NHỮNG NHẬN
XÉT TRỰC TIẾP VỀ BÀI VIẾT
“ĐƯỜNG
VỀ XỨ PHẬT” CỦA THẦY THÔNG LẠC,
BỠI ĐẠI
LÃN - ĐỨCTHẮNG.
(Những
chữ nhỏ đứng mầu đen là bài viết của Thầy Thông Lạc,còn
những chữ viết đậm mầu xanh ở trong ngoặc là những
nhận xét trực tiếp của Đại Lãn - Đức Thắng)
Lời Nói Đầu
Đường Về
Xứ Phật Tập 2
Kính
thưa các bậc Tôn Túc, quý vị Hoà Thượng, Thượng Toạ,
Ðại Ðức, Tăng, Ni và Nam Nữ cư sĩ Phật tử.
Tập
1 Ðường Về Xứ Phật đã được in ấn và phát hành.
Khi nó đến tay quý vị, chắc chắn có những điều không
vừa ý, mong quý vị niệm tình vui lòng tha thứ cho. Tập 2
chào đời và với tập sách này tôi thành tâm tha thiết kêu
gọi lòng chân thành của quý vị hãy hướng về chánh pháp
của Ðức Phật.
Kính
thưa quý vị! Từ xa xưa đến nay, các bậc Thầy Tổ của
chúng ta đang lầm lạc tu theo một giáo pháp không đúng của
Ðạo Phật mà cứ ngỡ tưởng rằng mình đang tu theo giáo
pháp chân chánh của Ðức Phật.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Thầy Thông Lạc căn cứ vào đâu để
cho rằng Thầy Tổ chúng ta từ xưa tới nay đang tu lầm lạc
theo một giáo pháp không đúng của đạo Phật? Vậy giáo pháp
đúng của Thầy nó từ đâu mà ra?Từ ngoại đạo chăng, hay
từ Thầy chế ra? Vì tất cả mọi Kinh điển của đạo Phật
đều bị Thầy phủ nhận! Ở đây Thầy cũng không đưa ra
được chứng cứ nào để qui kết là Thầy Tổ chúng ta tu
lầm lạc không đúng đường của Đạo Phật.)
Giáo
pháp chân chánh của Ðạo Phật không bao giờ dùng những danh
từ trừu tượng rất kêu như: Chân Không, Phật Tánh, Cực
Lạc, v.v.. để lừa đảo tín đồ. Giáo pháp chân chánh
của Ðạo Phật luôn luôn chỉ thẳng, nói thật, nói cái sai,
cái không đúng đạo đức nhân bản nhân quả của con người
để con người tự giác sửa sai, làm đúng lại theo đạo
đức làm người, làm Thánh, vì Ðạo Phật đã xác định
Thánh nhân không phải ngoài con người; ngoài con người không
thể tìm có Thánh nhân được. Cho nên giáo pháp của
Ðức Phật là một giáo pháp không trừu tượng, ảo tưởng,
mê tín, dị đoan, phi đạo đức, v.v... Ngược lại những
giáo pháp mà Thầy Tổ của chúng ta đang tu theo, nó để lại
một rừng kinh sách toàn là loại giáo pháp trừu tượng, ảo
tưởng, mê tín, dị đoan, v.v... Lần lượt chúng tôi
sẽ lật tẩy bộ mặt lừa đảo gian dối của nó để quý
vị suy ngẫm. Nó đã giết chết Thầy Tổ của chúng
ta bao đời, bao thế kỷ nay.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Thầy căn cứ vào đâu để tự biết
rằng giáo pháp chân chánh của Đạo Phật không bao giờ dùng
những danh từ trừu tượng như chân không, Phật tánh, cực
lạc? Đây là một cách lý luận hàm hồ mà không đưa ra chứng
lý! Thầy đã đọc hết kinh luật luận thuộc hệ NIKAYA chưa?
Trong đó đầy dẫy những danh từ trừu tượng trong kinh luật,
và nhất là trong luận tạng của các nhà Tiểu thừa như:
Niết-bàn là trạng thái hoàn toàn an tịnh (Sānta) vi diệu
(Paṇīta) và Cực lạc (Accanta-sukha), Vô thượng chánh
đẳng chánh giác, chân đế, duyên khởi, Như lai tạng, Đại
không, tiểu không, Vô ngã, Nhơn không, Như lai, tâm, tâm sở,
Chơn không, hữu vi, vô vi ….., chúng có khác gì bên Đại
thừa đâu!
Và
Thầy có biết kinh Tiểu thừa Pàli mà thầy cho là kinh điển
nguyên thỉ đó có đúng là nguyên thỉ hay không? Thầy có
biết kinh điển nguyên thỉ được ghi lại bằng thứ tiếng
gì không? Vào lúc bấy giờ tại Ấn độ, ngôn ngữ dùng để
truyền đạt giao thiệp nhau qua lời nói thì thông dụng là
ngôn ngữ Magadha, nhưng về ngôn ngữ dùng để ghi chép thành
văn bản thì là ngôn ngữ Sanskrit chứ không phải ngôn ngữ
Pàli. Ngôn ngữ Pàli là thứ ngôn ngữ mới được các
bộ phái Tiểu thừa phát triển sau này tự đặt ra để phiên
dịch lại kinh điển từ nơi ngôn ngữ khác (có thể là Sanskrit,
vì ngôn ngữ chữ viết để ghi chép chỉ có chữ Sanskrit là
thông dụng, chúng được sử dụng tại Ấn độ trước, sau
và thời kỳ Phật còn tại thế. Ngôn ngữ này là ngôn ngữ
chính dùng để ghi chép vào lúc bấy giờ như những tác phẩm
văn học lớn: Như Rig-Veda, Śakuntalā của Kālidasa, những bộ
sử thi như Mahābhārata, Rāmayana, những tác phẩm triết học
như Brhadupanishad, Sakhyakārikā, Vāiśesikakārikā, cac tác phẩm
ngữ học của Pànini, Patanjati, v.v…) để thành của mình,
hay bất cứ một ngôn ngữ nào khác thì cũng vậy, ngôn ngữ
Pàli chỉ là ngôn ngữ có sau này, trong thời kỳ các bộ phái
phát triển, vì vậy chúng không phải là ngôn ngữ nguyên thi,
nên Kinh điển trong hệ thống Pàli NIKAYA không phải là kinh
NGUYÊN THỈ, Vì khi dịch sang một thứ ngôn ngữ khác chúng
không còn là nguyên thỉ nữa, vì chúng theo quan điểm cùng
kiến giải của họ, kinh đã không còn trung thực nữa! và
lúc này ngôn ngữ Pàli không còn trung thành với chính bản
gốc của ngôn ngữ khác nữa, vì chúng đã bị các nhà Tiểu
thừa cải biến theo kiến giải căn cơ hạ liệt của mình
rồi!
