.
THIỀN
– CON ĐƯỜNG THỂ HIỆN CHÂN LÝ
Thích
Thông Phương
 |
 |
I.
THIỀN LÀ GÌ ?
Thiền,
nói đủ là Thiền-na, Trung Hoa dịch là tĩnh lự; nghĩa là
lặng lẽ những lo nghĩ lăng xăng, hay cũng dịch là định
tuệ đẳng trì, tức tâm lặng và sáng đầy đủ. Tuy nhiên
đó chỉ là định nghĩa theo danh từ, phương tiện mà giải
thích cho người tạm hiểu, xét trên lý thật thì đó chưa
phải là bản thân của Thiền.
Bởi
tĩnh lự hay định tuệ đẳng trì đó, nó không nằm ở trên
những ngôn từ hoặc chữ nghĩa vô tri kia, mà nó ở ngay trong
tâm người. Do đó, dù ai có cố gắng giải thích thế mấy
cũng không bao giờ chạm đến bản thân thiền chân thật.
Cho nên thiền mà còn định nghĩa được, đó là THIỀN CHẾT,
THIỀN VĂN TỰ, không phải THIỀN SỐNG. Đến chỗ cứu cánh,
thiền bỏ xa văn tự. Chữ nghĩa làm sao ghi cái tâm lặng lẽ
trong sáng đó? Dù máy móc điện tử tối tân cũng không ghi
được chỗ này.
II.
THỂ NGHIỆM TRỰC TIẾP.
Chân
lý sống là cái hiện thực ngay nơi mỗi người, trong mỗi
người, người đang sống trong đó chứ không ở đâu khác.
Như nói thiền là tĩnh lự, là tâm lặng lẽ trong sáng, song
đặt câu hỏi lại: Thế nào là tâm lặng lẽ trong sáng? Đây
không còn là chuyện giải thích danh từ nữa, mà phải tự
cảm nhận nơi mình mới thấu rõ thôi. Vì vậy, muốn cảm
nhận chân lý Thiền là phải thể nghiệm trực tiếp, phải
thẳng vào chớ không đứng bên ngoài bàn bạc, lý luận suông.
Có
vị tăng hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung:
- Bạch
Thượng sĩ, thế nào là đại ý Phật pháp?
Thượng
sĩ đáp:
- Đầu
trạnh vỗ sóng mắt sâu sâu bọ,
Cánh
bằng lướt gió ruột kiến trùng.
Hỏi:
- Như
vậy học nhân làm sao được lối vào?
Đáp:
- Gãi
ngứa đâu phải người khác ngứa,
Đói
ăn chính thật nhà ngươi ăn.
Ông
hỏi đại ý Phật pháp, ông muốn hiểu được lẽ thật đó
thì ông phải quên niệm phân biệt theo thói quen suy nghĩ lâu
nay đi, ông phải đích thân cảm nhận nơi mình chớ không
thể đứng bên ngoài mà hỏi, mà muốn tìm hiểu biết. Gãi
ngứa là tự ông ngứa, đâu phải người khác ngứa thay cho
ông. Cũng vậy, đói là tự ông ăn thì mới hết đói, ai ăn
thay cho ông được? Cho nên trong nhà thiền, nhất là Thiền
tông luôn nhấn mạnh đến chỗ trực nhận không qua ý niệm.
Thiền
sư Nghĩa Huyền, sau này là Tổ tông Lâm Tế, lúc còn đang
tham thiền trong hội ngài Hoàng Bá, khi đến hỏi về “Đại
ý Phật pháp”, ba lần hỏi thì ba lần đều bị ăn gậy
mà không được giải thích một lời. Hoặc ông Thôi Tề Công
đến hỏi thiền sư Thần Hội:
- Thiền
sư ngồi thiền một phen định, về sau bao lâu mới xuất định?
Sư
đáp:
- Thần
không có chỗ nơi, cái gì là định?
- Đã
nói không định, sao gọi là dụng tâm?
- Nay
tôi định còn không lập, ai nói có dụng tâm?
-Tâm
và định đều không, thế nào là đạo?
- Đạo
là “đạo như thế”, không có “đạo thế nào”.
- Đã
nói không có “đạo thế nào”, vậy chỗ nào có “đạo
như thế” ?
- Nay
nói “đạo như thế” là do có “đạo thế nào”, nếu
như không có “đạo thế nào” thì “như thế” cũng không
còn.
Nghĩa
là, với Thiền sư thì không có giải thích dài dòng theo chữ
nghĩa. Bởi do có hỏi “đạo thế nào” nên mới tạm nói
“đạo như thế” để đối đáp lại. Nói “như thế”
là để dừng lại chỗ suy nghĩ, tìm hiểu của ông thôi, chớ
thực ra nếu ông không có hỏi thế nào, thì cũng không có
nói “như thế” làm gì. Bởi vì “nó vốn như thế là như
thế rồi’, khỏi phải nói thêm cái tên “như thế” nữa.
Nói “như thế” là đã dán thêm cái nhãn hiệu lên nó.
Đây
là muốn nhắc người hỏi, phải can đảm buông xả hết mọi
ý niệm hướng về nó, thì chân lý thiền hiện tiền sáng
ngời đây thôi. Còn hướng đến nó tức là còn đứng ngoài
nó. Từ đó mà biết, hiện có nhiều người đang tranh cãi
về thực tại thế này, thế kia, là có, là không, thì rõ
ngay là chưa chạm đến thực tại. Trong nhà Thiền không chấp
nhận cho người cứ đứng bên ngoài mà lý luận.
Như
có Thượng tọa Định thuộc dòng Lâm Tế, một hôm trên đường
thọ trai nhà thí chủ đi về, gặp ba vị tọa chủ trên cây
cầu, trong đó một vị mới hỏi Sư:
- Thế
nào là tột đáy sông thiền?
Sư
liền chộp ngực vị ấy định ném xuống sông. Hai vị kia
hoảng hốt xin tha rối rít. Sư liền bảo:
- Nếu
không có hai vị đây tôi đã cho ông xuống tột đáy sông
thiền cho biết.
Thiền
chân thật là thế! Ông muốn biết tột đáy sông thiền, hãy
vào đó thì biết ngay, không phải giải thích chữ nghĩa dài
dòng. Cứ đứng ngoài mà hỏi, dù có nói cho ông nghe cũng
chỉ là tưởng tượng, là khái niệm thôi, đâu cảm nhận
được lẽ thật ấy.
Bởi
vậy tôn chỉ của Thiền tông là “Bất lập văn tự, Giáo
ngoại biệt truyền”, tức là tự có con đường sống, vượt
qua ngôn giáo, chữ nghĩa bên ngoài. Do đó nếu người không
trực tiếp thể nghiệm, làm sao rõ được?
III.
TU THIỀN TÔNG PHẢI VƯỢT QUA CHỮ NGHĨA.
Lục
tổ Huệ Năng, một bậc Tổ sư phi thường của Thiền tông,
hiện thân là vị tiều phu không biết chữ mà ngộ đạo được
truyền y bát, kế vị Tổ thứ sáu Thiền tông Trung Hoa. Truyện
kể rằng, lúc Sư ẩn ở thôn Tào Hầu, có lần bà ni Vô Tận
Tạng đem kinh Niết Bàn hỏi Sư.
Sư
bảo : Chữ thì tôi không biết nhưng nghĩa thì cứ hỏi.
Bà
ni nói : Chữ còn không biết, làm sao biết nghĩa?
Sư
bảo : Diệu lý của chư Phật không dính dáng gì đến văn
tự.
Bà
ngạc nhiên, biết là bậc khác thường, liền đi báo cho người
trong thôn đến lễ bái cúng dường.
Đây
là Lục tổ đánh thức cho người học Phật phải học thấu
qua văn tự chữ nghĩa, chớ không thể bám chặt vào những
dòng chữ, những nghĩa lý chết kia. Chữ nghĩa nó đâu biết
ngộ đạo, đâu biết chiếu soi. Thí dụ mấy chữ bản lai
diện mục, kiến tánh, minh tâm, thoại đầu, công án, tổ
sư, v.v.. nó có hiểu biết gì đâu. Chính người đọc ra nó
mới biết giác, biết ngộ, phải phản chiếu “con người
ấy”, đó mới chính là chân thật tham thiền, là chỗ nhắm
của chư Tổ ra đời. Do đó, khi vua Trần Nhân Tông hỏi Thượng
sĩ Tuệ Trung về “Tông chỉ của việc bổn phận”, Thượng
sĩ đáp: “Soi sáng lại chính mình, đó là việc bổn phận,
chẳng từ nơi nào khác mà được”. (Phản quan tự kỷ bổn
phận sự, bất tòng tha đắc).
Soi
sáng lại chính mình tức là vượt qua chữ nghĩa, văn tự,
lời dạy bên ngoài, mà đánh thức sức sống chân thật ngay
chính mình. Mạch sống Thiền là đó. Cho nên dù trải qua bao
cuộc thăng trầm của lịch sử nhưng sức sống Thiền vẫn
bất tuyệt. Còn có người thực tu là còn có người thực
ngộ, và ánh sáng Thiền vẫn hiện hữu.
IV.
TÓM KẾT.
Thiền
là sống, là sáng tạo, luôn luôn mới mẻ tinh khôi, không
nằm trong một khuôn khổ chết hay một ước lệ nào.
Vào
Thiền, phải dám buông lại những kiến thức vay mượn từ
bên ngoài để phát khởi trí vô sư, trí tự nhiên nơi mỗi
người. Đây là con đường thể nghiệm chân lý trực tiếp
nơi mình, không qua trung gian ý thức suy luận, và đây cũng
chính là cội nguồn của đạo Phật. Bởi ngay từ buổi đầu,
khi thành đạo đức Phật đã muốn nhập niết bàn, không
muốn đi thuyết pháp, vì thấy chỗ chứng ngộ đó quá sâu
xa, vượt ngoài ngôn ngữ văn tự, khó nói cho người hiểu
được. Phạm Thiên thỉnh ba lần Phật mới hứa khả đi thuyết
pháp giáo hóa. Vậy có nói ra là phương tiện tạm thời không
phải cứu cánh. Người học Phật, tu Phật cần học, tu đến
chỗ vượt qua ngôn ngữ văn tự, thể nghiệm trực tiếp ngay
chính mình mới đạt được ý Phật, mới gặp Phật, gặp
Tổ.
