NHỮNG NHẬN XÉT TRỰC TIẾP VỀ BÀI VIẾT 
“ĐƯỜNG VỀ XỨ PHẬT” CỦA THẦY THÔNG LẠC, 
BỠI ĐẠI LÃN - ĐỨCTHẮNG.
(Những chữ nhỏ đứng mầu đen là bài viết của Thầy Thông Lạc,còn những chữ viết xiên đậm mầu xanh ở trong ngoặc là những nhận xét trực tiếp của Đại Lãn - Đức Thắng)

Thay Lời Tựa
Tập 1 - Đường về xứ Phật

Hôm nay là buổi học đầu tiên về pháp hành, đường lối tu tập của Ðạo Phật, xin quý Thầy và quý Phật tử nên chắp tay lên niệm hồng danh Ðức Phật. Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni (3 lần).

Ðây là một giáo trình tu tập từ khi có Ðạo Phật xuất hiện trên hành tinh này. Ðấng Giáo Chủ sáng lập Ðạo Phật là Thích Ca Mâu Ni, người đã tự tu và đã tự giác ngộ đạo lý nhiệm mầu, giải thoát khỏi kiếp sống con người đầy dẫy đau khổ và nối tiếp mãi trong kiếp luân hồi sanh tử.

(Nhận xét đoạn văn trên: Trong câu nàyĐây là giáo trình tu tập từ khi có Ðạo Phật xuất hiện trên hành tinh này.Câu văn viết tới đây chưa hết ý mà chấm câu, cho câu văn trở thành què quặt. Đáng lý câu văn này viết đủ ý là phải thêm ba chữ nữa mới đủ ý: cho đến nay. chẳng hạn? Do đó câu văn viết mơ hồ thiếu logic!

Ðạo Phật đã có mặt trên trái đất này từ 2540 năm nhưng sự nghiên cứu kỹ về kinh sách và lịch sử của Ðạo Phật thì Ðạo Phật chỉ có tồn tại được một trăm năm, lúc bấy giờ chúng tỳ kheo tu tập đúng chánh pháp, còn từ đó về sau này chúng tỳ kheo đều tu sai pháp của Ðạo Phật do bởi Ðạo Phật phát triển theo kiểu thế tục hóa mê tín dân gian và bị các tôn giáo khác đồng hóa. Thời gian một trăm năm đầu ấy, trong khi Ðức Phật còn tại thế, tuy vậy, trong chúng tỳ kheo vẩn có nhiều người sống không đúng phạm hạnh, không ly dục ly ác pháp, nên Ðức Phật buộc lòng phải chế giới bổn Patimokha để ngăn cấm. Nhưng từ khi có giới bổn ra đời chúng tỳ kheo lại càng vi phạm nhiều hơn.

(Nhận xét đoạn văn trên: Cứ cho là Thầy Thông Lạc quan niệm lịch sử thật sự của đạo Phật là một trăm năm đi. Nhưng cái lịch sử 100 năm này theo tôi cũng sai luôn, vì đức  Phật chỉ trụ thế có 80 năm thôi, chưa kể 35 năm trước khi thành đạo, nếu đem trừ đi 35 năm này thì chỉ còn lại có 45 năm, và trong vòng 45 năm nói pháp này là thời gian mà các Tỳ-kheo tu tập theo đúng chánh pháp của Ngài chỉ dạy, còn từ đó về sau là tu sai pháp của đạo Phật. Nếu theo như ý của đoạn văn này thì Thầy thông Lạc đã sai lầm trong nghiên cứu lịch sử. Chỉ có 45 năm các tỳ-kheo tu tập theo đúng chánh pháp chứ không phải là 100 năm như Thầy Thông lạc đã nói. Đó là cái nghiên cứu sai lầm thứ nhất của Thầy Thông Lạc. Cái sai lầm thứ hai trong đoạn văn kế tiếp trên là: Theo Thầy trong vòng thời này, tuy đức Phật còn tại thế, nhưng trong chúng Tỳ-kheo vẫn có nhiều người sống không đúng phạm hạnh, không ly dục ác pháp nên buộc lòng đức Phật phải chế ra giới bổn Patimokkha để ngăn cấm. Nhưng thật ra trong vòng 45 năm này, thì trong vòng 5 năm đầu đức Phật chưa chế ra giới bổn (giới cấm), mà trong vòng 5 năm này đức Phật chỉ nói  bài kệ 4 câu: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, Tự tịnh kỳ ý, Thị chư Phật giáo.” để răn dạy các Thầy tỳ-kheo mà thôi. Đó chính là bài kệ đầu tiên đức Phật nói ra để răn các Tỳ-kheo vô sự về luật pháp, chứ chưa chế ra giới bổn để ngăn cấm như Thầy đã nói ở đoạn văn trên. Đức Phật chỉ chế ra giới bổn từ khi Tỳ kheo Tu-đề-Nan-đà phạm giới dâm lần đầu tiên vào đầu năm thứ sáu như Luật Tứ phần và bốn bộ luật khác cũng thuộc Luật bộ của các bộ phái Thinh văn Tiểu thừa đã nói như nhau trong sự kiện này, nhân đó đức Phật mới bắt đầu chế ra giới. Nhưng khi đức Phật muốn chế giới bổn thì Ngài luôn luôn căn cứ vào tướng phạm của các Tỳ-kheo Ngài mới chế, chứ không phải Ngài tuỳ tiện, hay tự động tiên liệu để chế ra giới bản. Như vậy là từ khi đức Phật thành đạo cho đến khi chế ra giới bổn là năm năm sau. Đây là sự sai lầm thứ hai trong đoạn văn trên. Trong một đoạn văn ngắn như vậy mà phạm phải hai sự sai lầm như vậy, chứng tỏ Thầy mù tịt không hiểu biết gì về lịch sử, và nhất là về Luật.)

