
* *
*
Nếu
nói theo ngôn ngữ đời thường ngày nay, Thiền thì hiện thực
hơn bất kỳ hiện thực nào, thực dụng hơn bất kỳ thực
dụng nào, cụ thể hơn bất kỳ cụ thể nào, và là chất
lượng sống hơn bất kỳ chất lượng sống nào. Thiền sư
Minh Châu Hương Hải (1628-1715) giảng câu kinh Kim Cương ‘Thế
nên Như Lai nói tất cả pháp đều là Phật pháp’ như sau
:
…
Hết thảy chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay, chẳng lìa
khỏi pháp tánh tam muội. Dầu khi mặc áo ăn cơm, nói chuyện,
đối đãi, sáu căn thường hành, nhậm vận thi vi, thật là
những diệu dụng của pháp tánh. Chẳng biết phản bổn hoàn
nguyên, bèn thành ra theo danh chấp tướng, tình mê vọng khởi,
tạo thảy thảy nghiệp. Nếu có thể biết được nhất niệm,
rõ phàm tâm, chứng được thánh tâm, chuyển thế pháp đều
nên Phật pháp.
Thấy
cho được ‘hết thảy chúng sanh từ vô lượng kiếp đến
nay chẳng lìa khỏi pháp tánh tam muội’, đó là cái thấy
của Thiền, thiền định của Thiền, hạnh của Thiền và
cũng là quả của Thiền. Thấy được như vậy, thọ trì được
như vậy thì ‘thế nên Như Lai nói tất cả pháp đều là
Phật pháp’.
7. Hành động
: từ tự do đến tự do
Đạo
Phật Việt Nam thường được cho là có tính cách nhập thế.
Nhập thế là một tính cách chung của Đại thừa, nhưng cũng
tùy theo mỗi nước mà được vận dụng theo những tính cách
khác nhau. Ở nước ta, hạnh Bát Nhã thường được nhấn
mạnh, như trong Lục Độ Tập Kinh (theo sự nghiên cứu của
học giả Lê Mạnh Thát thì kinh này là cuốn kinh xưa nhất
của Việt Nam) của Khương Tăng Hội ở thế kỷ thứ 3, nói
về Sáu Độ, tức Sáu Ba la mật, tức là các hạnh do Trí
Huệ Bát Nhã dẫn đường. Chúng ta cũng thấy kinh Kim Cương,
một kinh nói về Trí Huệ Bát Nhã thể hiện qua hành động
(bố thí, nhẫn nhục,… độ sanh, trang nghiêm cõi Phật…)
hoặc kinh Pháp Hoa, là những kinh được truyền vào rất sớm
và được các Thiền sư chú trọng đặc biệt từ thời khởi
đầu cho đến tận ngày nay. Một điều đáng ghi nhận nữa
là có một số ít những Thiền sư Việt Nam không phải là
người xuất gia mà là cư sĩ như Huệ Trung thượng sĩ, Trần
Thái Tông, Lý Thánh Tông (với phái Thiền Thảo Đường)…
Sau
đây chúng ta đọc một bài thơ của vua Trần Thánh Tông, người
đã cùng con là vua Trần Nhân Tông lãnh đạo hai cuộc chiến
tranh chống quân Nguyên Mông. Chúng ta cũng biết vua Trần Nhân
Tông người lập ra phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử mỗi khi niệm
hương thuyết pháp đều nhắc đến tên hai vị thầy của
mình là Trần Thánh Tông và Huệ Trung thượng sĩ. Đó là bài
thơ Tự Thuật :
Từ
khi để chỏm nhập rừng Thiền
Đập
ngói dùi rùa chẳng ngoại cầu
Nhận
được bản lai chân diện mục
Đến
đâu thì cũng thấy an nhiên.
Suốt
ngày nhàn gảy đàn không điệu
Cửa
nhàn không sự để quan tâm
Trong
đây khúc nhạc không ai biết
Chỉ
gió tùng kia họa lại âm.
Tung
hoành chẳng lọt cơ không-có
Muôn
pháp bộn bề chẳng biết chi
Đi
ngủ, ăn cơm tùy chỗ dụng
Chẳng
còn việc khác đáng nên làm.
Một
búng tay phá tan muôn núi
Công
phu như thế cũng là nhàn
Lạnh
nóng đến đi không chỗ biết
Chút
gì từng can dự lão nhân.
Trong
đây không thiếu cũng không dư
(Tướng)
Phật cũng không, hề,
(tướng)
người cũng không
Ngoài
trời xa cảnh thu xa đến
Núi
xanh mây tỏa mặc vu vơ.
Nguyên
Hán văn :
Tự
tòng quán giốc nhập thiền lưu
Đả
ngõa toàn quy một ngoại cầu
Nhận
đắc bản lai chân diện mục
Đáo
đầu hà xứ bất hưu hưu.
Chung
nhật nhàn đàn bất điệu cầm
Nhàn
môn vô sự khả quan tâm
Cá
trung khúc phá vô nhân hội
Duy
hữu tùng phong họa thử âm.
Tung
hoành bất đọa hữu vô cơ
Vạn
pháp phân phân tổng bất tri
Khiết
phạn đả miên tùy xứ dụng
Cánh
vô tha sự khả ưng vi.
Nhất
đàn chỉ phá vạn trùng sơn
Giá
cá công phu dã thị nhàn
Hàn
thử đáo lai vô sở thức
Vị
tằng phân thượng lão nhân can.
Cá
trung vô khiếm diệc vô dư
Phật
dã vô hề nhân dã vô
Thu
cảnh viễn lai thiên ngoại viễn
Thanh
sơn vân tỏa chủng đô lô.
Với
một nhà vua trải qua ba cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông
– lần thứ nhất dầu chưa chính thức tham dự nhưng Trần
Thánh Tông cũng có trải qua, vì chỉ một năm sau chiến thắng
Nguyên Mông lần thứ nhất, ông được chính thức truyền
ngôi, năm 18 tuổi – vậy mà trong một bài thơ tự thuật
cuộc đời mình, người ta thấy những chữ ‘nhàn’, ‘vô
sự’, ‘đàn không điệu’, ‘chẳng biết chi’, ‘không
chỗ biết’… Cái nhàn, cái vô sự ở đây là cái nhàn của
tánh Không, của người đã thể nhập tánh Không.
‘Nhận
được bản lai diện mục’ là chứng ngộ được tánh Không,
cái mà Lục tổ Huệ Năng nói là ‘Xưa nay không một vật,
chỗ nào nhuốm bụi trần’. Đây là sự giải thoát do thể
nhập được tánh Không hay pháp tánh, ‘đến đâu thì cũng
thấy an nhiên’. Ngộ tánh Không, bắt đầu sống sống bằng
trí vô sai biệt hay căn bản trí, không còn bị thức phân
biệt thao túng, do đó mà ‘muôn pháp bộn bề chẳng biết
chi’, ‘lạnh nóng đến đi không chỗ biết’. Cái tri, cái
thức trong tổng bất tri và vô sở thức ở đây là cái biết
sai biệt của thức.
Sống
trong căn bản trí hay trí vô sai biệt nghĩa là sống trong tánh
Không hay pháp tánh. Sống trong đó thì các hình tướng không
còn ảnh hưởng : ‘chút gì từng can dự lão nhân’. Chính
từ một đời sống không còn hình tướng sai biệt (vô tướng)
mà hành động thuần khiết phát khởi. Hành động thuần khiết
hay thuần túy đó không nằm trong thế giới sai biệt, nghĩa
là không phân chia đây-kia, chủ thể-đối tượng…, cho nên
nó không tạo nghiệp. Đó là hành động xảy ra trong tánh
Không hay pháp tánh : trong cái toàn thể như là cái toàn thể.
Còn nếu hành động trong cái phần tử, tức khắc phải xung
đột với những phần tử khác, thì chắc chắn sẽ tạo nghiệp.
Cái phần tử càng rõ ràng bao nhiêu, cá thể càng riêng tư
bao nhiêu, sự tạo nghiệp càng sâu đậm bấy nhiêu. Càng ở
trong tánh Không bao nhiêu, nghĩa là càng thoát khỏi bốn tướng
ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, – theo kinh Kim Cương – thì
hành động càng ít tạo nghiệp bấy nhiêu. Hành giả ấy thấy
cảnh trước mắt thật xa, ‘cảnh thu xa đến’, vì hình
tướng phân biệt đã chìm trong tánh Không, không còn ảnh
hưởng làm cho tham sân si khởi lên. Đã thế ‘cảnh thu xa’
ấy, đến từ ‘ngoài trời xa’(4) nghĩa là từ cái Không
rốt ráo, như thế thế gian này chẳng còn bóng dáng vết tích
nghiệp nào nữa : ‘núi xanh mây tỏa mặc vu vơ’.
* *
*
Hành
động trong tiếng Sanskrit là karma, chữ karma này được dịch
là nghiệp. Hành động tức là nghiệp, vì hành động là tạo
ra một nhân nào đó, và có nhân thì có quả. Đó là tiến
trình nghiệp báo. Như vậy có thể nào hành động mà không
tạo nghiệp, hành động mà không hành động, hành động mà
vẫn giải thoát ? Trong Phật giáo, hệ thống Bát Nhã có thể
trả lời cho vấn nạn này.
“Cư
sĩ Thông Thiền (?-1228), đời thứ 13 dòng Vô Ngôn Thông thờ
Thiền sư Thường Chiếu chùa Lục Tổ làm thầy.
Một
hôm Sư vào thất, thưa hỏi rằng : Làm thế nào để hiểu
Phật pháp ?
Thường
Chiếu đáp : Phật pháp thì không thể biết hiểu. Ở đây
đâu có pháp biết. Chư Phật như vậy, tu tất cả pháp bất
khả đắc.
Sư
ngay câu nói này lãnh ngộ yếu chỉ.
Sư
trở về làng cũ, học giả theo học rất đông. Phàm có ai
hỏi đều dùng tâm ấn tâm.