Chính
đây là con đường của HÀNH GIẢ đúng ý nghĩa.
CHẲNG
LẦM NHÂN QUẢ
Thích
Thông Phương
 |
 |
I-
TU THIỀN LÀ BÁC BỎ NHÂN QUẢ CHĂNG ?
Nhân
quả là đạo lý căn bản của người học Phật. Người tu,
nhất là tu Thiền cần phải hiểu rõ, nhận kỹ điểm này,
không để sảy chân sa đọa phải hối hận kiếp kiếp lâu
dài. Bời người tu Thiền thường nghe nói: “Xưa nay không
một vật”, thì nhân quả để ở chỗ nào? Nhân quả có
hay không ?
Đây
dẫn câu chuyện thời Tổ Bá Trượng: Sư mỗi khi thượng
đường dạy chúng, có một ông già theo chúng nghe pháp. Hôm
nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi. Sư hỏi:
- Ông
là người gì ?
Ông
già thưa:
- Con
chẳng phải người, thời quá khứ thuở Đức Phật Ca diếp,
con làm tăng ở núi này, nhân học trò hỏi: “Người đại
tu hành có rơi vào nhân quả chăng?”. Con đáp: “Không rơi
vào nhân quả”. Do đó đến năm trăm đời đọa làm thân
chồn. Nay thỉnh Hòa thượng chuyển một câu nói để con thoát
khỏi thân chồn.
Sư
bảo:
-
Ông hỏi đi!
Ông
già hỏi:
- Người
đại tu hành có rơi vào nhân quả chăng ?
Sư
đáp:
- Không
lầm nhân quả.
Ngay
câu nói ấy, ông già đại ngộ làm lễ thưa:
- Con
đã thoát thân chồn. Con ở sau núi dám xin Hòa thượng lấy
theo lễ Tăng chết mà tống táng con.
Sư
vào trong kêu Duy Na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưa
đám một vị tăng. Đại chúng nhóm nhau bàn tán: “Đại chúng
đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào nằm, tại
sao có việc này?”.
Sau
khi ăn cơm xong, Sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy
khơi lên thấy xác một con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu
như vị Tăng.
Trong
đây cho thấy người làm thầy chỉ đáp lầm một chữ thôi
mà phải năm trăm kiếp đọa làm chồn. Người học đạo
có thể hời hợt, khinh thường đối với việc này sao?
Bởi
ông Tăng đáp “chẳng rơi”, tức gạt nhân quả qua một
bên, sống ngoài nhân quả. Đó là phủ nhận một bên, rơi
vào đoạn kiến nguy hiểm! Xưa, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên
là bậc A La Hán thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử Thanh
Văn của Phật, nhưng đến cuối đời, bị bọn xấu đánh
nát thân, thì thế nào? Hơn nữa, đối trong con mắt nhà Thiền,
câu hỏi: “Có rơi không” là đã mắc kẹt hai bên, “rơi
- chẳng rơi” rồi. Câu đáp “chẳng rơi”, cũng là rớt
một bên, cho thấy người đáp chưa đủ mắt sáng.
Tổ
Bá Trượng đáp: “Chẳng lầm” tức không kẹt “rơi”
hay “chẳng rơi”, mà chính là thấy rõ ràng, thấy tường
tận nhân quả, không chút sai lầm, không chút lờ mờ hỗn
tạp. Đó mới thật là bậc sáng suốt. Cho nên người đại
tu hành là đã mở sáng mắt trí tuệ, thấy tột cùng nhân
quả không còn nghi ngờ.
Trong
Tuyệt Quán Luận có đoạn nhân duyên hỏi đáp:
Hỏi:
- Có
nhân duyên được sát sinh chăng ?
Đáp:
- Lửa
hoang đốt núi, gió mạnh thổi gãy cây, núi lở đè thú, nước
tràn làm trôi trùng, tâm được đúng như thế thì cả đến
người cũng giết được. Nếu có tâm do dự, thấy sống,
thấy giết, trong đó chưa hết tâm có, thì dù đến con kiến
cũng buộc mạng ông.
Nghĩa
là vừa có động niệm là không tránh khỏi nhân quả; huống
nữa đã tạo tác rổi lại khởi tâm biện luận để muốn
phủ nhận nhân quả được sao ?
Thiền
sư Thừa Hạo khoảng niên hiệu Thiên Khánh 1023 – 1031, xuất
gia ở viện đại Lực, sau sư đến tham học với Thiền sư
Tư Quảng ở Bắc Tháp, đạt thấu huyền chỉ, được Tam
muội đại tự tại. Sư có may cái khố vải, rồi viết tên
các vị Tổ sư trên đó tùng lâm gọi là Hạo Bố Côn. Có
ông tăng trẻ thấy vậy bắt chước cũng may một cái làm
như thế. Sư biết được, gọi ông đến quở trách. Một
tuần sau ông tăng ấy thổ huyết chết.
Học
thiền không tới nơi mà bắt chước là nguy hiểm như thế.
Làm để tỏ ra ta đây đạt Thiền, ta đây tự tại không
vướng mắc… Nhưng không ngờ mình đã vướng mắc rồi.
Vướng cái gì? Tức là vướng mắc vào cái khuôn của người
xưa. Thêm một điểm nữa là, đã có tâm làm rồi, thì chạy
đâu cho khỏi? Có tâm thì có pháp, có mình, có người, có
đủ tất cả, không thể lý luận để chạy trốn!
Hòa
thượng Minh hỏi Quốc Sư Đức Thiều ở Thiên Thai:
- Ngài
Ca Diếp mang chiếc y trượng sáu của Đức Thích Ca vào núi
Kê Túc đợi lúc Di Lặc hạ sanh mới đem y một trượng sáu
khoác lên trên thân nghìn thước của Đức Di Lặc, kích thước
vẫn vừa vặn. Chỉ như thân của Đức Thích Ca cao một trượng
sáu, thân Đức Di Lặc cao một nghìn thước, vậy thì thân
biết rút ngắn lại hay y biết nới dài ra?
Sư
đáp:
- Ông
lại hội.
Minh
phủi áo đi ra.
Sư
nói:
- Kẻ
tiểu nhi, Sơn tăng nếu như đáp cho ông chẳng phải, chính
sẽ có nhân quả. Ông nếu chẳng phải, ta sẽ thấy rõ.
Minh
trở về bảy ngày sau bị thổ huyết. Hòa thượng Phù Quang
khuyên:
- Ông
mau đi sám hối.
Minh
liền đến phương trượng của Sư buồn khóc thưa:
- Nguyện
Hòa thượng từ bi nhận cho con sám hối.
Sư
bảo:
- Như
người té xuống đất, nhân đất mà đứng dậy, ta chưa từng
dạy ông có ngã hay đứng.
Minh
lại thưa:
- Nếu
Hòa thượng cho con sám hối, con nguyện suốt đời hầu Hòa
thượng.
Sư
vì Minh mà nói ra:
- Phật
Phật đạo đạo đồng, bổng dưng chia có cao thấp. Thích
Ca, Di Lặc như con dấu in vào đất bùn. Đây cho thấy nhân
quả không phải là chuyện đùa chơi, phải rất cẩn thận!
Đối với nhân quả không có luật sư biện hộ như ở thế
gian, mà gốc chính từ tâm tạo thành, tâm gây ra để có nghiệp
quả báo, thì cũng phải chính từ tâm mà chuyển nghiệp. Tâm
không chuyển chỉ cứ lý luận suông thì không thể sạch được
nghiệp. Người chân chính học đạo phải thật chín chắn
nhận định rõ ràng chỗ này!
II-
NHÂN VÔ THƯỜNG, QUẢ VÔ THƯỜNG
Người
tu giải thoát nhưng không rõ nhân quả, lấy tâm sinh diệt
tu hành thì được quả là sinh diệt không nghi. Ngày xưa nhiều
vị tu Tiên, đem tâm tưởng bám vào cái ta sinh diệt này mà
tu, cầu sống lâu, cầu thần thông, cuối cùng vẫn thuộc
luân hồi, không hết phiền não.
Trong
tập Nhân Thiên Bảo Giám có thuật lại câu chuyện Lữ Đồng
Tân Thiền sư Hối Cơ ở Hoàng Long. Ông sống vào khoảng thời
Đường, niên hiệi Thiên Bảo (742-755), nhiều lần đi thi Tiến
sĩ mà không đậu, nhân đó đi dạo chơi ngọn Hoa Sơn gặp
Chung Ly Quyền, là vị lang tướng đời Tấn tránh loạn vào
núi học pháp dưỡng mạng, lúc đó đem truyền dạy cho ông
thuật luyện Kim đan và kiêế pháp Tiên thiên, ông đạt được
phép dạo đi tự tại.
Nhân
đi qua núi Hoàng Long ở Châu Ngạc thấy khí tía vờn quanh,
ông nghi là có bậc di nhân ở, bèn đi vào thì gặp lúc Thiền
sư Cơ thượng đường. Sư biết có người lạ ẩn dưới
tòa, liền lớn tiếng bảo:
- Trong
chúng có kẻ trộm pháp.
Ông
đi ra hiên ngang hỏi:
- Trong
một hạt lúa chứa thế giới, trong nồi nửa thăng nấu núi
sông, hãy nói ý chỉ này thế nào?
Sư
đáp:
- Quỷ
giữ thây chết.
Ông
thưa:
- Ngặt
vì trong túi chứa thuốc trường sinh bất tử thì sao?
Sư
bảo:
Dù
trải qua tám muôn kiếp, cuối cùng cũng phải chết mất thôi.
Lữ
đồng Tân bất mãn, bực tức bỏ đi. Đến tối, ông phóng
kiếm đến định hại Sư. Sư đã biết trước nên lấy pháp
y trùm lên đầu rồi ngồi nơi phương trượng. Kiếm bay đến
bay quanh Sư mấy vòng, Sư lấy tay chỉ, kiếm liền rơi xuống
đất. Ông tạ tội. Sư nhân đó gạn hỏi:
- Trong
nồi nửa thăng thì chẳng hỏi, thế nào là trong một hạt
lúa chứa thế giới?
Ông
ngay lời đó liền có tỉnh, bèn làm bài kệ:
Bóp nát bầu rượu đập vỡ đàn,
Giờ đây chẳng luyến thuốc Kim đan.
Từ khi gặp được Hoàng Long đó,
Mới biết từ xưa dụng tâm quàng.