Ðến khi Ðức Phật thị tịch, các vị đại đệ tử của Người không đủ uy đức điều khiển một số chư Tăng quá đông đảo (1250 vị tỳ kheo). Vì thế sau khi trà tỳ nhục thân Ðức Phật xong, các vị đại đệ tử của Ðức Phật, nhất là ông Ca Diếp đã trực tiếp nghe một số chúng tỳ kheo vui mừng khi hay tin Ðức Phật nhập diệt. Cho nên sau khi đám tang xong, ông vội vàng mở cuộc họp, thiết lập cuộc kết tập kinh luật lần đầu tiên, để lấy đó làm giềng mối cho Ðạo Phật ở ngày mai.

Từ khi Ðức Phật nhập diệt, mặc dù kinh luật đã được thiết lập nhưng ít ai còn giữ và sống đúng giới hạnh, nên lần lượt chư Tăng chia thành nhiều bộ phái (20 bộ phái) và mỗi bộ phái tự kiến giải kinh luật riêng của bộ phái mình, do đó kinh sách phát triển của Ðạo Phật càng ngày càng tăng lên rất nhiều.

Chính những kinh sách này dẫn đến lìa xa Ðạo Phật (mất gốc). Người tu sĩ Ðạo Phật sống không còn đúng phạm hạnh, tâm không ly dục ly ác pháp được nên tu hành thiền định chẳng có kết quả, nhập định chẳng được, phần đông rơi vào tà định. Vì thế thời nay ít ai tu đúng "Chánh niệm" và nhập đúng "Chánh định". 

Ðọc lại những quyển kinh luận của các nhà học giả, sư, thầy viết ra, lý chánh pháp mù mờ không rõ, đời - đạo viên dung lố bịch, đời chẳng ra đời, đạo chẳng ra đạo, mượn râu ông nọ cắm cằm bà kia, giống như chiếc áo chắp vá chỗ này, chắp vá chỗ khác, hành pháp thì không thông, nên tưởng tượng ra các hành dựa theo khoa học, võ học, dưỡng sinh, khí công, các pháp hành của Yoga, v.v.., tu tập ức chế thân tâm một cách quá đáng, tạo ra biết bao nhiêu bịnh tật cho những hành giả dại khờ tự đem mình vào chỗ chết, chỗ khổ mà không biết.

