I. Ông
Vua có tâm phật
Nghiên
cứu đạo Phật Việt Nam chúng ta thấy rất rõ, thời Trần
nổi bật những ông vua Phật tử đáng kính. Vua Trần Thái
Tông, nhìn với cặp mắt nhà Thiền có thể nói Ngài là một
ông Vua Thiền sư. Tuy ngồi trên Ngai Vàng nhưng Ngài hiểu thiền
rất sâu, tâm thiền rất sáng và sống thiền rất đắc lực.
Qua tác phẩm Khoá Hư Lục và giây phút rời bỏ cuộc đời
của Ngài đã nêu rõ điều đó
Vua
Trần Thánh Tông cũng Thế, Thánh Đăng Lục ghi rõ cho thấy,
sức sống thiền của Ngài thật là vững vàng, đến mé bờ
sinh tử vẫn có sức tự chủ và sáng suốt mà một vị xuất
gia bình thường khó theo kịp.
Riêng
vua Trần Nhân Tông, quả là một ông vua Phật của Việt Nam
đúng với sự tôn xưng từ trước tới nay. Ngài có duyên
sâu với Phật từ thuở nhỏ.
Sinh
ra, thân sắc vàng như sắc Phật . Lớn lên năm 16 tuổi, được
vua cha lập làm Hoàng thái tử, Ngài hai lần cố xin nhường
lại cho em là Đức Việp, nhưng vua Thánh Tông không cho, vì
thấy Ngài có khả năng ghánh vác việc lớn. Trong khi đó,
lịch sử lại biết bao trang sử đau lòng, chỉ vì ngôi vị
mà cốt nhục tương tàn. Hạt giống Phật đã ngầm chứa
sẵn trong Ngài mà biểu lộ ra như thế.
Rồi
một hôm. Ngài lại vượt thành tìm về Yên Tử tu hành . Điều
này đâu có ai dạy Ngài. Nếu không vì chúng Phật tử ngầm
chứa trong Ngài nó thúc đẩy, thì cái gì khiến làm Ngài như
thế? Với cái nhìn của nhà Phật, đều có nhân duyên chứ
không phải ngẫu nhiên. Việc này lại trùng hợp với đức
Phật, khi làm Thái Tử Tất Đạt Đa cũng đã vượt thành
xuất gia tìm đạo. Song với vua Trần Nhân Tông, lúc ấy Vua
cha cho người tìm gọi về, Ngài đành phải về. Thiền sư
Chân Nguyên đã thuật lại trong Thiền Tông Bản Hạnh:
Đêm
ấy thái tử thoát ra du hành
Tìm
về Yên Tử một mình,
Đến
Đông Cứu sơn, thiên minh rạng ngày.
Giả
tướng lệ người thế hay,
Vào
nằm trong tháp một dây đỗ dùng
Tăng
tự thấy tướng lạ lùng
Làm
bữa cơm thiết cúng dàng cho ăn
Hoàng
Hậu liền tâu Minh Quân
Rao
bảo thiên hạ quần thần Đông Tây
Tìm
tòi Thái tử chớ chầy
Bắt
em thay trị liền tay tức thì…
Thuở
ấy Thái Tử lại về,
Vua
cha nhượng vì cho trị vạn dân
Rồi
tuy ở địa vị cao sang, quyền quý mà ăn chay, sống đạm
bạc không thụ hưởng đến nỗi thân ốm gầy, vua cha lại
phải gọi lại than:” Nay ta đã già, chỉ trông cậy một
mình con, con lại làm như thế, làm sao gánh vác sự nghiệp
của Tổ Tiên?”
Một
duyên lành với Ngài nữa là, được vua cha cho theo học với
Thượng Sĩ Tuệ Trung, một bậc Thiền Sư Cư Sĩ phi thường.
Nhân đây Ngài hiểu sâu về thiền. Trong lời tựa sách Tuệ
Trung Ngữ Lục, Ngài có thuật lại đoạn hỏi đáp với Thượng
Sĩ, Ngài hỏi:”Thế nào là tông chỉ của việc bổn phận?”.
Thượng Sĩ đáp:”Soi sáng lại chính mình đó là việc bổn
phận, chẳng tử nơi nào khác mà được”.
Ngài
được sâu ý chỉ này. Có thể nói, một câu đáp này thâu
tóm trọn cốt tuỷ của Thiền và gồm suốt giáo lý một
đời của đức Phật. Chư Phật, chư Tổ nói Phật đều vì
con người, người nghe pháp phải vượt qua ngôn ngữ văn tự
chết mà soi sáng lại nơi mình, chuyển những lời kinh khô
khan đó vào cuộc sống hiện thực đây, đó mới là Phật
pháp sống. Bởi vậy, thiền tông chủ trương “Giáo ngoại
biệt truyền, bất lập văn tự”, khiến người không chết
chìm trong đám rừng chữ nghĩa vô tri ấy. Vua Trần Nhân Tông
đã được Thượng sĩ khơi đúng mạch nguồn Phật pháp đó,
và Ngài tiếp nhận đúng lúc, lấy đó làm cửa mở vào Thiền.