Chắc
chắn là vấn đề ngôn ngữ học và nhất là ngôn ngữ cổ
Thầy mù tịt, nên Thầy cứ tự cho rằng Kinh điển Pàli của
Tiểu thừa là kinh điển NGUYÊN THỈ thì Thầy sai lầm to rồi.
Tiếng Pàli là ngôn ngữ được các nhà Tiểu thừa sáng chế
sau này, và chúng hiện diện để các nhà Tiểu thừa ghi chép
theo tiếng Pàli của mình vào thời kỳ Kiết tập lần thứ
tư tại Tích Lan, và lần kiết tập này chỉ có bên Tiểu
thửa thôi (Theo Đảo sử Tích Lan). Chứ thật ra ngôn ngữ
Pàli đâu có nguồn gốc phát xuất từ xa xưa ở Ấn độ,
nó là ngôn ngữ ở ngoài Ấn độ, chứ không phài tiếng sử
dụng của một dân tộc nào đó vào lúc bấy giờ ở Ấn
độ. Vậy Thầy có còn cho nó là Nguyên Thỉ nữa hay không?
Một
con người thiếu học hành, thiếu nghiên cứu mà dám bạo
phổi đứng ra viết những điều linh tinh thiếu chính xác
thiếu dữ liệu, thiếu hiểu biết, mà còn huênh hoang tự
đắc tự phong Thánh cho chính mình, bất kính Thầy Tổ
thượng, trung, hạ toạ!
Những
điều chúng tôi viết ra đây là một sự thực, nếu Thầy
không tin thì cứ viết thư qua hỏi hội Pàli text Society, là
Trung tâm nghiên cứu kinh điển Pàli tại Luân đôn thì Thầy
sẽ rõ liền, và lúc đó Thầy sẽ tự biết rằng mình nhầm
lẫn to, chỉ vì sự học hành kém cõi thiếu hiểu biết của
mình mà ra!. Một con người với tư cách như vậy không đủ
để làm người huống chi là Thánh! Vậy thì giáo lý NIKAYA
của Thầy đang tôn thờ và thực hành theo nó, chúng cũng chỉ
là thứ giáo lý được san định lại bỡi một thứ ngôn
ngữ khác. Chúng không phải là ngôn ngữ thường dùng hằng
ngày của một dân tộc nào đó tại Ấn độ, mà nó là ngôn
ngữ tự đặt ra của các nhà tiểu thừa phát triển sau này.
Và như vậy qua tam sao thất bổn, chúng được các nhà Tiểu
thừa xào nấu, và tự cắt xén giáo lý nguyên thỉ của đức
Phật theo kiến giải hạ liệt của mình, cũng giống như kiến
giải thấp hèn hạ liệt của Thầy hiện nay, đã không theo
được căn cơ lớn của Đại thừa, của Tối thượng thừa,
nên đành phải làm kẻ bán đồ nhi phế giữa đường, quay
sang tiểu thừa rồi tự phong thánh cho mình. Thầy tưởng rằng
ai cũng cùng một thứ căn cơ hạ liệt như Thầy nên Thầy
muốn khuấy động báng bổ giáo lý đại thừa hòng mọi người
theo Thầy, qua cách lừa đảo chứng nghiệm tứ thiền gì đó,
rồi bắt đầu ra sức chống báng Đại thừa một cách mục
hạ vô nhơn, theo kiểu ếch ngồi đáy giếng nhìn trời bằng
vung đó để hù doạ mọi người được sao? )
Một
giáo pháp phi đạo đức, mơ hồ, trừu tượng mạo danh là
Phật Giáo. Giáo pháp ấy còn có những cái tên rất kêu:
Ðại Thừa, Tối Thượng Thừa, Phật Thừa. Với những
danh từ vĩ đại này có mục đích để dìm Phật Giáo chân
chánh Nguyên Thủy xuống, ở góc độ nhỏ hẹp Tiểu Thừa,
Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa, rồi lần lược biến dần
giáo pháp chân chánh của Ðạo Phật thành tà giáo ngoại đạo
để dễ bề đưa giáo pháp của mình ra lừa đảo lường
gạt tín đồ Phật Giáo. Thầy Tổ của chúng ta từ xa
xưa đã bị các pháp môn này lừa đảo. Họ đều là
nạn nhân của những giáo pháp này.
Những
bậc Thầy Tổ, Tôn Túc xa xưa của chúng ta đã tu hành lầm
đường lạc lối theo những giáo pháp này nên kết quả tu
hành giải thoát chẳng ra gì, chỉ sống trong một giấc mơ
thế giới siêu hình cảnh giới Niết Bàn, Cực Lạc bằng
những lời an ủi suông trong kinh sách này: Tu hành phải vô
lượng kiếp mới thành Phật. Do bị lừa bởi những
câu nói này, nên vô tình các Ngài trước tác những kinh luận
để ca ngợi, xiểng dương, xương minh giáo pháp không đúng
của Ðạo Phật lên tận mây xanh, khiến cho người sau càng
lầm đường lạc lối hơn, từ đời này sang đời khác cứ
bổn cũ các Ngài thuyết đi thuyết lại mãi mà chẳng có ai
tu giải thoát được những gì. Vì thế kinh sách phát
triển để lại cho chúng ta rất nhiều, nhiều như rừng, như
biển, nhưng toàn là những thứ kinh sách trừu tượng, ảo
giác, mê tín, phi đạo đức, thiếu thực tế, không cụ thể;
như trên tôi đã nói phần nhiều là lý thuyết suông rỗng
tếch chẳng nói lên được một đạo đức làm người, làm
Thánh và chẳng nói lên được một pháp hành lợi ích như
thế nào cho bước đường tu hành của mọi người, chỉ toàn
là thứ mê tín lừa đảo, phi đạo đức mà thôi.