Ảo khước biều nhi toái khước cầm,
Như kim bất luyến thủy trung kim
Tự tùng nhất kiến Hoàng Long hậu,
Thủy giác tùng tiền thố dụng tâm.
Cho
thấy ông Lữ Đồng Tân tu được thần thông, được sống
lâu nhưng phiền não không sạch, tâm hơn thua còn nặng, tức
là vẫn sống trong lòng sinh tử luân hồi thôi.
Thiền
sư Cơ ở Hoàng Long thương xót đánh thức cho ông thấy rõ,
dù luyện được Kim đan, uống thuốc tiên sống lâu hàng ngàn
năm, nhưng cuối cùng cũng phải chết, cũng trở lại luân
hồi, đó chỉ như quỹ giữ thây chết thôi. Phải tỏ ngộ
được tự tánh, là cái nhân không sanh diệt mà nương đó
tu hành, mới là con đường giải thoát chân thật.
Trong
thời Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa có tỳ kheo Thiện Kiến ở nước
Kế Tân tu hành chứng được tứ thiền và năm thứ thần
thông. Gặp những lúc trời hạn hán, ông thường cầu được
mưa nên khởi lòng tăng thượng mạn, tự cho mình đã được
quả A-la-hán. Tôn giả Ưu Ba Cúc Đa muốn độ ông, Ngài bèn
hóa làm cho mười hai năm hạn hán. Mọi người đều hoảng
sợ, đến chỗ Tôn giả bạch rằng: “Kính mong Ngài vì chúng
con mà cầu mưa cho”. Tôn giả đáp: “Ta không thể cầu mưa,
ở nước Kế Tân có Tỳ kheo Thiện Kiến có khả năng cầu
mưa”. Khi ấy mọi người trong nước liền sai sứ đi qua
chỗ Tỳ Kheo kia cầu thỉnh. Tỳ kheo Thiện Kiến nhận lời
thỉnh, dùng sức thần thông của thế tục bay đến nước
Ma Đột La đồng thỉnh cầu: “Bạch Xà Lê! Xin Ngài vì chúng
con mà cầu mưa cho!”. Tỳ Kheo Thiện Kiến cầu mưa kết quả
mưa to ngập đầy các nơi. Mọi người đều vui mừng sắm
sửa đồ cúng đem đến cúng dường. Tỳ Kheo Thiện Kiến
rất được lợi dưỡng, liền khởi lòng kiêu mạn nói rằng:
“Chỗ Ngài Ưu Ba Cúc Đa được cúng dường chẳng bằng ta”.
Sau đó Tỳ Kheo ấy liền tự suy nghĩ: “Bậc A-la-hán thì
không có ngã mạn, mới biết ta nay chẳng phải là A-la-hán
rồi”.
Tỳ
Kheo ấy liền đi qua chỗ Tôn giả cầu chỉ dạy phương pháp
để tiến thêm. Tôn giả bảo: “Ông chẳng giữ gìn phép
tắc của Phật, làm sao dạy ông? Phật chẳng cho Tỳ Kheo cầu
mưa, ông đã làm lại còn sanh tâm kiêu mạn, làm sao tự nói
rằng ta được A-la-hán?”. Tỳ Kheo ấy liền hướng về Tôn
giả chí tâm sám hối. Tôn giả chỉ dạy cho, ông liền đắc
quả A-la-hán.
Như
vậy Tỳ Kheo Thiện Kiến tu hành chứng được tứ thiền,
được năm thần thông nhưng còn lòng kiêu mạn, tức cái nhân
sinh tử chưa hết nên không chứng được giải thoát vô sinh.
Cũng may là ông tỉnh lại, nếu không, cứ bám chặt vào đó
cho là mình đã thật đắc đạo, rồi khinh thường các bậc
thánh khác, thì cuối cùng không biết sẽ đi về đâu? Giải
thoát thì hẳn là khó đến rồi.
Còn
người tu cầu phước đời sau hưởng thế nào? Đây là tu
trong luân hồi, nhưng tránh mất thân người. Bởi đời sau
hưởng là ai hưởng? Ta hưởng chớ gì! Đó là con máng tính
chấp ngã, nghĩ đến mình hưởng, tức còn vướng trong sinh
tử. Kinh Kim Cang Phật dạy bố thí bảy báu đầy cả hằng
sa thế giới, không bằng người trì bốn câu kệ kinh Kim Cang
. Bởi bố thí nhiều thì được phước lớn rồi cứ lo hưởng
phước, sinh đi sinh lại để hưởng trong vòng luân hồi này,
với con mắt của bậc giác ngộ cũng đâu có gì vui sướng!
Mỗi một lần sinh tử là bao nhiêu đau khổ trong đó, đâu
hẳn là vui. Hơn nữa, nếu thiếu trí tuệ mà có phước tức
còn lòng tham thì càng tham thêm.
Như
chuyện vua Đảnh Sanh, do phước báu đời trước, vua cai trị
một nước rộng lớn, có vòng vàng, voi bạc, ngựa khỏe,
ngọc minh châu, vợ xinh đẹp, quan văn trung hiếu, quan võ hùng
dũng và một ngàn người con. Vua được trời mưa vàng bạc,
các nước bốn phương thần phục, nhưng vẫn chưa thỏa mãn,
vua nghĩ muốn lên cõi trời cho biết. Nhờ phước lành của
vị chuyển luân vương, chiếc vòng vàng kéo vua bay lên trời.
Trời Đế Thích nhìn thấy vua Đảnh Sanh liền ra nghinh đón
vào trong cung trời và nhường tòa cho ngồi. Vua Đảnh Sanh
ngồi xong, nhìn xuanh quanh thấy cung điện làm bằng bảy báu,
tỏa sáng khác xa ở nhân gian, vua chưa từng thấy bao giờ,
lúc đó, vua thầm nghĩ: “Ở hạ giới, ta đã thống lĩnh
đất đai bốn phương, ngọc ngà châu báu, mỹ nữ nhiều vô
kể, nhưng những thứ đó đâu có thể sánh được với những
thứ ở thiên cung này. Hay là trời Đế Thích sắp qua đời,
ngài gọi ta ngồi vào cung điện này để cho ta cai quảng
cả trên trời lẫn hạ giới, thật là tuyện diệu biết bao!”.
Vua
Đảnh Sanh vừa có ý nghĩ xấu đó, bị trời Đế Thích đẩy
rơi trở lại hạ giới. Sau đó vua mắc bệnh nặng, các đại
thần đến vây quanh thăm hỏi, vua trịnh trọng bảo:
- Các
ngươi luôn ở bên ta, tất cả những gì ta làm, các ngươi
đều biết rõ. Nếu như sau này có ai đó hỏi: “Đại vương
của các ngươi chết như thế nào?”. Các ngươi phải đáp
rằng: “Ông ta chết vì bệnh tham lam vô độ. Bây giờ ta
đã hiểu rằng tham lam là con dao lợi hại để làm tổn hại
sinh mạng của con người, là nọc độc làm vong quốc! Tiếc
quá, ta hiểu ra thì đã muộn rồi. Các ngươi nên bảo người
đời rằng: tham lam là ngọn lửa thiêu thân, chớ nên xem thường!
Nói
xong, vua Đảnh Sanh buông xuôi tay xuống, ngài qua đời. (Theo
truyện cổ Phật giáo).
Đây
cho thấy, người có phước nhưng thiếu tuệ, bị lòng tham
sai khiến, tham không biết đủ, tham quá mức nên đành chịu
khổ. Đã lên được cung trời, được vua trời nhường cho
ngồi chung tòa, vẫn còn chưa biết đủ, muốn chiếm luôn
tòa ngồi một mình, thành tổn phước, rơi trở lại nhân
gian.
Kinh
Pháp Cú câu 186-187, Phật cũng dạy:
Giả sử mưa vàng bạc
Cũng chẳng thỏa lòng tham
Người trí rõ ái dục
Vui ít mà khổ nhiều
Thế nên vui cõi trời
Người cũng chớ mong cầu
Để tử bấc chính giác
Chỉ cần trừ ái dục.
Nghĩa
là, lòng tham của con người là không đáy, không biết đâu
là giới hạn. Mà như vậy thì có bao giờ được thỏa mãn?
Không thỏa mãn thì sao gọi là vui được? Nên gọi là vui
trong cái khổ thôi! Đó là nói về cái vui trong luân hồi thuộc
nhân quả sinh diệt, giữ không mất thân người, để tiến
lên nữa, chớ không dừng ngay đây.
III-
NHÂN CHẲNG SINH DIỆT, QUẢ CHẲNG SINH DIỆT
Người
tu hành giải thoát muốn đạt quả chẳng sinh diệt, phải
chọn đúng cái nhân chẳng sinh diệt mà tu, nhân quả tương
ứng với nhau thì chỗ làm mới đáng tin chắc.
Trong
kinh Viên Giác, Bồ tát Văn Thù hỏi Phật:
- Bạch
Đức Đại Bi Thế Tôn! Xin vì chúng nghe pháp trong này mà nói
nhân địa pháp hạnh thanh tịnh bổn khởi của Đức Như Lai,
và nói cho các Bồ tát đối với Đại thừa phát tâm thanh
tịnh, làm sao mà xa lìa các bệnh, hay khiến cho chúng sinh đời
sau, người cầu Đại thừa khỏi rơi vào tà kiến?
Phật
bảo:
- Này
thiện nam tư! Đức Vô thượng pháp vương có môn Đà-la-ni
tên Viên Giác, lưu xuất tất cả thanh tịnh chân như, Bồ
đề, Niết bàn và Ba-la-mật, trao dạy cho các bồ tát. Tất
cả nhân địa bổn khởi của Như Lai đều y nơi giác tướng
thanh tịnh viên chiếu này, hằng đoạn vô mình mới thành
Phật đạo.
Tức
Bồ tát Văn Thù hỏi Đức Phật về nhân địa ban đầu của
các Đức Phật tu hành, nhân đó mà thành quả Viên Giác. Phật
chỉ rõ, nhân địa đó, chỉ là y theo tánh Viên Giác thanh
tịnh mà dứt sạch vô minh, liền thành quả giác. Tánh Viên
Giác tức tâm thể chân thật không sinh không diệt nơi mỗi
người chứ không gì khác. Lấy đó làm nhân địa tu hành,
tức khế hợp với quả thường trụ, đó là nhânq quả tương
ưng với nhau, việc làm thành tựu như ý nguyện là không nghi.