II. Con đường
xuất thế:
Sau
hai lần lãnh đạo quân dân Đại Việt đánh thắng giặc Mông,
năm 1293 Ngài nhường Ngôi cho Anh Tông, lên làm Thái Thượng
Hoàng và chuẩn bị con đường xuất thế cho mình. Bước đầu
Ngài ở Vũ Lâm như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại:”Bấy
giờ Thượng hoàng ngự đi Vũ Lâm dạo chơi hang đá. Cửa
núi đá hẹp, Thượng hoàng đi chiếc thuyền nhỏ, Thái Hậu
Tuyên Từ ở đằng đuôi thuyền, gọi Văn Túc Vương lên đằng
mũi thuyền. Chỉ cho một phu chèo thuyền mà thôi. Kịp đến
khi Thượng hoàng xuất gia, khi Thượng hoàng sắp ra đi, bèn
mời Đạo Tải vào điện Dưỡng Đức, cung Thánh Từ ban cho
ngồi ăn đồ biển, làm thơ rằng:
Chân
rùa bóc đỏ mọng,
Yên
ngựa nướng vàng thơm.
Sơn
Tăng giữ giới sạch,
Cùng
ngồi chẳng cùng ăn.
(Hồng
thấp bác quy cước,
Hoàng
hương chá mã yên.
Sơn
Tăng trì tịnh giới,
Đồng
toạ bất đồng san).
(Trích
Toàn Tập Trần Nhân Tông)
Lúc
này vua đã ăn chay, giữ tịnh giới, chuẩn bị cho bước xuất
gia xắp tới.
Đến
tháng 7 năm 1299, Ngài cho xây dựng một am thiền trên núi Yên
Tử gọi là Ngự Dược Am, và theo Thánh Đăng Lục thì qua
tháng 10 năm ấy vua mới thực sự lên núi Yên Tử xuất gia
tu hành, sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Thiền Tông
Bản Hạnh ghi:
“Kỷ
Hợi Nhân Tông ra ngoài,
Quyết
lên Yên Tử tu chùa Hoa Yên.
Quần
thần nghĩa sĩ dưới trên,
Đưa
vua tu đạo thoát duyên phàm trần.
Đến
chùa Long Động mới phân,
Tất
trừ phiền não ái ân phát nguyền.
Nhân
Tông khắn khắn lòng tin,
Thành
tâm trai giới bước lên chiền già.
Cung
tần thể nữ trở ra,
Người
về phối thất, kẻ ra Kinh kỳ.
Mai
ai ra chợ về quê,
Canh
nông buôn bán làm chi mặc lòng”.
Tức
là lúc này quần thần, quyến thuộc tiễn đưa Nhân Tông vào
núi Yên Tử xuất gia tu hành, đến chùa Long Động mới chia
tay. Với cung nữ, Ngài cho tự do về quê lập gia đình hoặc
làm gì tuỳ ý, dứt khoát buông xả hết không coi là của
mình. Đây mới thật sự cắt đứt ân ái, xuất gia hành đạo.
Do đó có câu chuyện suối Giải Oan và làng Nàng làng Mụ.
Rày
trẫm đầu Phật xuất gia,
Trăm
đường rũ hết lòng hoà tiếc chi.
Chị
hầu, bà mụ, cung phi,
Mộ
đạo chẳng về cảm đức ở đây.
Lòng
vua thấy vậy thương thay,
Phán
rằng cho ở một nơi tâm tuyền.
Cho
nên tích để lưu truyền.
Làng
Nàng làng Mụ, phúc duyên đã chầy”.
(Thiền
Tông Bản Hạnh)
III. Tu hành
ở Yên Tử:
Vào
Yên Tử Ngài quyết tâm sống đời xuất gia giải thoát, từ
bỏ những hưởng thụ của thế gian, thực hành 12 hạnh Đầu-đà,
tức sống khổ hạnh, đạm bạc, lấy hiệu là Hương Vân
Đại Đầu-đà, sau đổi là Trúc Lâm Đầu-đà. Tên Trúc Lâm
này cũng là hiệu của Quốc Sư Trúc Lâm –viên chứng, một
bậc Thiền Tổ của Yên Tử đã khai thị cho vua Trần Thái
Tông”Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong tâm ta. Tâm
ta lặng mà biết đó chính là tâm Phật. Nếu bệ hạ giác
ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ,
không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài”.
( Lời
tựa Thiền Tông Chỉ Nam).
Một
ông vua anh minh, tiếng tăm vang dội, lại sống cuộc đời
đạm bạc đến mức tối đa nơi rừng núi, thì phải biết
lòng mộ đạo của Ngài rất chân thành. Trong đài Đắc Thú
Lâm Tuyền Thành Đạo Ca, một bản văn bằng chữ Nôm, Ngài
đã bộc lộ:
Công
danh chẳng trọng
Phú
quý chẳng màng.
Tân
Hán xưa kia,
Xem
đà nhàn hạ.
Kiếm
chốn dưỡng thân.
Khuất
tịnh non cao,
Náu
mình sơn dã
Vượn
mừng hủ hỷ
Làm
bạn cùng ta.
Vắng
vẻ ngàn kia
Thân
lòng hỷ xả.
Rồi
Dốc
chí tu hành,
Giấy
sồi vó vá
Và
Thân
này chẳng quản,
Bữa
đói bữa no.
Ngài
sẵn sàng từ bỏ công danh phú quý, sống ẩn mình nơi vắng
vẻ, buông bỏ tính chấp nơi thân tâm, ăn mặc đơn sơ, đói
no chẳng quản, tức quên Ngã mà hành đạo. Do đó mới có
được cái vui đến chỗ thành đạo, chứng ngộ thật sự,
nếm được pháp vị rõ ràng, không phải chỉ tu trên hình
thức, hoặc kiến giải suông trên chữ nghĩa, lý luận. Quả
là một HÀNH GIẢ đúng nghĩa!
Niềm
lòng vằng vặc
Giác
tính quang quang
Chẳng
còn bỉ thứ
Tranh
nhân chấp ngã.
