VI.
PHẨM PHÂN BIỆT HIỀN THÁNH
Phẩm
Hiền Thánh cùng hai phẩm Trí và Ðịnh tiếp sau nhằm nhân
quả giác ngộ. Phẩm Hiền Thánh phân biệt kết quả của
giác ngộ, gồm 38 bài tụng, chia ra làm ba loại chính:
1.
Nói về thể tánh của đạo gồm có tánh hữu lậu và tánh
vô lậu.
2.
Nói về đế lý do đạo chứng đắc, tức là Tứ đế Khổ,
Tập, Diệt, Ðạo và hai đế thế tục và thắng nghĩa.
3.Lấy
Thánh đạo để biện biệt về người, tức người nhờ thánh
đạo tu đoạn phiền não, chứng ngộ Tứ đế lý.
Nhưng
đây là phẩm phân biệt Hiền Thánh, kết quả của giác ngộ
là chính, nên trong ba đoạn lớn của toàn phẩm nêu trên lại
đặc biệt giải thích về đoạn thứ ba. Và đoạn này lại
chia ra làm ba tiết:
a.
Nói về sự tu Thánh đạo, gồm sự tu gia hạnh làm cho thân,
khí được thanh tịnh và bảy gia hạnh.
b.
Ước ba đạo biện người, tức là do kiến đạo, tu đạo,
vô học đạo mà có các quả vị sai khác.
Nói
về các đạo sai khác, tức sự sai khác của bốn đạo gia
hạnh, vô gián, giải thoát, thắng tấn.
Xem
đồ biểu ở trang sau. Trong biểu đồ ấy, chú trọng phần
thứ ba, tức phần lấy Thánh biện người. Trong phần
thứ ba này đề cập nhiều điều, nhưng tổng quát không ngoài
7 gia hạnh (7 phương tiện, 7 Hiền vị). Ðó là địa vị ngũ
đình tâm, biệt tướng niệm trú, tổng tướng niệm trú,
nõan, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất; vùng với 4 hướng, 4 quả
(cũng goi 4 đạo + 4 quả), cọng chung là 7 Hiền vị, 7 Thánh
vị, hoặc 27 Thánh vị (theo Thành Thật Luận, Kinh bộ).
Ðó là gồm tất cả các địa vị Hiền Thánh trong Tiểu thừa
giáo.
Xem
biểu đồ sau:
I.
ÐỒ BIỂU PHÂN KHOA PHẨM HIỀN THÁNH.
1.
Thể tánh của đạo
2.
Để lý do Đạo chứng đắc
3.
Lấy Thánh đạo biện người
3.1
Sự tu Thánh đạo
3.1.1
Sự tu (gia hạnh chung thân khí thanh tịnh)
3.1.2
Bảy gia hạnh (phương tiện): Ngũ đình tâm, Tứ niệm xứ,
Tứ thiện căn (noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất)
3.2
Ước ba đạo biện người
3.2.1
Kiến lập 3 đạo
a-
Ước hiện và Quả vị: về 16 tâm; Y đạo vị kiến lập,
Thánh quả
b-
Tu đạo và Vô học đạo: 9 hoặc, 9 đạo, các quả vị (từ
Dự lưu đến A-la-hán, hướng và quả)
3.3.2
Bảy hạng Thánh học vô học (Tùy tính hành, tùy pháp hành,
tín giải thoát, kiến chí, thân chứng, huệ giải thoát, câu
phần giải thoát)
3.3.3
Viên mãn học (vô học)
3.3
Các đạo sai khác (gia hạnh, vô gián, giải thoát, thắng tấn)
II.
ÐỒ BIỂU 7 HIỀN, 4 THÁNH, 2 PHẦN, 3 ÐẠO.
7
HIỀN,
4
THÁNH |
7
Hiền |
-
Ngũ đình tâm
-
Biệt tướng hiện trú
-
Tổng tướng hiện trú |
Thuận
giải thoát phần |
|
| 4
Gia hạnh: noãn, đảnh, nhẫn, thế đệ nhất |
Thuận
quyết trạch phần |
| 4
Thánh |
Dự
lưu hướng |
Kiến
đạo |
3
đạo |
Dự
lưu quả
Nhất
lai hướng
Nhất
lai quả.
Bất
hoàn hướng
Bất
hoàn quả
A-la-hán
hướng. |
Tu
đạo |
| A-la-hán
quả |
Vô
học đạo |
-ooOoo-
Phần
3: LẤY THÁNH ÐẠO BIỆN NGƯỜI
Có
ba đoạn:
Ðoạn
1: TU HÀNH THÁNH ÐẠO: Có ba tiết
*
TIẾT 1: THANH TỊNH THÂN KHÍ
Không
luận người nào, hễ đã vâng theo giáo mệnh của Phật thực
tiễn tu hành, trước hết phải thanh tịnh thân khí. Thân là
đồ chứa đựng giáo pháp, giáo pháp dựa nơi thân mà được
chuyển vận, nên gọi là thân khí. Có ba điều làm cho thân
khí được thanh tịnh:
1.
Thân tâm xa lìa.
2.
Hỷ túc, thiểu dục.
3.
An trú bốn thánh chủng.
1.
Thân tâm xa lìa: Thân tâm làm sao xa lìa? bên ngoài cắt
đứt sự giao duyên với bạn ác, đó là xa tướng uế tạp
của thân, gọi là thân xa lìa. Bên trong dứt bỏ các tư duy
phân biệt xấu xa điên đảo, đó là xa lìa tướng uế tạp
về tâm, gọi là tâm xa lìa. Tuy nhiên, muốn thân tâm xa lìa,
phải cần có động nhân thứ hai là hỷ túc, thiểu dục.
2.
Hỷ túc thiểu dục: Hỷ túc là vui vẽ hoan hỷ biết đủ
với những điều vật chất nhu dụng đã có được, không
chê xấu, khen tốt. Biết đủ là biết vừa đủ đối với
vật đã có, ít muốn là không ham muốn nhiều đối với những
nhu dụng chưa có. Người tu theo Phật, lấy sự giải thoát
làm gốc, để tâm được tự tại với cảnh giới cao siêu,
thì đối với những vật dụng tầm thường thiển cận bên
ngoài, không nên bận tâm câu nệ tham đắm. Ðó mới chính
là thiểu dục hỷ túc. Nếu giả sử cứ bận tâm tham đắm
những sự vật tầm thường thiển cận bên ngoài, thì tâm
sẽ nổi lên những ý gian tà tạp loạn, thân sẽ ưa giao du
với bạn ác, chắn chắn sẽ trở ngại lớn cho sự tu hành.
3.
An trú bốn thánh chủng: Ðó là
-
Thánh chủng hỷ túc đối với y phục.
-
Thánh chủng hỷ túc đối với ẩm thực.
-
Thánh chủng hỷ túc đối với trú xứ, ngọa cụ.
-
Thánh chủng vui đoạn trừ phiền não, vui tu thánh đạo (lạc
đoạn phiền não, lạc tu thánh đạo) nói tắt là lạc đoạn
lạc tu)
Trong
sự tu hành Phật đạo, khi chưa được thuần thục, đối
với cảnh vật, tâm dễ bị tán mạn, ham muốn thứ này vật
nọ. Nếu không an trú tu tập bốn Thánh chủng này, thì thân
khí khó trở thành thanh tịnh hoàn toàn, và Thánh vị không
dễ gì đạt được. Trái lại, khi đã an trú bốn điều này,
thì Thánh vị sẽ được thành tựu, nên gọi bốn điều đó
là Thánh chủng.
Phật
vì muốn hàng đệ tử dứt trừ bốn thứ tham ái đối với:
Y phục, ẩm thực, trú xứ, ngọa cụ, không thích tu thánh
đạo đoạn phiền não, nên mới dạy bốn Thánh chủng này.
Trung
A-hàm:1, kinh Thuyết Xứ nói: "Này A-nan, Ta cốt vì các thầy
dạy bốn Thánh chủng. Nếu hàng Tỳ kheo, Tỳ-kheo-ni khi được
y thô mà biết đủ, không cầu mong cho nhiều, cho tốt mới
vừa ý; nếu chưa được y kkông âu sầu, than khóc, đấm ngực,
si mê; nếu được y rồi, không nhiễm, không đắm, không muốn,
không tham, lại biết rời bỏ. Với sự hiểu biết đúng đắn
như vậy trong hki dùng y, thì sẽ được lợi lạc không biếng
nhác. Ðó là an trú thánh chủng từ xưa truyền lại (cựu
thánh chủng). Ðối với ẩm thực, trú xứ, ngọa cụ, cũng
giống như vậy. Và thích tu Thánh đạo, ưa đoạn phiền não,
nhờ đó cho nên không tự trách mình, không khinh chê người.
Hiểu biết cũng như vậy, thì sẽ được lợi lạc, không
biếng nhác. Ðó là an trú thánh chủng từ xưa truyền lại.