Kinh
Kim Cang, Phật cũng từng dạy Bồ tát phát tâm Vô Thượng
Chính Đẳng Chính Giác, muốn hàng phục tâm, phải độ tất
cả chúng sinh vào vô dư Niết bàn mà không thấy có một chúng
sinh được diệt độ.
Phát
tâm Vô Thượng Chính Đẳng Chính Giác, tức tâm chẳng sinh
chẳng diệt. Độ hết chúng sanh vào vô dư Niết bàn, tức
sống trở về trước khi động niệm. Đó là sống trong tâm
chẳng sinh chẳng diệt, không theo các tâm sinh diệt động
khởi, đi lang thang vào các trần quyên mất đường về. Chỗ
tu hành chân thật là như thế, đâu thể lẫm lẫn!
Kinh
Lăng Nghiêm, qua bảy chỗ Phật gặn hỏi tâm cuối cùng Phật
bảo A-nan:
- Ngay
cả hư không còn có tên, có tướng, huống chi cái chân tâm
sáng suốt, trong sạch, nhiệm mầu, là tánh của tất cả tâm
mà không tự thể sao?
Song
nếu ông quyết chấp cái phân biệt giác quan, hiểu biết là
tâm, thì cái tâm ấy phải rời hành tướng của các trần:
sắc, thanh, hương… có toàn tánh. Chứ hiện nay, ông vâng
nghe pháp âm của ta, đó là nhân tiếng mà có phân biệt, dầu
cho diệt hết tất cả thấy, nghe, giác, biết, bên trong giữ
lấy cái trống rỗng, u nhàn thì cũng còn là sự phân biệt
bóng dáng pháp trần mà thôi.
Tôi
không bảo ông chấp cái ấy không phải là tâm, nhưng ông
phải chính nơi tâm ông, suy xét chính chắn, nếu rời tiền
trần không có tự thể, thì nó chỉ là sự phân biệt bóng
dáng tiền trần. Tiền trần không thường trụ, vậy khi chúng
biến diệt, cái tâm nương vào tiền trần ấy cũng đồng
như lông rùa sừng thỏ, ắt pháp thân của ông cũng đồng
với hoại diệt, còn gì để chứng Vô sanh pháp nhẫn?
Tức
là Phật không bác bỏ tâm phân biệt, song phải nhận rõ thể
chân thật của nó để sống không lầm nhân quả để
tu hành. Bởi tâm suy nghĩ phân biệt là thứ luôn luôn đi theo
duyên, theo cảnh cần phải có đối tượng mới tồn tại.
Lìa đối tượng, không chỗ duyên là nó mất dấu, là hết
phân biệt. Đó không phải là chỗ tựa vững chắc. Còn tánh
phân biệt lìa tiền trần tức lìa đối tượng mà nó vẫn
có, vẫn thường hiện hữu đó mới là cái nhân thường trụ,
luôn có mặt không thiếu vắng. Đây mới đích thực là cuộc
sống vững chắc lâu dài không có gì phá hoại được. Do
đó, trong nhà thiền dạy người phải minh tâm kiến tính,
tin nhạn mặt mày chân thật xưa nay của chính mình, nếu chưa
nhận được chỗ này là vẫn còn đứng ngoài cửa Tổ, chưa
vào nhà thiền.
Thiền
sư Hoài Nhượng ở Nam Nhạc bảo Đạo Nhất tức Mã Tổ sau
này: “Nếu lấy thành hoại, tụ tán mà thấy đạo là không
thể thấy đạo”. Tức đem cái sinh diệt vô thường mà vào
đạo là không thể được. Muốn vào đạo, phải dám buôn
cái vô thường sinh diệt này, tin nhận chẳng vào cái chân
thật không sinh diệt mới là chỗ gặp nhau với chư Tổ.
Thiền
sư Phổ Nguyên ở Nam Tuyền cũng từng dạy chúng: “Chỉ lãnh
hội được tính từ vô lượng kiếp đến giờ không biến
đổi tức tu hành, diệu dụng mà chẳng trụ tức hạnh Bồ
tát”.
Ý
Sư bảo, lãnh nhận tính không sinh diệt nơi mình, đó là chỗ
sống chân thật, là tu hành, ngoài ra đều là phương tiện
chưa phải thật. Người tu thiền phải nắm rõ then chốt này
để tu hành không lầm nhân quả, thì bảo thành tựu được
ý nguyện.
Thiền
sư Sư Bị ở Huyền cũng dạy chúng:
- Nay
ông muốn ra khỏi cái chủ tể của thửa ruộng thân năm uẩn,
chỉ biết nhận lấy thể kim cương bí mật. Cổ nhân đã
nói với các ông: “Viên thành chính kiến khắp sa giới”.
Nay tôi lấy ít phần nói thí dụ, các ông có trí do đó có
thể biết: các ông thấy mặt trời nơi thế giới này chăng
? Người thế gian tạo tác, sinh hoạt, bao nhiêu việc tâm hành
tạo nghiệp đều nhờ ánh sáng mặt trời mà có. Song mặt
trời có nhiều thứ đến tâm hành chăng? Lại có chỗ chẳng
giáp chăng? Muốn biết thể kim cương này cũng như thế. Hiện
nay núi sông đất bằng, mười phương cõi nước, sắc không
sáng tối và thân tâm ông, đều nhờ cái oai quang viên thành
của ông mà hiện.
Cả
thảy trời người các loài quần sinh tạo nghiệp, thọ quả
báo có tính không tính, đều nhờ cái oai quang của ông, cho
đến Chư Phật thành đạo, thành quả, tiếp vật lợi sanh,
đều trọn nhờ cái oai quang của ông. Nhưng thể kim cương
lại có phàm phu chư Phật chăng? Có tâm hành của ông chăng?
Không thể nói không là đúng được. Biết chăng? Ông đã
có cái kỳ đặc như thế, bày hiện chỗ xuất thân sao chẳng
phát minh lấy? Lại theo người nhằm trong thửa ruộng thân
năm uẩn, trong cõi quỹ mà tìm kế sống. Hẳn là tự dối
mất vậy. Chợt gặp quỷ vô thường đến, mắt trợn miệng
méo, thân kiến mạng kiến như thế ấy thật khó chống chọi
được. Giống như lột vỏ con rùa sống, thật khổ!
Muốn
tu giải thoát chân thật, phải nhận thể Kim Cang bí mật,
tức cái nhân chẳng sinh chẳng diệt nơi mỗi người đều
sống hằng ngay trong cái oaiq uang đó. Chớ lầm nhận thân
năm uần này, nó là cái sinh diệt vô thường, sẽ đưa đến
quả sinh tử luân hồi, không phải là lối ra.
Hàn
Sơn có một bài thơ:
Một bình vàng đúc thành,
Một bình nặn từ đất.
Hai bình mặc anh em,
Cái nào là bền chắc ?
Muốn biết bình có hai,
Cần rõ nghiệp chẳng một.
Lấy đây nghiệm nhân sinh,
Ngày nay tu hành đấy.
***
(Nhất bình chú kim thành,
Nhất bình duyên nê xuất.
Nhị bình nhậm quân khan,
Na cá bình lao thật.
Dục tri bình hữu nhị,
Tu tri nghiệp phi nhất,
Tương thử nghiệp sinh nhân.
Tu hành tại kim nhật. )
Trong
đây, Ngài Hàn Sơn muốn nhắc cho người sáng suốt, phải
khéo nhận rõ hai cái nhân quả vô thường sinh diệt và bền
chắc lâu dài, để lấy đó tu hành đúng đắn không phải
ăn năn về sau.
IV-
TRONG SINH DIỆT, RÕ CHẲNG SINH DIỆT
Cái
chân thật chẳng sinh chẳng diệt là phải nhận ngay trong cái
sinh diệt, không phải tìm đâu khác. Lìa bỏ sinh diệt để
tìm chẳng sinh diệt, là còn có tâm lấy bỏ, cũng thuộc sinh
diệt. Đây là đạo lý thực tế, mỗi người có thể chứng
nghiệm ngay cuộc sống này.
Có
vị tăng hỏi Thiền sư Huệ ở Hoa Nghiêm:
- Vọng
tâm không chỗ nơi tức Bồ đề.
Vọng
tâm tức là cái sinh diệt vô thường, là hư dối không thật.
Nhưng ngay khi vọng thấy rõ nó vốn không có chỗ nơi, không
có gốc nguồn thật sinh, tức đó là Bồ đề rồi! Bởi nếu
nó thật có chỗ nơi thì đâu gọi là vọng. Chính ngay khi
vọng đó, đã sẵn tính chân trong đó rồi. Chỉ vì quên tính
chân mới khởi vọng, rồi lầm theo đó thành đi theo sanh diệt.
Giờ ngộ trở lại, ngay vọng tức chân, lẽ thật vẫn luôn
hiện hữu đó!
Huệ
Khả hỏi Tổ Bồ Đề Đạt Ma:
- Tâm
con chưa an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.
Tổ
Đạt Ma bảo:
- Ông
đem tam ra đây ta an cho.
Huệ
Khả lặng im tìm trở lại hồi lâu, liền thưa:
- Con
tìm tâm không thể được.
Tổ
Đạt Ma bảo:
- Ta
đã an tâm cho ông rồi!
Đây
là một bài pháp tuyệt diệu mà không phải thuyết dài dòng.
Bởi quên chân khởi vọng nên thành bất an, rồi chạy đi
tìm cách để an. Tâm bất an đó là gì? Nắm bắt nó đem trình
ra xem! Quả là lầm! Xoay trở lại tìm kỹ nó, nó đâu còn
chỗ duyên để khởi, tức tự nó lặng mất, không còn bóng
dáng để thấy. Ngay đó tự an rồi! An tức hợp về tính
chân, khỏi tìm đâu nữa. Lối vào thiền là đây.
Thiền
sư Bổn Tịch tham thiền với Hòa thượng Động Sơn và được
thầm trao tông chỉ. Khi Sư từ giã đi, Động Sơn hỏi:
- Ông
đi về đâu?
Sư
thưa:
- Đi
về chỗ không biến đổi.
Động
Sơn hỏi:
- Chỗ
không biến đổi há có đi sao?
Sư
thưa:
- Đi
cũng chẳng biến đổi.