IV. Phát minh
trí tuệ vô sư:
Chính
bằng công phu chân thật hành Thiền, Ngài đã thể chấp nhận
Thiền, mở sáng “trí tuệ vô sư”, thế gian khó bì kịp.
Trong bài Xuân Vãn, Ngài đã bày tỏ:
Niên
thiếu hà tằng liễu sắc không,
Nhất
xuân tâm sự bách hoa trung.
Như
kim khám phá Đông Hoàng diện,
Thiền
bản bồ đoàn khán truỵ hồng.
Thuở
bé đâu từng rõ sắc không,
Xuân
về rộn rã nức trong lòng.
Chúa
xuân nay bị ta khám phá,
Ngồi
lặng nhìn xem rụng cánh hồng.
Lúc
chưa hiểu đạo, còn bị ngoại cảnh chi phối, nên mỗi độ
xuân về lòng Ngài cũng bị động theo cảnh xuân, không làm
chủ được. Nhưng bây giờ, Ngài đã nhận ra chúa xuân tức
là ông chủ chân thật muôn đời, hay nói theo nhà Thiền là
“Bộ mặt thật xưa nay” của chính mình, là con người bất
sinh bất diệt từ vô thuỷ. Giờ đây ngài có thể giải đáp
chính xác cho câu hỏi:”Cái gì là ta?”, không còn nghi ngờ,
cuộc sống bây giờ mới thật sự có chủ. Điều này chứng
tỏ Ngài xuất gia là thực tu, thực ngộ, xứng đáng là bậc
Thiên Nhân Sư, thầy của trời người.
V. Sáng lập
thiền phái Trúc Lâm
Bằng
sự chứng ngộ Thiền lý sâu xa, Ngài dùng ánh sáng chân thật
đó, dung hợp ba dòng thiền đã có trước đó thành dòng Thiền
Trúc Lâm, mở ra phong trào học Phật mới.
Lấy
tông chỉ Thiền Tông “Giáo Ngoại Biệt Truyền, Bất Lập
Văn Tự, Trực Chỉ Nhân Tâm, Kiến Tánh Thành Phật” làm
chủ đạo, ngài linh động kết hợp giảng kinh thuyết pháp,
giúp cho người học Phật hiểu sâu kinh điển, chuyển những
lời kinh chết trong sách vở thành những bài kinh sống nơi
người, chứng minh cho Tâm Thiền sáng ngời không có gì sai
khác. Kinh đâu có lỗi gì? Lỗi do người chấp kinh. Thiền
đâu có gì sai khác? Sai là do người phân biệt. Kinh từ miệng
Phật nói, Thiền là Tâm Phật vốn chẳng phải là hai! Chính
tinh thần đó, các thiền viện của hệ Trúc Lâm do Hoà Thượng
Thiền sư Thầy chúng tôi đang hưỡng dẫn, vẫn đang áp dụng.
Bởi
người tu thiền đã sáng tâm thì đọc kinh sẽ hiểu ý nghĩa
sâu xa ngoài câu lời, do đó càng giảng linh động sáng tạo,
giúp người nghe sẽ dễ thâm nhập hơn. Bởi vậy, Thiền Sư
Pháp Loa giảng nhiều lần kinh Hoa Nghiêm, bộ kinh thuộc giáo
lý viên đốn cao siêu, mà người đến nghe rất đông,
cũng nói lên trình độ của người học Phật thời đó rất
cao. Như pháp hội giảng kinh năm 1322 tại chùa Bảo Ân có
trên 1000 người đi nghe. Buổi giảng nào ít người cũng có
khoảng năm, sáu trăm người.
Xét
kỹ, tông chỉ Thiền tông rất thực tế và gần gũi với
con người, lấy “ Chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành
Phật”, nhằm đánh thức mỗi người tự sống vươn lên.
Vì tâm mình mà không biết, vậy lo biết cái gì ở đâu xa?
Thành Phật là thành ngay trong tâm tánh mình đây thôi, không
phải thành ở trên núi cao, trên cõi trời xa xôi, chỉ cần
mình xoay lại chính mình, thì ngày đó là bờ mé:”Hồi đầu
thị ngạn”. Đó là lấy con người làm gốc, là tôn trọng
người, nâng cao giá trị con người, cũng là lý bình đẳng
với tất cả, vậy sao không khai thác?
Đúng
là thiền tông chỉ thẳng”Ngay trong đây, lúc này, người
này thôi”, rất hiện thực không có gì xa xôi, mập mờ hẹn
lại kiếp nào khác. Như lời khai thị của Trúc Lâm Điều
Ngự trong buổi đại tham ngày 9 tháng giêng nhuận năm Bính
Ngọ 1306 tại liêu Kỳ Lân:”Ngày tháng dễ trôi qua, mạng
người không chờ đợi, sao cam ăn cháo, ăn cơm mà không rõ
việc bát, việc muỗng”.
Nghĩa
là mình sống hàng ngày cầm muỗng, cầm thìa ăn cơm ăn cháo
nhưng tại sao không biết cái gì đang hiện hữu trong đó?
Chỉ lo nhớ bát, đũa, cơm cháo mà quên mất nguồn sống phát
ra từ những việc đó! Thiền tông nhắc nhở đánh thức người
mê khiến tỉnh ngộ trở lại chỗ này! Chính đó là mạch
sống của Phật pháp. Cho nên dù trải qua bao cuộc thăng trầm,
lịch sử nhưng ý thiền vẫn không mất, vì còn có con người,
còn có tâm thì còn có Thiền! Kinh sách, ngữ lục có thể
đốt cháy hư hoại, nhưng cái này làm sao đốt cháy hư hoại?