Có
người hỏi : Thế nào là người xuất thế ?
Sư
đáp : Chẳng nghe người xưa nói, ‘Chỉ xem thấy (quán) năm
uẩn đều Không, bốn đại vô ngã, chân tâm không tướng,
không đi không đến. Khi sanh tánh chẳng đến, khi tử tánh
chẳng đi, trong trẻo tròn lặng, tâm cảnh nhất như.’ Chỉ
cần trực nhận hiểu ngay như thế thì không bị ba đời ràng
buộc. Đó là người xuất thế, quyết chẳng có được chút
gì để hướng tới.
Lại
hỏi : Thế nào là nghĩa vô sanh ?
Sư
đáp : Phân biệt thấy rõ các uẩn này, tánh của chúng vốn
không tịch. Không, nên không thể diệt, đây là nghĩa vô sanh.
Lại
hỏi : Thế nào là lý vô sanh ?
Sư
đáp : Do việc điều hành các uẩn mới hiển hiện tánh Không.
Tánh Không không thể diệt, đây là lý vô sanh.
Tăng
hỏi : Thế nào là Phật ?
Sư
đáp : Bản tâm là Phật, thế nên Đường Tam Tạng Huyền
Trang nói : ‘Chỉ rõ suốt tâm địa nên hiệu là Tổng Trì,
ngộ pháp vô sanh gọi là Diệu Giác’.”
Nghiệp
hay hành động, là hành động của năm uẩn. Khi ‘thấy (quán)
chúng đều Không, bốn đại vô ngã, khi (năm uẩn) sanh, tánh
chẳng đến, khi (năm uẩn) tử, tánh chẳng đi, trong trẻo
tròn lặng, tâm cảnh nhất như ; chỉ cần trực nhận hiểu
ngay như thế thì không bị ba đời ràng buộc. Đó là người
xuất thế, quyết chẳng có được chút gì để hướng tới’
: đây là sự giải thoát của việc trực nhận tánh Không,
dù các uẩn vẫn đang hoạt động. ‘Phân biệt thấy rõ các
uẩn này, tánh của chúng vốn không tịch’ : điều quan trọng
nhất là các uẩn vẫn hoạt động, nhưng thấy rõ chúng là
vô sanh. Hơn nữa, chính trong hoạt động, chính ‘do việc
điều hành các uẩn, mới hiển hiện tánh Không’.
Các
uẩn có hoạt động nhưng vẫn là vô sanh, ‘tánh của chúng
vốn không tịch’. Đây là điều kinh Kim Cương đã chỉ rõ
:
“Nếu
có người nói rằng : Như Lai có đến có đi, hoặc ngồi hoặc
nằm, người ấy không hiểu nghĩa ta nói. Bởi vì sao ? Vì
Như Lai không từ đâu đến cũng không đi đâu, nên gọi là
Như Lai.”
“Nếu
lấy sắc thấy ta
Lấy
âm thanh cầu ta
Người
ấy hành tà đạo
Chẳng
thấy được Như Lai.”
“Đối
với Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, ta trong ấy không một
chút pháp gì có thể được, đó gọi là Vô thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác.”
“Các
ông chớ nói Như Lai nghĩ rằng : Ta độ chúng sanh. Chớ có
nghĩ vậy. Tại sao vậy ? Thật không có chúng sanh cho Như Lai
độ.”
……
Và
kinh kết luận :
“Người
phát tâm Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác đối với tất
cả pháp nên biết như thế, thấy như thế, tin hiểu như thế,
chẳng sanh pháp tướng.”
Như
vậy sống trong cái tánh mà ‘khi sanh chẳng đến, khi tử
chẳng đi, trong trẻo tròn lặng, tâm cảnh nhất như’, sống
trong ‘tánh Không không thể diệt’, nghĩa là trong ‘chân
tâm vô tướng’, trong ‘bản tâm là Phật’ thì giải quyết
được vấn đề hành động, vấn đề nghiệp :
Biển
cả ngại gì bọt nước xao
(Huệ
Trung thượng sĩ)
Không
những thế, khi thoát khỏi bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả, mọi hành động bèn trở thành Phật sự :
“Tất
cả pháp đều là Phật pháp.”
(Kinh
Kim Cương)
Đó
mà điều gọi là ‘xứng tánh tác Phật sự’. Chúng ta thấy
rằng chính nhờ trí huệ thấu suốt tánh Không, tức là Bát
Nhã, này mà người ta có thể kết hợp được hai sự tích
tập : tích tập công đức và tích tập trí huệ. Hai sự tích
tập này là công việc của một người tu hành Bồ tát đạo
để đến quả vị Phật. Tích tập công đức kết hợp với
tích tập trí huệ là làm mọi điều công đức mà không làm
gì cả, không có cố gắng, nỗ lực ; không làm gì cả mà
không có việc thiện nào không làm. Như vậy nghiệp thiện
làm công đức luôn luôn tạo mà không tạo tác gì cả, không
tạo nghiệp nào cả, dù là nghiệp thiện. Nói cách khác, đó
là hành động mà vẫn giải thoát, vì hành động trong tánh
Không.
Thiền
sư Hương Hải nói :
“Thế
nên, ngộ tịch thì không có tịch, cái biết chân chánh (chân
tri) thì không có biết. Vì biết (tri) và tịch là một tâm
không hai, khế hợp với diệu lý không và hữu dung thông.
Không trụ không trước, chẳng nhiếp chẳng thu, phải trái
đều quên, năng sở đều dứt. Sự dứt này cũng tịch lặng
thì Bát Nhã hiện tiền, mỗi tâm là Phật, không tâm nào chẳng
phải là tâm Phật, chốn chốn thành đạo, không một mảy
trần nào chẳng phải là nước Phật.
Bởi
thế, chân với vọng, vật với ta, nêu một mà thâu hết.
Tâm, Phật, chúng sanh đều cùng một tánh. Thế nên biết,
mê thì người theo pháp (hiện tượng), pháp pháp muôn sai khác
nên người người chẳng đồng. Còn ngộ thì pháp theo người,
người người đồng một trí mà dung thông muôn cảnh. Lời
nói hết, tư tưởng dứt thì quả nào nhân nào nữa ? Thể
vốn vắng lặng thì ai giống ai khác. Chỉ còn một cái rỗng
sáng, không nhớ nghĩ, chan hòa khắp suốt. Giống như tấm
gương vô tâm, bóng có thể thấy trong đó như trăng trong nước,
hoa trong không, chiếu sáng mà thường không vậy.”
Chỉ
ở trong ‘bản lai diện mục’ ấy, người ta mới có thể
giải quyết được vấn đề hành động, nghĩa là hành động
mà vẫn giải thoát. Hành động chính là tự do :
Tung
hoành chẳng lọt cơ không-có
Muôn
pháp bộn bề chẳng biết chi
Đi
ngủ ăn cơm tùy chỗ dụng
Chẳng
còn việc khác đáng nên làm.
Hành
động chính là tự do, nó khởi đầu trong tánh Không và chấm
dứt trong tánh Không. Bởi thế nó không lìa rời khỏi thực
tại toàn thể, mà thực tại toàn thể thì ‘không sanh, không
diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm’. Nói
theo ngôn ngữ đời thường, đó là hành động không lưu lại
dấu vết, hành động từ tự do đến tự do.
Như
vậy, hành động, nghiệp, chính là không hành động, không
nghiệp (chữ Không Hành Động, Không Nghiệp này cần phải
viết hoa).
* *
*
Trước
khi làm một cái gì, người ta phải là một cái gì. Nhưng
người chứng ngộ tánh Không thì chẳng là cái gì cả : ‘Ta
chẳng phải là Phật, chẳng phải chúng sanh’ (Ngã bất thị
Phật, bất thị hàm linh – Thiền sư Ngộ Ấn). Đã không
là cái gì cả thì đâu có thể làm một cái gì :
Tung
hoành chẳng lọt cơ không-có.
Hành
động mà lọt vào có, mỗi mỗi chấp tướng đảo điên thì
tạo ra nghiệp trôi lăn mãi trong khổ đau sanh tử. Hành động
mà lọt vào không thì hoặc là sự chấp không của phàm phu
không tin nhân quả, càng làm càng sa xuống theo nghiệp, bởi
vì nhân quả có trừ ai, người tin hay không tin. Hoặc là sự
lọt vào cái Không cao cả của bậc thánh trong lặng trong chỗ
không hành động, không tạo tác, chỉ trụ trong sự giải
thoát bất động của mình. Chỉ có người vượt ra ngoài
cả có và không, không lọt vào cơ có không, mới có thể
không ô nhiễm mà hành động, hành động thuần khiết, vừa
lợi được mình vừa lợi được người, mà thật ra chẳng
lợi cho ai cả, vì “tất cả pháp đều là Phật pháp”.
Nói
đến hành động của người xuất gia, có lẽ trong Phật giáo
Việt Nam thì Thiền sư Vạn Hạnh là tiêu biểu, vì ngài là
người có công lập ra triều Lý tạo nền tảng cho triều
Trần tiếp theo là hai triều đại vẻ vang của dân tộc và
Phật giáo. Một con người hành động như vậy đã sống trong
hạnh Bát Nhã như vầy :
“Đến
ngày 15 tháng 5 năm Thuận Thiên thứ 16 (1025), sư không bệnh,
nói bài kệ :
Thân
như bóng chớp có rồi không
Cây
cỏ xuân tươi thu lại khô
Mặc
cuộc thịnh suy chi sợ hãi
Thịnh
suy đầu cỏ buổi sương phô.
Rồi
sư dạy đệ tử rằng : ‘Các con muốn ta đi đâu ? Ta không
lấy chỗ trụ để trụ, cũng không nương vào chỗ không trụ
để trụ’.”