Này A-nan, thầy hãy đem bốn Thánh chủng này dạy cho các Tỷ
- kheo niên thiếu. Nếu các Tỳ-kheo niên thiếu được dạy
bốn thánh chủng này, họ sẽ an ổn, siêng năng, vui vẻ, thân
tâm không bị phiền não bức rức, trọn đời tu theo phạm
hạnh.
Trong
bốn Thánh chủng, ba thánh đầu là ba sự hỷ túc, làm trợ
duyên tu hành, Thánh chủng thứ tư mới là chánh nghiệp tu
hành.
*
TIẾT 2: BẢY HIỀN VỊ
MỤC
1: Ðịa vị Ngũ đình tâm
Tu
theo Phật đạo, khi làm cho thân khí được thanh tịnh rồi
là bước lên địa vị tu ngũ đình tâm quán, là địa vị
ban đầu trong các địa vị Hiền Thánh. Ở địa vị này tu
năm pháp để làm đình chỉ năm căn bệnh của tâm, nên gọi
là đình tâm. Ðó là tu pháp quán bất tịnh, làm đình chỉ
tâm tham ái sắc dục, quán từ bi làm đình chỉ tâm sân hận
não hại, quán nhân duyên làm đình chỉ tâm ngu si, quán giới
sai biệt (quán năm uẩn, mười tám giới) làm đình chỉ tâm
chấp ngã, quán hơi thở ra vào làm đình chỉ tâm tán loạn.
Theo
đây hai pháp quán bất tịnh và trì niệm hơi thở, luận Câu-xá
12 gọi là hai môn chủ yếu để bước vào đường tu. Nên
ở đây nói rõ về hai môn đó.
Thứ
nhất, quán bất tịnh, như đã biết, đó là cách đối trị
lòng tham ái, nhưng cảnh vật khách quan làm cho khởi tham ái
có nhiều loại, nên lòng tham ái đối với cảnh vật cũng
không ít. Vậy nên, trước tiên phải nêu lên các loại tham,
sau đó mới nói đến hai phương pháp đối trị. Tính tham
ái có nhiều loại,vừa đối vật hữu hình vừa đối vật
vô hình, nhưng nặng nề và rõ rệt nhất là bốn thứ: tham
màu sắc, tham hình dáng, tham xúc chạm êm dịu, tham sự cung
phụng. Bốn thứ này có lúc cùng khởi, có lúc khởi riêng.
Có hai cách đối trị nó.
-
Cách đối trị riêng, là dùng bốn phương pháp đối trị
bốn thứ tham. Như khi khởi lòng tham về màu sắc của thân
người khác, thì quán đến màu xanh bầm, nhợt nhạt của
thây chết, rồi đối chiếu với màu sắc đang tham ái, tự
nhiên lòng tham ái màu sắc sẽ biến mất. Nếu khởi lòng
tham ái về hình dáng mày ngài, mắt phượng, lưng eo, tay vút,
thì hãy quán đến các hình dáng thây chết như phình trướng,
miệng há, chân tay co quắp, chim chó xé ăn, rồi đối chiếu
hình dáng đang tham ái, tự nhiên lòng tham ái hình dáng sẽ
biến mất. Nếu khởi lòng tham ái đối với sự xúc chạm
da thịt mịn màng, thơm tho thì hãy quán thây chết sau mấy
ngày, dòi trùng tụ lại đục khóet rồi đối chiếu với
sự xúc chạm êm dịu đang tham ái, tự nhiên lòng tham ái sự
xúc chạm êm dịu sẽ biến mất. Nếu khởi lên tham ái về
sự cung kính, cúng dường qua các oai nghi đi đứng ... thì
hãy quán thây chết nằm trơ như khúc gỗ rồi đối chiếu
với oai nghi, cung kính, tự nhiên lòng tham ái oai nghi cung phụng
sẽ biến mất.
-
Cách đối trị chung là chỉ dùng một phương pháp đối trị
cả bốn thứ tham, như khi khởi lòng tham ái đối với cả
bốn thứ trên, chỉ dùng một cách quán bộ xương (cốt tưởng)
là đủ để đối trị tất cả. Quán như thế nào? Quán thấy
da thịt tan rã, đâu còn nhan sắc tốt đẹp, dáng vẻ yêu
kiều, da thịt mịn màng, mặt mày tươi đẹp đáng ưa.
Có
ba giai đoạn quán bộ xương, đó là khi mới tập quán, khi
quán thuần thục, khi siêu tác ý. Luận Chánh Lý 59 nói:"
Người tu quán hạnh, khi muốn tu quán bất tịnh, trước phải
buộc tâm chú vào một nơi ở thân mình, hoặc ở ngón chân,
hoặc ở giữa chân mày, hoặc ở chót mũi v.v... tùy ưa thích
rồi chuyên chú tâm ở đó không dời đổi, khiến tâm được
thăng bằng, vững chắc. Rồi đem tâm này giả tưởng thấy
từ ngón chân là xương trắng, dần dần do sức thắng giải
rộng lớn, cho đến thấy cả toàn thân là một bộ xương.
Tiếp đó, tiến vào phép quán bất tịnh, duyên tướng xương
trắng ở bên ngoài, nghĩa là nhờ sức thắng giải tăng thêm,
quán thấy bộ xương bên ngoài ở cạnh mình, dần dần rộng
khắp cả một giường, một phòng, một chùa, một vườn,
một ấp, một nước, cho đến mé biển (vì đại hải không
chứa tử thi, nên không quán khắp mặt biển), chỗ nào cũng
là bộ xương. Và để sức thắng giải được tăng thêm nữa,
lại quán từ rộng giản lược lại đến chỉ còn bộ xương
nơi tự thân. Ðến đây thành tựu các quán bất tịnh, gọi
là địa vị mới tập quán của người tu Du-già (Du-già tu
sơ tập nghiệp vị).
Lại
muốn cho sức thắng giải mạnh hơn nữa, từ bộ xương đã
giản lược đó, quán giải lược thêm nữa, trước bớt bỏ
xương chân, chỉ quán các bộ phận khác, dần dần bỏ hết
chỉ còn bộ xương sọ và buộc tâm vào nơi đó. Rồi cũng
bỏ bớt một nửa, chỉ còn một nửa và buộc tâm quán ở
yên tại đó. Như thế gọi là địa vị tu quán đã thành
thục (dĩ thục tu vị).
Lại
muốn làm cho sức thắng giải được tự tại, nên bỏ luôn
cả phân nữa bộ xương đang quán, và buộc tâm ở giữa hai
chân mày, chuyên nhất an trú ở đó. Ðến đây là đã đạt
tới cảnh giới khó lường, nên gọi là địa vị vượt
khỏi phân biệt (siêu tác ý vị).
Thứ
hai, trì tức niệm (quán hơi thở), muốn đình chỉ tâm tán
loạn tháo động, điều cốt yếu là trì niệm hơi thở ra
vào. Lúc bắt đầu tập phải an tịnh thân tâm, tránh thở
quá mau hoặc quá chậm. Nếu thở quá chậm sẽ bị hôn trầm,
buồn ngủ hoặc tán loạn; nếu thở quá mau thì tâm sẽ bị
huyên tháo, rối loạn mất thăng bằng. Tránh được hai lối
thở quá mau hoặc quá chậm đó thì thân tâm sẽ được an
tịnh, có thể đếm hơi thở ra vào. Có bốn cách đếm:
-
Hít vào, đếm 1(chỉ đếm thầm trong tâm); thở ra đếm 2....
như vậy cho đến 10, không thêm không bớt. Rồi bắt đầu
đếm một, hai trở lại....
-
Thở ra hít vào, đếm 1; thở ra hít vào, đếm 2...cho đến
10, không thêm không bớt.
-
Với hai cách đếm trên, đếm thuận từ 1 - 10, không
rối loạn.
-
Với hai cách đếm trên, đếm ngược từ 10 - 1, không
rối loạn.
Nếu
tập được một trong bốn cách này, sẽ đối trị được
tâm rối loạn.Nhưng khi đếm, nếu phạm phải ba lỗi, thở
ít đếm nhiều, thở nhiều đếm ít, rối loạn thứ tự,
thì tâm không thể đình chỉ tán loạn, phải bỏ đi đếm
lại. Trong bốn cách trên, chọn cách nào cũng được, nhờ
quán lực đó chắc chắn sẽ làm thay đổi bộ mặt thường
ngày của cái tâm tán loạn điên đảo. Luận Câu-xá
22 nói: "Phép trì tức niệm lại còn mở đường cho năm tầng
quán lực là tùy, chỉ, quán, chuyển (hay hoàn), và tịnh. Bởi
khi chuyển được tâm tán loạn, tháo động, để ngung chú
vào một nơi, mới làm chỗ dựa cho quán trí cao hơn phát triển".