Làm sao hoại? Đây cũng chính là linh hồn của Yên Tử vậy.
Bằng chứng là những tác phẩm tinh yếu về Thiền của Trúc
Lâm Điều Ngự như:Thiền Lâm Thiết Chuỷ Ngũ Lục, Thạch
Thất Mỵ Ngữ ngày nay không còn, song tinh thần Thiền của
Ngài vẫn còn đây, sức sống này vẫn trỗi dậy!
“Yên
Tử Non cao, Chư Tổ Mồi Đèn Truyền Tâm Ấn.
Trúc
Lâm Rừng Vắng, Điều Ngự Nuối Đuốc Lập Tông Phong”.
VI. Dòng truyền
Yên Tử:
1.
Đối với thiền phái Trúc Lâm, thì Trúc Lâm Điều Ngự- Trần
Nhân Tông là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền
thừa của Yên Tử phải kể từ Thiền sư Hiện Quang là Tổ
ban đầu. Sư là người khai sơn chùa Vân Yên như ngày nay.
Vốn là đệ tử của Thiền sư Thường Chiếu, dòng Vô Ngôn
Thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền sư Trí Thông chùa Thánh Quả.
2.
Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Sư Trúc Lâm, người
đã từng đón tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm
1236.
3.
Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền
Lâm Tế từ Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại kinh đô
Thăng Long và là thầy của vua Trần Thánh Tông.
4.
Thiền sư Tiêu Dao, là Thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng
gọi là Đại Sư Phúc Đường, vì sư ở Tinh xá Phúc Đường
mà Thượng sĩ Tuệ Trung có bài thơ tựa “Thượng Phúc Đường
Tiêu Dao Thiền Sư”.
5.
Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật giáo Sử Luận của
Nguyễn Lang cho là sư vốn làm Hoà thượng Đường đầu truyền
giới pháp cho vua Trần Nhân Tông khi vua xuất gia.
6.
Trúc Lâm Đại Đầu đà-Trần Nhân Tông, theo hệ thống truyền
thừa của Yên Tử, Ngài thuộc hành thứ sáu, nhưng là người
khai sáng ra dòng Thiền Trúc Lâm của Đại Việt nên là Sơ
Tổ.
Theo
sách Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục của Hòa
thượng Phúc Điền, hệ thống truyền thừa của Thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử được tiếp nối qua các vị sau:
7.
Tổ sư Pháp Loa.
8.
Tổ sư Huyền Quang.
9.
Quốc Sư An Tâm
10.
Quốc Sư Phù Vân ( Hiệu Tĩnh Lự)
11.
Quốc sư Vô Trước.
12.
Quốc sư Quốc Nhất.
13.
Tổ sư Viên Minh.
14.
Tổ sư Đạo Huệ.
15.
Tổ sư Viên Ngộ.
16.
Quốc sư Tổng Trì.
17.
Quốc sư Khuê Thám.
18.
Quốc sư Sơn Đằng
19.
Đại sư Hương Sơn.
20.
Quốc sư Trí Dung.
21.
Tổ sư Tuệ Quang.
22.
Tổ sư Chân Trú.
23.
Đại sư Vô Phiền.
Danh
sách này được Thiền sư Tuệ Nhãn lược dẫn trong phần
đầu của bia ký tháp Giao Quang thờ Thiền sư Tính Đường
hiệu Tuệ Cự ngay bên phải cổng chùa Lân-Thiền Viện Trúc
Lâm Yên Tử:”Núi Yên Tử Sơ Tổ Hiện Quang đến Trúc Lâm
Viên Chứng trải qua tới Trần Triều Tam Tổ, lần lượt tiếp
nối nhau, danh chép truyền đăng phần nhiều khó nêu ra hết.
Trong lý ẩn hiện đến Tổ Sư Tuệ Quang trung hưng rộng lớn,
Phật pháp thịnh hành, danh lam thắng cảnh, Tuệ Nguyệt sáng
mãi, Tuệ Đăng chiếu khắp cho đến Tuệ Cự…”
Trong
đây ghi rõ Thiền sư Hiện Quang là Sở Tổ của Yên Tử, Quốc
sư Trúc Lâm hiệu Viên Chứng rõ ràng, Tổ sư Tuệ Quang trung
hưng Yên Tử, Thiền sư Tuệ Nguyệt thầy của Thiền sư Chân
Nguyên tiếp sáng luôn và Thiền sư Tuệ Đăng tức Ngài Chân
Nguyên hiện còn tháp đá tôn thờ ở sau nhà tổ của Thiền
viện đã làm cho dòng Thiền chiếu khắp.
Cứ
theo danh sách này, sau Tổ Sư Huyền Quang có tới tám vị Quốc
Sư, thì biết rằng dòng Thiền Trúc Lâm, ngoài Tam Tổ Huyền
Quang, theo bia tháp Viên Thông thờ Tổ sư Pháp Loa ở Thanh Mai,
phần cuối có kể ra hai vị tiếp nối đời thứ ba là Tông
Huyền và Kim Sơn, nguyên văn:”Trúc Lâm Đệ Tam Đại Tự
Pháp Trụ Trì Tông Huyền, Kim Sơn tấu tuyên”.
Tuy
nhiên danh sách tên tuổi là phần biểu hiện bên ngoài, chính
“tâm Thiền “ là mạch sống thật. Dù ẩn, dù hiện, dù
thăng, dù trầm, hễ có người tỏ sáng được tâm Thiền,
là còn tiếp nối được mạch sống Tổ Tông.