(Nhận xét 2 đoạn văn trên: Thầy Thông Lạc căn cứ vào đâu để nói rằng các kinh sách của các bộ phái dẫn đến xa lìa đạo Phật? Cách nói này đứa trẻ nít chúng cũng có thể nói được! Vì chúng chỉ biết có nói thôi, nhưng bảo chúng đưa ra lý luận bằng chứng thì chúng không đưa ra được, chỉ vỉ chúng nói theo kiểu thiếu hiểu biết của trẻ nít hay của kẻ hàm hồ, chứ thật ra chúng cũng đâu có bất cứ căn cứ dữ kiện nào đâu để chứng minh rằng lời nói của mình là đúng! Ở đây Thầy Thông Lạc cũng vậy, nói ra mà không biết mình nói gì! Nếu Thầy bảo rằng tất cả những kinh sách của các bộ phái trên đều dẫn đến lìa xa đạo Phật, có nghĩa là tất cả những kinh sách này đều sai lầm. Vậy thì Thầy lấy kinh sách nào không sai lầm để Thầy căn cứ vào đó để so sánh, để Thầy tu tập? Trong khi tất cả mọi thứ kinh sách của các bộ phái Phật giáo Thầy đều cho là sai lầm! Có lẽ Thầy căn cứ vào sách vở ngoại đạo chăng!? Đây là một điều tự Thầy mâu thuẫn với chính Thầy mà Thầy không biết. Thứ nữa, theo Thầy, đọc lại những quyển kinh luận của các nhà học giả, sư, thầy viết ra, lý chánh pháp mù mờ, không rõ, đời-đạo viên dung lố bịch v.v… Nếu Thầy đọc những quyển kinh luận này Thầy cho là mù mờ, Thầy không hiểu rõ. Vậy Thầy căn cứ vào đâu để bảo rằng đời-đạo viên dung lố bịch, v.v…, vì Thầy không hiểu rõ về nó mà; những gì Thầy không hiểu rõ về nó, mà nói về nó thì có đúng không? Vậy mà Thầy không tự biết mình, không tự lượng sức mình, trương cổ lên mà đại ngôn! Thầy có biết đây là kiểu lý luận kẻ hàm hồ thiếu hiểu biết hay không?)

Kinh sách phát triển của Ðạo Phật quá nhiều nhưng chẳng biết tìm đâu ra một cuốn kinh nào để tu đến nơi đến chốn, đọc vào chỉ toàn là luận lý thuyết suông, thực hành thì vay mượn những pháp môn của ngoại đạo. Chính những người đã viết ra những bộ kinh đang bày bán, họ cũng chẳng tu đến đâu vì họ đang sống chạy theo dục lạc thế gian như những người khác, vì thế biết rõ họ chưa giải thoát.

(Nhận xét đoạn văn trên: Thầy đọc vào những kinh sách phát triển của đạo Phật, Thầy thấy toàn là luận lý suông, thực hành thì vay mượn của ngoại đạo. Theo Thầy những lý thuyết suông này nó là dúng hay là sai? Điều này mới là quan trọng. Theo ý trong mạch văn của đoạn văn này, thì Thầy công nhận nó là đúng, nhưng sợ không dám nói ra! Đương nhiên lý của Đạo thì lúc nào cũng phải bắt đầu bằng lý thuyết chứ, nếu đi vào đạo mà không nhờ lý thuyết để hiểu nó thì làm sao mà thực hành?Cũng vậy, nếu Thầy tu tập Tứ niệm xứ, mà Thầy không cần lý thuyết về tứ niệm xứ, thì Thầy dựa vào đâu để thực hành? Còn việc thực hành thì vay mượn, có gì sai; ngay trong khi đức Phật còn tại Thế hầu hết giáo lý của Ngài đều vay mượn của Bà-la-môn giáo vào lúc bấy giờ, nhưng khi qua đức Phật thì giáo lý ấy trở thành giáo lý giải thoát của Phật. Nào là nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, vô thường, thiền định v.v… không phải là của ngoại đạo sao?Cái đặc trưng của đức Phật và giáo lý của đạo Phật là ở chỗ đó. Vay mượn của người ta nhưng lấy cái đó làm thành cái đặc trưng của mình mà không thể đồng hoá với cái của họ được, đó là điều kỳ diệu )

Sau mười năm trong thất, sống giữ gìn giới luật đúng phạm hạnh và tu tập Tứ Niệm Xứ, Tứ Thánh Ðịnh, tôi đã thấy được kết quả của những pháp môn này làm chủ sự sống chết và chấm dứt sự tái sanh luân hồi.