Kinh,
sử, sách này là một thứ đại vọng ngữ huyễn hóa, như
nói về lịch sử của Ðức Phật: Khi Ðức Phật vừa sanh
ra đi bảy bước, có bảy hoa sen đỡ chân, tay chỉ trời chỉ
đất. Còn các Tổ tu hành thì thể hiện: Phóng hào quang,
biến hóa, tàng hình, biết chuyện quá khứ, vị lai, thu thần,
nhập diệt, tự tại sanh tử, v.v... , nhưng có vị Thầy Tổ
nào đã làm được như vậy đâu? Trước khi chết Thầy
Tổ nào cũng bị bịnh, đau đớn, khổ sở đi đứng không
được, có nhiều Thầy Tổ bị bán thân nằm liệt một chỗ,
thọ biết bao nhiêu là cay đắng. Bỏ hết cả cuộc đời
để tu hành, giờ phút cuối cùng, khi biết tu hành sai pháp,
thì ô hô mạng căn không còn nữa. Ðó là những vị
còn tỉnh táo, nhưng có vị tới giờ phút lâm chung mà còn
chưa biết mình tu sai pháp, còn đang sống trong mê hồn trận
thế giới siêu hình Cực Lạc. Nhất là những vị tôn
túc được nhiều tín đồ biết danh, lại chết trong đau khổ
kinh khủng, mà còn chưa biết mình tu sai pháp. Chính chúng tôi
đã chứng kiến những sự việc này.
Còn
những Thầy Tổ xa xưa cách đây từ mười bảy, mười tám
thế kỷ thì chúng ta không biết họ thu thần nhập diệt như
thế nào? Trong những kinh sách của họ không có nói cách
thức thu thần nhập diệt rõ ràng cụ thể như Ðức Phật,
họ chỉ dùng những danh từ thu thần nhập diệt suông theo
lối lừa đảo. Còn ngược lại trong kinh Nguyên Thủy
khi Ðức Phật thu thần nhập diệt tự tại sanh tử một cách
rõ ràng và cụ thể như trong kinh Du Hành thuộc hệ thống
Trường Bộ kinh trong tạng kinh Nikaya, khi Ðức Phật nói lời
di chúc cuối cùng liền vào định Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam
Thiền cho đến Diệt Thọ Tưởng Ðịnh, nhập đi nhập lại
ba lần rồi Ngài nhập Tứ Thiền ra Tứ Thiền Ngài nhập Niết
Bàn xả bỏ báo thân.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Thầy lúc nào cũng nói kinh điển của
Phật là thực tế thế này thế kia, nhưng điều đó có ai
phủ nhận đâu, vì đó là một điều thực tế đúng đắn
cho cả giáo lý Đại thừa và Tiểu thừa. Nhưng trong những
bài viết của Thầy, luôn luôn bị ám ảnh bỡi cái chết,
và Thầy đang bị cái chết làm cho sợ hãi, nên lúc nào cũng
muốn thoát ra khỏi cái chết! nhưng Thầy có thoát khỏi được
cái chết hay không?Chác chắn là Thầy không thể nào thoát
khỏi được cái chết, khi Thầy còn mang cái sắc thân này,
ngay đến cả đức Phật vẫn còn bị luật vô thường chi
phối bỡi sắc thân, huống chi là Thầy!
Cái
khác nhau giữa Phật và Thầy cùng chúng sanh ở chỗ là đức
Phật không sợ hãi cái chết, coi nó như là cuộc sống, như
là hơi thở, đủ duyên thì sống, thì hiện hữu, không đủ
duyên thì chết, thì biến dịch, có thế thôi, ngược lại
vì Thầy không làm chủ được mạng sống, không làm chủ
được chuyện sống chết, nên bị chúng làm cho Thầy sợ
hãi đến độ biến Thầy thành kẻ điên đảo, làm cho
Thầy không còn là con người nữa, làm cho Thầy mất trí,
và vì vậy cho nên Thầy bắt đầu biến thành nhất xiển
đề , huỷ Phật báng Pháp, chửi bới tăng, nói chung là Thầy
không còn tin Tam bảo nữa. Rồi Thầy đem việc sống chết
ra hù doạ thiên hạ, và làm những việc mà tử trước đến
nay chưa hề thấy chúng xuất hiện trên trái đấy này kể
từ khi đức Phật ra đời, dù đó là kẻ ngoại đạo chăng
nữa, thì cũng không có bất cứ hành động và những lời
nói lỗ mãn bất kính nào đối với Phật pháp và Tăng như
Thầy đã và đang làm hiện nay!
Theo
như những đoạn văn Thầy viết ở trên, Thầy có đọc nhưng
thấy đọc không kỹ, hay có kỹ đi nữa, vì Thầy đã
cố tình bỏ đi cái phần trước khi đức Phật vào định,
cái phần đó mới là quan trong. Cũng như con người, trước
khi vào Niết-bàn, đức Phật cũng đau nhức trong người như
người thường vậy, đau nhức đến độ ngài không tự tay
mình xếp được Tăng-già-lê mà phải sai thị giả A-nan, xếp
làm tư cái y để đức Phật nằm nghỉ. Thầy có đọc đoạn
này không?hay có đọc nhưng vì muốn cho chúng phù hợp điều
mình muốn nói, nên phải cắt xén đi! Đây là hành động
thiếu liêm khiết tri thức, lừa đảo đáng được lên án
và phỉ nhổ. Trong đó, lúc nào Thầy cũng lên án các vị
Tổ sư tiền bối cho là họ đã lừa đảo chúng ta thế này,
thế nọ, mà chính Thầy đang lừa đảo mọi người Thầy
lại không hay biết, hay có hay biết đi chăng nữa, thì Thầy
cũng phải làm vì một mục đích, và nhiệm vụ nào đó, chỉ
có mình Thầy biết thôi!)