VII.
Chứng ngộ Thiền lý, làm chủ sinh tử:
Đối
với đạo Phật nói chung, và Thiền Tông nói riêng, luôn nhấn
mạnh phải hiểu và hành tương ứng, nên có câu:”Hạnh giải
tương ưng danh vi viết Tổ”.Vậy “Tổ” không phải ở
cái tên, ở danh xưng, mà phải thực sự tỏ hiểu và chứng
nghiệm chân Thiền ngay nội tâm mình. Đệ nhất Tổ Trúc Lâm
Đại Đầu Đà đã hội đủ hai điều đó. Về trí tuệ tỏ
hiểu Thiền tông của Ngài rất sâu, Như đoạn tăng hỏi:
- Khi
muốn dặm mưa tạnh thì thế nào?
Ngài
đáp:
- Mưa
tầm tã.
Hỏi:
- Khi
muốn dặm mây che kín thì thế nào?
Đáp:
- Trăng
vằng vặc.
Đã
là “Muôn dặm mưa tạnh” tức trời trong không vết mây
che thì sao ông còn động niệm khởi hỏi? Đó tức là mưa
tầm tã rồi chứ gì. Còn “Muốn dặm mây che kín”, thì
sao ông còn có thể biết hỏi được vậy? Vậy là nó vẫn
sáng tỏ rõ ràng, ông lại chẳng ngộ! Nên Ngài đáp:”Trăng
vằng vặc”, Đây là Ngài ứng dụng theo tinh thần Lục Tổ
dạy về 36 phép đối rất là tuyệt diệu. Lục tổ dạy:”Nếu
có người hỏi nghĩa với ông, hỏi có thì đem Không đáp,
Hỏi không thì đem có đáp, Hỏi phàm thì đem Thánh đáp, hỏi
Thánh thì đem Phàm đáp, hai đường làm nhân cho nhau, sánh
nghĩa trung đạo”. Thì ở đây hỏi mưa tạnh, Ngài đáp “Mưa
tầm tã”; hỏi mây che kín, Ngài đáp “Trăng vằng vặc”,
nếu không phải là bậc đã sáng tâm khó nói được quá khéo
như vậy. Chính hiện nay nhiều người nghiên cứu về Ngài
cũng chưa hiểu hết được Ngài, đôi khi lại hiểu theo thức
tình suy tư của mình thành nghiêng lệch. Bởi đối với nhà
Thiền:”Thấy thì thẳng đó liền thấy, suy nghĩ liền sai”
và “Ông vừa cúi đầu trầm ngâm là đã đi xa ngoài ba ngàn
dặm rồi”. Sử Thiền sư Pháp Loa kể lại, một hôm sư trình
cả ba bài tụng cho Điều Ngự, đều bị Ngài gạt bỏ hết.
Sư thưa thỉnh mấy phen, Điều Ngự dạy phải tự tham. Sư
vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, trông
thấy bông đèn tàn rụng xuống, chợt đại ngộ. Đến đây
đem trình Điều Ngự mới được ấn chứng.
Chúng
ta nên nhớ, trước đó sư đã qua hai lần tỏ sáng: một lần
là nhân đọc kinh Hải Nhãn (có thể kinh Lăng Nghiêm) đến
bảy chỗ hỏi tâm và đoạn thí dụ khách trần mà có tỉnh;
lần khác, lúc Điều Ngự thượng đường, Sư ra thưa hỏi
liền được tỉnh. Vậy mà đến lúc trình kệ này vẫn chưa
được ấn chứng. Vì có ý làm kệ trình ra kiến giải thế
này thế nọ, cũng là cái vay mượn từ bên ngoài, chưa phải
của báu nhà mình. Cho nên Điều Ngự phải quay lại tự tham
cứu, đến khi thấy bóng đèn tàn rụng mới chợt đại ngộ,
không quá ý thức suy nghĩ. Cũng cho thấy, trí tuệ của Điều
Ngự là siêu việt như thế nào, và cách huấn luyện để
tìm người thừa kế thừa của Ngài quả là rất kỹ. Đúng
như lời Cổ Đức nói :”Nguồn sâu thì dòng dài”, do đó
mà mạch sống ấy đến ngày nay vẫn truyền bất tuyệt.
Rồi
đến khi sắp tịch, tức đến lúc cận kề bờ sinh tử, càng
cho thấy sức sống thiền nơi Ngài quá vững chãi:
“Giữa
đêm mồng một tháng 11 năm 1308, Ngài Hỏi Bảo Sát:
-Hiện
giờ là giờ gì?
Bảo
Sát bạch:
-Giờ
Tý.
Ngài
lấy tay vén màn cửa sổ nhìn xem nói:
-Đến
giờ ta đi.
Bảo
Sát hỏi:
-Tôn
đức đi đâu?
Ngài
nói kệ đáp:
Tất
cả pháp chẳng sinh
Tất
cả pháp chẳng diệt
Nếu
hay hiểu như thế
Chư
Phật thường hiện tiền
Nào
có đến đi gì.
(Nhất
thiết pháp bất sinh
Nhất
thiết pháp bất diệt
Nhược
năng như thị giải
Chư
Phật thường hiện tiền,
Hà
khứ lai chi hữu dã).
Bảo
Sát hỏi:
-Chỉ
như khi chẳng sinh chẳng diệt là thế nào?
Ngài
liền nhằm ngay miệng Bảo Sát tát cho một cái bảo:
-Chớ
nói mớ.