MỤC
2: Biệt tướng niệm trụ vị
Từ
ngũ đình tâm vị, tiến lên biệt tướng niệm trụ, tức
là quán riêng từng niệm thân, thọ, tâm hoặc pháp. Bởi tâm
hay khởi lên vọng kiến điên đảo, duyên theo thân bất tịnh
mà chấp tịnh, duyên theo thọ khổ mà chấp lạc, duyên theo
tâm vô thường mà chấp thường, duyên theo pháp vô ngã mà
chấp ngã. Nay muốn đối trị bốn vọng kiến điên đảo
ấy, phải dùng trí lực năng quán để quán thân bất tịnh,
quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngã.
Lối quán này có hai cách là quán riêng tự tướng và quán
riêng cọng tướng. Quán riêng tự tướng là quán tự tướng
của thân chỉ là sắc chất do tứ đại tạo thành (đại
chủng tạo sắc) gồm năm căn năm cảnh vốn là bất tịnh
thì đối trị điên đảo chấp tịnh. Quán tự tướng của
thọ chỉ là thọ tâm sở lãnh nạp cảnh thuận nghịch và
phi thuận phi nghịch, vốn là khổ thì đối trị chấp lạc.
Quán tự tướng của tâm chỉ là sáu thức tâm vương, vốn
là vô thường thì đối trị điên đảo chấp thường. Quán
tự tuớng của pháp chỉ do duyên hợp vốn là vô ngã thì
đối trị điên đảo chấp ngã.
Quán
riêng cọng tướng là quán bốn thứ thân, thọ, tâm, pháp
thứ nào cũng có đủ bốn tướng chung là thường, khổ, không,
vô ngã. Như quán thân, thấy thân cùng các pháp hữu vi đồng
là vô thường,cùng các pháp hữu lậu đồng là khổ, cùng
tất cả các pháp duyên hợp đồng là vô ngã, đồng là không.
Quán thọ, tâm, pháp cũng giống như vậy.
Với
hai cách quán tướng riêng và quán tướng chung ấy lại chia
ra tạp duyên và không tạp duyên. Ba niệm trú thân, thọ, tâm
chỉ là không tạp duyên; còn pháp niệm trú thông cảm tạp
duyên và không tạp duyên. Nếu chỉ quán riêng pháp là không
tạp duyên, nếu trong khi quán pháp còn ghép thêm một, hoặc
hai, hoặc ba, hoặc cả bốn mà quán, đó gọi là tạp duyên.
Nghĩa là trong khi quán pháp còn kèm cả thân, thọ, hoặc tâm
vào nữa, nên gọi là tạp duyên. Như đồ biểu sau:
| BỐN
NIỆM TRÚ |
Thân
niệm trú
Thọ
niệm trú
Tâm
niệm trú |
không
tạp duyên |
| Pháp
niệm trú |
tạp
duyên |
Về
tạp duyên:
| 2
hợp duyên: |
3
hợp duyên: |
4
hợp duyên: |
Pháp
với thân
Pháp
với thọ
Pháp
với tâm |
Pháp-thân-thọ
Thân-thọ-tâm
Pháp-tâm-thân |
Thân,
thọ, tâm, pháp
|
Tóm
lại, ở địa vị biệt tướng niệm trú, quán trí chưa cao,
không thể duyên chung cả thân, thọ, tâm, pháp, nên phải quán
riêng tự tướng từng thứ, không thể thêm thứ khác. Trái
lại, quán cọng tướng thì quán mỗi tướng đều có đủ
bốn tướng: vô thường, khổ, không, vô ngã, bởi bốn tướng
này là tướng chung mà pháp nào cũng đều có đủ. Nếu muốn
cho quán trí tăng lên mới theo cách hợp duyên thứ hai, thứ
ba, thứ bốn để quán.
MỤC
3: Tổng tướng niệm trú vị (địa vị quán chung cả bốn
niệm trú)
Từ
biệt tướng niệm trú tiến lên tổng tướng niệm trú. Trong
biệt tướng niệm trú, dù có hai hợp duyên, ba hợp duyên,
bốn hợp duyên, song chẳng phải duyên trực tiếp cả bốn
thứ, đến đây quán trí đã cao hơn, mới duyên được trực
tiếp chúng cả bốn thứ, thấy rõ nó là vô thường, khổ,
không vô ngã.
Sao
gọi là niệm trú? Ðay là biện biệt tự thể niệm trú, đại
ước có ba:
a.
Tự
tánh niệm trú: Lấy huệ làm thể tức là văn, tư, tu huệ.
Thay vì nhờ có niệm lực khiến huệ được an trú nơi cảnh
sở duyên, đúng hơn, lại chính là nhờ huệ lực mà làm cho
niệm lực được an trú nơi cảnh sở quán. Ðấy gọi là
niệm trú. Luận Câu-xá 22 nói:" Huệ làm cho niệm được
an trú, nên do nơi huệ mà có tên niệm trú, tùy chỗ quán
sát của huệ mà có sự ghi nhớ rõ ràng". Khế kinh nói:" Các
Thánh đệ tử cầm gươm trí tuệ, đoạn trừ tất cả phiền
não tùy miên, thẳng tới Niết-bàn, không quái ngại". Ðức
Thế Tôn cũng dạy:" Nếu đối với thân chuyên quán tuần
tự theo thân (Quán thân trên thân - ư thân trú tuần thân quán),
gọi là thân niệm trú. Ðối với thọ, tâm, pháp cũng thế".
Tuần tự quán thân được là do huệ, không huệ thì không
có khả năng quán, thế nên biết duy huệ mà được niệm
trú.
b.Tướng
tạp niệm trú: Tức lấy huệ và những pháp tương ưng
với huệ làm thể, Như vậy, không phải chỉ có huệ, mà
còn có cả các pháp câu hữu tương ưng với nó, cùng lúc
khởi lên, mới làm cho niệm được an trú nơi cảnh sở quán,
nên gọi là tướng tạp niệm trú.
c.
Sở duyên niệm trú: Lấy pháp sở duyên của huệ tức
là thân, thọ, tâm, pháp hoặc tất cả pháp làm tự thể cho
niệm trú.
Hỏi:
Trong ba thứ niệm trú này, thứ nào có công năng đoạn trừ
phiền não?
Ðáp:
Chỉ có tướng tạp niệm trú đủ khả năng đoạn trừ phiền
não. Còn tự tánh niệm trú chỉ có huệ đơn độc, không
có trợ bạn của huệ, không đủ sức đoạn trừ phiền não.
Còn sở duyên niệm trú, thì cảnh sở duyên quá rộng, không
thể tập trung lực lượng để đoạn trừ phiền não.
MỤC
4: Noãn vị
Như
trên đã dùng trí lực năng quán, quán chung cả bốn thứ:
thân, thọ, tâm, pháp. Tuy quán trí đã cao, đã tự tại, nhưng
muốn phát khởi trí vô lậu chân chánh, diệt trừ phiền não
mê lý, thiết thực tiến vào kiến đạo, lại cần phải nhờ
công sức gia hạnh làm phát khởi thiện căn thù thắng mới
được. Có 4 thiện căn thù thắng là: noãn, đảnh, nhẫn,
thế đệ nhất.
1.
Noãn pháp: Có nghĩa là muốn đốt cháy đống củi phiền
não phải nhờ ngọn lửa trí của vô lậu Thánh đạo. Ở
địa vị này tướng nóng của lửa đó mới bắt xuất hiện,
nên gọi là noãn (nóng).
Nhưng
ở địa vị này, tu hành như thế nào? Ở địa vị này quán
đủ
cả bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Ðạo ngang qua 16 hành tướng
(dạng tánh chất), nghĩa là dùng trí tuệ quán rõ bốn đế
đều có bốn hành tướng. Như quán Khổ đế thấy rõ nó
là vô thường, khổ, không, vô ngã; quán Tập đế, thấy rõ
nó là nhân, tập, sanh, duyên; quán Diệt đế thấy rõ nó là
diệt, tịnh, diệu, ly; quán Ðạo đế thấy rõ nó là đạo,
như, hành, xuất.
Quán
về bốn hành tướng của khổ đế. Khổ là quả báo của
ba cõi, là tất cả sự vật trong thế gian, nó là phiền não
bức bách thân tâm của hữu tình, nên gọi là khổ;
vả lại, từ thân tâm bên trong, đến vợ con thân quyến,
mọi người mọi vật bên ngoài, không một thứ gì thật là
sở hưũ của ta, nên gọi là không; những pháp đó lại
do nhân duyên mà sinh mà diệt, nên gọi là vô thường;
vả, chúng đã không thường trú như vậy, thì chúng cũng không
có một thật thể độc nhất chủ tể, nên gọi là vô
ngã.
Quán
bốn hành tướng của Tập đế. Tập là nguyên nhân của mê
lầm, chính do mê lầm (hoặc) tạo nghiệp, hoặc và nghiệp
làm nguyên nhân phát sinh khổ quả, như hạt giống sinh mầm
nên gọi là nhân, và chính do hoặc nghiệp chứa nhóm,
khổ quả mới phát sinh, nên gọi là tập; lại hoặc
nghiệp làm nhân cho khổ quả tương tục mãi nên gọi là sanh,
và nó cũng làm trợ duyên cho sự hình thành khổ quả nên
gọi là duyên.
