1. Tâm Ấn
Chư Phật
Bài
kệ của Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền cho đệ tử Pháp
Hiền vào thế kỷ thứ 6 là bài kệ truyền dòng đầu tiên
của Thiền tông Việt Nam. Dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi đóng
góp rất lớn cho sự khai sinh triều Lý, cho đến đời thứ
12 với Thiền sư Vạn Hạnh thì triều Lý được thành lập
với sự lên ngôi của Lý Công Uẩn.
Cơ
duyên ngộ đạo của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi được Thiền Uyển
Tập Anh chép lại như sau :
“Đời
Trần Đại Kiến thứ 6, năm Giáp Ngọ (574), Sư đến Trường
An. Gặp lúc Chu Võ Đế phá diệt Phật giáo, Sư muốn sang
đất Nghiệp. Bấy giờ đệ tam tổ Tăng Xán đi tỵ nạn,
mang y bát ở ẩn trong núi Tư Không. Sư đến gặp Tổ, thấy
cử chỉ phi phàm, trong lòng phát niềm kính mộ, bèn đến
trước mặt, chấp tay đứng ba lần. Tổ vẫn ngồi yên không
nói. Trong lúc đứng suy nghĩ, hoát nhiên như có chỗ đắc,
liền sụp lạy ba lạy. Tổ gật đầu ba cái mà thôi. Sư lùi
lại ba bước, thưa : “Đệ tử bấy lâu chưa có cơ hội,
xin hòa thượng đại từ bi, cho con theo hầu hạ hai bên.”
Tổ nói : “Ngươi nên mau về phương Nam giao tiếp, không nên
ở đây lâu.”
Đến
tháng 3 năm Canh Tý, Sư đến nước ta, dịch kinh Tổng trì,
một quyển.”
Như
thế, Thiền Tông đã truyền vào Việt Nam vào thời Tam tổ,
trước thời của ngài Lục tổ Huệ Năng và năm phái Thiền
về sau này.
Ở
trên sở dĩ nói bài kệ của Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi là
bài kệ truyền dòng không chỉ vì nó là bài kệ đầu tiên
từ một vị sơ tổ, mà chính vì nội dung nó chứa tất cả
tinh túy, ý nghĩa, sự nhìn thấy chân lý, tu hành và chứng
đắc chân lý của Thiền Tông. Hơn 200 năm sau, với Thiền
sư Vô Ngôn Thông, Thiền Việt Nam cũng có một bài kệ truyền
dòng tương tự như vậy.
Tất
cả những Thiền sư của dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đều được
nuôi dưỡng bởi, tu hành trong và chứng ngộ được cái thực
tại – ở đây ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi gọi là tâm ấn chư
Phật – mà bài kệ ấy muốn chỉ ra, nhắn gửi và trao truyền,
cho đến chúng ta ngày nay. Bài kệ tâm ấn chư Phật đã được
nói ra cho chúng ta, một lần cho mãi mãi. Bài kệ ngài Tỳ
Ni Đa Lưu Chi nói cho đệ tử Pháp Hiền, thế hệ thứ nhất
dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, trước khi thị tịch là như
sau :
Phàm
tâm ấn chư Phật
Tất
không lừa dối
Tròn
đồng thái hư
Không
thiếu không dư,
Không
đi không đến
Chẳng
một chẳng khác
Chẳng
thường chẳng đoạn,
Vốn
không chỗ sanh
Cũng
không chỗ diệt
Cũng
chẳng lìa xa
Chẳng
không lìa xa,
Vì
đối vọng duyên
Mà
giả lập tên.
Bởi
thế chư Phật ba đời
Cũng
y[1}* như thế
Tổ
sư nhiều đời
Cũng
y như thế đắc
Ta
cũng y như thế đắc
Ngươi
cũng y như thế đắc
Cho
đến hữu tình vô tình
Cũng
y như thế đắc.
Vả
Tổ ta Xán công
Ấn
cho ta tâm đó
Bảo
ta mau về Nam giao tiếp
Không
nên ở lâu
Rồi
mới đến đây
Bèn
cùng ngươi gặp
Quả
hợp huyền ký
Ngươi
khéo giữ gìn
Giờ
ta đi đã đến.
* *
*
Tâm
ấn mà ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi muốn khai thị và truyền lại
cho đời sau ở đây là gì ? Đó là thực tại được nói
trong nhiều kinh điển. Nó là Pháp thân, là Tri Kiến Phật,
là Phật tánh mà chúng sanh đều có, là Thật tướng của
tất cả các pháp, là cái Bổn Lai Thanh Tịnh, là bản tánh
của tâm, là cái để Khai Thị Ngộ Nhập, là tánh Không…
Nhưng
điều quan trọng nhất không phải là những mô tả về Tâm
Ấn ấy : ‘tròn đầy thái hư, không thiếu không dư, không
đi không đến, không được không mất, chẳng một chẳng
khác…’ Điều quan trọng nhất không phải là Tâm Ấn ấy
không lệ thuộc không gian thời gian, mà chính bởi vì Tâm
Ấn ấy vốn ‘tròn đầy thái hư, không thiếu không dư, không
đi không đến, không được không mất…’ nghĩa là không
lệ thuộc thời gian và không gian mà sự kiện quan trọng nhất
là Nó đang hiện tiền trước mặt mỗi chúng ta. Như đức
Phật đã nói trong nhiều kinh, ở đây chỉ trích ra một câu
nói của đức Phật với ngài Tu Bồ Đề trong kinh Ma Ha Bát
Nhã Ba La Mật (phẩm Vô Tác và những phẩm khác) về điều
quan trọng nhất ấy :
Vì
dù Phật có ra đời hay không, thật tướng các pháp vẫn luôn
thường trụ không khác, vì pháp tướng pháp trụ pháp vị
thường trụ duy nhất một tướng chẳng sai chẳng mất vậy.
Tâm
ấn hay thực tại ấy là Pháp theo nghĩa tinh túy nhất của
từ này. Tâm ấn của chư Phật hay ‘thật tướng các pháp’
vẫn thường trụ chẳng sai chẳng mất như vậy. Tâm ấn của
chư Tổ vẫn ‘tự cổ thường nhiên’ như vậy. Thực tại
xưa nay vẫn như vậy, pháp nhĩ như thị, pháp vốn như vậy.
Bởi
vì nếu không như thế thì Thiền tông nói riêng và Phật giáo
nói chung có ăn nhằm gì đến mỗi chúng ta, khi mỗi chúng
ta hằng ngày phải kiếm sống, phải lo toan đủ chuyện, và
rộng ra cả xã hội, phải tăng trưởng kinh tế, bài trừ
những tệ nạn xã hội, phải sống trong một thế giới với
biết bao nhiêu vấn nạn của nó ? Và rồi mỗi người của
chúng ta phải giã từ thế giới ấy để đi theo cái chết
của riêng mình ? Nếu không như thế thì chẳng lẽ Thiền
tông, tinh túy của dòng sống tâm linh của đất nước chúng
ta, đời sống tâm linh của lịch sử chúng ta, lại chỉ dành
cho những người biết Hán-Nôm, những người hoài cổ và
chẳng có một ảnh hưởng nào vào sinh hoạt xã hội, vào
sự sống của con người, vào những đổi thay lớn lao trên
bề mặt của thời đại ? Trong khi đó, với Thiền sư Chân
Nguyên, một Thiền sư lỗi lạc thế kỷ 17, nghĩa là sau Tổ
Tỳ Ni Đa Lưu Chi hơn một ngàn năm, người làm hưng vượng
phái Thiền Trúc Lâm – một phái Thiền chú trọng đến đời
sống quốc gia đất nước – thì chúng ta thấy thực tại
Thiền, tâm ấn của Tỳ Ni Đa Lưu Chi hay là cái ‘chân không
vô tướng’ có ảnh hưởng như thế nào đến con người
và thế giới :
“Đó
là Chân Không vô tướng, là cha mẹ của trời đất muôn vật,
làm nền tảng cho thế giới sanh linh, suốt cả xưa nay chẳng
sanh chẳng diệt… Ẩn hiển cùng bày, sắc không chẳng hai,
trời đất muôn vật chỉ một thể nguyên thần, vô trụ vô
vi. Chợt lộ mặt thật xưa nay, lìa danh lìa tướng, mở toang
then chốt trên đảnh môn hướng thượng, đèn tâm của Phật,
Tổ truyền sáng mãi không cùng. Lúc hiển mà nói thì có tám
vạn pháp môn, khi mật mà ngộ, thì chỉ bốn mắt nhìn nhau.
Tôn
kính chúc rằng :
Quốc
gia vĩnh cửu, ngôi báu kim luân và trời đất trường tồn.
Phật
đạo không cùng, nối Tổ truyền Tông cùng Thứu Phong chẳng
mất.”
Thực
tại đó ảnh hưởng tới con người và xã hội, đơn giản
bởi vì khi con người sống không có nền tảng, mà chỉ trôi
dạt theo ảo tưởng và phiền não, nó chỉ làm rắc rối thêm
cho mình và cho người. Và khi xã hội hoạt động không có
nền tảng, mà chỉ chạy theo những mốt, những trào lưu,
nó làm sao tiến bộ cho đúng hướng để trở thành một xã
hội phát triển trong mọi mặt vật chất và tâm linh ?
* *
Tâm
ấn ấy, thực tại ấy vẫn như vậy trước mắt chúng ta,
bất chấp sự hưng vong của lịch sử, bất chấp sanh già
bệnh chết của mỗi chúng ta, bất chấp những cái thấy bị
biến dạng vì thành kiến, vì tham sân si của chúng ta. Bởi
vì, Nó thì ‘Trước trời trước đất vẫn trong trắng hoài’,
như lời Thiền sư Nhẫn Tế, vị Thiền sư Việt Nam vào nửa
đầu thế kỷ 20, đã đi học pháp ở Tây Tạng vào những
năm 30 của thế kỷ. Lại một dòng Thiền khác, từ một hướng
khác, được truyền vào ở một thời điểm khác, nhưng cũng
vẫn chỉ là một tâm ấn ấy, tâm ấn của chư Phật Tổ.
Như
người xưa nói, ‘Ngồi trong nồi cơm mà chết đói ê hề,
ở trong biển nước mà chết khát ê hề.’ Đức Phật đã
nói, ‘Tất cả chúng sanh đều có Tri Kiến Như Lai, thế mà
vì chạy theo vọng tưởng để oan uổng trôi lăn trong khổ
đau, sanh tử.’ Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi cũng nói :
Vốn
không chỗ sanh
Cũng
không chỗ diệt
Cũng
chẳng lìa xa
Chẳng
không lìa xa.
Tâm
ấn ấy, thực tại ấy chưa hề lìa xa chúng ta. Hơn thế nữa,
tất cả chúng ta từ vô thủy đến nay, dù khổ đau hay hạnh
phúc, dù đi đúng đường hay lạc đường, dù biết hay không
biết, dù suy nghĩ có lý hay suy nghĩ bậy bạ, dù lên cao hay
xuống thấp, dù sống nơi cõi Ta Bà này hay về Tịnh Độ…
tất cả đều không ra ngoài Cái Ấy. Tất cả chúng ta vẫn
hằng ở trong Cái Ấy, trong Thực Tại ấy, trong Tâm Ấn ấy,
từ vô thủy đến vô chung. Bởi vì, ‘Tất cả chúng sanh
đều có Phật tánh’, tất cả chúng sanh đều là Phật tánh.