Hành
động nhập bốn thiền, nhập đi nhập lại ba lần đến Thiền
Thứ Tư thì Ðức Phật xả bỏ báo thân một cách tự tại
trong sanh tử rõ ràng và cụ thể. Ðó là lời di chúc
không lời cuối cùng đối với người đời sau. Cho nên
không còn ai dám phỉ báng, bài bác Bốn Thánh Ðịnh của Phật
Giáo là mơ hồ trừu tượng dối gạt người như các loại
thiền khác, thường chỉ nói suông thu thần nhập diệt rất
mơ hồ trừu tượng bằng những lời lẽ để lừa đảo Thầy
Tổ của chúng ta, và bây giờ cả chúng ta nữa. Do tin
những giáo thuyết này mà chúng ta tu chết người, tu căng
mặt, căng mày, nặng đầu, tức ngực, đau lói bên hông và
đôi khi bị rối loạn thần kinh sanh ra điên khùng, mất trí,
v.v...
(Nhận
xét đoạn văn trên: Lối tu mà Thầy nêu trên là lối tu
toạ Thiền của Tiểu Thừa NIKAYA của Thầy đó chứ! Lúc
Thầy nhập vào sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam thiền, Tứ thiền,
thì thầy nhập ngồi hay nhập đứng, nhập nằm hay đi? Chắc
chắn là Thầy phải ngồi rồi. Vậy những hiện tượng, tu
căn mặt, căng mày, nặng đầu, tức ngực, đau nhói bên hông
và đôi khi rối loạn thần kinh sinh ra điên khùng, mất trí,
v.v… mà cho cho là lối tu bị “Ức chế”, từ Thầy thường
dùng để chỉ cho Thiền tông bên Đại thừa, nhưng thật ra
bên Thiền tông không có bất cứ một pháp tu nào kiểu Thầy
đã nói đâu? Chúng không phải là những hiện tượng của
những hành giả tu tập toạ thiền của bên NIKAYA sao? Thế
là Thầy tự huỷ báng Thiền của Thầy đang tu tập đó rồi.
Còn đối với Thiền bên Đại thừa thì không có những hiện
tượng đó đâu, Thầy nhầm rồi đó. Bên Thiền tông không
có cách tu này, nếu không biết thì Thầy hãy độc kinh Pháp
Bảo đàn, của Tổ Huệ Năng thì sẽ rõ cách tu của Thiền
tông như thế nào?
Như
vậy chứng tỏ rõ ràng rằng Thầy là một kẻ dốt nát ngay
đến Thiền định bên phái của mình tu mà mình cũng không
rõ ràng, huống chi là Thiền định bên Đại Thừa, Tối thượng
thừa! Dứt khoát là Thầy mù tịt luôn, khi đã mù tịt đối
với pháp tu của người khác thì đương nhiên là không thể
mở miệng ra để phê bình được, nhưng ở đây Thầy vẫn
mở miệng chứng tỏ Thầy là một con ếch ngồi đáy giếng,
nhưng con ếch cho dù nó có ngồi đáy giếng đi chăng nữa,
nó vẫn thấy được vòm trời qua sự giới hạn của miệng
giếng bằng cái vung, còn Thầy thì sao? Ngồi trong rừng Thiền
Tiểu thừa mà không thấy, biết được gì. Vì không thấy
biết được gì nên nói càng,nói bừa, và tự huỷ báng chính
mình mà không biết!)
Những
Thầy Tổ xa xưa của chúng ta tu hành giải thoát như thế nào?
Chúng ta không thấy được, chỉ nghe thấy trong kinh sách nói
lại mà thôi. Còn những Thầy Tổ hiện đời của chúng
ta, chúng ta đã trực tiếp nghe thấy sự sống và chết của
các Ngài rất rõ ràng như trên tôi đã nói.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Nếu Thầy đã không biết không thấy
các vị Tổ sư xưa kia tu hành giải thoát như thế nào? Vậy
tại sao đã không biết không thấy tức là không có căn cứ
mà lại còn dám phê bình huỷ báng và bảo rằng đi lạc,
đi sai lầm, và là lửa đảo người đi sau. Thật là một
việc làm thiếu hiểu biết của kẻ vô học, của kẻ điếc
không biết sợ súng, của kẻ điên chứ không phải là người
bình thường có hiểu biết.)
Thứ
nhất, cuộc sống tu hành của các Ngài tâm tham, sân, si, mạn,
nghi chưa hết, nhất là lòng sân không kém gì người thế
tục.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Thầy căn cứ vào đâu để bảo rằng
các ngài tâm tham, sân, si, mạn, nghi chưa hết? Còn Thầy đã
hết chưa?! Chúng tôi tin chắc rằng Thầy vẫn còn tham, sân,
si, mạn, nghi, không những vẫn còn màn nhiều hơn họ nữa
là khác. Chúng tôi sẽ đưa ra những bằng chứng cụ thể
ngay trong những bài viết của Thầy đã thể hiện:
Thật
sự nếu Thầy là người đã sạch hết tham, sân, si, mạn,
nghi thì Thầy sẽ không có những bài viết thiếu hiểu biết
(tức là chỉ cho sự vô minh, ngu si vẫn còn đầy dẫy trong
những nhận thức qua các bài viết của Thầy đối với Phật
giáo Đại thừa và ngay cả Tiểu thửa một cách sai lầm bậy
bạ như vậy như vậy), thứ đến Thầy thể hiện cái kiêu
mạn của Thầy qua việc tự phong thánh của Thầy quá vĩ đại,
đến cả giáo lý Tiểu Đại từ xưa đến nay, từ đông sang
Tây, từ nam chí bắc Thầy miệt thi huỷ báng không còn thể
thống gì nữa dưới cái nhìn của cái tâm kiêu mạn của
Thầy, và phía bên sau hai sự thể hiện này là ẩn dấu một
cái lòng tham danh-lợi không đáy muốn nổi danh qua việc làm
này.