Quán
bốn hành tướng của Diệt đế. Diệt đế tức Niết-bàn.
Niết-bàn do đoạn tuyệt 5 uẩn, nên gọi là diệt; dứt
hết ba độc phiền não tham, sân, si nên gọi là tịnh;
không còn sự khổ hay xấu xa nào nên gọi là diệu;
giải thoát mọi tai nạn nên gọi là ly.
Quán
bốn hành tướng của Ðạo đế. Ðạo là nguyên nhân giác
ngộ, tức là pháp vô lậu. Pháp này là con đường của chư
Thánh đi qua, nên gọi là đạo; nó khế hợp với chân
lý nên gọi là như; đi đến quả vị Niết-bàn nên
gọi là hành; vượt thoát sanh tử nên gọi là xuất.
Tất
cả mỗi đế đều được khởi lên trí quán sát thấy rõ
bốn hành tướng, hiệp lại gọi là 16 hành tướng:
ÐỒ
BIỂU 16 HÀNH TƯỚNG
| 16
Hành tướng của 4 Đế |
KHỔ
ĐẾ, 4 |
Vô
thường |
Vì
nương nhờ các duyên |
| Khổ |
Vì
phiền não bức bách |
| Không |
Vì
ngược với ngã sở kiến |
| Vô
ngã |
Vì
ngược với ngã kiến |
| TẬP
ĐẾ, 4 |
Nhân |
Vì
như giống sanh mầm |
| Tập |
Vì
làm cho quả hiện sanh |
| Sanh |
Vì
khổ quả tương tục bất tuyệt |
| Duyên |
Vì
trợ thành khổ quả |
| DIỆT
ĐẾ, 4 |
Diệt |
Vì
dứt hết 5 uẩn |
| Tịnh |
Vì
chỉ tức 3 độc |
| Diệu |
Vì
không còn khổ lạc |
| Ly |
Vì
thoát mọi tai nạn |
| ĐẠO
ĐẾ, 4 |
Ðạo |
Vì
là con đường đến Niết-bàn |
| Như |
Vì
khế hợp chánh lý |
| Hành |
Vì
hướng đến Niết-bàn |
| Xuất |
Vì
giải thoát sinh tử vĩnh viễn |
Quán
16 hành tướng của 4 đế như vậy có lợi ích gì?
Câu
tụng "Noãn tất chí Niết-bàn",chính là đáp lại câu hỏi
này. Theo đây nếu ai có được noãn pháp như vừa nêu trên,
dù họ có thể thối chuyển, khởi tà kiến, dứt thiện căn
tạo tội vô gián, đọa ba đường ác, nhưng chắc chắn không
ở lâu trong vòng sanh tử mà sẽ trở thành Thánh giả, thẳng
đến Niết-bàn.
MỤC
5: Ðảnh vị
Hành
giả tu noãn thiện căn tuần tự từ dưới lên giữa rồi
lên trên, đến lúc thành mãn cùng tột thì phát sanh thiện
căn thù thắng hơn, gọi là đảnh pháp thiện căn?
Sao
gọi là đảnh pháp?
1.
Trong bốn thiện căn, từ nhẫn vị trở lên gọi là nhẫn
bất đọa ác thú, từ nhẫn trở lên không còn bị đọa
vào đường ác. Noãn vị, đảnh vị gọi là động thiện
căn (thiện căn còn động chuyển).Nếu tiến thì khởi
thêm hai thiện căn bất động là nhẫn và thế đệ nhất,
nếu thối vẫn lại khởi hoặc tạo nghiệp, đọa vào đường
ác. Ðảnh là thiện căn ở chót đảnh trong hai thứ động
thiện căn đó, ví như chót đảnh của thân người cho nên
gọi là đảnh.
2.
Ðảnh vị này ở giữa chặn đường tiến thối. Tiến thì
lên nhẫn vị, nhất định không còn bị thối, mà dần bước
vào kiến đạo; thối thì trở lại nõan vị, rồi hoặc vì
tạo nghiệp bị đọa, ví như chót núi, ở giữa hai mặt tiến
thối lên xuống nên gọi là đảnh.
Nhưng
ở đảnh vị này tu hành như thế nào?
Cũng
như ở noãn vị, quán đủ 4 đế qua 16 hành tướng, và kết
quả là" đảnh chung bất đoạn thiện", vì khi được vị
này sau dù có thối chuyển, thậm chí tạo ác nghiệp, đọa
địa ngục cũng không bao giờ dứt bỏ thiện căn. Ðó là
điều tỏ ra công đức của vị này hơn noãn vị trước.
Hỏi:
Sao gọi là đoạn thiện căn?
Ðáp:Câu-xá
Luận 17 nói: "Nghiệp trong đường ác chỉ có tà kiến
thượng phẩm hoàn toàn mới đoạn thiện căn. Tà kiến này
là bác không nhân quả. Không nhân tức không diệu hạnh, ác
hạnh gì hết, không qủa tức không có qủa báo dị thục
gì hết".
MỤC
6: Nhẫn vị
Hành
giả tu đảnh thiện căn tuần tự từ dưới lên giữa, giữa
lên trên, khi thành mãn cùng tột lại phát sinh thiện căn thù
thắng cao hơn, đó là nhẫn vị. Ở địa vị này, đặc biệt
hành giả có tín tâm nhẫn ấn khả đạo lý Tứ đế, không
còn thối đọa, nên gọi là nhẫn. Ở vị thế đệ nhất
pháp, đối với lý Tứ đế cũng có tâm nhẫn khá cao, và
liên tục đi vào kiến đạo, không còn thối đọa, song không
quán đủ cả lý Tứ đế, nên không gọi là nhẫn. Nhưng nhẫn
vị này có ba bậc (phẩm): hạ, trung, thượng.
1.
Hạ
phẩm nhẫn: giống như hai vị nõan đảnh, quán đủ lý
Tứ đế, hướng đến Tứ đế ở Dục giới, quán 16 hành
tướng và hướng đến Tứ đế ở hai cõi trên quán 16 hành
tướng cọng chung 3 cõi là 32 hành tướng.
2.
Trung
phẩm nhẫn: Gọi là giảm duyên, giảm hành (4 đế cõi
Dục cọng 4 đế cõi Sắc và Vô sắc thành 8 đế làm cảnh
sở duyên, hành tướng duyên tới nó gọi là hành). Ðối với
32 hành tướng của 4 đế cõi dưới và hai cõi trên, khi quán
vòng thứ nhất thì quán từ hành tướng thứ nhất (tức hành
tướng khổ của Khổ đế) đến hành tướng thứ 31(tức
hành tướng của Ðạo đế) giảm trừ hành tướng thứ 32
không quán đến(tức hành tướng xuất của Ðạo đế), như
vậy gọi là giảm hành. Khi quán vòng thứ hai, lại quán
từ hành tướng thứ nhất đến hành tướng thứ 30, giảm
thêm hành tướng thứ 31 không quán đến... Cứ như vậy, lần
lượt quán đến vòng thứ 31 thì giảm hết 31 hành tướng,
chỉ còn lại một hành tướng Khổ đế ở Dục giới, gọi
là 1 hành 2 sát- na, tức lấy tâm trong 2 sát-na quán một hành
tướng khổ của Khổ đế còn lưu lại ở Dục giới, còn
31 hành tướng kia đều đã giảm trừ hết. Ðấy gọi là
7 vòng giảm duyên, 24 vòng giảm hành, tức là hễ quán 4 vòng
thì giảm 3 hành tướng và 1 duyên(1 duyên tức là trọn một
đế).
Những
căn cơ bước vào kiến đạo có lợi có độn, trong hạng
lợi căn thì có chấp ngã, chấp ngã sở; trong hạng độn
căn thì có ngã mạn tăng lên, giải đãi tăng lên. Người
chấp ngã thì sẽ do quán hành tướng "phi ngã" để vào kiến
đạo. Nếu chấp ngã sở thì sẽ do quán hành tướng "không"
để vào kiến đạo. Người có ngã mạn tăng lên thì sẽ
do quán hành tướng "vô thường" để vào kiến đạo, nếu
giải đãi tăng lên thì sẽ do quán hành tướng "khổ" để
vào kiến đạo.Thế nên, ở địa vị trung nhẫn này, tùy
căn cơ mà lưu lại hoặc ít hoặc nhiều hành tướng đã quán.
Nói
cách khác, 4 đế cõi Dục và bốn đế của hai cõi trên đều
là cảnh sở duyên, cọng lại thành tám cảnh sở duyên, mỗi
cảnh sở duyên có bốn hành tướng, vậy 8 x 4 = 32 hành tướng.