Đó mới là điều quan trọng nhất của Con Đường, của Thiền.
Nói theo ngôn ngữ của Đại thừa Ấn Độ và Tây Tạng, thực
tại tâm ấn ấy là Nền Tảng của Thiền, Con Đường của
Thiền và Quả của Thiền. Thực tại ấy là cái Thấy (tri
kiến) của Thiền, Thiền Định của Thiền và Hạnh của Thiền.
Không
có sự cứu độ nào bằng khi biết rằng chúng ta vẫn đang
ở trong Thực Tại ấy, dù chúng ta có chú ý đến điều đó
hay không, dù chúng ta nói hay hoặc nói dở, dù chúng ta nói
hoặc nín, dù chúng ta làm hay không làm, dù chúng ta đi hay
đứng, dù chúng ta thức hay ngủ… Dù chúng ta nói một điều
gì, sai hay đúng, cũng không ra ngoài Cái Ấy, cũng vẫn là
Cái Ấy, dù chúng ta có văn minh hay cổ điển, dù chúng ta
mở mắt hay nhắm mắt, tinh tấn hay giải đãi, vô minh hay
hết vô minh… chúng ta cũng không ra ngoài Cái Ấy, cũng vẫn
là Cái Ấy, vô thủy vô chung.
Bởi
thế chư Phật ba đời
Cũng
y như thế
Tổ
sư nhiều đời
Cũng
y như thế đắc
Ta
cũng y như thế đắc
Ngươi
cũng y như thế đắc
Cho
đến hữu tình vô tình
Cũng
y như thế đắc.
Có
cái gì có thể ra ngoài cái Như Thế này đâu ? Có một hành
động nào của thân, khẩu, ý có thể lọt ra ngoài cái Như
Thế này đâu ? Tin được như vậy, thấu hiểu được như
vậy, sống trong mọi mặt của sự sống mình được như vậy,
gọi là (chỉ ‘gọi là’, bởi vì ‘vì đối vọng duyên,
mà giả lập tên’) sống Thiền. Và sống được như vậy
thì ‘cho đến hữu tình vô tình’ cũng đều vốn ở trong
Niết bàn, vốn đã thành Phật, vì xưa nay vẫn hằng ở trong
cái ‘Như Thế mà đắc’.
* *
*
Cho
nên chúng ta không ai có thể từ chối Tâm Ấn, từ chối Pháp,
từ chối Thiền, khi Nó vẫn muôn đời ở đó. Chúng ta có
thể lấy lý do tôi đang bận làm giàu, tôi đang bận tiến
vào thời đại thông tin, tôi đang lo cho những khám phá mới…,
chúng ta có lo hay không lo, có chánh niệm hay thất niệm, có
nhìn hay không nhìn, có biết hay không biết, Nó vẫn ở đó,
bao trùm lấy toàn bộ cuộc đời của chúng ta. Từ chối Tâm
Ấn, từ chối Pháp, quay lưng với Thực Tại, chúng ta chỉ
càng lúc làm hạn hẹp cuộc đời mình, càng lúc càng kẹt
nghẽn trong thời gian và không gian hữu hạn, càng điên đảo
trong một thế giới vọng tưởng do mình phân chia lắp ghép
và ‘tự mua bán lấy’. Còn Pháp thì chẳng hề hấn gì bởi
thế giới loạn thần của chúng ta, chẳng tương can gì đến
cuộc đời và thái độ của chúng ta, nó muôn đời ở đó,
dù chư Phật có ra đời hay không, có thuyết pháp hay không.
“Vâng,
tôi thấy hình như điều đó đúng. Bởi vì từ gần hai ngàn
năm nay, các Thiền sư trong các dòng Thiền khác nhau đều ‘như
cùng một miệng, nói cùng một lời’ về Thực Tại ấy,
về Tâm Ấn ấy. Thế thì tại sao người ta vẫn không biết
đến Thực Tại ấy, để sống trong Nó để có hạnh phúc
thật sự và bình an toại nguyện thật sự, để có Nền Tảng,
Con Đường và Quả cho cuộc đời phù du của mình ?” Bởi
thế, đó chính là nhiệm vụ của các Thiền sư từng thế
hệ, của các Phật tử đang đồng hành với con người và
thời đại của họ. Bởi thế mà có cái được đặt tên
là Thiền, ‘vì đối vọng duyên mà giả lập tên’ : vì
có sự mê mờ không thấy được cái thật của chính mình
trong khi mình vẫn là cái đó, đây là một nhân duyên hư vọng
(vọng duyên) cho nên có cái gọi là Thiền tông (giả lập
tên) để Khai Thị Ngộ Nhập cho người. Nhưng dù có làm việc
Khai Thị Ngộ Nhập này, dù đó là công việc công đức nhất,
thì đó cũng chỉ là ở về mặt chân lý tương đối mà nói.
Ở trong chân lý tuyệt đối, việc làm công đức ấy cũng
chỉ là giả lập, vì mỗi người đều có Phật tánh, có
ai đem Phật tánh cho ai đâu.
Bởi
thế chúng ta chớ lầm mà nghĩ rằng Phật tánh, Tâm là cái
gì mà vị Thầy nào ban cho chúng ta. Mỗi chúng ta đều có
sẵn Tâm, chỉ là chúng ta không nhận biết nó do mãi chạy
theo các tư tưởng, nhớ nghĩ, khi có khi không ; chúng ta không
thấy nó là đời sống thật của mình, sử dụng nó sai lầm
để rồi cuộc đời chỉ là sự trôi dạt theo vọng tưởng
triền miên, nắm bắt hoa đốm không dứt. Vị Thầy không
ban cho chúng ta cái đó, vị Thầy chỉ ‘ấn’ lại ‘tâm’
ta cho đúng, nghĩa là đưa nó nhìn thấy lại bản tánh của
chính nó, để cho nó không còn sai lầm, hoạt động theo cách
bị ràng buộc trong những trò chơi thêu dệt vẽ vời của
chính nó. Khi tâm nhìn ra ‘bộ mặt thật’ của nó, nhìn
ra ‘bản tánh’ của nó, toàn bộ vận hành tạo ra tư tưởng
của nó sẽ thay đổi : thay vì sự vận hành để tạo ra khổ
đau sanh tử, thì đây là sự vận hành trong giải thoát, tự
do. Và như vậy tâm phát huy đầy đủ khả năng diệu dụng
của nó.
Không
ai cho chúng ta tâm cả, sự thật này là ‘dân chủ’ tuyệt
đối, nếu nói theo chữ nghĩa ngày nay. Chỉ là chúng ta vẫn
sống trên đất tâm mà chúng ta không biết, không biết làm
gì, và có làm gì là do phiền não xui khiến, nên chúng ta không
thấy nó, không biết nó, không sống được với nó. Công
sức của vị Thầy ‘ấn cho ta tâm đó’ không có nghĩa là
ban cho chúng ta tâm đó, mà ấn định, xác định, gom nó lại
vào trong thực chất của nó, trong cái ấn của chính nó, không
cho nó vương vãi. Như thế vị Thầy chỉ ra cho chúng ta tâm
thật sự là gì, ấn định cho cốt lõi tinh túy của đời
sống của chúng ta là gì ; khi chúng ta đã được ấn định,
xác định cái thật từ bao đời nay vẫn là nền tảng của
cuộc sống chúng ta thì có dại gì mà chúng ta không sống
với tâm ấy, muôn đời mãn kiếp. Khi đã tự mình xác định,
xác quyết tâm ấy rồi, chúng ta sống với tâm ấy, với toàn
thể thực tại của nó, toàn thể hoạt dụng của nó, đó
gọi là ‘ngươi khéo giữ gìn’.
Cho
nên Thiền (hay thực tại) là muôn đời xưa cũ và muôn đời
mới mẻ, trẻ trung. Muôn đời xưa cũ vì nó đã có từ trước
khi chúng ta tự nhận mình là một cá thể tách lìa với toàn
thể để đi mãi trong cuộc sống chết luân hồi và nó vẫn
là chúng ta trong suốt cuộc hành trình lang thang đơn độc
không biết khi nào chấm dứt ấy. Muôn đời vẫn mới vì
nó là không gian và thời gian vô tận cho bất kỳ một biến
cố nào, bất kỳ một xuất hiện phát minh nào của lịch
sử. Hơn thế nữa, muôn đời vẫn mới vì nó không có chỗ
trụ, nghĩa là không có sự cứng đọng và già chết. Trong
nó không có một tiến trình sanh trụ dị diệt thô sơ, một
tiến trình sanh để rồi tiếp theo một tiến trình chết.
Trong nó mỗi khoảnh khắc là vô hạn cái sanh và vô hạn cái
diệt, nghĩa là không có một cái diệt tách biệt với một
cái sanh, một cái chết tách biệt với một cái sống. Trong
ánh sáng của tâm tất cả đều chết đi và sống lại trong
khoảnh khắc. Khi không có cái diệt, cái chết tách biệt với
cái sanh, cái sống, thì cái diệt, cái chết theo nghĩa thường
tình không còn nữa.
Đó
là cái Toàn Thể hay cái Thực Tại mà Thiền đề nghị với
mỗi chúng ta.
2. Tâm Ấn
: Thực Tại Thanh Tịnh Bản Nhiên
Khoảng
300 năm sau Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền sư Vô Ngôn Thông người
Việt Nam đắc pháp với Tổ Bách Trượng ở Trung Hoa và lập
ra dòng Thiền thứ hai của Việt Nam. Ngài nói với đệ tử
Cảm Thành, thế hệ thứ nhất dòng Thiền Vô Ngôn Thông rằng
:
“Xưa
đức Thế Tôn vì một nhân duyên lớn mà xuất hiện ở đời,
duyên giáo hóa xong, ngài vào Niết bàn. Chân tâm vi diệu này
gọi là Chánh pháp nhãn tạng, thật tướng vô tướng, tam
muội pháp môn, tự ngài trao truyền cho đệ tử là tôn giả
Ma Ha Ca Diếp làm sơ tổ, đời đời truyền nhau, đến tổ
Đạt Ma từ Ấn Độ sang, trải bao nguy hiểm, để truyền
pháp này cho đến Lục tổ Tào Khê, đắc pháp nơi Ngũ tổ.
Khi Tổ Đạt Ma mới đến, vì người đời chưa tin, nên lấy
việc truyền y để làm rõ việc đắc pháp. Nay đức tin đã
chín muồi, thì y bát là đầu mối của tranh chấp. Ngũ tổ
dặn : “Phải dừng lại ở nơi ông, không nên truyền nữa.”
Từ đó lấy tâm truyền tâm, không truyền y bát…
Ta
nhờ ở Bách Trượng mà đắc tâm pháp đó. Đã lâu nghe phương
này, hâm mộ Đại thừa cũng nhiều, nên ta về Nam để tìm
thiện tri thức. Nay gặp được ngươi, ấy bởi duyên xưa.