Hành
động của một bậc giải thoát là hành động ngay trong lòng
thực tại, trong chính pháp tánh, bản tánh của tất cả các
pháp. Thiền sư Hương Hải, một cuộc đời sống qua hai quãng
đời một ở miền nam với chúa Nguyễn và lớn tuổi lại
ra miền bắc với chúa Trịnh trong thời đất nước phân đôi,
một cuộc đời hẳn là trải qua nhiều biến cố lịch sử,
khi vua Lê Bảo Thái hỏi ý nghĩa Phật pháp là thế nào, sư
đã đáp rằng :
Nhạn
qua trời không
Bóng
chìm nước lạnh
Nhạn
không có ý để dấu
Nước
không có tâm giữ hình.
Cuộc
đời của những người giải thoát thì sống đúng theo thực
tại, bởi thế dầu người đời – lọt vào cơ có – cho
là họ đã viết nên một phần lịch sử bằng chính cuộc
đời họ, thì với các vị ấy, đúng như sự thật, có lẽ
họ chỉ chấp nhận ngay từ đầu rằng họ đã viết nên
đời họ trên mặt nước.
8. Nền Tảng
Của Đời Sống
Đối
với Đại thừa nói chung và Thiền nói riêng, dầu người
ta có là gì và cuộc đời này có ra sao, và dầu người ta
có biết hay không, thì tất cả đều đang sống, đang xảy
ra trên nền tảng Như Lai tạng hay Phật tánh, hay pháp giới
tánh, hay tự tánh…
Nền
tảng của đời sống là tánh hay ‘tánh sáng’, hay ‘lòng’,
‘tướng thực’ nói theo ngôn ngữ của vua Trần Nhân Tông
(1258-1308) trong Cư Trần Lạc Đạo phú :
Biết
vậy !
Miễn
được lòng rồi
Chẳng
còn phép khác
Gìn
tánh sáng tiùnh mới hầu an
Nén
niềm vọng, niềm dừng chẳng khác
Dứt
trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương ;
Dừng
hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác
Tịnh
độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương
Di
Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc.
………
Chỉn
Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ
Vong
tài đối sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.
………
Vậy
mới hay !
Bụt
ở cong (trong) nhà
Chẳng
phải tìm xa
Nhân
khuấy bản nên ta tìm Bụt
Đến
cốc hay chỉn Bụt là ta.
………
Chuộng
công danh, lồng nhân ngã thực ấy phàm ngu
Say
đạo đức dời (sửa) thân tâm, định nên thánh trí
Mày
ngang mũi dọc, tướng tuy lạ, xem ắt bằng nhau
Mặt
thánh lòng phàm thực cách nhẫn vàn vàn thiên lý…
Nói
Phật tánh hay Như Lai tạng mỗi người đều sẵn có là cái
Nền tảng, vì nó bình đẳng nơi tất cả chúng sanh, bình
đẳng trong mọi thời gian và mọi không gian. Sự khác biệt
về hình tướng và cả về mặt tâm linh (bởi vì dù ở cấp
độ tâm linh nào thì cũng chỉ là một trạng thái của cái
Tâm ấy) chỉ là sai khác do nghiệp : ‘mày ngang mũi dọc tướng
tuy lạ, xem ắt bằng nhau, mặt thánh lòng phàm thực cách nhẫn
vàn vàn thiên lý’. Nền tảng đó cũng là cái mà người
xưa nói là ‘đồng thể đại bi’, lòng từ bi không do cố
gắng quán tưởng, không do kiến lập tạo tác của nghiệp
lành của từng người, mà là lòng bi của tận cội nguồn
của con người và thế giới.
Thiền
sư Chân Nguyên nói về Nền tảng ấy bằng từ hoa sen, minh
châu… trong Thiền Tông Bản Hạnh :
Trần
trần sát sát Như Lai
Chúng
sanh mỗi người mỗi có hoa sen
Hoa
là bản tánh tự nhiên
Bao
hàm thiên địa phương viên cùng bằng.
………
Ai
ai đạt giả đồng đồ (đường)
Mỗi
người mỗi có minh châu trong nhà
Mùa
xuân vạn thụ khai hoa
Cành
cao cành thấp vậy hòa chứng nên
………
Nhân
duyên có trước có sau
Ai
ai cũng có tánh thâu Bồ đề
Hay
ăn hay nói khác chi
Mày
ngang mũi dọc xem thì bằng nhau.
Theo
truyền thống, người Phật tử Việt Nam không quan niệm từ
bi là cái mới có, cái từ ngoài vào, mà từ bi đã nằm trong
Nền tảng, trong Lòng, từ bi chính là Nền tảng, là Lòng.
Chính Nền tảng này nâng đỡ cưu mang chúng sanh, gọi là Đại
Bi. Trong Văn Tế Thập Loại Chúng Sanh, Nguyễn Du sau khi mở
đầu bằng những câu như :
Tiết
tháng bảy mưa dầm sùi sụt
Toát
hơi may lạnh buốt sương khô
………
Thương
thay thập loại chúng sanh
Hồn
đơn phách chiếc lênh đênh quê người
………
Còn
chi ai quý ai hèn
Còn
chi mà nói ai hiền ai ngu
………
Mỗi
người một nghiệp khác nhau
Hồn
xiêu phách lạc biết đâu bây giờ ?
Ông
đã kết luận sự giải thoát cho chúng sanh chính là Tâm Phật
vốn có sẵn trong mỗi người :
Kiếp
phù sinh như hình bào ảnh
Có
chỗ rằng : vạn cảnh giai không
Ai
ai lấy Phật làm lòng
Tự
nhiên siêu thoát khỏi trong luân hồi.
Trong
Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn của Lê Thánh Tông cũng
lấy lòng thanh tịnh làm nền tảng :
Khó
với sang mặt ý khác nhau
Đói
cùng rách thì lòng cũng vậy
………
Kinh
Pháp Hoa giảng đã, mưa nhóc nhóc đượm áo nột đầm đầm,
Phiến
Bối diệp tụng thôi, gió hiu hiu quét lòng trần thảy thảy.
Cũng
lòng này mà đi sâu vào bản tánh của nó, thì lòng ấy là
Phật. Trí Huệ và Từ Bi vốn nằm trong Như Lai tạng, trong
Phật tánh. Trí Huệ và Từ Bi chính là hai phương diện của
Phật tánh. Như Lai tạng hay Phật tánh là nền tảng của tất
cả đời sống, do đó Trí Huệ và Từ Bi là nền tảng của
tất cả đời sống.
Khi
tin rằng tất cả chúng ta đang sống trong nền tảng, nghĩa
là trong Trí Huệ và Từ Bi, chúng ta bắt đầu là một Phật
tử. Và thực sự sống được trong (hay trên) Nền tảng, thực
sự sống được trong Trí Huệ và Từ Bi, đây là chủ đề
cô đọng của kinh Pháp Hoa, một bộ kinh được truyền vào
rất sớm và ảnh hưởng suốt dòng lịch sử Phật giáo Việt
Nam. Sống trong Trí Huệ và Từ Bi vốn sẵn nơi mỗi người,
đó cũng chính là lý do tồn tại của Thiền.
* *
*
Chính
trên đất thật ấy mà chúng ta đang sống :
“Dù
trai dù gái đều đáng nên tu, hoặc trí hoặc ngu thảy đều
có phần. Như chưa thấu tâm Phật ý Tổ, trước hãy nên trì
giới tụng kinh. Đến lúc trong huyễn sắc cũng là chân sắc,
nơi phàm thân cũng thật Pháp thân, phá sáu giặc làm sáu thần
thông, chuyển tám khổ thành tám tự tại…” (Phổ Thuyết
Sắc Thân).
“Chỗ
nói, gió lùa thông réo, chỗ im trăng rọi đầm trong. Khi đi
mây cuốn nước trôi, khi đứng núi im non tĩnh. Lời lời là
câu cứu sống của Thích Ca, câu câu là gia phong của Đạt
Mạ. Buông ra thì tám chữ mở tung, nắm lại thì một cửa
đóng kín. Trong hang quỷ (chổ tối tăm của vô thức) là lâu
đài Di Lặc, chốn Hắc sơn chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền.
Chốn chốn là tạng đại quang minh, cơ cơ là pháp môn bất
nhị. Cho dù tối đi sáng đến, ngại gì mây phủ trăng che.
Ngọc sáng trên tay, xanh ánh xanh, vàng ánh vàng ; gương cổ
đang trên đài, Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Ngại
gì huyễn thể, trọn đều Pháp thân. Chẳng nhọc trên đỉnh
phóng quang, vốn đủ sáu thông thần dụng. Đạp đổ cung
điện ma vương, mở toang tâm can ngoại đạo. Biến trái đất
thành cõi nước vàng ròng, thừa thọ sông dài làm đề hồ
cho cả trời người. Trong lỗ mũi pháp luân thường chuyển,
dưới lông mày cõi báu hiện tiền… Rờ rỡ hoa vàng, không
có cái gì chẳng phải là tâm bát nhã, xanh xanh trúc biếc,
thảy trọn là lý chân như. Vạch cỏ ra, hiện rõ bản lai
diện mục ; cuốc bày đất, đoạn dứt đường sanh tử quanh
co…” (Phổ Thuyết Hướng Thượng Nhất Lộ).
Đất
thật ấy là cái nền tảng trên đó mọi sự vật đều vốn
tự viên thành. Đó là cái trong Thiền gọi là ‘đương xứ
tiện thị’ :
Bản
lai thanh tịnh Pháp thân
Viên
dung pháp giới đâu gần đâu xa
………
Huệ
Trung trỏ bảo liền tay
Tức
tâm là Phật xưa nay Bụt truyền
Tâm
là bản thể căn nguyên
Tâm
là nhất tự pháp môn thượng thừa
Tâm
bao bọc hết thái hư
Tâm
năng ứng dụng tùy cơ trong ngoài
Tâm
hiện con mắt lỗ tai
Hay
ăn hay nói mọi tài khôn ngoan
Tâm
năng biến hóa chư ban
Vạn
pháp cụ túc lại hoàn như như…
(Thiền
Tông Bản Hạnh)
Cho
nên, Thiền là thấy được, nhận biết được và xác quyết
Nền tảng ấy, và sống trọn vẹn với nó trong mọi lãnh
vực của thân tâm, tức là mọi lãnh vực của đời sống.