Khi quán, giảm hết một duyên, tức giảm hết bốn hành tướng,
thu hẹp dần cho đến khi chỉ còn quán một hành tướng "khổ"
của Khổ đế cuối cùng ở cõi Dục (tức còn một duyên
Khổ đế). Như vậy đã trải qua bảy vòng giảm duyên (giảm
bảy đế) và 24 vòng giảm hành (giảm 31 hành). Ðến đây
là vị trung phẩm nhẫn trọn vẹn.
Hỏi:
Tại sao ở vị trung phẩm nhẫn chỉ quán một hành tướng
khổ còn lại của Khổ đế?
Ðáp:
Nếu quán cả 8 đế của cõi Dục và 2 cõi trên như ở vị
hạ phẩm nhẫn, khởi lên đủ 32 trí liễu giải về 32 hành,
thì quán trí sẽ bị tán mạng, không đủ mãnh lợi, làm sao
thành thắng duyên để phát khởi thành chân trí vô lậu. Thế
nên, ở vị này, hãy quán duyên giảm thiểu mới đủ làm
cho trí lực tập trung dần dần mãnh lợi hơn. Luận Tỳ-bà-sa
5 có thí dụ: "Như người muốn đi đến nước khác, nhưng
tài sản nhiều quá, không đem đi được, mới đổi ra tiền,
vẫn ngại tiền nhiều, lại đổi ra vàng, vẫn sợ vàng nặng,
mới đổi ra châu báu quý giá, rồi đem châu báu quý giá tùy
ý đi tự do. Hành giả ở đây cũng vậy".
3.
Thượng phẩm nhẫn: Hạ phẩm nhẫn vị, trung phẩm nhẫn
vị được công đức như thế nào? Luận Câu-xá 23 nói: "Nhẫn
bất đọa ác thú". Nhẫn vị không còn tạo tội vô gián,
không đọa vào ác thú, đó là công đức. Ở cuối trung phẩm
nhẫn vị, với một hành tướng trong hai sát-na, tâm vô gián
khởi lên, thiện căn thù thắng thì gọi là thượng phẩm
nhẫn vị. Từ thượng phẩm nhẫn vị, dùng một sát-na
tâm quán một hành tướng khổ của Khổ đế cõi Dục (gọi
là một hành một sát-na), liền bước vào địa vị Thế đệ
nhất.
MỤC
7: Thế đệ nhất vị
Thiện
căn được phát sinh ở địa vị này là tột đỉnh với pháp
thế gian hữu lậu. Câu-xá luận 23 nói: "Vì là hữu lậu nên
gọi thế gian; vì là tột đỉnh nên gọi đệ nhất". Nghĩa
là pháp hữu lậu này tột đỉnh trong thế gian nên gọi là
Thế đệ nhất. Có sức sĩ dụng (công lực) làm nhân thoát
ly khỏi đồng loại, dẫn sanh ra Thánh đạo, nên gọi là tột
đỉnh (tối thắng). Cách tu của Thế đệ nhất cũng giống
như thượng phẩm nhẫn, duy chỉ đối Khổ đế, mỗi hành
tướng tu với mỗi sát-na tâm liền bước thẳng vào kiến
đạo, tức "nhập chánh tánh ly sanh" (nhập kiến đạo, Niết-bàn,
lìa sinh tử).
Trên
đây gồm cả ngũ đình tâm quán, biệt tướng niệm trú, tổng
tướng niệm trú gọi là thuận giải thoát phần. Vì
đây chỉ có văn tuệ, tư tuệ, chưa có tu tuệ. Gồm cả bốn
thiện căn noãn, đảnh, nhẫn, Thế đệ nhất,thì gọi là
thuận
quyết trạch phần. Giải thoát tức Niết-bàn, phần tức
nhân. Thiện pháp ngũ đình tâm thường thuận với Niết-bàn,
giải thoát, làm nhân cho giải thoát, nên gọi là thuận giải
thoát phần. Quyết là quyết đoạn, trạch là giản trạch,
phần là một phần. Trên đường tu tập có ba phần là kiến
đạo, tu đạo, vô học đạo. Quyết trạch có nghĩa là kiến
đạo, mà kiến đạo là một trong ba phần. Bốn thiện căn
noãn, đảnh, nhẫn, Thế đệ nhất là trợ duyên thuận lợi
cho phần kiến đạo (quyết trạch) đó, nên gọi là thuận
quyết trạch phần.
Tóm
lại, ba vị thuận giải thoát phần, bốn vị thuận quyết
trạch phần đều là phương tiện tư lương để đạt đến
thánh quả, nên gọi chuung là bảy phương tiện, hoặc là bảy
hiền vị, bảy gia hạnh.
*
TIẾT III: BỐN THÁNH VỊ
MỤC
1: Dự lưu hướng và dự lưu quả
Do
từ địa vị Thế đệ nhất pháp, liên tục không ngừng (vô
gián) phát khởi chân trí vô lậu đoạn trừ kiến hoặc, tư
hoặc của ba cõi, đó gọi là Thánh, gồm bốn bậc là Dự
lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán. Thánh vị Dự lưu là thành
quả đạt được từ vị Thế đệ nhất pháp, với quán trí
vô gián (chuyên nhất liên tục tức Thánh đế hiện quán),
phát ra 16 tâm vô lậu, quán rõ lý 8 đế của cõi Dục và
hai cõi trên(cõi Dục 4 đế, Sắc và Vô sắc 4 đế), mà đoạn
trừ 88 kiết sử thuộc kiến hoặc trong ba cõi, 16 tâm vô lậu
là:
1.
Khổ pháp trí nhẫn
2.
Khổ pháp trí.
3.
Khổ loại trí nhẫn
4.
Khổ loại trí.
5.
Tập pháp trí nhẫn
6.
Tập pháp trí.
7.
Tập loại trí nhẫn
8.
Tập loại trí.
9.
Diệt pháp trí nhẫn
10.
Diệt pháp trí.
11.
Diệt loại trí nhẫn
12.
Diệt loại trí.
13.
Ðạo pháp trí nhẫn
14.
Ðạo pháp trí.
15.
Ðạo loại trí nhẫn
16.
Ðạo loại trí.
Do
16 tâm này quán rõ lý Tứ đế, nên cũng gọi là Thánh đế
hiện quán (rõ ở sau). Trong 16 tâm gồm 8 nhẫn và 8 trí
này, bốn pháp trí nhẫn và bốn pháp trí là duyên, theo bốn
đế của cõi Dục mà phát sinh. Còn bốn loại trí nhẫn và
bốn loại trí là duyên theo 4 đế của hai cõi trên mà phát
sinh. Nhờ 16 tâm này dứt đoạn kiến hoặc trong ba cõi.
Pháp
trí nhẫn, pháp trí là trí tuệ trực tiếp quán lý Tứ đế
ở Dục giới. Loại trí nhẫn, loại trí là trí tuệ gián
tiếp quán lý Tứ đế ở hai cõi Sắc và Vô sắc. Vì Tứ
đế của hai cõi trên ở cách biệt giới và địa, không thể
quán trực tiếp được, mà chỉ quán theo cách loại suy với
Tứ đế của cõi Dục, nên gọi là lọai.
Nhẫn
là nhân, chỉ vô gián đạo,tâm tin nhận lý Tứ đế,
không có mảy may mê hoặc chen vào làm ngăn cách gián đoạn
(vô gián). Trí là quả, chỉ giải thoát đạo đã hiểu
rõ lý Tứ đế, chính thức lên địa vị kiến đạo, giải
thoát mọi kiến hoặc. Luận Câu-xá 23 nói: "Nhẫn là vô gián
đạo, ước theo sự đang đoạn hoặc mà được, vì không
còn bị cách ngại (vô gián). Trí là giải thoát đạo, do dứt
hết kiến hoặc mà được, cùng với được ly hệ quả khởi
lên một lúc, ví như thế gian đuổi giặc ra khỏi nhà đóng
cưả lại". Theo đây, hễ dứt hết kiến hoặc của một đế
thì phải có một vô gián đạo, một giải thoát đạo. Ngay
khi đang dứt hoặc, gọi là vô gián đạo, khi dứt hoặc xong,
gọi là giải thoát đạo.
Như
thế, đối với 8 đế ở cả ba cõi trên, dưới, khởi lên
vô gián đạo, giải thoát đạo, tức nhẫn và trí, cho đến
khi dứt hết kiến hoặc trong ba cõi thì gọi là Dự lưu quả.
Dự lưu nghĩa là dự vào dòng loại Thánh quả. Ở đây, người
tu Thánh đế hiện quán, từ vô thỉ đến nay mới bắt đ?u
dự vào hàng Thánh gia, nên gọi là dự lưu, và có chia ra nhân
vị, quả vị. Nhân vị gọi là dự lưu hướng, chỉ cho 15
tâm đầu đang trên đường hướng đến quả vị. Quả vị
gọi là dự lưu quả, chỉ cho tâm thứ 16 phát sinh, dứt hết
kiến hoặc.