Hãy lắng nghe ta nói kệ :
Các
nơi đồn đãi
Dối
tự rao truyền
Rằng
thủy tổ ta
Gốc
từ Tây thiên
Truyền
pháp nhãn tạng
Gọi
đó là Thiền
Một
hoa năm cánh
Hạt
giống liên miên
Ngầm
hợp lời mật
Muôn
ngàn có duyên
Đều
gọi tâm tông
Thanh
tịnh bản nhiên.
Tây
thiên cõi này
Cõi
này Tây thiên
Xưa
nay nhật nguyệt
Xưa
nay sơn xuyên (núi sông)
Chạm,
tô thành trệ
Phật,
Tổ thành oan
Sai
nó mảy may
Mất
nó trăm ngàn
Ngươi
khéo quan sát
Chớ
lừa cháu con
Dẫu
có hỏi ta
Ta
vốn Vô Ngôn.
Nghe
xong lời đó, Sư (Cảm Thành) liền lãnh ngộ.
Có
vị tăng đến hỏi Sư : Thế nào là Phật ?
Sư
đáp : Khắp tất cả chỗ.
Lại
hỏi : Thế nào là Phật tâm ?
Sư
đáp : Chẳng từng che dấu.
Lại
hỏi : Người học không hiểu.
Sư
nói : Lầm qua rồi vậy.”
* *
*
Tại
sao lại : ‘Các nơi đồn đãi, dối tự rao truyền’ ? Chẳng
phải trước đó ngài Vô Ngôn Thông đã thuật lại cho Cảm
Thành về lịch sử trao truyền của Thiền tông cho đến ngài
là tổ thứ mười kể từ Bồ Đề Đạt Ma đó sao ? Chẳng
phải Tổ Đạt Ma ‘gốc từ Tây thiên, truyền pháp nhãn tạng,
gọi đó là Thiền, một hoa năm cánh, hạt giống liên miên’
là một sự thật lịch sử đó sao ? Tại sao ngài Vô Ngôn
Thông lại cho rằng chuyện đó chỉ là chuyện đồn đãi hư
vọng (vọng tự huyên truyền) ?
Đứng
về mặt sự thật hay chân lý tương đối (tục đế) thì
tạm nói là có sự trao truyền xảy ra trong dòng lịch sử.
Nhưng đứng về mặt sự thật tuyệt đối, tâm ấn (mà ở
đây ngài Vô Ngôn Thông gọi là ‘pháp đó’ hay ‘chánh pháp
nhãn tạng’) đâu phải là một vật để có thể trao truyền
từ vị này sang vị khác, và sự trao truyền đó đâu phải
là một sự việc lập đi lập lại xảy ra trong thời gian.
Tâm ấn đó, pháp đó ‘gọi là chánh pháp nhãn tạng,
thật tướng vô tướng’ vốn hằng hằng trước mắt,
đâu phải là một vật để trao truyền, đâu thuộc ngôn ngữ
định danh phân biệt để có thể nói là có người trao và
người nhận, có hành động trao nhận diễn tiến theo thời
gian. Tâm ấn đó, cái thật tướng vô tướng đó chỉ có
thể ‘khai thị’ thì đúng hơn là ‘trao truyền’. Cái ‘khắp
tất cả chỗ’, cái ‘chẳng từng che dấu’ há đâu
phải là một vật để có thể chuyển giao theo dòng lịch
sử.
Chính
vì cho chuyện đó là sự đồn đãi hư vọng mà ngài Vô Ngôn
Thông đưa đệ tử Cảm Thành từ sự thật tương đối vào
sự thật tuyệt đối. Và do đó mà Sư Cảm Thành ‘lãnh ngộ’,
thấu hiểu ra được sự thật tuyệt đối tức là tâm ấn
này.
Nhưng
nếu Thiền sư Cảm Thành biết ơn ngài Vô Ngôn Thông bao nhiêu,
thì chúng ta, những kẻ sống sau Sư hơn ngàn năm cũng biết
ơn ngài không kém. Biết ơn vì ít ra chúng ta cũng được ngài
Vô Ngôn Thông bốc lên khỏi những thăng trầm mai một của
lịch sử khiến chúng ta có thể tin được rằng cái thực
tại ấy vẫn thường trụ với mỗi chúng ta. Cái ‘khắp
tất cả chỗ, chẳng từng che dấu’ ấy vẫn không bị những
chuyển dời của lịch sử mà đã đi khỏi mất với chúng
ta. Nó đã không vì lịch sử điêu tàn mà hao mòn già cỗi,
cũng không vì tiến bộ, phát triển mà tăng thêm trẻ trung,
đẹp đẽ. Nó vẫn có đó, ở ‘khắp tất cả chỗ’
và ‘chẳng từng che dấu’ với mỗi chúng ta. Nó vẫn chờ
đó – sự chờ đợi của vĩnh cửu – đến một lúc nào,
có một vị nào sẽ chỉ thẳng nó cho chúng ta như ngày xưa
tổ tiên chúng ta đã làm thế. Hay một lúc nào, những che
chướng (phiền não chướng và sở tri chướng) của chúng
ta mỏng bớt, tự thân chúng ta sẽ thấy nó. Nhưng hiện giờ,
bất chấp những che chướng tạm thời và tự tạo của chúng
ta, nó vẫn không hề che dấu, ngăn ngại chúng ta, nó vẫn
có đó trước mắt chúng ta, bởi vì nó ‘khắp tất
cả chỗ và chẳng từng che dấu’.
* *
*
Những
người ‘có duyên’ với nó, nghĩa là đã tiếp xúc, đã
tương ưng với nó ‘đều gọi’ đó là ‘tâm tông’. Tâm
tông là gì ? Tâm ở đây là bản tánh của tâm, thực tại
tối hậu nơi mỗi chúng ta, và khi chúng ta kinh nghiệm được
Tâm này thì tất cả vũ trụ đều là Tâm. Thí như tất cả
vũ trụ làm bằng cùng một chất là vàng, thế thì khi chúng
ta thể nghiệm được chất vàng đồng nhất trong tất cả
này, chúng ta thấy toàn thể thế giới là vàng ròng. Không
còn sự phân biệt ta người, đây kia, tốt xấu, thích ghét…
do đó mà không còn phiền não, do đó mà an vui. Chúng ta là
vàng, nghĩa là chúng ta là tất cả, và vàng đó ‘khắp
tất cả chỗ’ nên vàng không hạn cuộc vào một chỗ
nào, không vì một chỗ nào, một hiện tượng nào sanh diệt
mà vàng sanh diệt theo, do đó mà giải thoát. Vàng là tất
cả, nhưng vàng không riêng là một vật gì cả.
Thực
tại đó thì ‘thanh tịnh bản nhiên’, nghĩa là
nó chưa từng bị ô nhiễm bởi những phiền não của chúng
ta, chưa từng bị ô nhiễm bởi thế giới tạo thành bằng
không gian hạn hẹp, chia cắt và thời gian một chiều bó buộc
của chúng ta. Nó vẫn hằng hằng như vậy và bởi vì hằng
hằng thanh tịnh như vậy, nó luôn luôn mới mẻ, trẻ trung,
sung mãn. (Chỉ những cái gì nhiễm ô, đóng khung chết cứng
trong tâm, những cái ấy mới nằm trong phạm trù cũ.) Khi chứng
ngộ được thực tại đó, chúng ta mới thấy mình chưa từng
nhiễm ô, chưa từng có một tư tưởng nào sanh khởi và lưu
lại, chưa từng có một ngày bì bõm trong sanh tử, hay nói
theo kinh Viên Giác, “mới hay sanh tử Niết bàn chỉ là giấc
mộng hôm qua”.
Đứng
trong thực tại, nghĩa là ở trong cái ‘thanh tịnh bản
nhiên’ này, trong ‘chánh pháp nhãn tạng’
này, mới thấy những sự đến đi, những sự truyền vào,
nối tiếp hay đứt đoạn, những sự kiện lịch sử ‘gốc
tự Tây thiên, truyền pháp nhãn tạng’… đều chỉ là mộng
huyễn bọt ảnh, ‘dối tự rao truyền’. Bởi vì xưa nay
đều gồm đủ trong đó, Tây thiên hay Đông thiên đều gồm
đủ trong đó, một hoa năm cánh (không phải riêng quốc độ
nào) đều gồm đủ trong đó, tất cả không gian đều gồm
đủ trong đó, tất cả thời gian đều gồm đủ trong đó
:
Thanh
tịnh bản nhiên
Tây
thiên cõi này
Cõi
này Tây thiên
Xưa
nay nhật nguyệt
Xưa
nay sơn xuyên
Thiền
chỉ là chứng ngộ cho được cái hiện tại vĩnh cửu rõ
ràng trước mắt này mà thôi vậy.
* *
*
Bởi
vì thực tại vốn thanh tịnh như vậy (thanh tịnh bản nhiên),
nó không cần tư tưởng của chúng ta nâng đỡ, tô vẽ, thêm
bớt gì cho nó cả. Trái lại càng xúc chạm đến nó, càng
tô điểm cho nó bằng những ý niệm thì cái thấy nguyên sơ
của chúng ta về nó lại càng méo mó, hư giả, ngưng đọng,
vướng mắc. Ở mức độ cao hơn, nó không cần quán tưởng,
định tâm gì với nó cả. Quán tưởng, tập trung chỉ làm
cho nó ngưng đọng, vướng mắc. Tất cả những tạo tác của
tâm thức chỉ tạo thêm những màn che, những méo mó giả
tạo giữa chúng ta và Nó. Đây là điều mà câu nói, ‘Ngay
trên cái nhìn thấy trần trụi mà giải thoát’, hay
câu kinh trong kinh Kim Cương ‘thấy các tướng chẳng
phải tướng tức thấy Như Lai’ diễn tả.
Nếu
xúc chạm, tô điểm, tạo tác với Nó, những cái trung gian
vô ích đó sẽ làm cho Pháp méo mó, và do đó mà hiểu lầm
cái mà Phật, Tổ muốn chỉ bày : ‘Phật, Tổ thành oan’.
Nói có Pháp (để ý chữ Pháp ở đây viết hoa) để tu, có
Pháp để chứng đó là nói oan cho Phật, Tổ. Cái không sanh
diệt vốn là không sanh diệt. Nó chẳng dính dáng gì đến
những cái sanh diệt. Thế mà khởi lên tư tưởng tu, tu thế
này tu thế nọ, rồi cho cái không sanh diệt là cái này cái
nọ, kết quả của cái này cái nọ. Tất cả những tư tưởng
khởi diệt đó chẳng tạo ra được cái vốn vô sanh, trái
lại chỉ đưa hành giả vào trong rừng rậm của sanh diệt.
Cái gì có sanh, cái đó phải diệt. Cái không sanh diệt thì
cần gì phải có tư tưởng nào sanh, phương pháp nào sanh để
rồi những thứ ấy sẽ diệt ? Nếu ở nơi sanh diệt mà tu,
thì những cái sanh diệt chỉ có ý nghĩa : cái gì đã hư vọng
sanh, phải đưa chúng về diệt ; cái gì sanh diệt đã hư vọng
sanh, phải “tu” cho chúng thành tịch diệt để cái không
sanh diệt lộ bày. Nếu cứ tạo tác trong sanh diệt để làm
ra cái không sanh diệt, đó là : “Sai Nó mảy may, mất
Nó trăm ngàn”.