Đây
là nói lên chỗ sống chân thật của người đạt đạo. Đi
tức là động, là sinh diệt, biến đổi. Chỗ không biến
đổi là chỗ sống thiền. Người đạt đạo thì ngay trong
chỗ biến đổi, động chuyển vẫn sống trong bất động,
không lầm theo cái biến đổi. Sống được như vậy tức
lìa niệm hai bên động tịnh, còn ai gạt mình được?
Đây
là ngay chỗ đi cũng là thiền rồi.
Và
kinh Hoa Nghiêm, khi Phật thành đạo liền than: “Lạ thay! Lạ
thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ dức tướng trí
tuệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà không
thể chứng được. Nếu lìa vọng tưởng là trí thanh tịnh,
trí tự nhiên, trí vô sư tự nhiên hiện tiền”.
Nghĩa
là Phật thấy rõ ngay thân chúng sanh vô thường sinh diệt
này có sẵn thân Như Lai, chỉ vì những thứ vọng tưởng
chấp trước che đậy mà không nhận ra. Chư Phật, chư Tổ
cũng chính ngay thân sinh diệt này mà chứng ngộ thân chân
thật bất diệt, đâu phải từ nơi nào khác tới. Đó là
một lẽ thật muôn đời, mỗi người khéo nhận ra là mở
mắt trí tuệ, vén màn vô minh từ vô thủy.
Rõ
ràng ngay thân sinh diệt của chúng sanh đều có đủ ông Phật
thường trụ vô lượng thọ, còn gì nghi ngờ nữa!
V-
THẤU TỘT NHÂN QUẢ TRONG MỘT NIỆM
Thiền
sư Trí Tạng ỡ Tây Đường đang công tác toàn chúng, liền
bảo:
- Nhân
quả rõ ràng, phải làm sao? Phải làm sao?
Khi
ấy có vị tăng bước ra lấy tay chống dưới đất. Sư hỏi:
- Làm
gì?
Tăng
thưa:
- Cứu
nhau! Cứu nhau!
Sư
bảo đại chúng:
- Ông
tăng này hơi giống chút ít.
Tăng
phủi áo bỏ đi. Sư bảo:
- Trùng
trong thân sư tử tự ăn thịt sư tử.
Như
vậy tự mình làm, rồi tự mình kêu cứu, ái cứu mình? Trùng
trong thân sư tử tự ăn thịt sư tử là tự nhắc người
phải tự khéo giữ gìn. Nhân quả rõ ràng, nhít một chút
không thể được. Người tu kỹ không thể dễ duôi, hời
hợt trong một niệm. Vừa động niệm là rơi vào nhân quả
rồi! Động tức là sinh, có sinh tức diệt, ngay đó rơi vào
nhân quả sinh diệt vi tế. Trong Chứng Đạo Ca Thiền sư Huyền
Giác bảo:
Phải đó, Long Nữ thoắt thành Phật,
Trái đó, Thiện Tinh rơi địa ngục.
***
( Thị tắc Long Nữ đốn thành Phật
Phi tắc Thiện Tinh sanh hãm trụy )
Nghĩa
là ngay một niệm chớp nhoáng đó, liền lên xuống như điện
xẹt, người tu hành có thể khinh thường được sao? Thành
Phật cũng ngay một niệm này, vào địa ngục cũng ngay một
niệm này, chỉ cách nhau ở mê và giác. Giác nó là chân thật,
sáng suốt. Mê nó là vào địa ngục, tối tăm. Thấy tột
đến chỗ này thì tu hành thật kỹ, không dám xem thường
trong từng tâm niệm, vậy còn gì gạt được mình?
Nhân
quả đến đây không còn là lý cạn cợt nữa, mà phải công
phu thật sâu mới thấu tột. Cho nên “Chằng lầm nhân quả”
liền thoát khỏi kiếp chồn. Người đại tu hành là phải
thấy tường tận, thấu tột đến như thế, đâu thể chỉ
hiểu suông trên chữ nghĩa. Rất nguy hiểm!
Vua
Trần Nhân Tông từng hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung:
- Chỉ
như gìn giữ giới hạnh trong sạch không chút sao lãng là thế
nào?
Thượng
sĩ cười không đáp. Ngài thỉnh cầu thêm, Thượng sĩ nói
hai bài kệ:
Giữ giới cũng nhẫn nhục,
Chuốc tội chẳng chuốc phúc.
Muốn biết không tội phúc,
Chẳng giữ giới nhẫn nhục.
***
Như người leo lên cây,
Trong an tự cầu nguy.
Như người không leo cây,
Trăng gió có làm gì?
Đây
là chỗ sâu sa khó hiểu, hiểu lầm là rơi địa ngục dễ
dàng. Ý hai bài kệ ngầm chỉ, người còn có tâm giữ giới,
có tâm nhẫn nhục tức là còn chưa hết tội, còn chưa sạch
phiền não tham sân, cho nên mới có giữ, có nhẫn để khắc
phục nó. Nhưng trước khi động niệm thì tội phúc trụ vào
đâu? Có động niệm mới có niệm lành, niệm dữ; niệm lành
thì được phúc, niệm dữ thì mắc tội. Như người không
leo cây, tức trước khi động niệm thì tự an đâu có lo gì;
trái lại, mình khởi niệm rồi lại lo giữ nó, có phải tốn
công nhiều chăng? Tuy nhiên sống được chỗ này không phải
dễ, đâu thể lý luận mà được. Lý luận để khỏi tội
phúc được sao? Vì vậy Thượng sĩ nói xong liền dặn kỹ:
“Chớ bảo cho người không ra gì biết”. Bởi sợ rằng
họ nghe suông rồi chỉ bắt chước nói rỗng, làm bừa, sẽ
chuốc lấy nhân quả khó lường được! Miệng nói không tội
phúc nhưng tâm chứa đầy niệm phải quấy, hơn thua, thì bảo
rằng khỏi tội được sao? Rất phải cẩn thận!
VI-
TÓM KẾT
Người
tu hành, nhất là tu Thiền đối với lý nhân quả phải cho
tường tận, thấy tột cội nguồn sinh diệt vi tế, không
thể hời hợt thông qua, hoặc lờ mờ nhân quả dễ đi lạc!
Hòa
thượng Hư Vân dạy: “Điều kiện Quyềt Định trước khi
tu tập, thì điều thứ nhất đó là TIN SÂU NHÂN QUẢ. Ngài
bảo: - Không luận người nào, nếu muốn dụng công tu tập,
trước cần phải tin sâu vào nhân quả. Nếu không tin nhân
quả, thực hành càn bướng, không những tu hành chẳng thành
công mà tam đồ cũng khó tránh” (Tham Thiền Yếu Chỉ)
Đây
là kinh nghiệm của bậc đi trước, người đi sau phải nhận
kỹ để bước đi vững chắc thành công.
Trên
đây đã trình bày rõ ràng nhân quả từ thô đến tế, từ
vọng đến chân, người tu hành phải nhận định kỹ để
sống đúng đắn, không lầm lẫn. Còn đường đã chỉ rõ,
lối đi đã phân rành chỉ còn tùy người chọn lấy mà đi
thôi!
TÍNH
CHẤP NGÃ – NGÒI NỔ CỦA MỌI SỰ ĐỔ VỠ
Thích
Thông Phương
 |
 |
I-
NHÌN THẲNG SỰ THẬT:
Trong
cuộc sống của thế gian này, mỗi người đang sống hàng
ngày đây, có bao giờ mình tự đặt câu hỏi: Là cuộc sống
của cái gì chăng? Phải thấy lại chỗ này để có một cuộc
sống ý nghĩa hơn.
Xét
kỹ lại, cuộc sống này là cuộc sống của một cát TA chứ
không gì khác phải không? Bởi ngay từ cái gốc ban đầu
chúng ta sinh ra đời là từ nó mà ra - Tức là do lòng thám
ái chấp ngã nên nó mới sinh ra ở đây; nếu không có nó
thì đã vào vô sinh, niết bàn rồi. Do đó, nếu sự sống
này chấm dứt, mất nó thì quyết phải tìm cái khác thay vào,
dòng sinh tử tiếp nối không dừng từ đây. Và cái gọi là
cuộc sống cũng từ đó. Cho nên, trừ bậc Bồ tát thị hiện,
ngoài ra bất cứ ai có mặt trên đời này đều mang theo một
cái tình chấp ngã luôn luôn có mặt trong cuộc sống. Đây
gọi là cái vô minh cùng chúng sinh (câu sinh vô minh). Còn chưa
vắng bóng cái này là chưa bao giờ giải thoát viên mãn, chưa
thật sạch hết khổ đau.
Mỗi
người hãy chính chắn nghiệm kỹ lại xem, mọi thứ buồn
vui, mừng giận, thương ghét, hơn thua… trên đời là vì cái
gì mà có? Buồn là vì cái gì mà buồn? Vì cái ta không được
như ý chứ gì? Vui là vì cái gì mà vui? Vì cái ta được thỏa
mãn phải không? Thương ghét vì đâu mà có? Vì thuận với
ta nên ta thương, bởi nghịch với ta nên ta ghét. Rõ ràng là
như thế. Dù ai có cố biện luận thế nào cũng không thể
chối bỏ lẽ thật này.
Cả
một cuộc đời tranh giành được mất, hơn thua, khổ nhọc
tạo tác sự nghiệp tốn hai bao mồ hôi, xương máu, có lúc
chém giết nhau, cũng vì cái gì? Chỉ vì cái ta này thôi. Không
có nó thì giành giật cho ai? Để làm gì?
Rồi
nào là tự ái, tự trọng, tự tôn, tự đại, tự kiêu, tự
mãn, tự hào, mặc cảm, tự ti v.v… cũng gốc tại cái ta
thôi. Tự ái là bị chạm đến cái ta chứ gì? Tự trọng
là nâng cái ta lên thôi…. Cho thấy, chỉ vì một cái ta mà
sinh ra đủ thứ chuyện trên đời.
Thông
thường chúng ta hay đổ lỗi cho người, cho huynh đệ, cho
hoàn cảnh…, là trốn trách nhiệm, là bảo bọc cái ta này
quá kỹ! Chớ lầm! Mỗi người hãy tự xét lại, khi ta buồn
trách ai, là tại vì ai mà có buồn trách? Nói tại cái này,
tại cái kia, tại người này, người nọ, tại lý do này,
tại lý do khác… mà quên điểm chính là Tại vì cái ta này
bị đụng chạm! Lo trách người mà quên trách cái ta này.