Tóm
lại, từ vị Thế đệ nhất pháp đã lần lượt tu hành dồn
chứa công đức, làm cho trí lực được phát triển, nhưng
trí này còn thuộc hữu lậu, chưa thể đoạn hết kiến hoặc,
khi lên địa vị thánh đế hiện quán này, khởi lên 16 tâm
vô lậu, gồm 8 nhẫn 8 trí, quán lý Tứ đế một cách rõ
ràng như ở trước mắt, mới đoạn được 88 kiết sử kiến
hoặc của ba cõi. Trong lúc đoạn hoặc là Dự lưu hướng,
đoạn xong là Dự lưu quả ở địa vị kiến đạo.
Hỏi:
Sao gọi là hiện quán? Sao gọi là Thánh đế hiện quán?
Ðáp:
Hiện quán là chính một tâm thâm nhập kinh nghiệm đ?i tượng
một cách trực tiếp minh bạch, thân thiết, không trừu tượng,
không ngang qua sự phân biệt của ý thức, cũng không phải
là lối kinh nghiệm thường nhật (thường nghiệm). Thánh đế
hiện quán là hiện quán đối với lý Tứ đế. Có Tứ đế
tiệm hiện quán, và Tứ đế đốn hiện quán.
Tứ
đế tiệm hiện quán là trước tiên tập trung quán Khổ đế,
sau mới quán Tập đế, Diệt, Ðạo đế. Khi thấy Khổ, không
thấy Tập, tuần tự tiệm thứ quán và chứng kiến đế này
rồi tới đế khác, nên gọi là tiệm. Cho đến khi cả bốn
đế được hiện quán trọn vẹn, tức là chứng đắc sơ
qủa.
Tứ
đế đốn hiện quán là quán chung cả bốn đế dưới một
cọng tướng "không, vô ngã", trong một niệm trí tuệ phát
sinh, thấy rõ được một đế là thấy rõ tất cả bốn đế
(đốn hiện quán bốn đế) và chứng đắc sơ quả. Lại nhờ
đã trải qua một phen dụng công, nên khi kiến đạo, chỉ
thu gọn tập trung vào quán một Diệt đế, một khi phát sinh
trí như thật chứng nhập Diệt đế là chứng nhập trọn
cả bốn và chứng đắc sơ quả.
Tóm
lại, Tứ đế hiện đốn quán là chỉ cần thấy Diệt đế
mà đắc sơ quả; còn Tứ đ? tiệm hiện quán là tuần tự
thấy đủ cả bốn đế mà đắc sơ quả. Tứ đế tiệm hiện
quán là chủ trương của Hữu bộ, theo đây nếu chưa hiện
quán Khổ đế, thì không thể hiện quán Tập đế, DIệt đế,
Ðạo đế. Ngược lại, Ðại chúng bộ chủ trương Tứ đế
đốn hiện quán. Vậy giữa hai phái có mâu thuẫn nhau không?
Ðể giải đáp vấn đề này, phải hiểu hiện quán có ba
thứ:
1.
Kiến hiện quán: Chỉ cho vô lậu huệ duyên bốn Thánh
đế, hiểu đúng như thật và rõ ràng.
2.
Duyên hiện quán: Ðây là cảnh bốn Thánh đế vô lậu
mà huệ cùng với tâm, tâm sở pháp tương ưng với huệ đồng
thời duyên đến.
3.
Sự hiện quán: Chỉ các tâm tâm sở tương ưng nói trên,
cùng với các pháp câu hữu khác(đạo cọng giới, bốn tướng
sanh, trụ, dị, diệt, là câu hữu nhân của huệ, nên gọi
là câu hữu).
Ðồng
một sự nghiệp hiện quán Tứ đế, các học giả Hữu bộ
nhắm vào kiến hiện quán và duyên hiện quán, nên chấp
trước Tứ đế tiệm hiện quán; học giả Ðại chúng
bộ nhắm vào sự hiện quán, nên chủ trương Tứ
đế đốn hiện quán. Hai phái chẳng có gì mâu thuẫn nhau
cả.
MỤC
2: Nhất lai hướng và Nhất lai quả
Dự
lưu quả đã đoạn kiến hoặc trong ba cõi, nhưng tu hoặc trong
ba cõi thì chưa đoạn được, nên phải tiến lên ba quả sau
ở địa vị tu đạo mới dần dần đoạn hết tu hoặc. Trong
đó, Nhất lai và Bất hoàn là hai quả vị đoạn trừ tu hoặc
ở cõi Dục. Tu hoặc ở cõi Dục là gì? Xét về thể tánh
phiền não căn bản không ngoài bốn thứ là tham, sân, si, mạn.
Theo tính chất thô tế của tham,sân, si, mạn mà chia ra chín
phẩm bậc: Thượng thượng, thượng trung, thượng hạ; trung
thượng, trung trung, trung hạ; hạ thượng, hạ trung, hạ hạ.
Ðể đoạn trừ chín phẩm phiền não ấy, phải dùng chín
phẩm đạo tức dùng hạ hạ phẩm đạo để đoạn trừ thượng
thượng phẩm hoặc; dùng hạ trung phẩm đạo để đoạn trừ
thượng trung phẩm hoặc... Cho đến dùng thượng thượng phẩm
đạo để đọan trừ hạ hạ phẩm hoặc (hoặc, bằng vào
thô tế mà phân chia thượng hạ: Thô, thượng, vừa, trung,
tế, hạ, đạo trí, bằng vào sáng mờ mà phân chia thượng
hạ: Sáng thượng, vừa trung, mờ hạ. Dùng hạ hạ phẩm đạo
tức là đạo trí mờ mờ, đoạn thượng thượng phẩm hoặc
tức là hoặc thô thô).
Trong
lúc dùng đạo trí năng đoạn đoạn trừ chín phẩm tu hoặc
thì có chín vô gián, chín giải thoát đạo. Bởi đoạn một
phẩm hoặc thì phát sinh một vô gián đạo và một giải thoát
đạo(khi đang đoạn là vô gián, khi đoạn xong là giải thoát).
Ðối với chín phẩm hoặc của cõi Dục, đoạn hết năm phẩm
đầu thì gọi là Nhất lai hướng (Ðạo), đoạn hết phẩm
thứ sáu thì gọi là Nhất lai quả. Nhất lai là một phen trở
lại nhân gian, hay cõi Dục. Trong chín phẩm mới đoạn được
sáu phẩm đầu, còn ba phẩm sau buộc phải trở lại nhân
gian cõi Dục một phen mới đọan hết ba phẩm chót. Khi mới
đoạn sáu phẩm hoặc đầu là đạo nhân để hướng đến
đạo qủa Nhất lai, nên gọi là Nhất lai hướng.
Thánh
giả Nhất lai hướng đang lúc đoạn ba phẩm hay bốn phẩm
tu hoặc cõi Dục thì gọi là thánh quả gia gia, có nghĩa là
từ
nhà đến nhà, tức là từ nhân gian đến trời, hoặc từ
trời sanh lại nhân gian. Chín phẩm hoặc cõi Dục có năng
lực làm nhuận sanh bảy phen vào cõi Dục:
-
Thượng thượng phẩm là nhuận sinh hai phen,
-
Thượng trung, thượng hạ, trung thượng: ba phẩm, ba phen.
-
Trung trung, trung hạ: hai phẩm, một phen.
-
Hạ thượng, hạ trung, hạ hạ: ba phẩm, một phen.
Cộng
chung thành bảy phen sinh cõi Dục. Nay mới đoạn ba phẩm đầu,
còn sáu phẩm sau, nên còn phải ba phen sinh cõi Dục, gọi đó
là Tam sinh gia gia. Khi đoạn tiếp phẩm thứ tư, còn lại phẩm
thứ năm tức còn hai phen sinh cõi Dục, đó gọi là Nhị sinh
gia gia. Tam và Nhị sinh đều có chia Thiên gia gia và Nhân gia
gia. Thiên gia gia tam sinh là vị Thánh giả có ba phen sinh
cõi trời, hai phen sinh cõi người. Nếu vị ấy sau khi chứng
quả Dự lưu, ngay tại cõi trời, tiếp tục đoạn ba phẩm
tu hoặc đầu và chết tại cõi người sinh lên cõi trời (một
phen sinh cõi trời), ở cõi trời chết lại sinh cõi người
(một phen sinh cõi người), ở cõi người chết lại sinh cõi
trời (hai phen sinh cõi trời), ở cõi trời chết lại simh cõi
người (hai phen sinh cõi người). Cuối cùng ở cõi người
chết lại sinh cõi trời (ba phen sinh cõi trời). Ngay tại cõi
trời lần này, đoạn sạch phiền não, chứng quả A-la-hán.