Nói
xong, Ngài nằm nghiêng bên phải như sư tử, lặng lẽ mà tịch”.
Như
vậy, với Ngài không thấy có chết, có sống, sống chết
chỉ là cái hình giả tạm này thôi, còn chính Ngài chưa từng
có sống chết, đến đi. Chỗ này con mắt phàm tình thế gian
làm sao thấy được, hiểu được? Nếu Ngài không có thực
tu, thực chứng, thực hành công phu sâu thì khó được như
vậy.
Lại
nguyên là một vị hoàng đế tiếng tăm vang lừng như thế,
mà khi tịch sẵn sàng tịch nơi vắng vẻ với vị thị giả
bên cạnh với lời di chúc hỏa thiêu ngay, không cần đến
làm lễ to cho nổi tiếng, không vì danh. Tuy nhiên nhân quả
vẫn theo nhau, khi vua Anh Tông thỉnh xá lợi về kinh “ lúc
làm lễ sắp đưa linh cửu về chôn ở lăng Quy Đức, giờ
đã đến mà quan liêu, dân chúng đứng chật khắp cung điện.
Tể tướng cầm roi xua đuổi, rốt cuộc không thể mở đường.
Vua cho gọi Chi hầu chánh chưởng Trịnh Trọng Tử đến bảo:
-Linh
cữu sắp đưa đi mà dân chúng đầy nghẽn như thế thì làm
thế nào? Trọng Tử lập tức đến đền Thiên Trì gọi quân
Hải Khẩu và Hổ Dực ( quân của Trọng Tử trông coi) đến
ngồi la liệt trong thềm, sai hát mấy câu Khúc Long Ngâm. Mọi
người ngạc nhiên kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người,
bèn rước về lăng Quy Đức”. ( Trích Toàn Tập Trần Nhân
Tông).
Cho
thấy lòng người quá mến mộ Ngài. Quả lành không cầu mà
tự đến!
VIII. TÓM KẾT:
Trúc
Lâm Điều Ngự - Trần Nhân Tông, một con người quá nổi
bật ở nhiều mặt, một nhân cách quá sáng ngời: Nói về
mặt lãnh đạo, là một nhà lãnh đạo tài ba; về chính trị
là một nhà chính trị xuất chúng; về văn hoá là nhà văn
hoá lớn; về tôn giáo, là nhà tôn giáo tuyệt vời…Do đó,
để nhận định về Ngài, chúng ta khó có thể nhận định
toàn vẹn được, nếu đứng trên một chủ kiến, một khía
cạnh. Và hơn thế nữa, Ngài lại là hành giả trong pháp xuất
thế, một bậc Tổ sư của nhà thiền thì càng không thể
lấy theo ý thức tư duy bình thường mà hiểu được Ngài,
phải là người trong cuộc với nhau mới hiểu thấu được
nhau, như kinh Pháp Hoa nói:”Chỉ Phật mới biết”.
Yên
Tử được gắn liền với tên tuổi của Ngài, với dòng Thiền
do Ngài mở lối, là một đại nhân duyên không phải tầm
thường cần được tôn trọng và phải tôn trọng.
Phật
giáo nói chung, còn đường Thiền nói riêng, là con đường
luôn sáng tạo, phù hợp với tinh thần phát triển ở các
thời đại. Câu nói nổi tiếng trong nhà Thiền là “ Thấy
bằng thầy là kém Thầy nửa đức, thấy vượt hơn thầy
mới kham nhận truyền trao”, không cho đứng dừng một chỗ
hay chặn đứng bước tiến của người.
Tóm
lại, Trúc Lâm Điều Ngự - Trần Nhân Tông là bậc tôn kính
đối với tất cả con cháu chúng ta, và tinh thần của Ngài
còn được phát huy đúng mức, nhắc nhở cho con em chúng ta
và con cháu mai sau phải luôn nhớ cội nguồn, phải biết trân
quý, giữ gìn gia sản quí báu của tổ tiên, chính đó là
nền tảng xây dựng đất nước vững bền.
TÂM THIỀN CỦA
SƠ TỔ TRÚC LÂM
I.THIỀN
LÀ TÊN KHÁC CỦA TÂM:
Thiền
là nơi ở tâm không có trong kinh điển, sách vở, ngôn ngữ,
chữ nghĩa vô tri. Người tu thiền là cốt sáng tâm, cúng chính
tâm mới ngộ được Thiền, ngoài tâm mà tìm thiền không
thể có chân thật. Do đó chư vị tổ sư Thiền Tông đều
là những vị sáng tâm, chưa sáng tâm thì chưa vào được
cửa Tổ.
Tổ
Tỳ Na Đa Lưu Chi, vị tổ đầu tiên mang Thiền tông vào đất
Việt, ngài đã phó chúc cho đệ tử đắc pháp là Pháp Hiền
tại chùa Pháp Vân :”Tâm ấn của chư Phật không có lừa
dối, tròn đồng thái hư, không thiếu, không dư không đi,
không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác,
chẳng thường chẳng đoạn; vốn không có chỗ sanh, cũng không
có chỗ diệt, cũng chẳng lìa mà chẳng phải xa lìa, vì đối
với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi. Bới thế, chư
Phật trong ba đời cũng như thế, nhiều đời tổ sư cũng
do như thế mà được, ngươi cũng do như thế mà được, cho
đến hữu tình, vô tình cũng do như thế mà được”.
Ngài
xác định rõ ràng, tâm ấn của Chư Phật không nằm ở cái
tên giả lập đó, ba đời chư Phật, nhiều đời Tổ sư cũng
chỉ một tâm này, ta cũng vậy, ông cũng vậy, cho đến tất
cả mọi loài đều không ngoài tâm ấy.