* *
*
Thực
tại không thể làm ra, chỉ có thể quán sát Nó, thấy Nó.
Ở đây bài kệ cho chúng ta thấy cách thực hành của Thiền
sau khi ngộ được thực tại : ‘ngươi khéo quán sát’.
Công thức ‘khéo tự hộ trì’ là một câu nói thường thấy
của các Thiền sư dặn dò đệ tử sau khi đã ngộ được
Tâm. ‘Khéo tự hộ trì’ hay ‘Ngươi khéo quán
sát’ nói lên một điều : sau khi đã thấy được Nó, công
việc còn lại không phải là thêm thắt gì vào Nó, mà cứ
để nó nguyên trạng, không làm nó biến dạng bởi những
tư tưởng ý niệm của mình, và khéo léo hộ trì Nó, quán
sát Nó. ‘Ngươi khéo quán sát’ nghĩa là hãy thường thấy
Nó. Và ở đây chúng ta thấy vẫn là một nguyên lý của đạo
Phật : chúng ta thấy cái gì thì chúng ta là cái đó. Chúng
ta thường thấy cái gì thì chúng ta thường là cái đó.
Nếu
như trong một niệm chúng ta tương ưng được với Nó (nhất
niệm tương ưng) thì sau đó bèn là “niệm niệm tương ưng”
cho đến khi nó hoàn toàn tự tại, thoát khỏi mọi che chướng
do chúng ta tạo ra mà hiển lộ toàn vẹn. Công phu sau ngộ
chỉ là khéo hộ trì, khéo quán sát, thường thấy này.
Nếu
ngộ chính là cái Thấy, thấy được Nền Tảng không có tự
tánh hay Thật Tánh của tất cả các pháp (hiện tượng) thì
Con Đường là hộ trì cái Thấy này, hộ trì nền tảng này,
và Quả chính là cái Thấy đó đã thanh tịnh và mở suốt
trọn vẹn, Nền Tảng đó đã hiển lộ trọn vẹn. Như vậy,
Con Đường và Quả đều nằm trọn trong cái Thấy, cái Nền
Tảng. Nhưng vì nghiệp che chướng và cản trở của chúng
ta mà rất ít người trong nhân loại có thể chứng đắc cái
Thấy, Con Đường và Quả trong một lần, mặc dù chúng rốt
ráo chỉ là một. Thế nên trong mức độ chung, bình thường,
chúng ta chia ra làm ba : cái Thấy (Nền Tảng), Con Đường (Thiền
Định) và Quả. Thiền định hay tham thiền ở đây là khéo
tự hộ trì, khéo quán sát, thường thấy vậy. Tóm lại, một
khi đã thấy hay nhận biết hay xác quyết Nền Tảng, tất
cả sự tu hành, sinh hoạt của chúng ta đều dựa trên Nền
Tảng hay cái thấy này, và chính là sống trong Nền Tảng hay
cái Thấy này mà cuộc đời chúng ta nở hoa, kết quả.
Nếu
khéo quán sát, nếu không lìa khỏi Nền Tảng này – đây
là sự tu hành – chúng ta mới khỏi ‘chớ lừa cháu con’.
Và kết thúc bài kệ Thiền sư Vô Ngôn Thông đã dùng chính
tên mình để chỉ thẳng thực tại :
Dẫu
có hỏi ta
Ta
vốn Vô Ngôn.
Thực
tại chính là sự tịch diệt của mọi tư tưởng, mọi hý
luận : sự im lặng tối hậu của tất cả danh tướng cho
mọi sự tùy ý biểu lộ tùy theo duyên nghiệp của chúng.
Đó là cái chúng ta gọi là giải thoát.
3. Giải
Thoát Sanh Tử
Khi
một trong những vấn đề chính của Phật giáo là giải thoát
khỏi sanh lão bệnh tử, hay nói gọn là sanh tử, thì Thiền
tông là một con đường của Phật giáo, chủ đề chính của
Thiền phải là giải thoát khỏi sanh tử.
Nguyên
nhân nào khiến có sanh tử ? Tại sao có sanh tử ?
Trong
Nói Rộng Về Bốn Núi (Phổ thuyết tứ sơn), tức là giảng
về bốn núi Sanh, Lão, Bệnh, Tử, vua Trần Thái Tông có bài
kệ về núi Sanh như sau :
Trời
đất nấu nung vạn tượng thành
Xưa
nay không móng cũng không manh
Chỉ
sai hữu niệm quên vô niệm
Liền
trái vô sanh nhận có sanh
Mũi
lưỡi đắm tham hương lẫn vị
Mắt
tai mờ mịt sắc cùng thanh
Lang
thang làm khách phong trần mãi
Ngày
cách quê hương muôn dặm trường.
(HT.
Thanh Từ dịch)
(Châu
tể luân đào vạn tượng thành
Bản
lai phi triệu hựu phi manh
Chỉ
sai hữu niệm vong vô niệm
Khước
bối vô sanh thọ hữu sanh
Tỵ
trước chư hương thiệt tham vị
Nhãn
manh chúng sắc nhĩ văn thanh
Vĩnh
vi lãng đãng phong trần khách
Nhật
viễn gia hương vạn lý trình.)
Sanh
mở đầu cho tiến trình sanh, lão, bệnh, tử. Nhưng sanh khởi
đầu bằng cái gì ? Đó là do tâm sanh vậy (tâm khởi đầu
tất cả các pháp, tâm làm chủ – kinh Pháp Cú). Thế giới
có đầy đủ muôn hình tượng, tùy theo nghiệp mà có hình
thể, có quá trình sanh trụ hoại diệt. Nhưng ở trong Nền
Tảng, chúng có đó mà thật là không, động đó mà thật
là không động. Trong thật tế hay thật tướng, trong cái bản
lai thì “không móng cũng không manh”, chưa từng có một hạt
bụi dấy lên, sóng chưa từng tách lìa khỏi nước. Kinh Pháp
Hoa nói : ‘Các pháp từ xưa nay, thường tự tịch diệt
tướng.’ Chỉ vì tâm động cho nên có thế giới chỉ
toàn là chuyển động, vì tâm phân biệt khởi lên nên có
thế giới phân chia. Vì tư tưởng phân biệt khởi lên nên
có thời gian cách biệt, không gian cách biệt.
Quá
trình sanh tử chỉ là quá trình của tâm chuyển động thành
tư tưởng phân biệt sai lầm. Nói theo Kinh, Luận thì chỉ
do ‘một niệm bất giác’, hoặc nói như ngài Trần Thái
Tông, chỉ vì sai khác một cái bèn có niệm và như vậy là
quên đi, lìa ngoài cái vô niệm. Chỉ một niệm sai khác bèn
lìa khỏi Nhất Tâm để xoay chuyển, khúc xạ thành muôn ngàn
thứ tâm, muôn ngàn sai biệt, muôn ngàn hình tướng, muôn ngàn
vọng tưởng. Chỉ một niệm sai khác ‘liền trái vô sanh
nhận có sanh’. Từ tâm sai khác một niệm, bèn có ý thức
phân biệt chia cắt, và rồi đi xa thêm trong việc sử dụng
lầm lạc các giác quan. Một khi đã lìa khỏi vô niệm, vốn
là bản tánh của tâm, vốn là thực tại nền tảng, lạc
vào trong bộ máy nghiệp của tư tưởng và tri giác giác quan,
thì mỗi ngày mỗi cách xa quê nhà, tức là thực tại ‘xưa
nay không móng cũng không manh’ vốn hằng hằng vô niệm,
nghĩa là không bị vọng niệm làm ô nhiễm. Và bởi vì ‘xưa
nay không móng cũng không manh’ cho nên xưa nay không lìa khỏi
đương niệm, nghĩa là vẫn muôn đời trước mắt.
Như
thế, Thiền tông cũng như những tông phái khác của đạo
Phật, cho rằng khổ (sanh tử) và nguyên nhân của khổ chỉ
là tâm sai lầm. Sanh tử khổ đau này không ai tạo ra cả,
chỉ do chính mỗi chúng ta mà thôi, chỉ do chúng ta tự làm
biến dạng tâm nguyên sơ của mình để thành trùng trùng vọng
tưởng phân biệt. Có điều Thiền luôn luôn nhấn mạnh là
chúng ta không lạc xa đến ‘vạn dặm trường’ mà chúng
ta lạc ngay trên đất thật mà mỗi chúng ta đang đứng, lạc
ngay trên tâm địa của chúng ta. Chúng ta không cách xa quê
nhà đến muôn ngàn dặm, mà chúng ta ‘xưa nay’
vẫn ở quê nhà, có điều vọng tưởng vô tình và cố tình
làm cho chúng ta lạc lõng không thấy, không nhận biết điều
đó mà thôi. Tất cả chúng sanh luôn luôn ở trong Niết bàn
của chư Phật. Có điều chúng sanh chúng ta luôn luôn chuyển
hóa Niết bàn thành sanh tử bằng cái thấy sai lầm của mình,
còn các Bồ tát thì chuyển hóa sanh tử thành Niết bàn cũng
bằng cái thấy đúng của cácvị. Có lẽ chính vì quá gần
như vậy cho nên Thiền tự nhận là Đốn giáo.
Thế
thì giải thoát sanh tử chỉ là xóa bỏ, điều chỉnh sự
sai khác của tâm. Tâm đã sai khác thì vặn nó về chỗ cũ
của nó, chỗ bổn lai xưa nay của nó. Đưa tâm trở lại nguyên
vị chưa méo mó của nó thì thấy ngay thực tại : ‘Pháp
ấy trụ pháp vị, thế gian tướng thường trụ’ (Kinh
Pháp Hoa). Nó có trái đi mà nhận có sanh thì đưa nó về chỗ
không trái của nó, chỗ vô sanh của nó, chỗ bản tánh vô
sanh của nó. Đã lỡ ‘dụi mắt thấy quái’ (xem hai bài
tụng của Thượng sĩ Huệ Trung và vua Trần Thánh Tông đối
đáp với nhau) thì thôi dụi đi, để cho mắt trở lại trạng
thái cũ mà thấy ‘rỡ ràng thường tự tại’
(minh minh thường tự tại).
* *
*
Ở
một phương diện khác, chúng ta thấy rằng các Thiền sư Việt
Nam thường đi thẳng vào vấn đề sanh tử và tìm ra giải
đáp ở chính trong đó. Mặc dù giải đáp là chung, nhưng mỗi
người tùy theo cá nhân, cơ cấu tâm sinh lý đặc thù của
mình mà có một lối tiếp cận riêng.
“Vân
Phong hỏi thầy mình là Thiền sư Thiện Hội : Khi sống chết
đến làm sao tránh khỏi ?
Sư
đáp : Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.
Hỏi
: Thế nào là chỗ không sống chết ?
Đáp
: Ngay trong sống chết nắm lấy nó mới được.
Hỏi
: Làm sao mà hiểu ?
Đáp
: Ngươi hãy đi, chiều nay rồi đến.