Nhân
gia gia tam sinh tức vị Thánh giả có ba phen sinh cõi người,
hai phen sinh cõi trời. Nếu vị ấy sau khi chứng quả Dự lưu
ở cõi trời, bắt đầu đoạn ba phẩm tu hoặc và từ cõi
trời chết sinh về cõi người (một phen sinh cõi người),
ở cõi người chết lại sinh lên cõi trời (một phen sinh cõi
trời), ở cõi trời chết lại sinh cõi người (hai phen sinh
cõi người), ở cõi người chết lại sinh cõi trời (hai phen
sinh cõi trời), cuối cùng ở cõi trời chết lại sinh cõi
người (ba phen sinh cõi người), và ngay tại cõi người lần
này, đoạn hết phiền não, chứng A-la-hán. Còn Thiên gia gia
nhị sinh thì hai phen sinh cõi trời, một phen sinh cõi người;
Nhân gia gia nhị sinh thì hai phen sinh cõi người, một phen sinh
cõi trời. Chiếu theo trên sẽ rõ.
Hỏi:
Tại sao chỉ đoạn trừ một phẩm hay hai phẩm, hay năm phẩm
tu hoặc của cõi Dục lại không gọi là gia gia?
Ðáp:
Chắc chắn không thể có người đoạn một phẩm, hai phẩm,
không đoạn tiếp phẩm thứ ba mà giữa chừng lại chết đi
sanh lại. Cũng có thể có người chỉ đoạn năm phẩm, không
đoạn tiếp phẩm thứ sáu mà giữa chừng chết đi sanh lại.
Bởi vì vị Thánh giả sơ quả khi đoạn tu hoặc cõi Dục
là phải khởi lên sức gia hạnh lớn(cố gắng). Cho nên, hễ
đoạn được một phẩm hai phẩm là chắc chắn đoạn được
ba phẩm. Lại chỉ một phẩm hoặc thì không thể làm chướng
ngại việc chứng quả, cho nên đoạn phẩm thứ năm thì chắc
chắn cũng đoạn luôn phẩm thứ sáu.
Hỏi:
Tại sao chỉ đoạn trừ một phẩm hay hai phâím, hay năm phẩm
tu hoặc của cõi Dục lại không gọi là gia gia?
Ðáp:
Chắc chắn không thể có người đoạn một phẩm, hai phẩm,
không đoạn tiếp phẩm thứ ba mà giữa chừng lại chết đi
sanh lại. Cũng không thể có người chỉ đoạn năm phẩm.
không đoạn tiếp phẩm thứ sáu mà giữa chừng chết đi sanh
lại. Bởi vì vị Thánh giả sơ quả khi đoạn tu hoặc cõi
Dục là phải khởi lên sức gia hạnh lớn (cố gắng). Cho
nên, hể đoạn được một phẩm hai phẩm là chắc chắn đoạn
được ba phẩm. Lại chỉ một phẩm hoặc thì không thể làm
chướng ngại việc chứng quả, cho nên đoạn phẩm thứ năm
thì chắc chắn cũng đoạn luôn phẩm thứ sáu.
MỤC
3: Bất hoàn hướng và Bất hoàn quả.
Từ
Nhất lai quả tiến lên đoạn phẩm tu hoặc thứ sáu, bảy
thì gọi là bất hoàn hướng, đoạn hết phẩm thứ chín của
cõi Dục thì gọi là Bất hoàn quả. Bất hoàn nghĩa là ở
địa vị này đã đoạn hết toàn bộ tư hoặc của cõi Dục,
không bị thế lực của những tư hoặc đó lôi kéo lại cõi
Dục nữa. Khi đoạn hết ph?m tư hoặc thứ bảy, tám là đạo
nhân hướng đến đạo quả Bất hoàn, cho nên gọi là Bất
hoàn hướng, cũng gọi là Nhất sanh hay Nhất gián Thánh gia,
vì còn một phần tư hoặc thứ chín chưa đoạn, tức còn
phải một phen sanh cõi Dục, do đó làm cách ngại việc chứng
quả Bất hoàn nên gọi Nhất gián. Cũng có chỗ gọi là đoạn
ngũ hạ phần kiết thay vì gọi là đoạn chín phẩm tư hoặc
cõi Dục. Như Tạp A-hàm Kinh 34 nói, "Dứt sạch năm hạ
phần kiết, chứng được quả A-na-hàm". Trong kinh còn chia
quả Bất hoàn này ra làm năm thứ, bảy thứ hoặc chín thứ,
gọi là ngũ ban bất hoàn, thất ban bất hoàn, cửu ban bất
hoàn. Ngũ ban Bất hoàn là trung ban, sanh ban, hữu hành ban, vô
hành ban, thượng lưu ban, cộng thêm hành vô sắc ban, hiện
ban, thành bảy ban Bất hoàn.
1.
Trung ban: Ý nói Thánh giả Bất hoàn này, sau khi chết ở
cõi dục, chưa sanh đến cõi Sắc, ngay tại trung hữu vị phát
sanh sức Thánh đạo rất mạnh, đoạn hết tu hoặc của hai
cõi trên, thành A-la-hán mà nhập (ban) Vô dư Niết-bàn. Ví
như đập cái bát bằng sắt được đốt cháy cả ngày, một
mảnh vụn có thể vang ra và trở thành nguội lạnh liền.
2.
Sanh ban: Cũng goi là tổn hại ban, ý nói vị Thánh giả
Bất hoàn này chết ở cõi dục, sanh lên cõi Sắc không bao
lâu liền khởi sanh sức Thánh đạo rất mạnh, đoạn hết
các tu hoặc còn lại, thành A-la-hán và mệnh chung mới nhập
Vô dư Niết-bàn. Ví như mảnh vụn của cái bát sắt đốt
cháy, có thể văng ra, bay lên, rớt xuống chạm vào đất mới
trở thành nguội lạnh.
3.
Hữu hành ban: Ý nói vị Thánh giả Bất hoàn này chết
ở cõi dục, sau khi sanh đến cõi Sắc, qua thời gian lâu dài,
gia hạnh siêng tu mới có thể nhập Hữu dư y Niết-bàn. Ví
như mảnh vụn của cái bát sắt cháy đỏ có thể văng ra,
bay lên, rơi xuống đống cỏ hoặc củi rộng lớn, bốc lửa
khói, đốt cháy tiêu cỏ hoặc củi ấy, rồi mới trở thành
nguội lạnh.
4.
Vô hành ban: Ý nói vị Thánh giả Bất hoàn này chết ở
cõi Dục sanh lên cõi Sắc, trong thời gian rất lâu, không có
gia hạnh tu hành gì, tự nhiên được nhập Hữu dư y Niết-bàn.
Ví như mảnh vụn của cái bát sắt cháy đỏ có thể văng
ra, bay lên, rớt xuống trên một đống cỏ hay củi nhỏ, rồi
bắt lửa khói, đốt cháy tiêu hết đống cỏ hay củi nhỏ
đó, mới trở thành nguội lạnh, vì không còn nhiên liệu.
5.
Thượng lưu ban: Thượng lưu có nghĩa là đi lên. Vị Thánh
Bất hoàn này, sau khi sanh đến cõi Sắc nhưng không nhập Niết-
bàn tại đó, mà cứ chuyển sanh lên lần lần cho đến cõi
trời sắc cứu cánh mới nhập Niết-bàn. Ví như mảnh vụn
của cái bát cháy đỏ đó có thể văng ra, bay lên, rơi xuống
trên một đống cỏ hay củi to lớn, rồi bốc thành lửa khói,
đốt cháy đống cỏ hay củi to lớn ấy, thiêu cháy luôn cả
lùm cây rừng rậm, thảo nguyên, ruộng xanh, gò cao, dòng nước...rồi
mới trở thành nguội lạnh (Năm đoạn ví dụ trên đây, trích
trong Tăng Chi Bộ Kinh Tập III, Kinh Các Sanh Thú Của Loài
Người).
6.
Hành vô sắc ban: Vị Thánh Bất hòan này chết ở cõi dục,
không sanh đến cõi Sắc mà sanh đến cõi Vô sắc rồi nhập
Niết-bàn ở đó.
7.
Hiện ban: Vị Thánh bất hoàn này chính với thân hiện
tại mà đoạn hết tư hoặc của cả ba cõi và nhập Niết-bàn
ngay tại cõi Dục, chứ khỏi chờ sanh đến hai cõi trên.
Trên
đây, theo Hữu bộ, Hữu hành ban được sắp trước Vô hành
ban; trái lại, theo Kinh bộ, Vô hành ban trước, Hữu hành ban
sau. Như vậy, Kinh bộ đồng chủ trương với Tăng Chi Bộ
III, "Kinh Các Sanh Thú Của Loài Người" như trên đã nói
và Tạp A-hàm Kinh 29. Ngoài ra, luận Thành Thật
và luận chủ Thế Thân cũng đồng quan điểm với Kinh bộ.
Cửu
Bất hoàn là chín thứ Bất hoàn, tức đem Trung ban chia ba,
Sanh ban chia ba, Thượng lưu ban chia ba, thành chín.
Trung
ba chia ba là:
1.