Ở
đây Thầy không thể bảo vì lòng từ bi thương xót người
sau nên Thầy mới có việc làm này! vì nếu Thầy bảo vì
lý do đó, thì vô tình thầy tự mâu thuẫn với chính mình
qua việc huỷ báng bồ-tát hạnh. Như vậy lý do này không
đứng vững, và như vậy việc làm này của Thầy mang đủ
cả Tham, sân, si, mạn, nghi. Và nhất là bệnh nghi Thầy đang
phạm phải, nó đã biến Thầy thành kẻ “nhất xiển đề”
qua việc nghi ngờ giáo lý Đại-Tiểu thừa và đâm ra huỷ
báng chúng. Khi mà Giáo lý của đức Phật bị Thầy phủ định,
tức là Thầy phủ định chính đức Phật mà Thầy đang theo!
Đó là cái vô minh mà Thầy đang thể hiện cho mọi người
thấy qua những bài viết này, chúng sẽ là tác nhân đưa Thầy
vào địa ngục vô gián sau này.)
Thứ
hai vị hòa thượng nào đến khi chết cũng bịnh tật, chịu
nhiều sự khổ đau, nhiều vị phải nằm trên giường bịnh
ít nhất cũng là sáu tháng còn không thì cũng đôi ba năm liệt
giường liệt chiếu tiêu tiểu, ăn uống có một chỗ.
Cuối đời tu hành của Thầy Tổ chúng ta quá khổ như vậy.
Kính
thưa các bậc Tôn Túc, quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa,
Ðại Ðức Tăng, Ni và Nam Nữ cư sĩ Phật tử.
Ðó
là một bằng chứng hiển nhiên mà quý vị hãy kiểm chứng
lại xem có phải đúng giáo pháp phát triển này đã lừa đảo
và giết chết Thầy Tổ của chúng ta một cách khổ đau vô
cùng không, khi mà Thầy Tổ của chúng ta hết sức tin tưởng
tu hành với những pháp môn này không dám biếng trể?
Gương
tu hành, việc làm Phật sự của Thầy Tổ và cuối cùng sự
sống chết của các Ngài như vậy, chúng ta đừng che dấu
mà hãy thành thật nói lên sự thật để người sau biết
rõ giáo pháp phát triển là một thứ giaó pháp lừa đảo
thật sự, tu hành chẳng đi về đâu được cả, chỉ vì danh,
lợi mà người trước dối người sau, người sau dối người
sau nữa và cứ như vậy mà trải qua trên hai mươi lăm thế
kỷ nay, Thầy Tổ của chúng ta chưa có ai làm chủ được
sự sống chết như Ðức Phật, cũng chỉ vì tu sai lầm pháp
môn của ngoại đạo.
Kính
thưa quý vị! Hiện giờ quý vị là những bậc Thầy
Tổ của Tăng Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử, quý vị tự xét
lại thân tâm của mình, tuổi đạo trên bốn năm chục năm
và hiện giờ có vị đã bảy tám mươi tuổi đời chức vụ
làm Tăng Thống, Phó Tăng Thống, Viện Chủ, Viện Trưởng,
v.v... đã làm chủ thân tâm được những gì trong bốn sự
đau khổ của kiếp làm người sanh, già, bịnh, chết.
Sanh
tức là đời sống, quý vị làm chủ được những gì?
Có hết tham chưa? Nếu bảo rằng hết tham sao quý vị
còn ăn uống phi thời, còn thích ở chùa to, tháp lớn?
Sao không sống thiểu dục tri túc ba y một bát, đi xin ăn từng
nhà, mặc y áo phấn tảo, vải bỏ của thiên hạ như Ðức
Phật ngày xưa, như vậy mới gọi là hết tham. Sân tức là
lòng căm giận nếu bảo rằng quý vị hết sân thì điều
này quý vị tự biết hơn ai hết, những khi gặp chướng ngại
pháp sao quý vị lại đỏ mặt tía tai la hét dữ vậy.
Già
tức là cơ thể cằn cỗi lụm cụm, tay chân run rẩy và yếu
đuối, da nhăn nheo, mặt gầy, nếu quý vị đã nhập định
Nhị Thiền được thì quý vị nhận rất rõ nhân quả vô
thường không còn tác động làm thay đổi sắc thân của quý
vị rất cụ thể và rõ ràng, còn chưa nhập được thì quý
vị như người mù chẳng biết màu sắc ra sao cả, chỉ biết
có một màu đen sâu thẳm như trong đêm tối.
Bịnh
tức là đau nhức của cơ thể, chắc chắn quý vị sẽ không
thể tránh khỏi những khổ đau này và quý vị cũng không
che dấu được ai cả. Ngay bây giờ cơ thể của quý
vị bịnh đau rề rề, nay bịnh này, mai bịnh khác, nay nhức
chỗ này, mai đau chỗ kia. Hiện giờ sắc thân của quý vị
sống bằng thuốc thang, bằng gạo lứt muối mè, bằng nhịn
ăn tiết thực, lúc nào cũng chích thuốc và châm cứu, bấm
huyệt, cạo gió, tập thể thao, dưỡng sinh và tập luyện
yoga; nhất là cố gắng ăn nhiều bữa để cơ thể có đủ
chất dinh dưỡng, ngõ hầu sống thêm được ngày nào tốt
ngày nấy. Tu hành như vậy thật không xứng đáng là
đệ tử của Ðức Phật.
Chết
tức là cơ thể không còn hoạt động, không còn thở, nếu
quý vị không nhập được Tứ Thiền, tịnh chỉ được hơi
thở thì khó mà quý vị làm chủ được sự sống chết này.