Dòng
Thiền Trúc Tâm ra đời tại Yên Tử, Điều Ngự Giác Hoàng
Trần Nhân Tông làm Sơ Tổ, cũng ngộ được tâm thiền ấy
mà truyền lại cho đời. Ngài lập dòng thiền này, không phải
chỉ lập trên hình thức tổ chức, trên ngôn từ mà chính
bằng tâm thiền chân thật của chính mình. Chính đó là sức
sống, là mạch nguồn để dòng thiền được sống còn.
II.
ĐỐI DIỆN HIỆN TIỀN:
Trong
bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, Trúc Lâm Điều Ngự đã từng
thổ lộ:
“Biết
đào hồng, hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm.
Nguyệt bạc, vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng”.
Chính
ngay chỗ đào hồng trước mắt, ngay liễu lục đang thấy
đó, biết rõ ràng mà không mê, không lầm với nó, đó là
Thiền rồi chứ gì nữa. Nhưng chỗ này có mấy người thông
cảm, cùng hiểu được nhau? Hầu hết chỉ nhớ biết đào
hồng, nhớ biết liễu lục thôi, mà quên hẳn ánh sáng kia,
thì làm sao tri âm được?
Đó
là chỗ Kinh Lăng Nghiêm nói:”Căn bản Bồ đề Niết bàn
tức là cái thức tinh nguyên minh của ông, nó hay sinh ra các
duyên mà bị các duyên bỏ sót nó, do vì các duyên bỏ sót
nên đành chịu luân hồi, uổng trôi vào các thú”.
Nghĩa
là, chính cái biết đang hiện hữu sáng ngời đây, nó hay
sanh ra các duyên, tức nó biết, biết cái này, biết cái nọ,
biết đào hồng, biết liễu lục…, nhưng tiếc thay, lại
bị các duyên bỏ sót nó, đồng hoá nó với các duyên, do
đó đành chịu luân hồi, trôi nổi theo các trần, theo đào
hồng, theo liễu lục…Vua Trần Thái Tông bảo là:
Lang
thang làm khách phong trần mãi
Ngày
cách quê hương muôn dặm trình.
Vĩnh
vi lãng đãng phong trần khách,
Nhật
viễn gia hương vạn lý trình)
Quả
thật, Điều Ngự không dùng lời lẽ văn chương hoa mỹ, mà
dùng tiếng nói nôm na, bình dân trong cuộc sống hàng ngày,
nhưng ngầm nói lên được ý sâu xa, đó mới là thiền.
Khi
thấu suốt chỗ này, thì trăng sáng, bầu trời xanh đều hiển
bày tâm thiền sáng ngời ra đó! Trước mắt không còn cái
gì che mờ được nữa. Tâm thiền của Ngài quả là sáng ngời
tỏ rõ!
Bài
kệ cuối Cư Trần Lạc Đạo, Ngài nói:
Cư
trần lạc đạo thả tuỳ duyên,
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên
Gia
trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền
Ở
đời vui đạo hãy tuỳ duyên,
Đói
đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong
nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối
cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
Tâm
thiền sáng ngời thể hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày,
không phải tìm kiếm đâu xa. Đói ăn mệt ngủ nơi mọi sinh
hoạt hàng ngày ăn, mặc, ngủ, nghỉ mà làm với tâm hồn
nhiên, trong sáng, không sanh tâm theo duyên, theo cảnh: ăn không
sanh tâm ăn, mặc không sanh tâm mặc, chính đó ánh sáng thiền
hiện tiền rồi. Đó là của báu ngay trong nhà mình, lại phải
chạy tìm đâu khác?
II.
TÂM THÔNG LÌA ĐỐI ĐÃI:
1/
Tâm thông:
Thiền
sư luôn luôn phải suốt được tâm. Tâm thông thì thấy nghe,
tiếp vật được sáng tỏ, không ngại.
Có
vị Tăng hỏi Điều Ngự:
- Đại
Tôn Đức khổ nhọc tu hành, đã trải qua nhiều năm. Đối
với sáu thông của Phật, Ngài đã được mấy thông?
Điều
Ngự đáp:
- Cũng
được sáu thông.
- Năm
thông kia xin gác lại, thế nào là tha tâm thông?
- Đầy
cả quốc độ, có bao nhiêu thứ tâm, Như Lai đều biết, Như
Lai đều thấy.
Tức
là tất cả chúng sanh đều vô số, trong đó có bao nhiêu thứ
tâm, Như Lai đều biết hết, thấy hết không sót một tâm
nào. Cũng như ngài Lâm tế bảo:”Như có Văn Thù, Phổ Hiền
đến, vừa mở miệng: thưa Hoà Thượng, tôi đã sớm biết
rồi”.
Làm
sao biết? Đây là tâm thiền hằng sáng tỏ, nên có điều
gì hiện lên đều nhận biết ngay, không lầm. Ông vừa mở
miệng là có tâm rồi, mà có tâm đều biết không phải tâm
Như Lai. Đó là tâm động niệm, thuộc trong ba thời quá khứ,
hiện tại, vị lai là tâm sinh diệt. Cho nên chúng sanh có bao
nhiêu thứ tâm, nhiều như bụi, cũng biết rõ, đồng một
tâm sinh diệt đó thôi, không lầm lẫn.