Thấy và sống Nền tảng Chân Như này là cách giải quyết
tận gốc mọi vấn nạn của cuộc đời. Người ta tự chuyển
hóa mình trở nên hòa bình, vì nhận biết được cái Thấy
nền tảng : hòa bình với những người khác và những thế
giới, vì tất cả đều là Chính Mình.
Đây
là cách chuyển hóa thức thành Trí của Thiền : bằng cách
thấy và sống cái nền tảng người ta chuyển hóa tất cả
thành cái nền tảng, trở lại thành cái nền tảng. Nói cách
khác, chuyển thức thành Trí là chuyển hóa sanh tử thành Niết
bàn. Khi đặt tất cả tướng vào trong bản tánh nền tảng
của chính chúng, các tướng sẽ trở lại thành thật tướng,
tức là tất cả tướng đều trở thành tánh. Như khi tất
cả bóng trong gương được nhận chân là chúng ở trong gương,
thì tất cả đều là gương ; tất cả sóng được nhận biết
là bản tánh nước, thì tất cả sóng đều là nước. Toàn
tướng tức tánh, toàn bóng là gương, tất cả sóng đều
là nước, đấy là những thí dụ thường thấy để diễn
tả kinh nghiệm tu chứng của Đại thừa.
Như
vậy đây là con đường tích cực mà những kinh Đại thừa
nói đến, và chính đây là yếu tố làm nên tính cách tích
cực, hay như người ta thường nói, “tính cách nhập thế”
của Phật giáo Việt Nam.
* *
*
Cái
Thấy, Tri Kiến của Thiền là chúng ta dầu có làm gì thì
vẫn luôn luôn hít thở, sinh hoạt trong (hoặc trên) Nền tảng
ấy. Chúng ta thấy các Thiền sư thường hay nói từ “trong
ấy” (cá trung)
Cá
trung mãn mục lộ thiền tâm.
(Trong
đây đầy mắt lộ thiền tâm.)
Hoặc
trong bài thơ Tự Thuật của Trần Thánh Tông, gồm chỉ năm
đoạn, mà đã có hai đoạn nói đến chữ ‘trong ấy’ (cá
trung) : Cá trung khúc phá vô nhân hội (trong đây khúc nhạc
không ai biết) và Cá trung vô khiếm diệc vô dư (trong đây
không thiếu cũng không dư).
Như
vậy theo cái Thấy, hoặc nói theo ngôn ngữ bình thường, theo
“quan điểm” của Thiền thì tất cả mọi sự tu hành của
chúng ta, dù chúng ta có tu kiểu gì, pháp gì, cũng đều xảy
ra ở ‘trong ấy’, tức là trong nền tảng, trong Phật tánh
vốn đã giác ngộ của chúng ta.
Chúng
ta thường nghe nói Phật giáo Việt Nam là sự hợp dòng của
Thiền, Tịnh, Mật. Với các Thiền sư dù có trì tụng Mật
chú (Mật tông) hay có niệm Phật (Tịnh Độ tông) thì các
ngài vẫn làm việc ấy trên cái nền tảng “bổn lai thành
Phật” này. Thí dụ có vị trì tụng mật chú (trong lịch
sử Phật giáo Việt Nam có khá nhiều trường hợp này, nhất
là trong dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi) thì trì tụng mật chú có nghĩa
là dùng khẩu của mình tụng chú để tương ưng với Khẩu
của Phật (tức là mật chú, lời bí mật và giác ngộ của
bậc Giác ngộ). Và việc dùng khẩu để trì tụng mật chú
của Phật này xảy ra trên nền tảng ‘ở tâm là Thiền’,
và tâm Thiền này là tâm vốn đã giác ngộ, Phật Tâm.
Thiền
sư Ngộ Ấn (1019-1083) khi có người hỏi, “Thế nào là Phật,
thế nào là Pháp, thế nào là Thiền ?”, đã nói : “Pháp
Vương vô thượng (Phật tánh) ở thân là Phật, ở miệng
là Pháp, ở tâm là Thiền. Tuy là ba nhưng kỳ thật là một.
Ví như nước của ba con sông, tùy chỗ đặt tên, tên gọi
là khác nhưng tánh nước không khác.” Nói thế nghĩa là dù
miệng có trì chú hay niệm Phật, thì hành động đó không
lìa ngoài tâm Thiền hay tâm Phật. Sâu xa hơn, cũng cùng một
nền tảng Phật tánh ấy mà ứng ra hình tướng, oai nghi là
thân Phật, ứng ra nơi miệng thì thành trì chú, niệm Phật,
và ở nơi tâm thì gọi là Thiền (hay tâm giác ngộ). Như vậy
sự tu hành theo Thiền tông không lìa ngoài Phật tánh, tu hành
là sự ‘ứng hiện’, sự biểu lộ của Phật tánh nền
tảng vốn có ở nơi mỗi người. Và đó cũng là lý do Thiền
không ngăn ngại với bất kỳ tông phái nào, trái lại dung
nhiếp được những đặc sắc của các tông khác vào trong
Tâm Thiền (hay Phật tánh) của mình.
* *
*
Thiền
sư ni Diệu Nhân (1042-1113) giữ giới, hành thiền, được chánh
định (samadhi), là bậc tôn túc trong hàng ni chúng. Có ai đến
học đều đem Đại thừa giảng dạy mà nói :
‘Chỉ
trở về nguồn tự tánh, đốn tiệm tùy đó mà vào. Hãy thường
tịch lặng, tránh xa thanh sắc, ngôn ngữ.’
Có
học giả hỏi : ‘Tất cả chúng sanh bệnh nên ta bệnh’,
tại sao lại tránh sắc thanh ?
Sư
theo kinh giáo, đáp :
Nếu
lấy sắc thấy ta
Lấy
âm thanh tìm ta
Người
ấy hành đạo tà
Không
thể thấy Như Lai.
Lại
hỏi : Ngồi yên tĩnh tọa để làm gì ? (Hà vi yến tọa ?)
Sư
đáp : Xưa nay không đi. (Bổn lai vô khứ.)
Lại
hỏi : Làm sao không nói ? (Hà vi bất ngôn ?)
Sư
đáp : Đạo vốn không lời. (Đạo bổn vô ngôn.)
Chúng
ta có thể thấy, sự việc ngồi tĩnh tọa của Thiền là ngồi
thiền trên cái ‘bổn lai không đi’ này, và nói năng thuyết
pháp của Thiền là nói năng trên cái nền tảng ‘đạo vốn
không lời’ này. Mục đích của Thiền là ‘chỉ trở về
nguồn tự tánh, đốn tiệm tùy đó mà nhập’. Như vậy tất
cả mọi pháp tu của Thiền đều là chẳng lìa khỏi tự tánh,
hay Phật tánh, hay pháp tánh.
Nói
theo ngôn ngữ của triết học Viễn Đông, mọi pháp môn, mọi
phương pháp thực hành là cái Dụng của cái Thể Phật tánh.
Dụng từ Thể mà có và chẳng hề lìa Thể, thế nghĩa là
mọi pháp môn đều lưu xuất từ tự tánh hay Phật tánh và
không hề lìa khỏi tự tánh hay Phật tánh này. Như thế, một
phương pháp hay phương tiện không phải là để đạt đến
cứu cánh hay Quả ở ngoài nó, mà ngay trong phương pháp hay
phương tiện đã có cứu cánh hay Quả. Trong cái nhìn như vậy,
tất cả mọi dòng sông hay phương pháp không chỉ chảy về
đại dương hay Phật tánh, mà còn hơn thế nữa, chính những
dòng sông này có nền tảng là đại dương, lưu xuất từ
đại dương, có cùng một nước với đại dương. Những dòng
sông này sở dĩ có là vì có đại dương, chúng không hề
tách lìa với đại dương và như vậy thể nghiệm nước trong
sông cũng là thể nghiệm nước của đại dương. Nói tóm
lại, theo Thiền, không có một phương pháp nào là đứng riêng
lẻ và giả tạo, mà phương pháp nào cũng ở trong Phật tánh
và từ Phật tánh mà lưu xuất. Mọi phương pháp đều dung
thông nhau trong một vị Phật tánh. Phương pháp là phương
pháp của Phật tánh, và Phật tánh hiển bày trong phương pháp.
Thế
nên, dù chúng ta thực hành phương pháp gì, tu pháp môn nào,
những cái này đều xảy ra trong Phật tánh và có nền tảng,
một vị là Phật tánh. Nhận biết được điều này là căn
bản của tu hành, và tất cả các pháp môn không chống trái
nhau mà dung thông nhau trong nền tảng, trong một vị Phật tánh.
Tu hành có căn bản như vậy, nói theo Thiền, là tu hành có
trí huệ, hay nói theo hệ thống Bát Nhã ba la mật là tất
cả năm ba la mật trước hoặc các hạnh nào khác phải lấy
Trí Huệ ba la mật làm hướng đạo, bởi thế Trí Huệ ba
la mật được gọi là Mẹ của các bậc giác ngộ.
* *
*
Nếu
cho Thiền là một nghệ thuật, thì đó là nghệ thuật “rớt”
trên đất thật này. Nhận biết được cuộc đời chúng ta
đang xảy ra, diễn tiến trong Cái Đó, trong ‘tánh sáng’
đó thì mọi sự đều là Cái Đó : thấy nghe hay biết chỉ
là thấy nghe hay biết Cái Đó, tu hành là tu hành Cái Đó,
ngồi thiền là ngồi thiền với tất cả thân tâm là Cái
Đó… Mắt tai mũi lưỡi thân ý, sắc thanh hương vị xúc
pháp v.v… cái gì mà chẳng phải là Trí Huệ và Từ Bi ?