Buổi
chiều Vân Phong lại vào, Sư bảo : Đợi đến sáng mai tất
cả chúng sẽ chứng minh cho ngươi.
Sư
hoát nhiên tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.”
Hoặc
một câu chuyện khác về vấn đề sống chết :
“Sư
Quảng Nghiêm một hôm nghe Thiền sư Trí Thiền giảng Tuyết
Đậu ngữ lục đến chuyện hai vị tôn túc Đạo Ngô và Tiệm
Nguyên đến chỗ người chết điếu tang và nói về việc
sống chết. Sư bèn có chỗ đắc, hỏi rằng : Một câu thoại
đầu này, cổ nhân nói ở trong sanh tử lại có lý ấy không
?
Thiền
sư Trí Thiền nói : Ngươi thể nhận được lý ấy chăng ?
Sư
thưa : Thế nào là lý không có sanh tử ?
Đáp
rằng : Chỉ ở trong sanh tử mà hiểu lấy nó.
Sư
thưa : Bèn vô sanh rồi vậy.
Thiền
sư nói : Tức tự hiểu.
Ngay
câu nói sư được triệt suốt, bèn hỏi : Làm sao bảo nhậm
(giữ gìn) ?
Thiền
sư nói : Rõ rồi lại sống như chưa rõ.
Sư
sụp lạy. Từ đó tiếng tăm vang khắp rừng Thiền.”
Qua
hai đoạn hỏi đáp trên, chúng ta thấy các Thiền sư không
giải thoát sanh tử bằng cách tránh nó, mà bằng sự nhìn
thấy thật tướng hay bản tánh của nó. Ở đây chúng ta xem
sự tiếp cận của Trí Bảo khi ở với Thiền sư Đạo Huệ
:
“Sư
Trí Bảo (?-1190) nghe tiếng Thiền sư Đạo Huệ (?-1073) đang
giáo hóa ở núi Tiên Du, bèn đến bái kiến, hỏi rằng : Sanh
từ đâu đến, chết đi về đâu ?
Thiền
sư Đạo Huệ đáp : Sanh không có từ đâu đến, chết không
có đi về đâu.
Hỏi
: Thế chẳng rơi vào chỗ hư vô ư ?
Đạo
Huệ nói : Chân tánh viên diệu, thể tự không tựa, vận dụng
tự tại chẳng đồng với sanh tử. Thế nên, sanh không có
từ đâu đến, chết không có đi về đâu.
Trí
Bảo nghe xong lãnh ngộ, nói :
Chẳng
nhân gió cuốn mây bay sạch
Sao
thấy trời xanh muôn dặm thu.”
Dĩ
nhiên những gì chúng ta nói bàn ở đây chỉ là ý niệm, ngôn
ngữ chứ không phải là thực tại. Còn cái gì sư Trí Bảo
lãnh ngộ, đó là kinh nghiệm ngộ, một kinh nghiệm vượt
khỏi ý niệm và ngôn ngữ, nghĩa là vượt khỏi sanh tử.
Nhưng chúng ta có thể thấy mơ hồ bằng ý niệm rằng sư
Trí Bảo đã lãnh ngộ tánh Không, cụ thể là tánh Không trong
sự việc ‘Sanh không có từ đâu đến, chết không có đi
về đâu’. Tánh Không ấy không phải là hư vô mà là ‘chân
tánh tròn đầy mầu diệu, thể tự không tịch, vận dụng
tự tại chẳng đồng với sanh tử’.
* *
*
Như
thế, một trong những giải quyết vấn nạn sanh tử của Thiền
là ở ngay trong sanh tử để thấy bản tánh của sanh tử chính
là tánh Không, do đó không có ai để tìm cách tránh và không
có cái để phải tránh đi đâu cả. Từ đây mà có những
bài ca giải thoát như Sanh tử nhàn mà thôi (Sanh tử nhàn nhi
dĩ) của Huệ Trung thượng sĩ.
Thiền
sư Giới Không, Thế hệ thứ 15, dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một
hôm không bệnh, Sư nói kệ dạy chúng :
Ta
có một việc kỳ đặc
Chẳng
xanh, vàng, đỏ, trắng, đen
Thiên
hạ tại gia, xuất gia
Yêu
sanh, ghét tử là giặc
Không
biết (nên) sanh tử khác đường
Sanh
tử chỉ là được mất.
Nếu
cho sanh tử khác đường
Lừa
cả Thích Ca Di Lặc.
Nếu
biết sanh tử sanh tử
Mới
biết lão tăng ở đâu
Các
người môn nhân, hậu học
Chớ
nhận vòng vo phép tắc.
Nói
kệ xong, Sư cười lớn một tiếng, chấp tay mà mất.
Chúng
ta đọc thêm một bài kệ của Thiền sư Đạo Huệ (?-1073)
cũng về chuyện sanh tử :
“Ngày
mồng một tháng tám năm Nhâm Thìn, Sư hiện bệnh, than rằng
:
Loạn
lạc tứ tung
Do
đâu mà đến ?
Nói
kệ rằng :
Đất,
nước, gió, lửa, thức
Nguyên
lai thảy cả Không
Như
mây tan rồi hợp
Phật
nhật chiếu không cùng.
Lại
nói :
Sắc
thân cùng diệu thể
Chẳng
hợp chẳng phân ly
Nếu
ai muốn rõ biết
Trong
lò (lửa) một cành hoa.
Đến
canh ba, Sư im lặng mà hóa.”
Ở
đây chúng ta lại thấy tánh Không là cách và cái giải quyết
thực sự cho sanh tử : “Đất nước gió lửa thức, nguyên
lai thảy cả Không’, nghe như bài Bát Nhã Tâm Kinh : ‘Quán
Tự Tại Bồ tát khi hành Bát Nhã Ba La Mật Đa sâu xa, soi thấy
năm uẩn đều Không, vượt tất cả khổ ách’. Và ‘sắc
thân cùng diệu thể, chẳng hợp chẳng phân ly’, ‘chẳng
hợp chẳng lìa’ này là một câu nói gặp rất nhiều trong
kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật. Có điều hình như Thiền Việt
Nam không chỉ nói một mặt Chân Không mà luôn luôn nhấn mạnh
mặt Diệu Hữu kia : ‘Phật nhật chiếu không cùng’, ‘Trong
lò (lửa) một cành hoa’.
Khi
nói Chân Không Diệu Hữu, ấy là nói đến một cái Không
đang hiện tiền, đang có mặt ; không phải là một cái Không
do các sắc tiêu tan, biến mất rồi mới có Không. Khi nói
sắc tức thị Không nghĩa là nói sanh tử tức là giải thoát,
không phải sanh tử tiêu tan mới có giải thoát.
Có
lần một vị tăng hỏi Tổ Vô Ngôn Thông : ‘Thế nào là
Phật ?’ Tổ đáp : ‘Khắp tất cả chỗ.’ Khi Phật là
khắp tất cả chỗ, thì giải thoát cũng khắp tất cả chỗ.
Bởi thế mà khi vua Lý Thái Tông hỏi Thiền sư Thiền Lão
: ‘Hàng ngày hòa thượng làm việc gì ?’ Sư đáp :
Trúc
biết hoa vàng phi (chẳng phải là)
ngoại
cảnh
Trăng
trong mây bạc lộ toàn chân.
Đó
là tất cả sanh tử và tất cả giải thoát của một Thiền
sư.
* *
*
Một
khi một người chứng ngộ được thật tướng của sanh tử
là Niết bàn, thì đồng thời vị ấy đầy đủ lòng đại
bi khi thấy tất cả chúng sanh đang quay cuồng trong nhà lửa
sanh tử, mỗi phút giây đều tạo nghiệp khổ đau cho chính
họ và cho người khác. Toàn thể cuốn Khóa Hư Lục của Trần
Thái Tông đều được viết ra với động cơ là lòng bi này,
bởi thế đoạn nào cũng biểu lộ một tấm lòng nồng nhiệt
muốn thúc bách người khác vượt qua sanh tử khổ đau mà
thật ra là không thật có ấy. Ở đây chúng ta trích ra một
đoạn trong Khuyến phát Bồ đề tâm để cho thấy mặc dù
ít nói về lòng bi, nhưng động cơ sống của một thiền sư
là lòng bi, toàn bộ ngôn ngữ của một thiền sư là hừng
hực thiết tha vì mục tiêu giải thoát khổ đau cho người
khác :
“Đã
nghe lời này, phải nên chăm học, chớ có chần chừ. Kinh
nói : ‘Một phen mất thân người, muôn kiếp khó được lại.’
Cho nên Khổng tử nói : ‘Người không chịu làm thì ta biết
làm thế nào.’
Rõ
ràng thay, ngày tháng trăm năm chỉ là phút chốc, thân huyễn
bốn đại đâu thể lâu dài. Càng ngày càng đắm trần lao,
mỗi lúc nghiệp thức càng mênh mông vô tận. Chẳng biết
một tánh viên minh, luống theo sáu căn tham dục. Công danh cái
thế có chút gì cũng là một trường đại mộng, phú quý
kinh người cũng khó khỏi vô thường hai chữ. Tranh ta tranh
người, rốt cuộc thành không ; khoe giỏi khoe hay, rốt cùng
chẳng thật.
Gió
lửa tan có chi già trẻ
Núi
khe tiêu tận mấy anh hung
Đầu
xanh chưa mấy lúc, tóc bạc đã sớm pha, ngày vui vừa qua thì
ngày điếu cũng tới. Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến
ân tình, bảy thước xương khô mặc sức tham lam tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào, sáng nay không chắc giữ được
sáng mai.
Sông
ái nổi chìm bao giờ dứt
Nhà
lửa đốt thiêu thuở nào xong
Chẳng
nguyện vượt thoát lưới nghiệp, chỉ vì chưa có công phu.
Diêm vương bỗng chốc kêu đòi, sứ giả há cho triển hạn.
Ngoảnh lại người thân đâu thấy, rốt rồi nghiệp báo tự
mang theo… Mười hai giờ cam chịu đắng cay, năm trăm kiếp
thấy đâu hình bóng. Chịu đủ tội nghiệp, lại tiếp luân
hồi. Bỗng mất thân hình thuở trước, đổi ra lấy vóc ngày
nay. Khoác lông mang sừng, đeo yên da ngậm hàm sắt, lấy thịt
nuôi người, dùng mạng trả nợ. Sanh thì bị nạn chày nện
dao bằm, sống thì gặp khổ nước sôi lửa bỏng. Gây thù
tích oán, xâu xé lẫn nhau. Bấy giờ dù có biết hối, học
đạo cũng không đường.
Chi
bằng gánh vác lấy ngay, đừng để kiếp này lỡ bước. Đức
Thích Ca bỏ hoàng cung đi thẳng vào Núi Tuyết. Bàng cư sĩ
đem gia tài đổ ngoài biển cả… Lục tổ mới gặp khách,
nghe kinh liền tỉnh ngộ. Đạo Thiền nếu không ban cho mùi
vị, hiền thánh sao chịu quy y… Đây là nguyên do để nghiệm
biết, chớ sanh chán nản thối lui…
…
Chúng là loài vật còn hay lãnh ngộ, huống là người sao chẳng
hồi tâm ? Hoặc có người vùi đầu trong ăn uống, qua mất
một đời. Hoặc tu hành lầm đường mà chẳng tỉnh ra ý
ấy. Đâu biết tánh giác Bồ đề mỗi mỗi viên thành, nào
hay căn lành Bát Nhã người người sẵn đủ. Chẳng cứ đại
ẩn tiểu ẩn, bất kể tại gia xuất gia, chẳng nề tăng tục,
chỉ cốt rõ tâm. Vốn không nam nữ, nào cần chấp tướng.