2/
Lìa đối đãi:
Tâm
thiền của Thiền Sư là trước khi động niệm, trước khi
có ngôn ngữ, nên nó lìa các phân biệt đối đãi thuộc thức
tình sinh diệt. Người còn kẹt tronh tình phân biệt đối
đãi là còn ở ngoài cửa thiền.
Có
vị Tăng hỏi Điều Ngự:
-Thế
nào là pháp thân thanh tịnh?
Ngài
đáp:
-Chén
mạ vàng đựng phân sư tử,
Người
đen đúa vác bó hương thơm.
( Kim
tạc lạc trung sư tử thỉ,
Thiết
côn lôn thượng chá cô ban)
Pháp
thân thanh tịnh là chỉ cho thân thiể vô tướng, lìa mọi
đối đãi, không sinh, không diệt nơi mỗi người. Muốn nhận
được pháp thân, phải lìa niệm hai bên đối đãi.
Trong
câu đáp của Điều Ngự: chén mạ vàng là quỷ, là sạch;
phân sư tử là nhơ, là tiện, người đen đúa là xấu, là
nhơ; hương thơm là sạch, là tốt - tức ngay đó quên bặt
niệm nhơ-sạch, quý - tiện đối đãi, chính đó là pháp thân
thanh tịnh chứ gì. Đó là Ngài muốn chỉ thẳng ngay tâm ông
đang đối diện đây, không giải thích dài dòng theo sách vở.
Pháp thân ấy chính đang ở trong ông thôi. Rõ ràng tâm Ngài
đã vượt lên niệm nhơ sạch mới thấy được chỗ đó,
và tâm Thiền nơi Ngài phải là sáng ngời luôn hiện tiền
mới đáp được nhanh mà sâu sắc như thế
Tâm
thiền ấy cũng vượt lên cả hai bên có – không mà người
đời luôn mắc kẹt trong đó. Có vị Tăng hỏi Điều Ngự:
-Câu
có, câu không như bìm nương cây, khi ấy thế nào?
Điều
Ngự bèn nói bài kệ, lược dẫn:
Câu
có câu không,
Bìm
khô cây ngã.
Mấy
kẻ nạp tăng,
U
sầu sứt trán.
Câu
có câu không,
Tự
xưa tự nay
Chấp
tay quên trăng
Đất
bằng chết chìm
(Hữu
cú vô cú
Đằng
khô thọ đảo
Kỷ
cá nạp tăng
Chàng
đầu khái não.
Hữu
cú vô cú,
Tự
cổ tự kim
Chấp
chỉ vong nguyệt
Bình
địa lục trầm)
Đây
là gốc từ câu chuyện Sơ Sơn đến Qui Sơn - Đại An hỏi:
- Được
nghe thầy nói “ Câu có câu không như bìm leo cây, chợt khi
cây ngã bìm khô thì thế nào?
Đại
An cười to ha hả. Sơ Sơn thưa:
- Đến
từ bốn ngàn dặm mang khăn gói đến đây, sao Hoà thượng
lại đùa như thế?
Đại
An bảo:
- Thị
giả! Hãy lấy tiền trả tiền trả tiền giầy cho Thượng
toạ này.
Sư
lại dặn:
- Về
sau có con rồng một mắt sẽ vì ông nói phá.
Sau
này, Sơ Sơn đến Minh Chiêu thuật lại việc trên, Minh Chiêu
bảo:
-Quy
Sơn đáng nói là đầu chánh đuôi chánh, chỉ là chẳng gặp
tri âm.
Sơ
Sơn hỏi:
-Cây
ngã bìm khô, câu về đâu?
Minh
Chiêu đáp:
-Nụ
cười Quy Sơn càng thêm tươi.
Sơ
Sơn tỉnh ngộ nói:
-Té
ra trong nụ cười Qui Sơn có đao.
Minh
chiêu vốn chột một mắt, đúng như lời Qui Sơn nói ở trước.
Trong
đây, ông tăng dẫn lại ý đó để hỏi. Điều Ngự chỉ
ra: câu có câu không là lời nói hai bên, giống như dây sắn,
dây bìm cũng bị héo khô theo, lúc đó mình lấy gì để hiểu?
Biết bao kẻ học Tăng hiểu thiền không vượt qua được
chỗ này, tức bị u đầu đứt trán với nó. Từ xưa đến
nay người học cứ bám theo nó, như kẻ chấp ngón tay chỉ
cho là trăng thật, có khác nào đang ở trên đất bằng mà
chết chìm, thật là đau!
Đây
phải là tâm thiền đang hiện hữu sáng ngời vừa có, không
liền bị khuất ngay. Cuối cùng đến lúc ra đi, giống như
sắp xếp việc hàng ngày. Đúng là một bậc nói được làm
được mà hàng con cháu chúng ta sau này phải hết lòng học
theo.
IV.
TÓM KẾT:
Thiền
sư là người ra đi không để lại dấu vết, Trúc Lâm Thiền
Tự là bậc Thiền Tổ, thì Ngài ra đi há có dấu vết để
lại cho chúng ta nắm bắt sao? Vậy hôm nay chúng ta bàn về
Ngài là bàn về cái gì? Tâm Thiền của Ngài có thật ở trong
những lời bàn ấy chăng? Sức sống chân thật kia đâu thể
đóng khung nó vào trong mấy trang giấy, mấy dòng chữ vô tri
này. Do nhu cầu tìm hiểu trong thời tại, chúng tôi phải tạm
mượn dấu vết ngôn từ để ngầm chỉ ra một lý lẽ thật
nơi Ngài mà không thể quên:Ngài đã đi qua rồi, không còn
ở trong dấu vết ấy!
03-01-2008
09:23:13