Cho nên nó từng được mang tên: cái ta nguy hiểm!!!
Trong
Kinh Bách Dụ có câu chuyện: Thuở xưa có một lão sư có hai
người đệ tử theo hầu, vì chân ông có bệnh không duỗi
ra được, thường phải chống nạng đi, ông nhờ hai người
đệ tử đấm bóp, mỗi người một chân. Nhưng hai vị đệ
tử ấy thường ngày không hòa thuận với nhau, người nào
cũng nói:
- Không
phải là Ta chán ghét ngươi mà chính là ngươi chán ghét Ta.
Hai
người coi nhau như oan gia nghiệp báo.
Hôm
nọ, một người có việc đi nơi khác, người ở lại nhà
bèn dùng đá đập gãi chân lão sư mà người đệ tử đi
vắng thường ngày xoa bóp. Khi người đệ tử kia trở về,
thấy vậy rất phẫn nộ, định tâm báo thù lập tức dùng
đá đập gãi chân lão sư mà người đệ tử ở nhà thường
đấm bóp. Kết quả hai chân lão sư đều bị gãy hết.
Cái
chân ông thầy đâu có tội vạ gì, nhưng vì sao đưa đến
trường hợp đau đớn như thế? Xét kỹ, chỉ vì cái ta đố
kỵ mà ra – Rõ ràng cho thấy cái ta nguy hiểm chưa?
II-
GIẢI TRỪ CHẤP NGÃ
Đã
thấy được cái gốc của mọi sự phát sinh trên cõi đời
là từ cái ta mà ra. Chính chấp ngã là tự đóng khung mình
trong cái vỏ chết, là thu hẹp tình thương, thiếu sức sống
sáng ngời, rộng lớn, Phật gọi đó là sống trong vô minh.
Song chúng ta đành cam chịu sống trong vô minh mãi sao ? Nay đã
có ánh sáng Phật pháp soi đến, còn chưa chịu mở mắt ra
sao? Tu hành nói cho nhiều cách, nhiều phương tiện, gồm cả
tám mươi bốn ngàn pháp môn, nhưng căn bản sạch hết tình
chấp ngã là xong: Nhân vô ngã, pháp vô ngã. Nắm được mấu
chốt này mà hạ thủ công phu là chính xác. Kinh Kim Cang nói:
“Thông đạt pháp vô ngã, gọi là Bồ tát. Tức Bồ tát thì
phải vượt qua vô ngã và thông suốt pháp vô ngã. Bởi vì,
nếu mang cái ta này mà tu hành, quyết không thể giải thóat,
về sau phải sinh trở lại theo nó thôi. Dù các vị tu thiền
định cao nhưng còn mang TA trong đó, thì cũng phải mang nó
theo lên các cõi Trời sống hàng vạn năm, đến hết sức
định, cũng rớt trở lại sinh vào các cõi. Như ông Uất-đầu-lam-phất
tu đắc phi tưởng phi phi tưởng định, được sinh lên cõi
trời phi phi tưởng, nhưng Đức Phật nhìn thấy sau khi hết
tuổi thọ trên cõi Trời đó, ông sẽ sinh trở lại cõi đời
này làm con chồn bay.
Bởi
vậy, trong Kinh Đại Bát Nhã, Bồ tát Thường Đề vì cúng
Dường Pháp Sư và học Bát nhã mà sẵn sàng bán tim, gan, tủy
sống không luyến tiếc. Có người thắc mắc: Đã bán tim
gan, vậy lấy gì học Bát nhã? Quả thật đây là một ý nghĩa
rất sâu trong kinh. Chính đó mới là học Bát Nhã! Là học
Bát nhã sống, không phải học trên chữ nghĩa. Tức là ngay
đó quên cái ta này, giải trừ cái tình chấp ngã đã cố
kết lâu đời, mới thực học được Bát nhã. Học Bát nhã
là thế. Đâu phải học từng câu, từng chữ, giải nghĩa
rộng, nghĩa hẹp để thêm hiểu biết thôi. Hiểu nhiều có
khi lại thêm tình chấp ngã. Vô minh lại sống dậy! Thấy
Ta hơn người, Ta hiểu biết, cái gì cũng Ta và Ta… Đó là
đang đưa mình đi trong con đường vô minh.
Trong
Kinh Viên Giác, Phật định nghĩa vô minh rất rõ. Phật bảo
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi:
- “Này
thiện nam tử! Tất cả chúng sinh từ vô thủy đế nay, nhiều
thứ điên đảo giống như người mê lạc, thấy bốn phương
đổi chỗ, vọng nhận bốn đại làm tướng tự thân, cái
bóng duyên theo sáu trần làm tướng tự tâm. Ví như người
bệnh mắt thấy hoa đốm trong hư không và mặt trăng thứ
hai. Này thiện nam tử! Hư không thật không có hoa mà người
bệnh vọng chấp. Do vì vọng chấp nên chẳng những lầm tự
tánh của hư không này, cũng lại mê luôn chỗ hoa sinh kia là
thật có. Do đây vọng có luân chuyển nơi sinh tử, nên gọi
là vô minh”.
Tức
là vọng chấp thân bốn đại này và tâm duyên theo sáu trần
là làm ta, đó là vô minh. Bởi nó không phải thật ta mà chấp
là Ta. Chính đó là nguồn gốc của sinh tử. Chừng nào còn
bóng dáng ta, là còn đi trong luân hồi không thể nào tránh
khỏi.
Đã
thấy rõ cái nguy hiểm của tình chấp ngã như thế rồi, lại
cứ giữ mãi sao ? Đó là chỗ chướng đạo, là che mờ chân
lý!
Có
vị Tăng hỏi Thiền sư Duy Khoan:
- Đạo
ở đâu ?
Sư
đáp:
- Ở
trước mắt.
Rất
gần gũi không có chút gì cách biệt.
Ông
tăng hỏi thêm:
- Sao
con không thấy ?
Sư
bảo:
- Vì
ông còn có ngã.
Rõ
ràng nó ở ngay trước mắt đây thôi, nhưng ông không thấy,
chỉ vì ông còn thấy có ngã, còn bám vào cái ta mấy chục
kí-lô này thì làm sao thấy Đạo được!
Ông
tăng hỏi tiếp:
- Con
còn có NGÃ nên không thấy, Hòa thượng thấy chăng?
Sư
đáp:
- Có
ông, có ta rồi cũng không thấy luôn.
Tức
là còn thấy có mình thật, người thật, phân biệt mình người,
đây kia, lại càng lăng xăng thêm nữa, nên cũng không thể
thất ĐẠO.
Ông
tăng lại hỏi thêm câu nữa:
- Không
con, không Hòa thượng lại thấy chăng ?
Sư
đáp:
- Không
ông không ta còn ai cầu thấy ?
Chính
xác là như vậy, không còn thấy có mình, có người, không
phân cách kia đây, thì ngay đó là cái gì ? Sao còn phải hỏi
nữa ? Còn có gì che mờ nữa đâu ? Học đạo là phải học
thấu đến chỗ này!
Trong
Kinh Đại Bát Niết Bàn cũng có câu chuyện: Đức Phật khi
còn tu Bồ Tát hạnh, làm một vị Tiên ở trong núi sâu, trọn
ngày hành đạo, muốn cầu kinh điển Đại thừa mà không
nghe biết ở đâu có. Hôm đó, vị tiên đang ngồi thiền tu
duy trong hang núi, cảm đến trời Đế thích hiện xuống hóa
làm quỷ La sát tới bên hang dùng tiếng trong trẻo đọc nửa
bài kệ:
Chư hành vô thường,
Thị sinh diệt pháp.
***
Các hành vô thường,
Là pháp sinh diệt
Vị
tiên nghe được liền xuống giường thiền đi ra ngoài nhìn
khắp nơi xem ai đọc nửa bài kệ đó, thì thấy một hình
dáng ghê sợ, đầu tóc rối bùm mặt xanh như chàm, răng nanh
lòi ra, thân to, bụng đói teo nhỏ. Vị tiên bèn hỏi:
- Phải
ông đọc hai câu kệ vừa rồi chăng?
La
sát đáp:
- Phải,
chính tôi đọc đó.
Vị
tiên nói:
- Xin
ông đọc tiếp hai câu cuối, tôi sẽ đền ơn cho.
La
sát nói:
- Bụng
tôi đang đói mấy ngày, không còn sức để đọc tiếp.
Vị
tiên hỏi:
- Thức
ăn của ông là gì?
La
sát nói:
- Tôi
ăn bằng thịt của người và uống máu nóng, nếu ông có
thể xả thân cho tôi ăn tôi sẽ nói cho.
Vị
tiên nghĩ: “Nếu mình xả thân cho y ăn thì lấy gì nghe pháp
?”. Bèn nghĩ ra một cách, xin La sát hãy viết nửa bài kệ
lên đá, Ngài ở trên cao nhìn xuống, đồng thời gieo thân
cho ăn.
Như
thế La sát viết hai câu:
Sinh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.
***
Sinh diệt diệt rồi,
Tịch diệt là vui.
Vị
tiên nhảy xuống, La sát đỡ lấy thân Ngài và hiện lại
nguyên hình trời Đế thích, tán thán:
- Lành
thay! Ngài sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, xin
chớ quên độ tôi.
Ai
thấy được ý nghĩa gì trong đây ? Tại sao muốn nghe được
hai câu kệ sau, buộc phải hy sinh thân mạng như thế? Đó
là một ý nghĩa rất sâu. Bởi vì, muốn nghe đến chỗ “Sinh
diệt diệt rồi, tịch diệt là vui”, tức là chỗ vui của
lặng lẽ không sinh không diệt kia, thì phải dám buông cái
TA SINH DIỆT này! Nếu cứ bám chặt vào cái TA sinh diệt này,
làm sao nghe đến chỗ: “tịch diệt là vui” ấy được?
Trong
nhà thiền cũng có câu chuyện: Ngài Thủy Lão đến tham thiền
với Mã Tổ, hỏi:
- Thế
nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang ?
Mã
Tổ nhằm ngay ngực đạp cho một đạp té nhào. Ngay lúc đó
Sư chợt đại ngộ, đứng dậy vỗ tay cười ha hả nói:
- Trăm
ngàn tam muội, vô lượng diệu nghĩa, trên một đầu sợi
lông thấu tột đến cội nguồn.