Kính
thưa quý vị! Quý Vị đã từng theo giáo pháp phát triển
của Ðại Thừa tu tập, Quý Vị đã làm chủ được một
trong bốn sự đau khổ trên đây chưa?
Nếu
chưa làm chủ được một trong bốn sự đau khổ này thì quý
vị phải sáng suốt, đừng vì một lý do nào cả mà hãy vì
loài người trên hành tinh này mà vạch trần sự thật để
cho con người khỏi tốn công, tốn sức, tốn của cải tài
sản, tốn công lao tu tập, tốn tiền của in kinh phát triển
Ðại Thừa mà chẳng ích lợi gì cho đời, còn có hại cho
con người, vì giáo pháp này dạy cầu tha lực, do đó, tu sĩ
không còn sức tự lực, lúc nào cũng cầu cạnh, van xin, cúng
tế, v.v... Kinh sách phát triển đang lừa đảo con người bằng
mọi hình thức trừu tượng, mê tín, huyễn thuật, dị đoan
mà tín đồ Phật Giáo phải gánh chịu sự khổ đau này.
Tôi
tin chắc rằng quý vị tu theo giáo pháp phát triển không bao
giờ làm chủ được bốn sự đau khổ này mà chính quý vị
không đủ can đảm nói thật ra mà thôi. Nhưng chính vì
không đủ can đảm nói thật ra thì quý vị đã tự làm khổ
mình và còn làm khổ bao nhiêu người khác nữa. Không
những làm khổ mình khổ người khác mà còn giết chết Phật
Giáo, giết chết nền đạo đức nhân bản của Ðạo Phật.
Dù quý vị cố giữ bí mật không nói ra, nhưng sự sống của
quý vị phá giới, phạm giới là một chứng minh hùng hồn
cho thấy quý vị chưa làm chủ sự sống. Chưa làm chủ
sự sống được thì chứng tỏ quý vị không thể nào làm
chủ sự chết được. Bằng chứng cụ thể là khi quý
vị chết, chết trong bịnh tật trong đau khổ. Ðó là
những hiện tượng mà quý vị không làm sao che dấu được
tín đồ và những người khác.
Tôi
biết rất rõ quý vị thuyết giảng rất hay, nhưng lời nói
không đi đôi với tâm giải thoát của quý vị, vì thế quý
vị nên tự xét đừng bắt chước Thầy Tổ của chúng ta
nói một điều mà làm một ngả không nhất quán.
Giáo
pháp phát triển dù quý vị có tu trăm muôn ngàn kiếp thì
quý vị cũng chẳng bao giờ làm chủ bốn sự đau khổ này
được, chỉ uổng công mà thôi; vì nó là giáo pháp thuộc
về hý luận, chứ không phải giáo pháp để tu hành giải
thoát. Sắc tức thị không, không tức thị sắc, đó
là lời nói trừu tượng không xác quyết. Có là có,
không là không. Hiện giờ có là nói có, lát nữa không
thì nói không. Thời gian có hiện tại, quá khứ và vị
lai rõ ràng; thời gian nào thì nói theo thời gian nấy, dù là
một sát na (nháy mắt) chứ đâu nói có là không, không là
có. Ðó là một sự lừa đảo lường gạt người theo
hý luận của Ngài Long Thọ.
(Nhận
xét những đoạn văn trên: Thầy căn cứ vào đâu để
nói bậy rằng tu theo giáo pháp phát triển không bao giờ làm
chủ được bốn sự đau khổ. Trước hết Thầy đã làm chủ
được nó chưa? Chắc chắn là Thầy chưa làm chủ được
rồi, vì Thầy đang bị bốn sự đau khổ luôn luôn ám ảnh
Thầy , chúng thể hiện qua những bài viết của Thầy không
bài nào là Thầy không nhắc đi nhắc lại chúng, Thầy đang
bị chúng trói buộc trong mọi ý nghĩ của Thầy. Vậy thì
Thầy cứ tự giải quyết bốn sự khổ của Thầy đi; chuyện
của mình chưa giải quyết được thì làm sao có thể đi giải
quyết giùm cho kẻ khác được! Đây là một việc làm ruồi
bu của kẻ không biết liêm sỉ.
Thứ
đến hệ Pàli NICAYA không phải là hệ phát triển của Phật
giào Tiểu thừa hay sao? Chúng đâu có phải là Nguyên Thỉ
đâu? chỉ vì Thầy không hiểu biết về sự phát triển và
sự hình thành ngôn ngữ Pàli nên có những ý nghĩ sai lầm
về lịch sử như vậy! Và ngay đến tư tưởng giáo lý nguyên
thỉ cũng hiểu sai ý nghĩa của nó, chỉ vì căn cơ hạ liệt
nên có một sự nhận thức sai lầm về quan niệm Khổ, và
Tứ đế đã biến thành bốn thứ chân lý của họ. Cái sai
lầm ở đây là chính họ cho rằng Khổ là chân lý, nhưng
đã là chân lý thì chúng là thực tại tuyệt đối, mà đã
là thực tại tuyệt đối thì chúng không thay đổi biến dịch;
trong khi họ lại ra sức tu tập cho hết Khổ để đạt Niết-bàn!
Có nghĩa là họ làm chân lý khổ biến thành hết khổ. Nhưng
ở đây họ quên rằng Khổ là chân lý thì làm sao có thể
làm cho nó thay đổi được!? Chính họ mới là những
người tu trăm muôn ngàn kiếp vẫn không thực hiện được
việc thoát khổ! Vì khổ theo họ là chân lý mà. Vậy
mà họ vẫn không biết rằng việc làm của họ là mâu thuẫn,
là sai lầm. Đó chính là cái sai lầm chúng hiện rõ qua trình
độ căn cơ nhận thức hạ liệt của họ. Đã vậy, mà họ
không biết cứ dương dương tự đắc lên án Phật giáo Đại
thừa, và cho rằng tu theo Đại thừa là uổng công vô ích
theo kiểu nhận thức hạ liệt thấp kém của họ! Với căn
cơ thấp kém như vậy thì làm sao họ có thể hiểu được
tư tưởng “Sắc tức thị không, không tức thị sắc.”