Bất
cứ cái gì sanh khởi hãy nhìn cho ra khuôn mặt thật của nó.
Bởi vì cái gì cũng sanh khởi từ nền tảng, hiện diện trong
nền tảng, biến mất trong nền tảng, nên nó chính là nền
tảng. Như thế bất cứ cái gì cũng là sự bí mật của công
án, cũng là tham thiền. Đời sống không lúc nào không là
sự biểu lộ của Cái Đó. Cho nên đời sống là đạo tràng.
Không còn một hạnh nào là riêng rẽ mà tất cả hạnh đều
lưu xuất từ cội nguồn Trí Huệ và Từ Bi, nghĩa là một
hạnh pháp tánh, dù một cử chỉ hành vi nhỏ nhặt nhất.
Sống
trong nền tảng, chúng ta không còn cảm thấy lạc lõng, thiếu
thốn như đứa con nghèo cùng tha phương không biết quê nhà
trong kinh Pháp Hoa. Sự lưu lạc không biết mình là ai, sống
để làm gì này là chân lý thứ nhất Khổ đế, và không
chỉ khổ cho chính mình, mà từ sự lưu lạc khổ đau này
chúng ta đã gây ra biết bao khổ đau cho con người và thế
giới. Người ta sẽ chấm dứt sự lưu lạc khổ đau này bằng
cách nhận ra và sống vói Nền tảng đó. Sự khổ đau lang
thang này đã có từ khi thấy mình là một cá thể tách biệt
với con người và thế giới còn lại. Người ta biết đời
sống cá nhân và xã hội không phải là một “cơ” ra đi,
phân tán, mà là một cuộc trở về trong hợp nhất : ‘chỉ
trở về nguồn tự tánh, đốn tiệm từ đó mà vào’.
Vì
từ vô thủy đến nay, người ta đâu đã từng lìa quê nhà
:
Ngoài
đại thiên sa cõi
Chốn
nào chẳng quê nhà.
(Thiền
sư Thường Chiếu)
9. Con Đường
Của Sự Rõ Tâm
Muốn
rõ biết thực tại là cái thật tướng của con người và
thế giới thì phải tìm nơi chính mình. Ở nơi con người,
thực tại đó là Tâm :
“Bản
tâm là Phật, thế nên Đường Tam Tạng Huyền Trang nói : Chỉ
hiểu rõ tâm địa nên hiệu là Tổng Trì, ngộ pháp vô sanh,
gọi là Diệu Giác”. (Thông Thiền Đại sĩ)
Hoặc
Huệ Trung thượng sĩ nói :
Tâm
tức Phật
Phật
tức Tâm
………
Tâm
của muôn pháp là Phật tâm
Phật
tâm cùng với tâm ta hiệp
Pháp
vốn như nhiên suốt cổ kim.
Con
đường của Thiền là con đường làm rõ tâm : ‘Rõ tâm (liễu
tâm) mà tu hành thì ít sức mà dễ thành, không rõ tâm mà
tu hành thì phí công vô ích” (Thiền sư Thường Chiếu). Trần
Thái Tông (thế kỷ 13) nói đến biện tâm (rõ tâm). Và Thiền
sư Hương Hải nói : ‘Đó thực là tông chỉ cùng tâm (thấu
đến tâm), nghĩa lý đạt thức vậy.’
Mặc
dù các Thiền sư trong những ngữ lục để lại, ít nói đến
trình tự của con đường này, hoặc là nói đến nhưng không
có hệ thống rõ ràng, chắc hẳn là sự chỉ dạy, hướng
dẫn là dành riêng cho từng cá nhân hay những nhóm người
mà chủ yếu lấy kinh nghiệm ngộ và nhập làm đầu, nghĩa
là những kinh nghiệm vượt khỏi những chuẩn bị, những
công phu của con đường, nhưng ở đây chúng ta cũng nghiên
cứu xem con đường làm rõ tâm là như thế nào. Công việc
này chúng ta có thể nương dựa vào những kinh điển mà các
Thiền sư thường lấy chúng để quy chiếu như kinh Lăng Nghiêm,
Viên Giác, Lăng Già… và những bộ luận như Đại Thừa Khởi
Tín, các bộ luận Duy Thức… nghĩa là con đường tổng quát
của Đại thừa. Ở đây trong mức độ giới hạn của ý
thức, sự nghiên cứu của chúng ta chỉ có tính cách tham khảo
để nhìn ra một đường hướng tổng quát trong việc rõ tâm,
nó không phải là một đường lối chính thức – hoặc quan
niệm sai lầm hơn là duy nhất. Bởi vì Thiền là một kinh
nghiệm tâm linh được trao truyền từ thầy qua trò, và mặc
dù đó là một kinh nghiệm phổ quát cho tất cả Phật giáo,
sự học hiểu kinh nghiệm phổ quát ấy là riêng biệt tùy
thuộc vào cơ cấu tâm sinh lý của học trò, vào cách dạy
và lãnh ngộ giữa thầy và trò.
Sự
rõ tâm có thể có ba giai đoạn như sau :
1.
Sự phân biệt giữa vọng tâm và chân tâm, hay giữa thức
và trí
Theo
Đại thừa, muốn đạt đến giải thoát và giác ngộ phải
lìa bỏ vọng tâm hay tâm sanh diệt hay thức phân biệt (là
cái đã tạo ra cơ cấu ngã-pháp sanh tử) để đi vào chân
tâm hay tâm không sanh diệt hay trí không phân biệt. Nếu y
vào tâm sanh diệt mà tu thì kết quả chỉ là sanh diệt như
kinh Lăng Nghiêm nói muốn nấu cát thành cơm. Theo kinh Lăng
Già, thức là cái động, trí là cái không động ; nếu y theo
thức để tu thì kết quả vẫn nằm trong sự chuyển động,
nghĩa là lãnh vực sanh diệt, sanh tử.
Như
vậy giai đoạn đầu tiên và căn bản của sự biện tâm (chữ
biện ngoài nghĩa “rõ”, còn có nghĩa “biện biệt”) là
phân biệt, tách lìa và từ bỏ vọng tâm, tâm sanh diệt, hay
thức phân biệt, hoặc nói cách khác đó là sự tách lìa chân
tâm khỏi vọng tâm, tâm không sanh diệt khỏi tâm sanh diệt…
Đây là quá trình tách lìa Niết bàn khỏi sanh tử, lìa niệm
để chứng đắc cái vô niệm. Mục đích chung là thế, nhưng
dĩ nhiên có rất nhiều con đường để đạt đến đó.
Thiền
sư Hương Hải nói :
“Muốn
tìm thấy Phật (tâm không sanh diệt, trí – ở đây những
chữ trong ngoặc do chúng tôi thêm vào như những giải thích
thô thiển cho dễ hiểu), thì chỉ cần biết chúng sanh (tâm
sanh diệt, thức). Chỉ vì chúng sanh mê lầm Phật, chứ không
phải Phật mê lầm chúng sanh. Trong tự tánh mà ngộ thì chúng
sanh là Phật. Trong tự tánh mà mê (không biết) thì Phật là
chúng sanh. Trong tự tánh mà bình đẳng thì chúng sanh là Phật.
Trong tự tánh mà tà vạy thì Phật là chúng sanh. Tâm ta tự
có Phật. Tự Phật là chân Phật. Thế nên kinh nói, “tâm
sanh thì thảy thảy pháp sanh, tâm diệt thì thảy thảy pháp
diệt”. Phàm phu tức là Phật, phiền não tức Bồ đề. Niệm
trước mà mê lầm là phàm phu, niệm sau mà ngộ bèn là Phật.
Niệm trước dính mắc vào cảnh tức là phàm phu. Niệm sau
lìa cảnh tức là Bồ đề.”
“Lại
nói : Tự thể của chân tâm, chẳng phải chúng ta nói được.
Nó trong suốt như hư không vô biên. Nó tròn sáng như gương
sạch. Chê khen chẳng tới, nghĩa lý khó thông. Không thể lấy
chuyện có không, nơi chốn mà xét tột được chỗ u huyền
của nó. Không thể lấy trí thức ngôn ngữ mà bàn thể nhiệm
mầu của nó. Chỉ có người ngộ nhập nó thì chỉ ở tâm
mình mà biết. Như giã nát muôn thứ để làm hương, chỉ
đốt một hạt bụi là đủ mọi mùi thơm. Như vào đại dương
mà tắm, chỉ nếm một hạt nước là dùng trọn nước cả
trăm sông.”
”Lại
nói : Nguồn chân trong lặng. Biển giác trong ngần. Dứt mọi
mối manh danh tướng, không dấu vết năng sở. Tối sơ bất
giác, bỗng khởi động tâm. Nhân sáng (minh) mà khởi chiếu,
theo chiếu mới lập thành đối vật. (Câu này giống kinh Lăng
Nghiêm : Tánh biển giác lặng khắp ; toàn trong, giác nguyên
diệu ; nhân minh chiếu sanh sở ; sở lập tánh chiếu vong…)
Cho nên nói : Chúng sanh như gương hiện bóng, thoắt khởi căn
thân, do đó mất dời chân tánh, chấp tướng theo danh, tích
chứa tịnh trần đã thành bám trệ, kết tập những sóng
thức tương tục. Phong kín chân giác mà thành giấc mộng đêm
trường, đắm chìm trong ba cõi. Bịt mắt trí mà mò mẫm ở
trong đường tối, lăn lóc trong chín loài. Ngay trên cảnh giới
chẳng đổi dời mà luống chịu luân hồi, ngay trong pháp không
phược không thoát mà chuốc lấy buộc trói. Như con tằm xuân
làm kén tự giam mình, như con thiêu thân mùa thu tự lao vào
đèn cháy. Lấy dây tơ vọng tưởng của cái thấy nhị nguyên
mà buộc lấy nghiệp chất của khổ hội tụ, dùng đôi cánh
tham ái vô minh mà vác lấy bánh xe lửa cháy lừng của sanh
tử…
Nếu
có thể quay ánh sáng về lại nơi mình, ngược lại cảnh
mà quán tâm thì mắt Phật sáng suốt mà bóng nghiệp sạch
không, pháp thân hiện bày mà vết trần tự dứt. Lấy gương
trí tự giác này mà cắt đứt, mở ra cái tâm như hòn ngọc
bị trói buộc (triền) ở trong, dùng gươm tuệ của nhất
niệm mà chặt đứt lưới thấy lầm trùm lên trần cảnh.