(Nhận xét đoạn văn trên: Như trên Thầy bảo các kinh sách của các bộ phái dẫn đến xa lìa đạo Phật?Thầy đọc vào những kinh sách phát triển của đạo Phật, Thầy thấy toàn là luận lý suông, thực hành thì vay mượn của ngoại đạo? Vậy thì Thầy sống giữ gìn giới luật đúng phạm hạnh, và tu tập Tứ Niệm Xứ, bốn không định, những cái pháp này nó ở đây mà ra để Thầy tu tập và giữ gìn nó? Có phải là cũng từ trong những kinh sách của các bộ phái, mà Thầy cho là dẫn đến xa lìa đạo Phật, là sai lầm. Thầy đã cho rằng chúng đưa đến xa lìa đạo, đưa đến sai lầm, mà tại sao Thầy lại lấy chúng để tu tập và giữ gìn? Thật là mâu thuẫn! Chỉ qua có mấy trang giấy mà Thầy viết ra không biết bao nhiêu là sai lầm mâu thuẫn với chính mình như vậy!?Vậy thì cái kết quả về việc giữ gìn và tu tập của Thầy cũng trở nên sai lầm và xa lìa đạo Thầy có biết không?)

Ra thất tôi thành lập tu viện Chơn Như tại ấp Gia Lâm, xã Gia Lộc, huyện Trảng Bàng, Tỉnh Tây Ninh, quyết tâm chấn hưng lại Phật Pháp. Nhưng hai chục năm trôi qua, biết bao nhiêu người theo tu, chỉ tu có ba hạnh: ăn, ngủ, độc cư, mà không ai tu nổi, nên họ không thể nào tu định vô lậu, ly dục ly ác pháp; không ly dục ly ác pháp thì làm sao nhập được Tứ Thánh Hiện Tại An Lạc Trú Ðịnh.

Hiện Tại An Lạc Trú Tứ Thánh Ðịnh không nhập được thì không bao giờ làm chủ sự sống chết và chấm dứt luân hồi.

Tu viện của chúng tôi chỉ còn lại một vài nguời sống đúng phạm hạnh, ly dục ly ác pháp, hiện giờ họ đang thực hiện khá sâu vào bốn thiền (Tứ Thánh Ðịnh) họ sẽ là người thắp sáng lại Ðạo Phật sau này, nếu chúng sanh có đủ duyên, nếu không đủ duyên tức là thiếu phước thì những tu sĩ này sẽ không đủ nghị lực và bền chí chiến đấu lại những nghiệp lực cuối cùng của đời mình. 

Con đường tu hành theo Ðạo Phật rất thực tế và cụ thể cho tất cả mọi người; ai cũng có thể giải thoát khỏi cảnh khổ của thế gian bằng một cuộc sống "Ðạo" ly dục ly ác pháp.

Sống có ly dục ly ác pháp thì sự tu hành theo Ðạo Phật mới có kết quả, bằng ngược lại tu hành vô ích, không lợi mình lợi người còn mang nợ đàn na thí chủ.

Vì sống đạo thì phải ly dục ly ác pháp nên ít có người theo sống được, hầu hết đều bỏ cuộc tu hoặc tu có hình thức hoặc biến thái Ðạo Phật qua một hình thức khác (Bồ tát hạnh) để dễ bề hành dục lạc.

(Nhận xét đoạn văn trên: Mục đích của bài giáo trình tu tập này của Thầy Thông Lạc là gì? Có phải đây là vì vấn đề lợi tha, muốn mọi người tu tập theo mình để mọi người được lợi như mình. Vậy vấn đề lợi tha ở đây, không phải là điều Thầy đang thực hành bồ tát hạnh của Thầy đó hay sao? Nhưng tại sao trong chỗ khác thì Thầy lại lên án và báng bổ hạnh lợi tha của Bồ-tát ! Thầy có thầy việc làm của mình là mâu thuẫn với những điều Thầy đã và đang tìm cách báng bổ Bồ-tát hạnh của  Đại thừa (ở đây và trong những bài giáo trình khác) của Thầy hay không? Và ngay đến việc đang làm của Thầy cũng mâu thuẫn với pháp tu theo Tiểu thừa của Thầy? Vì Tiểu thừa thì chỉ biết có tự lợi mà thôi, chứ không biết lợi tha, còn Đại thừa thi vừa tự lợi lại cũng lợi tha. Đây là một lối sống bất nhất! Thầy đang biến thái Đạo Phật theo Đại thừa mà Thầy không biết, và cũng có thể Thầy cũng có thể dễ bề hành dục lạc lắm đó như câu văn cuối của đoạn văn trên Thầy đã viết.)