Người chưa hiểu dối chia tam giáo, hiểu được rồi đồng
ngộ Nhất Tâm. Nếu hay hồi quang phản chiếu, đều được
kiến tánh thành Phật.
Huống
chi thân người khó được, Phật pháp khó gặp. Nếu muốn
vượt vòng luân hồi sáu nẻo, chỉ có con đường tắt Nhất
Thừa. Cần tìm chánh kiến, chớ tin tà sư. Ngộ rồi mới
là vào đạo, hành được mới có thể thoát tục. Bước bước
dẫm lên đất thật, đầu đầu đều đội hư không. Khi dùng
thì muôn cảnh rỡ ràng, buông xuống thì một mảy bụi chẳng
lập. Đó là địa vượt sanh tử chẳng tương can, cơ liễu
ngộ chỗ quỷ thần nhìn chẳng thấu.
Là
phàm là thánh đồng vào một đường này, hoặc oán hoặc
thân đều cùng chung một lỗ mũi. Thật ngộ như thế, còn
trệ nửa đường. Hãy thôi nói ba huyền hướng thượng, cốt
rõ một cái tối hậu mà thôi. Hãy nói, nay thế nào là một
cái tối hậu ?
Núi
xanh nơi thấy trời lồng lộng
Sen
đỏ khi bừng, nghe nước thơm.”
4. Thực
Tại Trước Mắt
Thiền
là thấy thẳng Thực Tại. Thực tại đó không phải là không
có cái gì cả, như một vòng tròn trống không của bức tranh
Thiền tông số Tám, ‘Người, trâu đều quên’,
hay bức tranh Đại thừa số Mười, ‘Hết cả hai’,
mà là bức tranh Thiền tông số Chín, ‘Trở lại nguồn
gốc’ (Phản bổn hoàn nguyên) : đầy đủ nước biếc
non xanh, chim chóc cây lá…
Thiền
không phải là và cũng không nhắm đến những cảnh giới
của định (mà chúng ta thường gọi là Bốn thiền Tám định)
như là cứu cánh. Những cấp độ định chỉ là những trạng
thái, dù vi tế hoặc cùng cực vi tế, của tâm. Chúng có thể
dùng để huấn luyện cho tâm thức, chúng là những trạng
thái, những biểu lộ vi tế của tâm, nhưng chúng không phải
là bản tánh của tâm thức, chúng chưa phải là Tâm.
Người
xưa thường nói, bình thường tâm là Đạo. Cái tâm bình thường
này là nguyên trạng của tâm, bản tánh của tâm, nền tảng
của tâm và nó có mặt ở trong bất kỳ trạng thái nào của
tâm, trong bất kỳ không gian thời gian nào. Như nước có mặt
trong bất kỳ hình tướng biểu lộ nào của nước, trong bất
kỳ làn sóng nào. Thiền chính là bản tánh của tâm, cái tâm
bình thường, nguyên trạng không khúc xạ, méo mó này.
“Thiền
sư Đạo Hạnh (?-1115) nghe Kiều Trí Huyền hóa đạo ở Thái
Bình, sư thân đến tham vấn, trình hỏi chân tâm bằng bài
kệ :
Lâu
trộn bụi phàm chửa biết vàng
Chẳng
biết nơi đâu ấy chân tâm ?
Cúi
mong chỉ thẳng khai phương tiện
Thấy
trọn như như hết khổ tìm.
Trí
Huyền đáp lại bằng bài kệ :
Trong
ngọc bí thanh diễn diệu âm
Trong
đây đầy mắt lộ thiền tâm
Hà
sa cảnh là Bồ đề cảnh
Nghĩ
tới, Bồ đề cách vạn tầm.”
Phần
đời trước của sư Đạo Hạnh, cũng giống chúng ta hiện
giờ, ‘lâu nay trộn lẫn với bụi phàm’ nên dù nghe những
vị chứng ngộ nói rằng ‘thế giới này toàn bằng vàng
ròng’ thì cũng chưa biết vàng đó như thế nào. Chúng ta
chẳng biết ‘chân tâm ấy ở đâu’, nên xin ngài ‘chỉ
thẳng, mở bày phương tiện’, để ‘thấy trọn như như’
hết dứt khổ đau khao khát kiếm tìm.
Thiền
sư Trí Huyền đáp : Trong thế giới này là viên ngọc pha lê
trong vắt, có âm thanh bí mật diễn diệu âm, có âm thanh không
âm thanh, có âm thanh im lặng, diễn bày tất cả sự sống.
Trong cái ở đây và bây giờ, Tâm Thiền (Thực Tại) lộ bày
đầy mắt, có chỗ nào mà không là ánh sáng, có chỗ nào
chẳng phải là Nó. Hà sa cảnh là cảnh Bồ đề (Giác Ngộ)
: tất cả tư tưởng ngôn ngữ đều vô ích, dư thừa. Chân
tâm ấy vốn tự lộ bày như vậy, thế mà vừa khởi tư tưởng
(động niệm tức quai, động niệm liền sai), nghĩ ngợi toan
tính đi tới Nó, thì chính sự động niệm khởi tưởng tham
cầu loạn động ấy lại che mất Nó ; chính cái tư tưởng
tìm kiếm ấy lại làm cho cách xa mấy vạn tầm.
Thế
thì, chân tâm vốn hiện bày trước mắt, cái thực tại nền
tảng của tâm hằng hiện diện ở đây, chiếu soi ra qua các
giác quan thông suốt không ngăn ngại, thế mà do so đo phân
biệt, tính toan đủ thứ bèn tự làm nhiễu loạn, che lấp
chính mình. Muốn thấy Nó, hãy thôi trụ chấp vào những hình
tướng đặc thù để khởi lên tham ghét loạn xạ. Hãy để
cho tâm tự là chính nó, tự ở nơi địa vị vốn thật của
nó, không có tư tưởng làm cho méo mó biến dạng, không có
tham lam nắm bắt làm cho nó trở nên hình này tướng nọ.
Khi ấy căn và cảnh suốt thông trong một sự thanh tịnh, cảnh
nào chẳng phải là cảnh Bồ đề ? Khi ấy như hai tấm gương
sáng đối nhau, tâm cảnh thông suốt nhất như, cái gì chẳng
phải là Bồ đề ?
“Sư
mù mịt không hiểu mới tìm đến pháp hội của Thiền sư
Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân, hỏi rằng : Thế nào là chân
tâm ?
Thiền
sư Sùng Phạm nói : Cái gì chẳng phải là chân tâm ?
Sư
hoát nhiên tự nhận được, lại hỏi : Làm sao gìn giữ (bảo
nhậm) ?
Sùng
Phạm nói : Đói ăn khát uống.
Sư
lễ tạ từ giã ra đi. Từ đấy thêm pháp lực, duyên thiền
càng thuần thục, có thể sai rắn núi, thú rừng họp nhau
đến thuần phục. Sư cầu mưa, chữa bệnh, không gì không
tức khắc ứng nghiệm.
Có
vị tăng hỏi : Đi đứng nằm ngồi đều là tâm Phật, thế
nào là tâm Phật ?
Sư
dạy kệ rằng :
Cho
có, mảy may có
Là
không, thảy cả không
Có
không, trăng trong nước
Chớ
vướng có không không.”
Với
Thiền sư Sùng Phạm sư không hiểu, cũng như chúng ta mịt
mờ không hiểu, chỉ bởi vì sau một đoạn đời loạn lạc
khổ đau, vừa mới nghe có cái hằng hằng tịch lặng bình
an thì cái tâm thức loạn lạc ấy vội vàng truy tìm nắm
bắt. Có biết đâu rằng tâm vừa khởi tư tưởng nắm bắt
tìm cầu thì cái tuyệt không chủ thể đối tượng lại thành
ra đối tượng chủ thể. Tâm vừa khởi ý tìm cầu thì tâm
liền lìa khỏi địa vị của nó mà thành ra tướng, đại
dương vừa nổi gió tìm kiếm thì thành ra sóng. Với người
chưa thấy bản tánh của tâm là gì, tánh nước của đại
dương là gì thì chỉ lạc thêm vào trong tư tưởng, vào trong
những làn sóng, càng thêm rối loạn mịt mù. Đó là sự việc
hỗn loạn mà người xưa nói là cưỡi trâu tìm trâu, trên
đầu lại chồng thêm đầu, trên tuyết lại pha sương…
Cho
nên đến khi tâm ý hết đường, tâm ở yên trong chánh vị
của nó, không tạo tác, không biến đổi, không khúc xạ méo
mó, ngay lúc đó hỏi rằng, ‘Thế nào là chân tâm ?’ Thiền
sư trả lời : ‘Cái gì chẳng phải là chân tâm ?’, bèn
khoát nhiên tự nhận được. Cũng vẫn một chỉ thẳng, một
cách nói mà với thầy trước thì nhận không được, vì tâm
thức chưa chín muồi, chưa đủ thanh tịnh. Khi đủ thanh tịnh
thì nhận ra ngay : cái gì cũng là chân tâm, từ các tướng
cho đến các tưởng. Lúc đó chính tâm ấn lên tâm, chính
nó ấn lấy nó, chẳng sai trệch mảy may, như một tấm gương
soi trọn một tấm gương…
* *
*
Cũng
cái thực tại trước mắt này, Thiền sư Thường Chiếu (?-1203)
nói trong hai bài kệ :
Ở
đời làm thân người
Tâm
là tạng Như Lai
Chiếu
ngời khắp phương cõi
Tìm
đó càng bặt bóng.
Và
bài kệ thị tịch :
Đạo
vốn không nhan sắc
Mỗi
ngày mỗi mới khoe
Ngoài
đại thiên sa cõi
Nơi
đâu chẳng phải nhà.
Chung
quy của Phật pháp là cái thực tại hiện ở trước mắt
này. Trong kinh Pháp Hoa (phẩm Hóa Thành Dụ) đức Phật kể
:
Đức
Đại Thông Trí Thắng Phật thọ năm trăm bốn mươi vạn ức
triệu kiếp, đức Phật đó khi ngồi nơi đạo tràng phá quân
ma rồi, sắp được đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác
mà Phật pháp chẳng hiện ra trước mắt (hiện tiền). Như
vậy hết một cho đến mười tiểu kiếp, ngồi xếp bằng,
thân và tâm đều không động mà Phật pháp vẫn chẳng hiện
ra trước mắt (hiện tiền)…
Các
Tỳ kheo ! (Như vậy) đức Đại Thông Trí Thắng Phật trải
qua mười tiểu kiếp rồi, các Phật pháp mới hiện ra trước
mắt (hiện tiền) mà thành đạo vô thượng chánh đẳng chánh
giác.