Như
vậy là sao ? Tức ngay đó đạp nhào cái TA này, không có ý
niệm về ta kịp sinh khởi, ngay đó liền sống dậy trong ánh
sáng Như Lai. Thật không thể nghĩ bàn! Nếu lúc đó mà NHỚ
CÁI TA BỊ ĐẠP thì có tỏ ngộ được chăng ? Hay là nổi
sân lên ? Vô minh che phủ liền.
III-
THƯỜNG PHẢN CHIẾU LẠI MÌNH
Hiểu
rõ lẽ thật đó rồi, điều quan trọng nhất là phải ứng
dụng thực hành. Tức phải luôn luôn soi sáng lại mình, để
thấy rõ mọi chỗ, mọi kẻ hở cái TA len lỏi vào và sống
dậy. Phải khám phá trọn vẹn cái TA, không cho có bóng tối
để nó ẩn núp. Mình lo chiếu người này, chiếu người nọ
mà quên chiếu lại mình là nguy! Là chỉ thấy lỗi người
mà quên mất lỗi mình. Nên nhớ mọi sự sai biệt ngăn cách
trong cuộc sống này đều từ cái TA mà ra. Thường thấy lại
mình để giải tỏa, là sống gần nhau hơn. Hai người ngồi
bên nhau mà quên sự có mặt của nhau, là vì sao ? Vì mỗi
người đang sống với một cái TA riêng trong đầu: Một người
đang nghĩ Đông, một người đang nghĩ Tây. Rồi hai người
nằm cạnh nhau, nhưng mỗi người ngó mặt qua một bên, là
vì sao ? Vì cái TA che ngăn, không có Ta thì lấy gì chia cách
? Lấy gì mà không thông cảm, không hiểu nhau ?
Vì
vậy, người học đạo phải thường soi lại mình, để thấy
rõ tướng NGÃ mê lầm của mình mà giải trừ, bào mòn. Có
soi lại mình mới thấy rõ chính mình, mới khám phá những
điều mình còn dở, còn xấu để gạn lọc, tiến tu, không
tự kiêu, ngã mạn.
Hòa
thượng Châu Hoằng soạn quyển Truy Môn Sùng Hạnh Lục nêu
bày mười hạnh lành của người xuất gia, có vị tăng đến
nói với Sư:
- Trong
pháp của tôi, một mảy bụi cũng chẳng lập, mười hạnh
lành sẽ dùng vào đâu?
Sư
bảo:
- Năm
uẩn lăng xăng, bốn đại đầy dẫy, sao bảo là không mảy
bụi?
Vị
tăng nói:
- Nhưng
bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải có.
Sư
liền tát cho ông một tát bảo:
- Kẻ
học nói như mè, như thóc, chưa đúng, hãy nói lại!
Ông
tăng lộ vẻ bực tức, đứng dậy. Sư cười bảo:
- Bụi
bặm phủ đầy mặt rồi, sao ông chẳng phủi đi ?
Đây
là một kinh nghiệm. Ông tăng này chỉ lo chiếu nơi người,
hiểu biết trên chữ nghĩa bên ngoài, thiếu công phu thực
tế bên trong, nên bị ngài Châu Hoằng điểm ngay một cái
trúng ngay tướng NGÃ nó hiện ra. Lộ bày chỗ thiếu sót công
phu tự tỉnh của mình. Đó là khoảng hở cho mình phải hổ
thẹn!
Thiền
sư Đảnh Châu cùng sa di đi kinh hành trong sân viện, bổng
một trận gió nổi dậy, gió trên cậy rơi lả tả xuống
đất. Sư khom lưng nhặt từng chiếc lá bỏ vào trong đãy.
Sa di ở bên cạnh thưa:
- Bạch
thầy! Khỏi phải nhặt, sáng sớm ngày mai chúng con sẽ
quét hết.
Sư
bảo:
- Chẳng
thể nói như thế! Quét, có thể quyết chắc là sạch hết
chăng ? Ta nhặt thêm một chiếc lá, là khiến trên đất sạch
thêm một phần đó.
Sa
di hỏi lại:
- Bạch
thầy! Lá rơi nhiều như thế, thầy nhặt trước mặt, sau
lưng lại rơi xuống, thầy làm sao nhặt cho xong ?
Sư
vừa nhặt vừa bảo:
- Lá
rơi không những trên mặt đất, mà còn có lá rơi ở trên
đất Tâm ta, ta nhặt lá rơi trên đất Tâm ta, cuối cùng sẽ
có lúc nhặt xong. (Tinh Vân Thiền Thoại)
Đây
là nhắc nhở mình phải xoay lại nơi mình, để thấy rõ từng
chiếc lá trong tâm niệm không sót, đó mới là công phu thiết
thực, không phải nói lý suông. Nếu cứ nhằm bên ngoài mà
quét, quét đến bao giờ mới hết?
Ngài
Trúc Lâm Đại Đầu Đà (Trần Nhân Tông) từng khai thị cho
người học: “Đâu chẳng nghe nói: “Ba ngàn pháp môn đồng
về tấc vuông, hà sa diệu dụng đều ở nguồn tâm”. Nên
nói: Cửa giới, cửa định, cửa tụê, ông không thiếu sót,
cần phải phán quán nơi mình. Phàm những tiếng ho, tiếng
tằng hắng, nhướng mày chớp mắt, tay cầm, chân đi, ấy
là tánh gì? Biết được tánh này, ấy là tâm gì ? Các nhân
giả! Ngày tháng dễ dàng qua, mạng người không chờ đợi,
sao cam ăn cháo, ăn cơm mà chẳng rõ việc bát, việc muỗng?”.
Tức
Ngài nhấn mạnh phải quán xét trở lại nơi mình, nhận rõ
lẽ thật đang sống đây, cái gì là tâm tánh chính mình? Thấu
được chỗ này, không lầm với cái TA này, TÌNH CHẤP NGÃ
sẽ nhẹ dần. Tại sao mỗi ngày ăn cơm, ăn cháo mà không
rõ được việc bát, việc muỗng? Vậy là sống cái gì? Cứ
nhớ chuyện đâu đâu, nuôi dưỡng tình chấp ngã, mà quên
đi ánh sáng chân thật đang hiện hữu đó! Chưa chịu tính
lại sao?
IV-
THIỀN SƯ THỬ THÁCH
Kinh
nghiệm biết rõ nó là chỗ chướng đạo, nên Thiền sư thường
thử thách người tham học, đập thẳng vào TƯỚNG NGÃ này,
cho nó xẹp xuống mới dễ vào đạo.
*
THIỀN SƯ TỪ MINH VỚI HUỆ NAM
Thiền
sư Huệ Nam lúc ở Phần Đàm được Thiền sư Hoài Trung chia
phần tiếp độ chúng tăng. Sau, Sư đến chùa Phước Nghiêm
được Thiền sư Hiền Cữ làm thư ký. Chợt Thiền sư Hiền
Tịch, quận thú thỉnh Thiền sư Từ Minh đến trụ trì. Sư
nghe Từ Minh luận nói, phần nhiều chê các nơi mỗi điều
đều thuộc tà giải. Chính chỗ Sư được mật chỉ ở Phần
Đàm cũng bị loại bỏ. Sư vào thất Từ Minh thưa hỏi:
- Huệ
Nam do tối dốt, trông đạo mà chưa thấy, giờ tham thiền
khi hôm nghe thầy dạy như người đi lạc đường xe chỉ nam.
Cúi xin Hòa thượng đại từ bố thí pháp, khiến cho con dứt
hết nghi ngờ.
Từ
Minh cười bảo:
- Thư
ký đã lãnh đồ chúng và đi du phương nổi tiếng khắp tùng
lâm, nếu còn nghi ngờ chẳng cần khổ cầu như vậy, hãy
ngồi mà thương lượng.
Từ
Minh liền gọi thị giả đem ghế mời Sư ngồi. Sư vẫn từ
chối và thành khẩn tha thiết cầu chỉ dạy.
Từ
Minh bảo:
- Thư
ký học Thiền Vân Môn ắt thông được yếu chỉ ấy. Như
nói: “Tha Động Sơn ba gậy”, Động Sơn khi ấy nên đánh
hay chẳng nên đánh ?
Sư
thưa:
- Nên
đánh.
Từ
Minh nghiêm nghị bảo:
- Nghe
tiếng ba gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến
chiều nghe chim kêu, trống đánh, tiếng chuông, tiếng bảng
v.v… cũng nên ăn gậy. Ăn gậy đến lúc nào mới thôi?
Sư
chỉ nhìn sửng mà thôi.
Từ
Minh lại bảo:
- Tôi
lúc đầu nghi không thể làm thầy ông. Giờ đây đã đủ
tư cách làm thầy ông. Ông hãy lễ bái đi!
Sư
lễ bái xong đứng dậy.
Từ
Minh nhắc lại lời trước:
- Nếu
ông hội được ý chỉ Vân Môn thì, Triệu Châu thường nói:
“Bà già ở Đài Sơn bị Ta khám phá, thử chỉ ra chỗ khám
phá xem!”
Sư
mặt nóng hực, mồ hôi xuất hạn không biết đáp thế nào,
bị Từ Minh đuổi ra.
Hôm
sau, Sư lại vào thất, bị Từ Minh mắng chửi. Sư hổ thẹn,
nhìn những người hai bên nói:
- Chính
vì chưa hiểu mới cầu quyết nghi, mắng chửi đâu phải qui
củ từ bi thí pháp!
Từ
Minh cười bảo:
- Đó
là mắng chửi sao ?
Ngay
câu này, Sư liền đại ngộ.
Trước
người bị mắng chửi thì sao ? Nhất là một vị Thư ký đã
từng có tiếng tăm rồi! Đây là khiến cho quên cái TA THƯ
KÝ kia đi, vượt qua ngôn ngữ âm thanh tốt xấu: “Ông cho
đó là mắng chửi sao?” theo đó là theo âm thanh rồi, là
đáng bị mắng chửi rồi! Ngay đó, Sư liền sáng tỏ trở
lại chính mình. Đó là cách khéo léo tiếp người của Thiền
sư Từ Minh.