Suy đi nghĩ lại, tôi đắn đo nhiều lần không quyết định có nên triển khai giáo án đường lối tu tập của Ðạo Phật cho hậu thế không? Nếu đường lối tu hành của Ðạo Phật không được phổ biến ở đời này, nhất là đạo đức giải thoát không làm khổ mình, khổ người thì loài người sẽ đi về đâu? Và sẽ khổ đau biết nhường nào?

Sự mê mờ vô minh của con người từ ngàn xưa đến nay đã lầm chấp và cho các pháp thế gian là thật có, chúng sẽ đem lại hạnh phúc cho họ, khi họ được đầy đủ. Vì sự lầm chấp này, họ ôm giữ khư khư các pháp thế gian, không chịu buông bỏ, do thế, ác pháp càng tăng trưởng, thiện pháp càng suy giảm, con người khổ đau lại càng khổ đau hơn.

Lòng thương xót bao người đã theo Ðạo Phật từ xa xưa, hiện giờ và mai sau, bao thế hệ này nối tiếp bao thế hệ kia, tu hành giải thoát đâu không thấy chỉ thấy toàn ưu bi sầu khổ, bịnh chết, lại càng khổ đau hơn. Tu mãi chỉ có an ủi tinh thần một cách trừu tượng, mơ hồ chẳng có thực tế chút nào cả, chẳng có lối thoát ra, loanh quanh lẩn quẩn trong mê hồn trận của Ðại Thừa và Tối Thượng Thừa.

(Nhận xét đoạn văn trên: Thầy có biết gì về Đại thửa và Tối thượng thừa?Nếu không biết gì về nó thì đi lẩn quẫn trong mê hồn trận là phải rồi! Vì căn cơ của Thầy không phải là căn cơ của Đại thừa và Tối thượng thừa, cho nên Thầy đã từng làm kẻ bán đồ nhi phế của Đại thừa và Tối thượng thừa. Thầy đã không đủ căn cơ để vào hai nhà trên thì cam tâm chấp nhận nhà dưới của mình đi. Đằng này, Thầy không tự lượng sức căn cơ của mình, cam tâm làm t ỳ kheo Vô Văn báng Phất huỷ Pháp báng đứng Đại thừa Tối thượng thừa. Vậy mà Thầy còn vác mặc về nhờ HT.Thanh Từ  ấn chứng cho cái chổ chứng ngộ theo lối tu Tiểu thừa của Thầy, nhưng Thầy có biết HT. Thanh Từ là gì của Đại Thừa, của Tối thượng thừa không? Vậy thì việc làm của Thầy nó có mâu thuẫn với chính Thầy không? Thầy luôn luôn báng bổ đại thừa mà lại đi nhờ người bên Đại thừa ấn chứng cho Thầy! Đúng là một việc làm của thằng điên chứ không phải là việc làm của kẻ bình thường!)

Những gương Thầy Tổ của chúng ta trước khi chết phải chịu khổ đau quá ư cay đắng, khiến cho chúng ta bâng khuâng và lo nghĩ rất nhiều về số phận của chính chúng ta và các đệ tử của chúng ta sau này. Ðạo Phật nói riêng và các tôn giáo khác nói chung có giải quyết được sự khổ đau của con người hay chăng?  Hay chỉ là một điều an ủi tinh thần suông của thế hệ này đến thế hệ khác. 

(Nhận xét đoạn văn trên: Đây là một hiện tượng bình thường của một chúng sinh trước khi chết. Thời kỳ đức Phật còn tại thế, trước khi Ngài vào Niết-bàn, Ngài cũng có những hiện tượng này: Đau đớn nhức mỏi khắp cả cơ thể, đến độ Ngài phải biểu ngài A-nan người thị giả hầu cận của Ngài, xếp giùm y Tăng-gìa-lê làm bốn đặt xuống đất cho Ngài nằm nghỉ, chứ tự thân Ngài không làm được việc này! Đó là những hiện tượng bình thường của xác thân tứ đại hữu lậu này, trước khi duyên không còn đủ nữa, chúng sắp biến dịch. Nhưng điều quan trọng ở đây là đức Phật làm chủ được cái đau nhờ vào Thiền định, trước khi Ngài vĩnh viễn ra đi, phải nhờ vào thiền định. Ngài tuần tự nhập xuất từ sơ thiền đến diệt tận định, và ngược lại như trong kinh Bát-nê-hoàn trong trường A-hàm. Có lẽ Thầy có đọc qua chúng, nhưng vì đọc phớt qua không kỹ nên chi tiết đầu nhức mỏi đau đớn về thân xác của đức Phật Thầy bỏ qua, và chỉ chú ý đén chi tiết thứ hai nên có những cái nhìn sai lầm về chư Tổ, và từ đó có tâm bất kính huỷ báng chư tổ một cách mục hạ vô nhân của kẻ tăng thượng mạn!)