Phật
pháp ở đây trong ngữ cảnh của kinh Pháp Hoa nói riêng và
Đại thừa nói chung, là Phật tánh hay Như Lai tạng hay Pháp
thân v.v… Thực tại ấy không còn bị vướng mắc bởi phiền
não chướng và sở tri chướng mà xuất hiện một cách trọn
vẹn trước mắt, thì đó gọi là Giác Ngộ.
Phật
pháp đó là Trí Huệ Như Lai (trong kinh Pháp Hoa gọi là Tri
Kiến Phật) trong lời nói của Thiền sư Trường Nguyên (1110-1165).
Sư thường bảo mọi người :
“Lạ
thay ! Lạ thay ! Tại sao các chúng sanh đây có đầy đủ trí
huệ của Như Lai mà ngu si mê lầm chẳng thấy chẳng biết.
Ta thường đem đạo dạy dỗ, khiến họ vĩnh viễn lìa vọng
tưởng chấp trước ở trong tự thân mà được thấy trí
huệ rộng lớn của Như Lai, lợi ích an lạc.”
Trí
huệ Như Lai này chính là ‘ở đời làm thân người, tâm
là tạng Như Lai, chiếu ngời khắp phương cõi…’ Trí huệ
Như Lai này mỗi chúng sanh chúng ta đều có đầy đủ, nghĩa
là vẫn thường tự hiện tiền, nhưng chúng ta chẳng thấy
chẳng biết vì bám chấp vọng tưởng ở trong tự thân. Và
khi thấy được nó thì :
Đạo
vốn không nhan sắc
Mỗi
ngày mỗi mới khoe
Ngoài
đại thiên sa cõi
Nơi
đâu chẳng phải nhà.
Thế
nên thấy được thực tại trước mắt mà không nhiễm ô
lẫn lộn với những hình tướng, với tư tưởng ý niệm
thì đó là Thiền :
Pháp
thân thanh tịnh Phật vô tướng
Sáng
lặng trong đầy như hư không
Hình
nghi chẳng mượn lấy thanh cầu
Dung
mạo can gì với sắc pháp.
Muôn
tượng đồng quy biển chân tánh
Mảy
trần chẳng nhiễm vốn nguồn linh
Rõ
ràng hiển hiện Phật chân thân
Lồ
lộ Như Lai thường đối diện.
(Thiền
sư Chân Nguyên)
* *
*
Tất
cả mọi sự đều quy về biển chân tánh này, thế nên tất
cả mọi việc tu hành đều quy về cái thấy, nghe, hay, biết
biển chân tánh này. Nhưng làm sao thấy biển chân tánh ấy
? Vì tất cả mọi sự đều ở trong biển chân tánh ấy nên
sự nào cũng là cái ‘khai phương tiện’ cho chúng ta biển
chân tánh ấy. Nói tóm, đối với Thiền tất cả mọi sự
đều là phương tiện để thấy chân tánh, vì mỗi sự vật
đều đang ở trong chân tánh ấy, đang là chân tánh ấy.
Mỗi
chúng ta đều đang ở trong chân tánh, mỗi chúng ta đều đang
tiếp xúc với chân tánh ấy, thế nên, nếu nói đến cách
tiếp cận thì có vô số cách tiếp cận, vô số lối vào,
vô số phương tiện. Ở đây chúng ta chỉ nói đến một phương
tiện, là sự tiếp cận chân tánh bằng con mắt thấy.
Thiền
sư Cứu Chỉ (tịch vào khoảng 1059-1065) nói với môn đồ
:
“Phàm
tất cả pháp môn, vốn từ tánh ngươi. Tất cả pháp tánh
vốn từ tâm ngươi. Tâm pháp nhất như, vốn không hai pháp.
Phiền não trói buộc, tất cả đều không. Tội phước phải
quấy, tất cả đều huyễn. Không gì chẳng phải quả, chẳng
phải nhân. Chẳng ở trong nghiệp mà phân biệt, chẳng ở
trong báo mà phân biệt. Nếu có phân biệt nghiệp, chẳng được
tự tại. Tuy thấy tất cả pháp mà không chỗ thấy. Tuy biết
tất cả pháp mà không chỗ biết. Biết tất cả pháp, nhân
duyên làm gốc. Thấy tất cả pháp, chánh chân làm tông. Tuy
vào thật tế, hiểu rõ thế gian đều như biến hóa. Thấu
rõ chúng sanh chỉ là một pháp, không có hai pháp. Chẳng bỏ
nghiệp cảnh, phương tiện thiện xảo, nơi hữu vi giới bày
pháp hữu vi mà không phân biệt. Tướng của vô vi, là do tận
dục tuyệt ngã, quên niệm so đo vậy.”
Ở
đây chúng ta chỉ chú ý đoạn nói về cái thấy. Như thế
nào để thấy được chân thân Phật, hay biển chân tánh,
mà ngài Cứu Chỉ gọi là pháp tánh ? Chúng ta sống ở đây,
trong thế giới này có đủ các hình tướng (các pháp) sai
biệt do nghiệp báo mà thành, nghĩa là do nhân quả, tức là
‘nhân duyên làm gốc’. Đã do nhân duyên sanh, nên không có
tự tánh, do đó mà ‘tất cả đều như huyễn’. Trong nghiệp
báo không có tự tánh, như huyễn’ ấy mà phân biệt, tâm
bèn trôi lăn theo các biến hiện của nghiệp, mất đi bản
tánh vốn tự tại của nó. Thế nên ở trong gương mà phân
biệt theo các hình bóng phản chiếu trong đó, thì chỉ thấy
bóng chẳng thấy gương tự tại đâu. Còn nếu trong đó mà
không phân biệt, thì toàn thể bóng là gương ; ở trong gương
mà không phân biệt, thì tất cả hoàn lại nguyên trạng là
gương, do đó mà được tự tại, dù các bóng có thế nào.
Thấy
tánh, chỉ là ‘tuy thấy tất cả pháp mà không chỗ thấy’.
Khi cái thấy không trụ vào một vài hình tướng riêng biệt
nào, thì đây là toàn thể cái thấy, cái thấy toàn khắp,
đó gọi là thấy tánh. Tất cả bóng đều ở trong gương
nhưng vì gương toàn khắp không chỗ trụ nên chẳng bóng nào
làm ngăn ngại được gương. Cũng một đường lối tiếp
cận như vậy, kinh Kim Cương nói : Thấy các tướng chẳng
phải tướng tức thấy Như Lai. ‘Chẳng phải tướng’ là
không thấy các hình tướng riêng biệt, không trụ vào một
vài hình tướng riêng biệt, không trụ vào sự sai biệt của
các hình tướng. Nếu biết giải thoát cái thấy ra khỏi một
vài hình tướng riêng biệt, thì đó là thấy tánh. Đó gọi
là giải thoát ngay trên cái thấy.
‘Biết
tất cả pháp mà không chỗ biết’ cũng như vậy : biết mà
không phân biệt thì cái biết ấy là toàn thể tánh giác,
là tất cả pháp tánh. ‘Thấy tất cả pháp, chánh chân làm
tông’, ‘chánh chân’ ở đây nghĩa là ‘thấy rõ chúng
sanh (và tất cả các pháp) chỉ là một pháp, không có hai
pháp’. ‘Chánh chân’ như thế cũng là chánh kiến, nghĩa
là cái thấy không bao hàm sự phân biệt, không lọt vào sự
phân biệt của thức. Chánh chân là một cái thấy toàn thể,
không bị phân hóa biến dạng thành chủ thể và những đối
tượng. Ở trong một cái thấy như vậy, con mắt không còn
ở một chỗ nào, mà ở khắp tất cả chỗ. Khắp tất cả
chỗ đều là con mắt, đều là một con mắt vậy.
Tóm
lại, thực tại trước mắt là cái không phải chuyện cũ
cách đây hơn ngàn năm, cũng chẳng phải hôm nay mới có. Qua
sự chỉ dạy tha thiết của các Thiền sư ngày xưa, chúng
ta có thể lần vào để trực tiếp gặp nó, thể nghiệm nó,
tìm thấy cho cuộc đời của mình cái nền tảng đích thật,
hết trôi dạt tha phương, bất toại nguyện và khốn khổ
:
“Tướng
không là thật tướng, thân không tức Pháp thân, sạch trọi
trơn, trần trụi tự nhiên không vướng mắc, không một vật,
không thể nắm bắt. Nếu gọi là một vật, lại chẳng đúng
lý.” (Thiền sư Chân Nguyên – Kiến Tánh Thành Phật.)
5. Hiện
Tại Vĩnh Cửu
Vua
Trần Thái Tông, tức Trần Cảnh, vị vua đầu tiên của đời
Trần thời thanh niên không mấy vui, nếu không nói là bi kịch.
Trần Cảnh còn rất nhỏ đã được hầu cận Lý Chiêu Hoàng,
vua cuối cùng của đời Lý. Trần Thủ Độ là chú Trần Cảnh
đã bố trí cho Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và ít lâu sau nhường
ngôi cho chồng. Lúc đó Trần Cảnh mới 8 tuổi. Chưa có con,
Trần Thủ Độ lại ép Trần Cảnh lúc đó 19 tuổi giáng Lý
Chiêu Hoàng làm công chúa để lập Thuận Thiên, vợ Trần
Liễu, anh ruột của Trần Cảnh, lúc đó có thai đã ba tháng
lên làm hoàng hậu.
Trong
những năm làm vua có lần ông đã bỏ triều đình trốn lên
núi Yên Tử gặp Quốc sư Trúc Lâm, rơi nước mắt và nói
với Quốc sư : ‘Trẫm đương trẻ thơ, cha mẹ vội mất,
chơ vơ đứng trên dân chúng, không chỗ tựa nương. Lại nghĩ
sự nghiệp các vua thuở trước, hưng phế chẳng thường,
cho nên tìm đến núi này, chỉ cầu làm Phật không cầu gì
khác.’
Quốc
sư nói : ‘Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay nơi
tâm. Tâm tịch lặng mà biết, đó là Phật chân thật. Nếu
bệ hạ ngộ được tâm này thì lập tức thành Phật, chẳng
khổ công tìm cầu ở đâu khác bên ngoài.’