* THIỀN
SƯ QUI TỈNH VỚI PHÁP DIỄN
Pháp
Diễn, Nghĩa Hoài cùng hơn mười bảy người đồng đến tham
học với Thiền sư Qui Tỉnh ở huyện Diệp. Qui Tỉnh vừa
thấy liền trách mắng:
- Bọn
ông là tăng dạo chơi châu huyện, đến đây làm gì? Ta đâu
có cơm thừa nuôi dưỡng những kẻ nhàn như các ông ư ?
Sư
bèn quát mắng đuổi đi. Mọi người không lay động. Sư lại
lấy nước lạnh tạt, cả nhóm cũng không giải tán. Sư lấy
tro rải lên người. Mọi người giận bỏ đi, chỉ có Hoài
và Diễn vẫn ngồi ngay ngắn như cũ. Sư bảo:
- Họ
đều bỏ đi hết cả rồi, hai người sao chẳng đi ?
Viễn
thưa:
- Chúng
con kính mộ đạo đức Hòa thượng đã lâu, chẳng ngại ngàn
dặm xa xôi đến đây, há vì một gáo nước, một nắm tro
mà vội liền bỏ đi sao ?
Sư
bảo:
- Hai
người đã thật vì pháp, trong đây còn thiếu điển tọa,
ngươi hay làm được chăng ?
Viễn
thưa:
- Đệ
tử nguyện làm.
Hoài
được vào tăng đường.
Một
hôm, Sư đi ra ngoài. Thấy chúng ăn uống đạm bạc, Viễn
nhân đó nấu bữa cháo ngon (cháo nêm, có gia vị) đãi chúng,
cháo chín thì Sư về tới, cùng đến trai đường thọ xong,
gọi Tri sự hỏi:
- Hôm
nay có thí chủ cúng trai chăng?
Tri
sự đáp:
- Dạ,
không có.
Hỏi:
- Trong
chùa có lễ trai ư?
Thưa:
- Dạ,
cũng không có.
Hỏi:
- Như
vậy thì cháo này từ đâu có?
Thưa:
- Xin
Hòa thượng hỏi Điển tọa.
Lúc
đó Pháp Diễn ra thú tội, thưa:
- Con
thấy đại chúng sống khô khan, thật là con tự ý làm như
thế.
Sư
bảo:
- Ông
có tâm tốt như thế, đợi sau này ra làm Trụ trì hãy làm
chẳng muộn. Nay đâu thể riêng trộm của thường trụ để
được nhân tình.
Sư
bèn sai Tri sự bán Y của Viễn tính giá bao nhiêu thảy trả
về cho thường trụ, rồi đuổi Viễn ra khỏi chúng.
Viễn
cầu khẩn mấy phen không được, xoay qua nhờ các vị tôn
túc xin hộ, lại bị quở:
- Ta
bảo ông chẳng phải người tốt. Ông định đem ngôi vị,
thế lực để lấn át ta ư ? Hãy đi nhanh !
Cuối
cùng Pháp Viễn chỉ xin được đến dự nghe pháp. Sư chấp
nhận.
Viễn
đến ở tạm nơi hành lang ngôi chùa nhỏ dưới núi. Một
hôm, Thiền sư Qui Tỉnh đi ra ngoài gặp Viễn, liền hỏi:
- Ông
ở đây bao lâu rồi?
Viễn
thưa:
- Đã
nửa năm.
Qui
Tỉnh bảo:
- Ông
có thể trả tiền phòng của thường trụ chăng?
Viễn
thưa:
- Dạ,
không có.
Qui
Tỉnh bảo:
- Đây
là phòng của thường trụ, ông sao dám trộm ở? Hãy mau hoàn
lại cho người đi! Chẳng vậy, ta sẽ đi báo quan.
Viễn
bèn đi mộ hóa trả lại cho chùa, rồi đến ở trong thành.
Mỗi khi thấy Qui Tỉnh, Viễn càng thêm kính trọng, không hề
lộ vẻ khó chịu. Lúc đó, Qui Tỉnh về viện bảo trong chúng:
- Huyện
Diệp có Cổ Phật, mọi người có biết chăng?
Chúng
thưa:
- Cổ
Phật là ai ?
Qui
Tỉnh bảo:
- Như
Viễn Công thật là Cổ Phật đấy!
Chúng
bèn sắm hương hoa thỉnh Viễn trở về.
Đây
là thử thách mạnh khiến quên cái TA PHÁP DIỄN này, mới
tỏ sáng CỔ PHẬT kia, và mới kham được truyền pháp. Còn
đem cái TA này mà truyền pháp cho nó thì nguy hiểm! Nó hơn
thua, nó đố kỵ, nó tranh giành… Còn đâu là PHÁP ?
* THIỀN
SƯ TUỆ HUÂN VỚI VĂN ĐẠO
Văn
Đạo nghe tiếng Thiền sư Tuệ Huân bèn trèo non, lội suối
tìm đến tham học với Sư nơi một hang động. Văn Đạo thưa:
- Văn
Đạo con vốn ngưỡng mộ cao phong của Thầy, một bề đến
đây gần gũi, xin Thầy từ bi chỉ dạy cho!
- Lúc
đó trời đã tối, Sư nói: Ông hãy ngủ lại đây một đêm
đi.
Sáng
hôm sau, khi Văn Đạo thức dậy thì Thiền sư Tuệ Huân
đã dậy trước, nấu cháo xong. Đến lúc ăn, trong đây không
có vật gì khác đưa cho Văn Đạo dùng, thuận tay Sư lấy
cái sọ khô múc đấy cháo đưa cho Văn Đạo. Văn Đạo do
dự không biết nên nhận hay không. Sư liền bảo:
- Ông
không có tâm đạo, chẳng phải vì pháp mà đến. Ông còn
đem vọng tình NHƠ SẠCH và YÊU GHÉT mà tiếp vật, làm sao
có thể đạt được đạo ? (Tinh Vân Thiền Thoại)
Đó
là một kinh nghiệm cho người học đạo. Một chút tình phân
biệt đó, còn bị quở, huống nữa là giận hờn phiền não
ôm ấp trong lòng thì sao ? Càng bị TÌNH CHẤP NGÃ che đậy,
khó sáng được đạo.
V.
TÓM KẾT
Người
tu hành là nhắm đến con đường giải thoát khổ đau. TÌNH
CHẤP NGÃ là đầu mối mọi thứ phiền não đau khổ trên
thế gian này. Người biết tu, khéo tu không thể nào nuôi dưỡng
nó.
Vào
đạo Phật là phải đi qua cửa VÔ NGÃ, qua ít thì bớt khổ
ít, qua nhiều thì bớt khổ nhiều, qua trọn vẹn thì dứt
khổ, niết bàn an vui, không thể lẩn tránh chỗ nào khác.
Người tu mà ôm ấp bản ngã nặng, cố chấp không buông là
trái với con đường mình đi, là quay lưng với ánh sáng giác
ngộ. Xưa Bồ Tát Đề Bà để lại tấm gương vô ngã sáng
ngời.
Khi
Ngài cảm hóa vị quốc vương vốn tin theo ngoại đạo, rồi
lại dùng biện luận thắng các ngoại đạo, trong vòng ba tháng
đã độ hơn một trăm vạn người. Có một đệ tử ngoại
đạo căm hận vì Thầy mình bị thua, bèn thề “Người đã
dùng miệng mà thắng phục ta, ta phải dùng dao thắng phục
ngươi; ngươi dùng dao không làm khốn ta, ta sẽ dùng dao thực
làm khốn ngươi”.
Y liền
rình theo Ngài, một hôm Ngài Đề Bà đi lại một mình trong
rừng vắng, gã ấy xách dao đến bảo:
- Ngươi
dùng miệng phá đổ Thầy ta, sao bằng ta dùng dao phá vở bụng
ngươi !
Y bèn
mổ bụng Ngài.
Ngài
Đề Bà tuy bị mổ bụng, ruột lòi ra ngoài mà chưa chết,
vẫn thương xót kẻ ngu si kia bảo:
- Tôi
có y bát để ở đằng kia, ngươi có thể đến đó lấy,
rồi hãy lên núi gấp, đừng đi bằng đường bằng. Những
đệ tử của tôi chưa chứng được pháp nhẫn họ sẽ bắt
ngươi, ngươi có thể bị bắt giải đến quan.
Khi
các đệ tử hay tin chạy vội đến hiện trường, có những
vị chưa được pháp nhẫn bèn gào khóc, chạy cuồng lên núi
đuổi bắt hung thủ. Ngài Đề Bà nhân cơ duyên ấy,
khai thị cho các đệ tử rằng:
- Lý
thực của các pháp, chính là ở chỗ không có người thọ,
không có người hại. Thân ai, oán ai, giết ai, hại ai
? Kẻ bị si độc lừa dối, mê lầm nảy sinh chấp trước
mà gào khóc, trồng căn bất thiện. Người bị kẻ kia hại,
lại ở nghiệp báo, không phải hại ta. Các ngươi phải xét
thận trọng, đừng đem cái Cuồng đuổi theo cái Cuồng, đem
cái Thương buồn cho cái Thương !
Dặn
dò xong, Ngài nằm xuống rồi thoát.
Xem
Ngài Đề Bà bị ngoại đạo mổ bụng vẫn thương xót kẻ
kia, không sanh tâm thù hận, kết oán, vì quên cái TA này. Trong
khi đó, huynh đệ cùng một thầy, sống chung với nhau
hằng ngày, lại vì một chút bất đồng ý kiến, vì một
chút hơn kém nhau, một chút không chìu chuộng cái Ta, đành
xem nhau như kẻ nghịch thì sao ? Lúc đó đạo tâm để ở
chỗ nào ? Phải xét kỷ lại chỗ này, giải tỏa ngay. Bởi
vậy, kinh kim cang quét sạch hết tâm ba thời qua khứ, hiện
tại , vị lai; trừ tột bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả, tức khiến mất dấu vết cái TA này, mới thật
sự thể nhập thật tướng Bát Nhã, sống trong Vô thượng
Bồ Đề .
Mong
rằng mỗi hành giả luôn luôn soi sáng lại mình, để thấy
rõ tường tận mọi bóng dáng cái TA lộ ra mà cảnh tỉnh
không lầm theo. Quyết không để nó làm mờ đi ánh sáng chánh
giác. Đó là đường tiến tu chân thật.
Có bài kệ tự nhắc:
Ta ơi là Ta
Mi ở đâu ra ?
Mà làm diên đảo,
Khắp cõi Ta-bà.
Mở mắt sinh ra,
Liền khóc oa oa
|