Đó thật là tông chỉ cùng tâm, nghĩa lý đạt thức vậy.”
Ở
đây chúng ta thấy Thiền sư Hương Hải nói rõ quan điểm
của Thiền : Chân tâm hay Pháp thân này ai ai cũng sẵn có,
nó chẳng phải do ai tạo tác ra. Trái lại càng tạo tác, càng
vọng tưởng có-không, thường-đoạn, đến-đi, tăng-giảm
thì chân tâm càng bị che lấp. Chỉ vì chúng ta chạy theo tâm
sanh diệt, ‘khởi động tâm’, ‘theo chiếu mới lập thành
trần, bèn có căn thân và thế giới’ vì ‘tâm (sanh diệt)
sanh thì thảy thảy pháp (sanh diệt) sanh, tâm (sanh diệt) diệt
thì thảy thảy pháp (sanh diệt) diệt. ‘Dính mắc vào cảnh
tức là phàm phu’, như bất giác quên mất gương thì bóng
hiện muôn vàn, bèn ‘mất dời chân tánh, chấp tướng theo
danh, sóng thức tương tục’ mà làm ra sanh tử. Chúng ta đang
tạo ra sanh tử khổ đau ‘như con tằm xuân làm kén tự giam
mình’ ‘ngay trên cảnh giới chẳng đổi dời’, ‘chuốc
lấy buộc trói ngay trong pháp không buộc không thoát’.
Vậy
thì giải thoát nghĩa là cởi thoát khỏi các lưới tư tưởng
phân biệt này, cắt đứt những ‘dây tơ vọng tưởng của
cái thấy nhị nguyên ràng buộc’ này đi. Ngay lúc tâm sanh
diệt hay tâm phân biệt không có mặt, lúc ấy tâm không sanh
diệt hay tâm không phân biệt (hay ‘chân tâm’, ‘pháp thân’,
cái ‘tròn sáng như gương sạch’, ‘hòn ngọc’…) hiện
tiền. Ngay khi không phân biệt bóng thì tất cả đều là gương.
Nếu
nói đây là một sự thực hành, một công phu, thì thực hành
này là lìa các tướng hư vọng phân biệt, lìa tâm sanh diệt
phân biệt, không khởi lên tư tưởng phân biệt. Khi sự tách
lìa chân tâm khỏi vọng tâm, sự thực hành lìa bỏ các tư
tưởng phân biệt sanh diệt này đã đủ để thoát khỏi mạng
lưới tư tưởng phân biệt, thì thực tại không sanh diệt,
không phân biệt (chân tâm) hiển lộ. Cũng cần nhắc lại
một lần nữa rằng sự thực hành này của chúng ta không
tạo ra chân tâm, nó chỉ là những cái sanh diệt để đối
trị và tiêu trừ những cái sanh diệt hư vọng. Sự thực
hành này xảy ra ngay trên chân tâm không sanh diệt. Bởi thế
mà sự hiển lộ của chân tâm không sanh diệt có thể xảy
ra bất kỳ thời gian nào, ở bất cứ không gian nào.
Sự
tu hành lìa tướng, trừ bỏ phân biệt này nói rộng trong
Đại thừa thì có ba phương diện chính : định (samatha), quán
(tam ma bát đề) và thiền na (xem chương Oai Đức Tự Tại,
kinh Viên Giác). Nhưng dù bằng cách nào thì cũng phải đưa
đến một kinh nghiệm thấy trực tiếp Chân tâm hay Pháp thân
gọi là kinh nghiệm ngộ : dù mắt nhắm hay mở, nói hay nín,
tâm động có tư tưởng hay không động không tư tưởng…
thì người ta vẫn thấy nghe hay biết Chân tâm, sờ sờ trước
mắt.
Nói
theo ngôn ngữ của Duy Thức, thì ngộ là việc tham thấu đến
thức căn bản thứ tám là A Lại Da, và từ đây xảy ra một
sự chuyển hóa đột biến, một phần hay có thể là toàn
phần thức A Lại Da từ bất tịnh chuyển thành thanh tịnh,
và vì khoảng bất tịnh này đã biến mất thì Pháp thân lộ
ra trong khoảng này. Có thể nói Pháp thân là nền tảng vô
sanh của A Lại Da, và khi A Lại Da chuyển hóa thành cái mà
Duy Thức gọi là thức thứ chín Bạch Tịnh Thức, thì Pháp
thân chính là Bạch Tịnh Thức này. Chúng ta thấy ngài Hương
Hải cũng dùng chữ ‘cùng tâm, đạt thức’, thức ở đây
là thức thứ tám A Lại Da đã chuyển hóa về tận cội nguồn
vô sanh của nó. Một khi pháp thân hay thức A lại Da thanh tịnh
đã hiển lộ, thì ánh sáng của nó xuyên qua thức thứ bảy
Mạt Na, thức thứ sáu Ý thức và năm thức giác quan để
có thể nói là Nó “lộn ngược” hiển hiện ra ngoài. Do
đó mà các giác quan có thể thấy trực tiếp Nó, hay nói cách
khác Nó chiếm lấy các giác quan để biến các giác quan thành
phương tiện của Nó, để người ta mất đi cái thấy nghe
hay biết bất tịnh mà chỉ thấy nghe hay biết Nó. Đây là
điều Duy thức gọi là “chuyển thức thành Trí”.
Với
một kinh nghiệm nhận biết trực tiếp Chân tâm như vậy,
từ đây người ta có một nối kết thực sự, vĩnh cửu với
Pháp thân, hay là thực tại tối hậu, hay trí vô phân biệt.
Từ đây người ta bắt đầu một đời sống mới, đời sống
trong cái không sanh không diệt cho đến khi hoàn toàn và rốt
ráo.
2.
Vọng tâm hay thức được dung nhiếp vào chân tâm hay
Trí
Khi
đã thấy Chân tâm là gì bằng một kinh nghiệm trực tiếp
(hay Thiền gọi là Đốn ngộ) người ta bắt đầu tiệm tu
hay sống trong Thực Tại đó. Nếu nói theo tiến trình Khai
Thị Ngộ Nhập của kinh Pháp Hoa thì đây là Nhập, sự đi
sâu vào pháp tánh hay Pháp thân. Theo ngôn ngữ của kinh Hoa
Nghiêm, gọi là Nhập Pháp Giới. Nếu nói theo hệ thống Bát
Nhã thì đây là quá trình chuyển những sắc thanh hương vị
xúc pháp… nghĩa là tất cả thế giới sanh tử chưa tiêu
dung hết của chúng ta vào tánh Không, và Sắc tức là Không
bao nhiêu thì Không tức là Sắc bấy nhiêu.
Thiền
sư Hương Hải nói về sự an trụ trong Chân Tâm, khi giải
thích kinh Kim Cương như sau :
“Ưng
như thị trụ là hợp thường trụ, bất sanh bất diệt, an
tâm tự tại. (Như thị) hàng phục kỳ tâm là đã thấy bản
tánh, chẳng còn móng sanh vọng niệm. Dầu đã rời vọng niệm,
ắt bèn hàng phục chỗ chưng lòng ấy vậy.” (Hương Hải
toàn tập – Lê Mạnh Thát dịch từ tiếng Nôm.)
Nếu
dùng thuật ngữ Thiền tông thường dùng thì “nhất niệm
tương ưng” để chỉ trong một khoảnh khắc ngộ bèn tiếp
xúc được, thấy được, tương ưng được, sống được
với Chân tâm. Và sau đó “niệm niệm tương ưng” để chỉ
sự tiếp xúc thường trực, không lìa rời, tương ưng trong
từng khoảnh khắc hay sống liên tục trong đó. Thiền sư Hương
Hải nói đến điều này như sau :
“Người
học biết mỗi niệm (tư tưởng) vừa khởi thì thấu rõ là
không thể đắc, đây là quá khứ Phật. Quá khứ đã không
có thì vị lai cũng không, đây là vị lai Phật. Ngay hiện
giờ niệm niệm (mỗi khoảnh khắc) chẳng trụ, đây là hiện
tại Phật. Niệm niệm tương ưng tức niệm niệm thành Phật,
đó là pháp môn phương tiện tối sơ.”
Trong
Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa, ngài Hương Hải nói :
“Thường
trụ chân tâm, ắt thật chân tánh vậy. Nếu từ vô lượng
kiếp nhẫn nay hằng chánh định, bèn chưa từng loạn động,
há có quá khứ, vị lai, hiện tại, dầu quá khứ, vị lai,
hiện tại là vọng tưởng vậy. Những sự lo toan ngày trước
là quá khứ tâm, lòng ấy đã rồi. Những sự lo toan ngày
sau là vị lai tâm, lòng ấy chưa dấy. Những sự lo toan bây
giờ là hiện tại tâm, lòng ấy chẳng thật. Như thế suy
cầu, tìm kỹ lòng ấy, hay chẳng khá được. Dầu hiểu biết
vô pháp, vô tướng, vô sự là bình thường tâm, bình thường
tâm ắt là pháp thể không tịch, chẳng từng sanh chẳng từng
diệt, làu làu thanh tịnh. Há có tiền niệm, kim niệm, hậu
niệm bèn khá được vậy.”