Sau
đây là lời tự thuật của vua Trần Thái Tông : ‘Trẫm phải
về kinh, miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng hơn chục năm,
mỗi khi rãnh việc lại hội họp các bậc cao đức để tham
thiền hỏi đạo. Còn như các kinh điển thì không kinh nào
không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cương, một hôm
đọc đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, vừa
mới gấp sách lại ngâm tụng, khoát nhiên tự ngộ. Lấy chỗ
ngộ đó làm bài ca này, đặt tên là Thiền Tông chỉ Nam…’
* *
*
‘Ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, hãy sanh khởi tâm không trụ
vào đâu cả. Trước kia vua Thái Tông khổ đau nhiều vì tâm
thức ngài đã trụ vào nhiều chuyện, nhiều biến cố, một
dòng tư tưởng và thời gian bất như ý của nghiệp riêng
của ngài. Sau một thời gian cầu đạo, tâm thức đã chín
muồi, và khi tâm thức đó chạm đến câu ‘hãy sanh khởi
tâm không trụ vào đâu cả’, nó bèn lọt vào cái không có
chỗ trụ đó ; nó tức thì rơi vào cái không có thời gian,
cái không có tư tưởng để tạo ra thời gian đó. Cái đó,
cái không chỗ trụ, không có thời gian, nghĩa là không có
nỗ lực để hướng đến một cái gì, là chỗ giải thoát
cho những cái có sanh diệt, có thời gian, có nỗ lực. Đó
là khoát nhiên tự ngộ…
An
tâm là đặt tâm vào trong nền tảng, trong bản tánh của nó
là vô tâm. An tâm là đưa tất cả những tư tưởng hoặc
quá khứ, hiện tại, hoặc vị lai – nghĩa là những cái đã
tạo ra dòng thời gian – vào trong nền tảng hay bản tánh
của chúng là cái vốn không nhiễm ô gì bởi tư tưởng…
Thiền
sư là một con người sống trong cái không có thời gian này,
hay nói đúng hơn, vẫn sống trong thời gian quy ước thế tục,
nhưng đồng thời cũng thể nghiệm thời gian quy ước thế
tục ấy xảy ra trong cái không thời gian, xảy ra trong hiện
tại vĩnh cửu.
Vua
Lý Thái Tông có lần đến chùa Thiền sư Thiền Lão và hỏi
Sư rằng : “Hòa thượng ở núi này đến nay được bao lâu
?”
Sư
đáp :
“Chỉ
biết ngày hiện tại
Ai
hay xuân thu xưa.”
Cái
‘ngày hiện tại’ này, nói theo ngôn ngữ và ý niệm Tây
phương cho dễ hiểu, là cái hiện tại vĩnh cửu. Hiện tại
vĩnh cửu này theo Thiền, không phải là chờ đến khi thời
gian chấm dứt, tư tưởng chấm dứt mới có mặt, mới hiện
bày. Cái hiện tại vĩnh cửu này nằm ngay dưới mỗi khoảnh
khắc thời gian, mỗi động niệm của tư tưởng. Hay ở một
mức độ thể nghiệm cao hơn, mỗi khoảnh khắc thời gian,
mỗi tư tưởng chính là sự biểu lộ của cái hiện tại
vĩnh cửu không thời gian, không tư tưởng này. Như đại dương
luôn luôn nằm dưới mỗi làn sóng, và ở mức độ thể nghiệm
sâu hơn, mỗi làn sóng chính là nước, là đại dương.
Tham
thiền là tương ưng, tham dự, sống với cái hiện tại vĩnh
cửu đó. Trong đó ‘tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện
tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc’ (Kinh Kim
Cương), nghĩa là không có thời gian :
Ai
hay xuân thu xưa
Trong
hiện tại vĩnh cửu này, hay trong thực tại, xưa, nay và mai
sau, dù có biến đổi dâu bể thế nào, cũng vẫn là ‘không
khác’ : ‘không sanh không diệt, không dơ không sạch, không
tăng không giảm’. Hay nói theo Tăng thống Huệ Sinh (?-1064)
‘ba ba lại ba ba’ trong bài kệ thị tịch của ngài :
Nước
lửa (mỗi) ngày xen nhau
Do
đâu chưa cần bàn
Báo
(tin) anh không xứ sở
Ba
ba lại ba ba(1)[2}
Lại
nói :
Xưa
nay đến tham học
Người
người chỉ phía Nam(2)[3]
Nếu
ai hỏi việc mới
Việc
mới trăng mồng ba
Trong
hiện tại vĩnh cửu này, có trước sau, cũ mới gì thì cũng
‘trước ba ba sau lại ba ba’. Có ‘việc mới’ thế nào
nữa thì cũng là sự và việc ‘như thị’, nghĩa là cũ hơn
tất cả quá khứ và mới hơn tất cả tương lai : ‘việc
mới trăng mồng ba’.
* *
*
“Thiền
sư Viên Chiếu (999-1090) thường trì kinh Viên Giác, hiểu rõ
pháp Tam Quán. Một tối trong lúc thiền định, sư thấy Bồ
tát Văn Thù cầm dao mổ bụng, rửa ruột rồi dùng thuốc
rịt vào. Từ đó những gì đã học trong lòng, trở thành
rõ ràng như từng biết, rõ sâu ngôn ngữ tam muội, thuyết
giảng lưu loát. Khi có vị tăng hỏi : ‘Chỉ có Phật với
Phật mới biết việc đó (câu này lấy từ kinh Pháp Hoa :
Chỉ có Phật với Phật mới có thể thấu rõ triệt để
thật tướng của các pháp). Thế thì việc đó là thế nào
?’
Sư
đáp :
Đường
hẹp chi chít trúc
Gió
thổi nhạc tự thành.”
Ai
nói trong đó có thời gian ư ?
* *
*
Một
người đã mở được cánh cửa của thời gian để bước
vào cái không có thời gian, cái cội nguồn vô sanh của thời
gian là một người tự tại, như Thượng sĩ Huệ Trung trong
Phóng Cuồng Ngâm :
Trời
đất liếc trông, hề, sao mênh mang
Chống
gậy rong chơi, hề, phương ngoài phương
Hoặc
cao cao hề mây đỉnh núi
Hoặc
sâu sâu hề nước trùng dương
Đói
thì ăn hề cơm tứ xứ
Mệt
thì ngủ hề chẳng quê hương
Lúc
hứng thổi, hề, sáo không lỗ
Chốn
sạch đốt hề giải thoát hương
Mỏi
nghỉ chút hề hoan hỷ địa
Khát
uống đầy hề nước tiêu dao
(Làm)
Láng giềng Quy Sơn hề chăn trâu tơ
Chung
thuyền Tạ Tam hề hát Thương Lang
Thăm
Tào Khê hề chào Lư Thị (Lục tổ Huệ Năng)
Viếng
Thạch Đầu hề bạn lão Bàng
Vui
ta vui hề cái vui Bố Đại
Cuồng
ta cuồng hề cái cuồng Phổ Hóa
Chà
chà giàu sang hề mây nổi
Ối
ối tháng năm hề (bóng) ngựa qua
Chen
chi hề đường quan gai góc
Chịu
sao hề thói đời thất thường
Sâu
thì lội hề cạn thì vén
Dụng
thì ra hề bỏ thì ẩn
Buông
bốn đại hề chớ nắm giữ
Xong
một đời hề thôi ruổi rong
Thỏa
nguyện ta hề được Ta xưa nay
Sanh
tử bức nhau hề dính dáng gì ta !
Nhưng
chúng ta chớ nghĩ rằng cái không có thời gian (sanh tử –
thời gian – bức nhau hề dính dáng gì ta !), cái không có
không gian (phương ngoài phương, chẳng quê hương…) là nằm
ở một nơi ‘mênh mang’ nào đó, một chốn ‘vô sở hữu
xứ’ nào đó, mà nó nằm ngay trong đời sống hàng ngày :
‘liếc trông’, ‘chống gậy’, ‘đói ăn’, ‘mệt ngủ’,
‘thổi sáo’, ‘đốt hương’…
Vẫn
lấy lời của Thượng sĩ để làm rõ thêm vấn đề thời
gian :
Khi
tâm sanh hề sanh tử sanh
Khi
tâm diệt hề sanh tử diệt
(Sanh
tử nhàn mà thôi)
Khi
tâm sanh thì sanh tử sanh, nghĩa là thời gian sanh. Khi tâm diệt
thì sanh tử diệt, nghĩa là thời gian diệt. Như vậy thời
gian hay không có thời gian đều ở trong tâm. Và khi tâm tự
tại thì nó làm ra sanh tử, thời gian cũng được mà không
làm ra sanh tử, thời gian cũng được. Nói cách khác, sanh tử
hay thời gian là trò chơi của một tâm tự tại, và tâm tự
tại đó chẳng dính dáng hề hấn gì với trò chơi của mình.
* *
*
Khi
nói rằng thời gian và tư tưởng biến mất trong cái ‘không
chỗ trụ’, chúng ta dễ nghĩ rằng cái không có thời gian
ấy, cái hiện tại vĩnh cửu ấy là một vĩnh cửu bất động.
Nhưng với các Thiền sư thì không phải như vậy. Thiền sư
Vạn Hạnh, người gắn bó hơn ai hết với thời gian lịch
sử – cũng có nghĩa là thời gian quy ước – mà cụ thể
là lịch sử triều Lý, đã nói rằng :
Ta
không lấy chỗ trụ để trụ, cũng không lấy chỗ không trụ
để trụ.
‘Không
lấy chỗ trụ để trụ’ nghĩa là không trụ vào đâu cả,
đó là cái không có thời gian. ‘Cũng không lấy chỗ không
trụ để trụ’ tức là cũng không trụ vào cái không có
thời gian, cái vĩnh cửu. Không trụ cả trong thời gian lẫn
vĩnh cửu là thế nào ? Khi ấy thời gian là sự lưu xuất
của cái không có thời gian, thời gian là trò chơi vô tự
tánh và vô trụ của cái không có thời gian. Sự ám ảnh về
cái thời gian một chiều ‘sanh lão bệnh tử’ đã chấm
dứt. Thời gian, mỗi khoảnh khắc mỗi khoảnh khắc (mỗi
niệm mỗi niệm) là sự biểu lộ của cái không thời gian,
cái vĩnh cửu, như mỗi bọt sóng là sự biểu lộ của đại
dương không hình tướng. Như vậy ‘không lấy chỗ trụ để
trụ’ nghĩa là không trụ vào đâu cả, người ta có được
tất cả cái không có thời gian, cái vĩnh cửu như hư không.
Và ‘cũng không lấy chỗ không trụ để trụ’ tức là cũng
không trụ vào cái không có thời gian như hư không ấy, người
ta bèn có tất cả thời gian như huyễn, như hoa đốm.
Mỗi
khoảnh khắc của thời gian chính là sự tự do tối thượng
của cái không có thời gian : sắc (thời gian, cái có hình
tướng, cái hữu hạn) tức là Không (cái không có thời gian,
cái vô hạn). Vượt thoát cả thời gian (sanh tử) lẫn vĩnh
cửu (Niết bàn) là người tự tại, người chơi đùa với
trò chơi đóng mở, ra vào của vũ trụ.
Một
hôm đệ tử Pháp Dung hỏi Tăng thống Khánh Hỷ (1067-1142)
: Rõ được sắc không, thì sắc là phàm hay thánh ? (Trong bối
cảnh ở đây, câu hỏi này có thể nói cụ thể thành : ‘Rõ
được cái thời gian hữu hạn và cái vĩnh cửu vô hạn, thì
thời gian hữu hạn là phàm hay thánh ?’)
Sư
trả lời bằng bài kệ :
Một
đời thôi hỏi sắc cùng không
Học
đạo gì hơn hỏi Tổ tông
Thiên
ngoại tìm tâm khôn định thể
Nhân
gian trồng quế há thành tùng ?
Trọn
cả càn khôn đầu sợi tóc
Nhật
nguyệt nằm trong hạt cải mòng
Đại
dụng hiện tiền trong tay nắm
Ai
hay phàm thánh với tây đông.