Tốc ban, là sau khi chết ở cõi Dục, liền khởi Thánh
đạo và nhập Niết-bàn ngay. Ví như mảnh vụn của cái bát
sắt cháy đỏ có thể văng ra và nguội liền.
2.
Phi tốc ban, là sau khi chết một thời gian mới khởi lên
Thánh đạo và nhập Niết-bàn. Ví như mảnh vụn của cái
bát sắt cháy đỏ có thể văng ra, bay lên, rồi mới nguội
lạnh.
3.
Kinh cửu ban, là khi sắp sanh đến cõi Sắc thì khởi Thánh
đạo và nhậûp Niết-bàn. Ví như mảnh vụn của cái bát
sắt cháy đỏ có thể văng ra, bay lên, chưa chạm vào đất,
trở thành nguội lạnh. (Ba đoạn ví dụ này trích trong Tăng
Chi Bộ IIIA).
Sanh
ban chia ba là: Sanh ban, Hữu hành ban, và Vô hành ban như đã
giải thích trên.
Thượng
lưu chia ba là:
1.
Toàn siêu: Chỉ một lần vượt lên khỏi các tầng trời
là nhập Niết-bàn.
2.
Bán siêu: Cứ tuần tự vượt lên một tầng trời, ba tầng
trời, cho đến tầng trời thứ mười lăm (tr?i thiện hiện)
mà nhập Niết-bàn.
3.Biến
siêu: trong thời gian lâu, trải qua hết các tầng trời,
cuối cùng, tại tầng trời thứ mười sáu (Sắc cứu cánh)
mà nhập Niết-bàn.
Sở
dĩ chia ba thứ, Chín bất hoàn như vậy là do ba thứ nghiệp
hoặc và căn tánh của các thánh giả không đồng đều. Tạo
nghiệp "thuận trung hữu thọ báo" thì thành Sanh ban; tạo nghiệp
"thuận hậu thọ báo" thì thành Thượng lưu ban. Hạ phẩm
hoặc thì hiện hành nơi vị hành giả Trung ban; trung phẩm
hoặc thì hiện hành nơi vị hành giả Sanh ban; Thượng phẩm
hoặc thì hiện hành nơi vị hành giả thượng lưu ban. Hạng
thượng căn thì Trung ban Niết-bàn, hạng trung căn thì Sanh
ban Niết-bàn; hạng hạ căn thì Thượng lưu ban Niết-bàn.
Ngoài
ra, quả bất hoàn còn mang những tên khác như Thất thiện
sĩ thú, Kinh sanh bất hoàn, Thân chứng Bất hoàn.
MỤC
4: A-la-hán hướng và A-la-hán quả
Thánh
giả Bất hoàn đã dứt chín phẩm tư hoặc của cõi Dục,
từ đó tiến lên dứt phẩm tư hoặc thứ nhất ở cõi Sơ
thiền thì goi là A-la-hán hướng. Khi dứt hết phẩm tư hoặc
thứ chín ở cõi trời Hữu đ?nh thì gọi là A-la-hán quả,
ở địa vị Vô học đạo.
A-la-hán
là
tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Sát tặc (dứt phiền não), Bất
sanh (không sanh vào ba cõi), Ứng cúng (có công đức xứng đáng
được nhơn thiên cúng dường).
Tóm
lại, dứt hết kiến hoặc (tức 88 sử) của ba cõi, thấy
rõ lý Tứ đế, gọi là kiến đạo vị, chứng quả Dự lưu.
Còn 81 phẩm tư hoặc, cần phải tu mới dứt trừ được.
Khi tu để dứt trừ 80 phẩm đầu gọi là tu đạo vị, và
chứng những Thánh quả Nhất lai hướng, cho đến A-la-hán
hướng. Cuối cùng dứt hết phẩm tư hoặc thứ 81, thì chứng
quả A-la-hán và gọi là vô học đạo vị.
Nên
biết, từ Dục giới đến Phi tưởng phi phi tưởng gồm có
tất cả 9 địa, mỗi địa có 9 phẩm tu hoặc, như vậy 9
địa có tất cả là 81 tu hoặc. Ðể dứt trừ 81 phẩm tu
hoặc ấy thì có 81 đạo, nghĩa là mỗi đạo dứt một phẩm
tu hoạc. Song mỗi đạo lại còn có 2 phần là vô gián đạo
(lúc đang dứt một phẩm hoặc) và giải thoát đạo (lúc đã
dứt xong một phẩm hoặc). Như vậy, có 81 vô gián đạo và
81 giải thoát đạo, gọi chung là 81 đạo .
A-la-hán
có sáu thứ:
1.
Thối pháp A-la-hán: Vị này sau khi được quả A-la-hán,
thình lình gặp duyên khác liền vụt trở lại thứ lậu hoặc
vừa đoạn trừì sau chót mà bị thối thất quả chứng, lùi
xuống quả Bất hoàn, Nhất lai hay Dự lưu.
2.Tư
pháp A-la-hán: Vị này sợ thối thất quả A-la-hán, thường
nghĩ tới việc tự tại, muốn kết liễu mạng sống để
nhập Vô dư Niết-bàn.
3.
Hộ pháp A-la-hán: Vị này thường phòng hộ để khỏi
thối thất quả A-la-hán.
4.
An trú pháp A-la-hán: Vị này an trú quả vị A-la-hán đã
chứng được, tránh xa ngoại duyên để khỏi thối thất,
nhưng cũng còn gắng sức cầu tiến.
5.
Kham đạt pháp A-la-hán: Vị này có tánh kham năng tu hành,
luyện căn để mau đạt tới vị Bất động tánh A-la-hán.
6.
Bất động pháp A-la-hán: Vị này căn tánh rất lợi, một
khi chứng quả A-la-hán rồi, dù gặp sự tình gì cũng không
lay động, thối chuyển.
Trong
sáu thứ này, 5 thứ đầu gọi chung là Thời ái tâmgiải
thoát, tức là hằng thời, ái mộ và tâm giải thoát vậy,
gọi tắt là thời giải thoát. Vì phải chờ thời mới
có thể nhập định và tâm được giải thoát. Thời ở đây
có sáu trường hợp:
-
Lúc được ăn ngon.
-
Lúc được áo tốt.
-
Ðược ngọa cụ tốt.
-
Ðược chỗ ngồi tốt.
-
Lúc được nói pháp tốt.
-
Lúc được bạn đồng học tốt.
Bởi
năm thứ A-la-hán này đều là độn căn, nếu không chờ thời
cơ tốt, thì khó chứng qủa A-la- hán. Còn bất động tánh
A-la-hán vì lợi căn nên không cần chờ thời cơ tốt, vẫn
giải thoát dễ dàng hai kiến hoặc, tu hoặc, nên gọi là bất
thời giải thoát, cũng gọi là bất động và tâm giải
thoát. Vì vị này không còn bị phiền não làm thối động
và tâm được giải thoát luôn.
Trong
sáu thứ A-la-hán trên lại chia hai hạn thối và bất thối.
Thối có thối tánh và thối quả. Từ căn tánh bậc trên thối
xuống căn tánh bậc dưới, gọi là thối tánh, như từ kham
đạt pháp A-la-hán, thối xuống An trú pháp, Hộ pháp A-la-hán...
Còn từ quả A-la-hán thối xuống quả Bất hoàn, Nhất lai...gọi
là thối quả. Thối còn có ba nghĩa:
-
Thối mất công đức thù thắng đã được.
-
Chưa được công đức thù thắng cũng gọi là thối.
-
Những công đức đã được nhưng khi thọ dụng lại không
hiện ra.
Sáu
bậc A-la-hán trên, thối pháp A-la-hán chỉ thối quả mà không
thối tánh. Còn Tư pháp, Hộ pháp, An trú pháp và Kham đạt
pháp A-la-hán có cả thối tánh và thối quả. Trừ khi ở hữu
học vị mà trụ vào bốn tánh: tự, hộ, an, kham thì khi chứng
đến vô học vịA-la-hán cũng sẽ trụ vào bốn tánh đó,
không bị thối chuyển.
Lại,
sơ quả Dự lưu chắc chắn không thối, còn ba quả kia có
thể bị thối. Ðây là chủ trương của Hữu bộ. Kinh bộ
ngược lại, cho rằng Dự lưu và A-la-hán đều không bị thối,
vì Dự lưu đã dứt hết kiến hoặc thấy rõ lý Tứ đế,
còn A-la-hán thì dứt hết kiến hoặc và tư hoặc, không bị
phiền não gì trói buộc, nên không còn lý do bị thối. Hai
quả Nhất lai và Bất hoàn đang trên đường đoạn trừ tư
hoặc, nên không còn lý do bị thối, Vả lại, Kinh bộ dựa
vào hiện pháp lạc trú để gọi là thối và bất thối, chứ
không phải thối quả, vì nếu đã đắc quả thì là bất
động chứ không thối chuyển. Hiện pháp lạc trú là chỉ
cho tịnh lự (thiền định), nếu thối tịnh lự thì gọi
là thối