Nếu
giai đoạn một là ngộ, thì đó là ngộ Như Lai tạng, nhưng
xưa nay ít người ngộ một lần là triệt suốt trọn vẹn
cả Như Lai tạng, cho nên dù ngộ, ngộ ấy vẫn còn một phần
là “Như Lai tạng tại triền” (Như Lai tạng còn nằm trong
ràng buộc – chữ dùng của Thiền sư Mã Tổ), đó là điều
mà ngài Hương Hải nói là phải ‘lấy gươm trí tự giác
này mà cắt đứt mở ra cái tâm như hòn ngọc bị trói buộc
(triền) ở trong, dùng gươm tuệ của nhất niệm mà chặt
đứt lưới thấy lầm trùm lên trần cảnh’, thì ở giai
đoạn hai này là “Như Lai tạng xuất triền” (vẫn chữ
dùng của ngài Mã Tổ) nghĩa là Như Lai Tạng ra khỏi trói
buộc.
Khi
giảng kinh Kim Cương, ngài Hương Hải nói về quá trình ra
khỏi trói buộc này như sau (ở đây sự trói buộc là bốn
tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả) :
“Bậc
Bồ tát sơ ngộ, bởi còn chưa khỏi vi tế tứ tướng. Dầu
bồ tát lòng còn chút thiểu ngộ, ắt thật chưa rời nhân
tướng. Dầu bồ tát thấy ý niệm phiền não mà hàng phục,
vậy ắt thật chưa rời chúng sanh tướng. Dầu bồ tát thấy
có thanh tịnh tâm mà khá chứng được ắt chưa rời thọ
giả tướng. Khi chúng sanh còn mê, chưa khỏi vọng tâm phiền
não triền phược, Phật phải phương tiện lập pháp giải
thoát mà độ chúng sanh cho thấy bản tánh. Dầu đã thấy
tánh, bấy giờ nhân không ắt pháp cũng không. Bệnh khứ,
dược vong, thật là vô pháp khả đắc.”
Tóm
lại giai đoạn một là sự kiện thấy được pháp thân, biết
có thực tại tối hậu để giải thoát, ngộ được vô sai
biệt trí hay căn bản trí là giai đoạn kiến đạo vị, thì
giai đoạn hai là tu tập vị, tức là sự khai triển của thực
tại này trong dòng sống của cá nhân. Nếu giai đoạn một
là trực tiếp thấy được tánh Không thì giai đoạn hai là
đưa tất cả những gì còn lại tạo ra thân tâm và thế giới
trở về tánh Không. Giai đoạn một là lần đầu tiên thấy
được Niết bàn, thì giai đoạn hai là đưa tất cả những
gì còn lại của sanh tử trở thành Niết bàn. Nói cụ thể
đây là giai đoạn đưa tất cả những vọng tưởng về trong
bản tánh vô niệm (tức Chân tâm) của chúng.
Trong
giai đoạn này, ở cấp độ thứ năm (tức là Đệ ngũ Nan
Thắng địa) vô sai biệt trí hay căn bản trí sẽ hòa nhập
với sai biệt trí hay hậu đắc trí, sự hòa nhập này là
khó thực hiện, khó vượt qua (Nan Thắng) để tiến lên khiến
cả hai trí này trở thành viên mãn nơi một vị Phật.
3.
Vọng tâm hoàn toàn được dung nhiếp vào để trở thành chính
Chân tâm : tất cả là diệu dụng của Chân tâm
Ở
giai đoạn hai có sự hòa nhập giữa Niết bàn và sanh tử,
giữa vô sai biệt trí và sai biệt trí, giữa vô niệm và niệm.
Nghĩa là càng nhập pháp giới thì hai thế giới, thế giới
của Lý hay Không và thế giới của Sự hay Sắc cùng hòa lẫn
để cả hai là một. Nói cụ thể, niệm khởi cũng chính là
vô niệm, đang sanh cũng tức là vô sanh. Tư tưởng chính là
Pháp thân, hình tướng chính là thân Phật…
Kinh
Viên Giác nói :
“Thiện
nam tử ! Hết thảy mọi chướng ngại tức là cứu cánh giác.
Chánh niệm và thất niệm (vọng tưởng) đều là giải thoát,
thành tựu và hư việc đều là Niết bàn, trí huệ và ngu
si cùng là Bát nhã. Những thành tựu của bồ tát và của
ngoại đạo đều là Bồ đề. Chân Như và vô minh không khác
cảnh giới, giới định huệ và dâm nộ si cùng là phạm hạnh.
Chúng sanh, quốc độ cùng là pháp tánh. Địa ngục thiên cung
toàn là tịnh độ. Có chủng tánh với không có chủng tánh
đều thành Phật đạo. Hết thảy phiền não rốt ráo là giải
thoát. Huệ như biển cả soi rõ mọi tướng cũng như hư không.
Đó gọi là sự tùy thuận tánh Giác của Như Lai.”
Đây
là sự khai mở triệt để của cả hai, vô sai biệt trí hay
căn bản trí (thấy tánh Không) và sai biệt trí hay hậu đắc
trí (biết các sắc). Đây là chỗ Thiền sư Hương Hải nói
:
“Vì
tri và tịch là một tâm không hai, khế hợp với diệu lý
không và hữu dung thông. Không trụ không trước, chẳng nhiếp
chẳng thu, phải trái đều quên, năng sở đều dứt. Sự dứt
này cũng tịch lặng thì Bát nhã hiện tiền, mỗi tâm là Phật,
không tâm nào chẳng phải là tâm Phật, chốn chốn thành đạo,
không một mảy trần nào chẳng phải là nước Phật.
Bởi
thế, chân với vọng, vật với ta, nêu một mà thâu hết.
Tâm, Phật, chúng sanh đều cùng một tánh. Thế nên biết,
mê thì người theo pháp, pháp pháp muôn sai khác nên người
người chẳng đồng. Còn ngộ thì pháp theo người, người
người đồng một trí mà dung thông muôn cảnh. Lời nói hết,
tư tưởng dứt thì quả nào nhân nào nữa ? Chỉ còn một
cái rỗng sáng, không nhớ nghĩ, chan hòa khắp suốt. Giống
như tấm gương vô tâm, bóng có thể thấy trong đó như trăng
trong nước, hoa trong không, chiếu sáng mà thường không vậy.”
Nói
theo chữ dùng của ngài Hương Hải, ‘cùng tâm, đạt thức’,
thì đây là sự đạt thấu trọn vẹn bản tánh của thức,
nghĩa là chuyển hóa hoàn toàn thức A Lại Da thành Bạch Tịnh
Thức. Khi đạt đến hoàn toàn nền tảng vô tự tánh của
thức A Lại Da như vậy, tư tưởng (niệm) dù khởi dù diệt
cũng đều là diệu dụng của Pháp thân (hay Bạch Tịnh Thức,
nói theo hệ thống Duy Thức).
Đến
đây chúng ta đã sơ lược phần căn bản con đường ‘rõ
tâm, cùng tâm’ của Thiền. Đó cũng là con đường tổng
quát của Đại thừa. Trên con đường đó có những bước
tiến nhanh chậm khác nhau, những cú nhảy vọt khác nhau, những
kinh nghiệm lớn nhỏ khác nhau tùy theo căn cơ từng cá nhân,
tùy theo sự tích tập công đức và trí huệ của từng cá
nhân ở đời trước và đời này, tùy theo nỗ lực họ đã
đặt vào trong việc tìm cầu một kinh nghiệm ngộ, tùy vào
những vị thầy họ đã may mắn gặp được… Cũng có thể
chỉ cần một kinh nghiệm ngộ đưa người ta đến giai đoạn
ba và cũng có những kinh nghiệm quá nhỏ chưa đủ để gọi
là ngộ, nghĩa là chưa vượt khỏi giai đoạn một.
Nhưng
ở đây chúng ta muốn nói đến một điều, trong quá khứ
các Thiền sư Việt Nam đã đạt đến những thành tựu tâm
linh rất cao mặc dầu những gì các vị để lại thì khá
ít và có thể là không có hệ thống rõ ràng. Nhưng những
gì còn lại đó và qua một nghiên cứu sơ lược và nông cạn
như chúng ta đang làm ở đây, chúng ta có thể thấy rằng
quả thật Thiền là một dòng sống tâm linh của người Việt
Nam, nếu không nói nó chính là tâm linh của dân tộc Việt,
và trong sự cảm kích các thành tựu của người xưa, hẳn
chúng ta thấy rằng chúng ta cần giữ gìn cho được nguồn
sống tâm linh đó và phát huy nó ra trong thời đại mới với
những hình thức văn minh khác biệt này. Bởi vì một dân
tộc làm sao có thể sống lành mạnh và hoàn thành nhiệm vụ
ở đời nếu nó chỉ phát triển về mặt thể xác và vật
chất mà không có một sức mạnh (nghĩa là độ rộng lớn
và độ sâu xa) của tâm linh ?
10. Tiếp
Xúc Với Thực Tại
Về
thực tại Chân Tâm này, Quốc sư Thông Biện (?-1134) nói (với
Hoàng thái hậu Phù Thánh Linh Nhân) rằng :
“Thường
trụ thế gian, không sanh không diệt, gọi đó là Phật. Hiểu
rõ Tâm tông của Phật, hạnh và hiểu tương ưng, gọi đó
là Tổ… Vả Phật là giác vậy. Cái giác này xưa nay trong
lặng thường trụ. Tất cả chúng sanh đều đồng một nguyên
lý này, chỉ vì tình trần che khuất, theo nghiệp nổi trôi
mà chuyển thành các cõi…
Khi
sắp nhập Niết bàn, sợ người sau mê chấp sanh tệ, nên
Phật bảo với ngài Văn Thù rằng : “Suốt 49 năm, ta chưa
từng nói một chữ, sao bảo là có nói ư ?” Rồi cầm một
cành hoa đưa lên, mọi người đều mơ hồ, chỉ có tôn giả
Ca Diếp nở mặt mỉm cười. Phật biết Ca Diếp đã khế
ngộ, bèn trao cho chánh pháp nhãn tạng, ấy là vị Tổ thứ
nhất. Đây gọi là Tâm tông, ngoài giáo riêng truyền vậy.”