Chỉ
có bốn chữ “KHỔ LÀ CHÂN LÝ” mà họ chưa nhận ra ý nghĩa
đích thực của nó, huống chi là tư tưởng Bát-nhã. Ở đây
cũng như những chỗ khác Thầy Thông Lạc không tự lượng
sức kém cõi hạ liệt của mình vẫn cứ lập đi lập lại
những lời nói rỗng tếch không nghĩa lý, không căn cứ, nói
linh tinh theo dạng điếc không sợ súng mà huỷ báng kinh
điển Phật giáo!)
Kính
thưa quý vị! Hôm nay tập 2 Ðường Về Xứ Phật ra đời,
tôi thành tâm kêu gọi quý vị Tôn Túc, Hòa Thượng, Thượng
Tọa, Ðại Ðức Tăng Ni và nam nữ cư sĩ Phật tử trong cả
nước hãy mạnh dạn đứng lên nói sự thật về các loại
kinh sách này như Thiền Sư Thường Chiếu, Hòa Thượng Minh
Châu, cư sĩ Trùng Quang và một vị sử gia Phật Giáo Thái
Lan tên là Thitanàna Thero đã biên soạn cuốn Phật Giáo Sử
do Sư Giác Nguyên dịch ra Việt ngữ, v.v...
Những
lời nói của các vị sẽ vạch trần những điều tội lỗi
của kinh sách phát triển Ðại Thừa mà lịch sử đã còn
ghi lại nhiều thủ đoạn gian ác của Bà La Môn Giáo và của
những người vì danh, vì lợi, đã nở tâm muốn diệt Phật
Giáo, diệt một nền đạo đức nhân bản của loài người
mà chính Phật Giáo mới có. Một nền đạo đức nhân
bản không làm khổ mình khổ người, có lợi ích cho con người
trên hành tinh này rất lớn.
Vì
thế, tôi kêu gọi quý vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Ðại
Ðức, Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử hãy vì sự trường
tồn của Phật Giáo và nền đạo đức nhân bản của con
người trên hành tinh này, xin quý vị hãy nói sự thật và
cùng với tôi dựng lại những gì của Phật Giáo đã bị
kinh sách phát triển ném bỏ từ lâu. Vì Phật Giáo, vì
loài người chúng ta hãy đứng lên chung lưng đâu cật quyết
tâm quét sạch những tà giáo ngoại đạo đang mượn danh Phật
Giáo để làm những việc mê tín, lừa đảo, lường gạt
mọi người, tiền mất tật mang mà chẳng có ích lợi gì
cho ai cả, chỉ làm giàu cho tà sư đội lốt Phật Giáo.
Hỡi
quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Ðại Ðức, Tăng, Ni và nam,
nữ cư sĩ Phật tử xin hãy nhận định sáng suốt đâu là
chánh pháp của Ðạo Phật, đâu là tà pháp của ngoại đạo,
mạnh tay dẹp bỏ những hý luận của Long Thọ, Vô Trước,
Thế Thân, Mã Minh, v.v... Những hý luận này chẳng ích lợi
gì cho người tu; nó chỉ để cho những người kiêu căng,
tự đắc lạm dụng để hý luận làm trò tranh luận hơn thua
với những người còn tham danh, đắm lợi ở thế gian.
(Lối lý luận trừu tượng nhưng không tu hành được, đó
là đại vọng ngữ lừa đảo của các vị Tổ Sư này).
Tổ Sư chịu chết một cách rất oan uổng cũng vì những lý
luận này: Ngũ uẩn giai không.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Trình độ giáo lý của Thầy như vậy
mà cũng đòi làm Tổ cho một thứ tông Ma giáo nào đó được
sao? Ngũ Uẩn giai không, là giáo lý mấu chốt của cả Tiểu
lẫn Đại thừa mà Thầy vẫn không hiểu được! Vây Thầy
đang vận động để làm một cái việc ma quỷ gì vậy? Thầy
đã học BA PHÁP ẤN chưa!? (Vô thường-khổ-vô ngã) Thầy
có hiểu Vô ngã là gì không, hay chúng tôi phải giải thích
cho Thầy! Vô ngã này không phải là giáo lý Tiểu thừa
sao? Ngã không phải là Ngũ uẩn sao? Vậy vô ngã không phải
đồng nghĩa với Ngũ uẩn giai không sao? Thầy có trí kém cõi
như vậy mà cũng đòi làm Thầy thiên hạ đươc sao? Qua đây
chúng tôi mới biết rõ được kiến thức Phật học của
Thầy đã đến đâu rồi, hèn chi Thầy có những nhận thức
sai lầm lệch lạc thiếu hiểu biết như vậy. Từ trí tuệ
hạ liệt, kiến thức kém cõi do thiếu học hỏi đưa đến
những nhận thức sai lầm là một điều tất yếu không thể
không xảy ra, điều này cũng dễ hiểu thôi. Nếu Thầy muốn
thuyết phục được người khác theo mình thì, trước hết
Thầy phải trang bị cho mình một thứ kiến thức uyên bác
cao sâu, thì Thầy mới mong làm được việc này, còn với
trí tuệ ấy và kiến thức ấy thì không làm gì được đâu
Thầy Thông Lạc!)
Kính
thưa các bậc Tôn Túc, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Ðại Ðức,
Tăng, Ni và nam, nữ cư sĩ Phật tử!
Thưa
quý vị! Nếu quý vị cứ theo vết chân của các vị
Tổ Sư này thì tất cả tu sĩ của Phật Giáo sẽ chạy theo
danh và lợi của thế gian thì đức hạnh làm người làm Thánh
của Phật Giáo sẽ không còn nữa và như vậy muôn đời tu
sĩ của Phật Giáo chỉ là tấm bia để cho người đời chê
trách mà thôi.