Chứng nghiệm sự giải thoát của Ðạo Phật cụ thể và rõ ràng, tôi không đành lòng nhìn nhân loại dần dần đi xuống hố thẳm khổ đau mà cứ tưởng mình vượt ra đau khổ bằng khối óc, đôi tay, kỹ thuật, khoa học, công nghệ hiện đại, v.v.. làm ra vật chất đầy dẫy thì loài người sẽ đầy đủ hạnh phúc an vui, không còn khổ đau nữa.

Sự nghĩ tưởng như vậy là lầm, nếu con người không có đạo đức thì đừng mong lấy vật chất mà giải quyết sự khổ đau của con người được. Vật chất càng nhiều sự khổ đau của con người càng lớn, do lòng ham muốn tạo ra nhiều ác pháp và thế gian này sẽ là địa ngục, nếu không có đạo đức, con người sẽ vì vật chất mà trở thành ác thú và quỷ dữ, v.v... Biết mình tu hành chưa đủ uy đức như Phật, cũng chưa đủ tài trí làm công việc lớn này, nhưng không thể làm ngơ trước sự đau khổ của muôn người, trước sự tồn vong của Ðạo Phật, một tôn giáo có hàng triệu người theo tu hành lại bị hướng dẩn tu không đúng chánh pháp. Vì thế chúng tôi buộc lòng phải nói lên sự thật để mong xây dựng lại đường lối tu tập của Ðạo Phật cho đúng đắn, ngõ hầu làm sáng tỏ lại giáo pháp của Ðức Phật và để cứu giúp biết bao nhiêu người đang và sẽ lầm đường lạc lối trong những pháp tu sai cách thức (tu ức chế tâm).

(Nhận xét những đoạn văn trên: Trong khi Thầy luôn luôn báng bổ kinh điển Đại thừa cho là của ngoại đạo, trong đó có việc báng bổ Bồ-tát hạnh như những chỗ khác. Nhưng ở đây thì Thầy lại thực hành Bồ-tát hạnh trong chức năng cứu khổ phò nguy, vì nhìn thấy cái sự đau khổ của muôn người, trước sự tồn vong của Đạp Phật, nên Thầy dấn thân thực hành Bồ-tát hạnh, dù Thầy tự khiêm tốn cho rằng sự tu hành của mình chưa đủ uy đức như Phật, cũng chưa đủ tài trí làm công việc lớn này. Đúng là Thầy tự mâu thuẫn với chính mình rồi. Thật ra ở đây chúng tôi cũng hết lời không biết nói sao cho những sự kiện luôn Thầy tự mâu thuẫn với chính mình mà không biết, và cứ như vậy viết càn viết bửa lừa đảo thiên hạ qua việc chứng nghiệm gì đó của Thầy! Một người đã gọi là chứng nghiệm chân lý thì người đó phải thông tất cả chứ đâu lại đi tự mâu thuẫn với chính mình từ việc này đến việc khác mà không tự thấy, không tự biết!  Té ra Thầy cũng chỉ là một vị A-la-hán tăng thượng, giống giống như A-la-hán Vô Văn vào thời kỳ đức Phật còn tại thế (Kinh Lăng Nghiêm) thế thôi!)

Xin những bậc chân tu của Phật Giáo hãy vì tiền đồ Phật Giáo, vì tất cả chúng sanh, vì nhân loại, vui lòng góp sức chỉ vạch những chỗ sai, để cùng chúng tôi kịp thời chấn chỉnh cho đúng đường lối tu hành và đạo đức của Ðạo Phật. Xin chân thành tri ân quý vị.

Kính ghi
Thích Thông Lạc
Tu Viện Chơn Như
(Ngày 06 - 10 1997)

Xem Tiếp Bài 2
 


For Printing or Down Load
Trở Về Mục Lục

.Thư Viện Hoa Sen
.w