Tất
cả chúng sanh đều đồng một thực tại “trong lặng thường
trụ, bất sanh bất diệt” này. Có thể nói nó bao bọc chúng
ta, ở khắp quanh ta, thấy cái gì cũng không ngoài nó, nghe
cái gì cũng không ngoài nó, sờ chạm cái gì cũng không thể
không phải là nó. Thế mà tại sao chúng ta không thấy, không
nghe, không hay, không biết để uổng chịu chìm nổi, trôi
lăn ? Làm thế nào thấy được Pháp giới để mới gọi là
nhập Pháp giới ? Làm thế nào để nhận biết nó và sống
với nó ? Và Thiền, trong một ý nghĩa nào có nghĩa là tham
thiền về nó, thế thì tham thiền về nó là như thế nào
?
Cái
bí quyết này chúng ta chỉ thấy rải rác đây đó trong những
câu thiền ngữ của những Thiền sư, có lẽ một phương pháp
rõ ràng là chuyện giữa thầy và trò trong một thực hành
mà chỉ thầy và trò biết. Ở đây chúng ta đọc một đoạn
trong Pháp Hoa Đề Cương của Thiền sư Thanh Đàm Minh Chánh
ở thế kỷ 19 :
“Hỏi
: Tại sao không chỉ thẳng cái thứ nhất là Diệu Tâm xưa
nay, mà lại chỉ cái thứ hai là căn tánh để làm phương
tiện (nhân) tu hành ?
Đáp
: Tâm vốn vô hình, thế nên không có chỗ để chỉ ra. Trước
kia đã chẳng nói rồi ư ? Phàm có ngôn ngữ nói năng diễn
tả đều không thể nắm bắt được tâm. Nhưng dù tâm không
có hình tướng mà tùy ứng dụng của căn nên có dấu vết.
Có dấu vết thì có thể chỉ ra, khiến theo chỗ vết tích
ứng dụng đó nhân ánh sáng ấy mà tự thấy được nguồn
tâm.
Hỏi
: Dấu vết ấy hiện ở đâu ?
Đáp
: Ở ngay nơi đối tượng sáu trần hiện ra dấu vết ấy.
Do sắc mà hiện ra cái thấy, do thanh mà hiện ra cái nghe, sáu
trần là dấu vết ứng dụng của sáu căn. Nay muốn nắm được
dấu vết của căn thì chỉ ngay nơi đối tượng sắc thanh
mà biết cái thấy cái nghe là gì. Nên biết rằng công dụng
của căn là công dụng của tâm, căn nhận biết là tâm nhận
biết ; cái khác biệt là căn có sáu công dụng, mà tâm chỉ
một thể tinh minh. Chư Phật truyền nhau chính là pháp căn
này, các Tổ truyền nhau là Tâm tông ấy. Đó là bí quyết
mà các kinh điển khai thị, từ đó mà được căn bản trí.
Pháp ấn truyền giữ qua các thời đại cũng lấy cái ấy
để phát giác sơ tâm. Chỉ theo căn cơ sâu cạn mà chứng
có mau hay chậm đó thôi. Lại cần biết pháp này tùy chỗ
đặt tên, có vô lượng sai khác, đều vẫn là pháp ấy mà
tên không đồng. Lại các danh hiệu chư Phật và đầu đề
kinh cũng là tên khác của tâm pháp này thôi.
Hỏi
: Tâm ấy làm sao truyền thọ ?
Đáp
: Đức Thế Tôn đưa lên một cành hoa, Ca Diếp mỉm cười,
sau đó các Tổ truyền lại, giữ gìn, cơ duyên khác nhau. Người
ngộ đạo tự biết vậy.
Hỏi
: Tu trì làm sao ?
Đáp
: Dứt ! Dứt ! Thiền sư Đạo Xuyên nói :
Tri
âm tự có tùng hòa gió
Gió
mát trăng trong trời đất nhàn.
Lại
nói :
Đắc
nó ở tâm
Ứng
nó ở tay
Trời
đất lâu dài,
Cứ
hễ canh năm gà gáy sáng
Xuân
về hoa núi nở ngàn nơi.
Hỏi
: Cứu cánh là gì ?
Đáp
: Hòa thượng Phổ Hóa nói : “Tìm chỗ đi không thể được.”
Lại
kệ nguyện trong kinh Hoa Nghiêm nói :
Lễ
lạy Hoa Nghiêm biển chân tánh
Thảy
thảy quang minh Biến Chiếu Tôn
Muôn
hạnh Phổ Hiền khắp trang nghiêm
Tất
cả chân như pháp giới tạng.
Trân
trọng ! Trân trọng !”
* *
*
Người
xưa có nói : “Tham thiền tham tánh, tánh tham thiền.” Chúng
ta làm sao để tiếp xúc với thực tại, để tham thiền, để
tương ưng với thực tại ? Làm sao để thấy khi đức Phật
đưa cành hoa lên thì thấy đó là tất cả thực tại ?
Chúng
ta đã thấy ở Trung Hoa có năm phái Thiền – nhưng tất cả
đều xuất phát từ Lục tổ Huệ Năng – , trong đó cách
dụng công tu hành của hai phái Lâm Tế và Tào Động về sau
có hai quan điểm khá khác biệt nhau. Cụ thể là phái Lâm
Tế về sau cho rằng ngồi thiền là để tham cứu công án
để ngộ, còn Tào Động về sau thì cho rằng trong ngồi thiền
thì đã có ngộ. Sự dụng công tu hành còn khác biệt tùy
theo từng vị thầy, tuy vị nào cũng cùng một con đường,
một đích đến. Vậy thì đâu là phương pháp tổng quát chung,
và từ phương pháp chung ấy, tùy theo mỗi cá tính, mỗi hoàn
cảnh, mỗi cơ duyên của thầy và trò mà sử dụng một cách
khác nhau ?
Phương
pháp tổng quát là muốn thấy tánh, muốn ngộ tánh, thì tánh
như thế nào người học phải sống theo, nghĩa là thân, khẩu,
tâm ý người học phải “tùy thuận” (chữ dùng theo kinh
Viên Giác) theo tánh đó như vậy. Nếu nói theo truyền thống
Nam tông, sự tu hành có nghĩa là “như lý tác ý” hay truyền
thống Bắc tông Đại thừa, sự tu hành là “như pháp (tánh)
mà hành”. Sở dĩ chúng sanh chúng ta ‘đều đồng một nguyên
lý tánh Giác này’ nhưng không thấy nghe hay biết Nó, bởi
vì chúng ta luôn luôn theo thói quen nghiệp mà sống trái ngược
lại với Nó. Tu hành là sống tùy thuận theo nó, tới một
mức mà chúng ta có thể “quen biết” nó, chúng ta liền thấy
nó, liền ngộ.
Nguyên
lý tổng quát của sự dụng công tu hành là như vậy. Vì tánh
là không trụ vào đâu cả, người học phải “ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm”. Vì tánh không phân chia chủ thể và
đối tượng, ngã và pháp, cho nên người học dù dụng công
thế nào cũng phải nhằm thoát khỏi cái thấy có ngã và pháp.
Còn nếu thiền định hay thiền quán mà tăng thêm ngã và pháp
thì chắc chắn chẳng bao giờ thấy được pháp tánh. Vì tánh
thấy thì chẳng thấy riêng một cái gì cả ; thấy riêng một
cái gì thì đó là thức, nghĩa là cái thức phân biệt dựa
vào nhãn căn và trôi lăn theo cảnh. Ít ra tánh thấy là cái
gì không chuyển dời theo cảnh, như Nguyễn Du nói :
Lá
rơi hoa nở đầy trước mắt
Bốn
mùa tâm kính tự như như.
Thế
nên muốn biết được tánh thấy thì phải thấy mà không
có chủ thể và đối tượng : “khi thấy mà có tướng thấy,
cái thấy đó chẳng phải là tánh thấy ; cái thấy mà do lìa
tướng thấy, đó là tánh thấy siêu việt” (kiến kiến chi
thời phi thị kiến ; kiến do ly kiến kiến bất năng cập
– Lăng Nghiêm quyển hai).
Kinh
Phật Tự Thuyết (Udana) trong Tương Ưng Bộ nói : “Trong cái
thấy chỉ là cái thấy, không nắm giữ tướng chung, không
nắm giữ tướng riêng. Trong cái nghe chỉ là cái nghe, không
nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Trong cái
thọ tưởng, chỉ là cái thọ tưởng, không nắm giữ tướng
chung, không nắm giữ tướng riêng. Trong cái hiểu biết, chỉ
là cái hiểu biết, không nắm giữ tướng chung, không nắm
giữ tướng riêng… Do vậy, này Bāhiya, ngươi không là chỗ
ấy. Vì rằng ngươi không là chỗ ấy, do vậy, này Bāhiya,
ngươi không phải là đời này, không phải là đời sau, không
phải là đời chặng giữa. Như vậy là đoạn dứt hết khổ
đau.”
Thiền
sư Pháp Loa, tổ thứ hai phái Thiền Trúc Lâm nói : “Người
học Phật trước tiên cần phải thấy tánh. Thấy tánh là
chẳng phải có cái để thấy mà gọi là thấy. Mà chính là
chỗ không có gì để thấy mới gọi là thấy. Cho nên khi
thấy mà chẳng phải thấy, tức là chân tánh hiện. Tánh thấy
vốn vô sanh, nên sanh ra cái thấy thì chẳng phải thật có.
Tuy không thật có, nhưng tánh của những cái không thật có
đó là thật, nên cái tánh thấy chân thật thì không dời
đổi. Thế nên gọi là sự thấy tánh chân thật vậy.”
Có
lẽ không cần bàn thêm điều gì nữa. Có chăng là niềm tin
của chúng ta vào sự việc đó. Quả thật là đơn giản :
khi thấy mà không trụ vào những hình tướng (những cái nhìn
thấy) riêng rẽ nào, thì đó là tánh thấy. Khi thấy mà