Kính
thưa quý vị! Người ta đã châm biếm Phật Giáo quá
nhiều khiến cho những tu sĩ trẻ tuổi mặc cảm với chiếc
áo tu sĩ Phật Giáo rất đáng thương. Nếu quý vị không
thẳng thừng quét sạch những tà giáo ngoại đạo đang ẩn
núp trong Phật Giáo để làm tốt lại Phật Giáo mà cứ theo
lối mòn của các Tổ thì chắc chắn Phật Giáo sẽ bị diệt
vong.
Kính
thưa quý vị! Khi đọc bộ sách 10 tập Ðường Về Xứ
Phật xong, quý vị phải bình tâm mà suy ngẫm những lời nói
của tôi có đúng hay là sai, các Tổ có phải là những người
đáng cho chúng ta tin tưởng đầu đội, vai mang hay không?
(Nhận
xét đoạn văn trên: Việc gì phải đọc hết 10 bài viết
không có giá trị này, vì với kiến thức Phật học như vậy
thì làm sao mà nói việc gì cho đúng. Thầy nên đi làm nhân
viên tiếp thị cho các hãng cá tôm ngoài chợ mới được
việc, chứ Thầy làm việc này không được đâu. Thành thật
xin lỗi Thầy, và nhắn lại với Thầy như vậy!)
Theo
tôi thiết nghĩ Ðức Phật là một con người hoàn hảo, Ngài
biết những lời nào Ngài dạy cho chúng ta là vừa đủ để
con người không làm khổ mình khổ người nữa; lời nói của
Ngài không thừa không thiếu. Một hôm Ngài nắm trong
tay một nắm lá cây và hỏi chúng tỳ kheo: Nắm lá cây trong
tay Ta có nhiều bằng rừng lá cây hay không?
Chúng
tỳ kheo trả lời: Bạch Thế Tôn! Nắm lá cây trong tay
của Thế Tôn quá ít so với rừng lá cây quá nhiều.
Ðức
Phật nói tiếp: Pháp Ta chứng như rừng lá cây, nhưng Ta dạy
các ngươi tu tập như nắm lá cây trong tay. Tại sao vậy?
Vì sự hiểu biết của các ngươi có giới hạn, nên Ta dạy
những điều cần thiết vừa đủ để các người đạt đến
mục đích giải thoát sanh, già, bịnh, chết và chấm dứt
luân hồi.
(Nhận
xét những đoạn văn trên: Thầy có biết rằng những kinh
điển mà Thầy trích ra đó nguồn gốc của nó cũng từ Kinh
điển hệ Sanskrit, được các nhà Tiểu thừa dịch sang Pàli.
Trong đó vì Thầy không hiểu biết nên cố sức huỷ báng
kinh điển theo hệ Sanskrit, và cho rằng kinh điển theo Sanskrit
là kinh điển nguỵ tạo thế này thế nọ, mà không biết
rằng kinh điển mình đang theo tu tập cũng xuất xứ từ đó
mà ra. Nếu kinh điển Sanskrit là kinh điển nguỵ tạo, kinh
điển sai lầm, thì kinh điển của Tiểu thừa cũng có khác
gì nhau đâu! Đây chính là một sự sai lầm vĩ đại của
Thầy đó.
Thầy
có nhớ mẫu chuyện có kẻ ngoại đạo đếm mắng nhiếc,
huỷ báng đức Phật, đức Phật để cho ông ta chửi bới
cho đã rồi mới đưa ra thí dụ và hỏi: nếu có người đem
đến biếu cho ông đồ vật, nhưng đồ vật đó ông không
nhận, thì đồn vật đó về ai? Ngườu kia thành thật thưa
đồ vật đó trở về tôi lại. Đức Phật nhẹ nhàng bảo:
Nảy giờ ông đem những lời xấu xa nhất huỷ báng ta, nhưng
nay ta không nhận nó, ta trả về cho ông đó! Chắc chắn là
Thầy đã đọc qua mẫu chuyện này rồi, Và theo chúng tôi,
ở đây chắc chắn những người tu tập theo giáo lý Đại
Thừa Tối thượng thừa cũng vậy, không nhận những lời
huỷ báng kinh điển Đại Thừa và chư vị Thánh tổ sư từ
Bồ tát Long Thọ trở xuống của Thầy đã dành chọ họ đâu!
Thầy hãy nhận nó lại tất cả đi và tự làm một ông Thánh
tăng thượng mạng mà vào địa ngục vô gián!
Thật
ra khi chúng tôi mới độc qua, chúng tôi cứ tưởng rằng Thầy
viết lách với tâm huyết của người biết lo về tương lai
của đạo pháp, và là người có chút kiến thức nghiên cứu
nghiêm chỉnh, chứ đâu có ngờ, viết lách bậy bạ, mâu thuẫn
lung tung, đưa ra lời Phật dạy mà không đưa ra xuất xứ
kinh nào, luận nào, trang mấy, cứ gọi một cách hàm hồ là
kinh dạy, Phật dạy mà không chua ra xuất xứ của những lời
dạy, Như vậy bài biết có giá trị gì đâu mà phải bỏ
ra nhiều thì gian để viết. Càng đọc vào sâu thì càng thấy
mục đích của Thầy không là người biết lo về tương lai
của đạo pháp, mà vì tâm đố kỵ, vì không người tu theo
pháp môn của Thầy, cứ tạm gọi như vậy đi, chứ thật
ra pháp môn Tứ niệm xứ là pháp môn của đức Phật chứ
đâu có phải của Thầy! Nhưng hình như đọc qua đây chúng
tôi thấy, Thầy cho đó là pháp môn của chính Thầy, nên cố
tình cù rủ mọi người tu theo, bằng cách ra sức nói xấu
huỷ báng pháp Đại thừa, huỷ báng chư vị Tổ sư từ trên
xuống dưới, từ Tây sang đông, Thầy bất kể thượng trung
hạ toạ, giữa đời chỉ có mình Thầy là bậc Thánh, ngoài
ra là phàm phu tục tử hết! Một người có tư cách như vậy
mà tự gọi là A-la-hán thì đúng là chuyện lạ thế gian,
chuyện bất khả tư nghị, bất khả thuyết! Chắc chắn mọi
người dù là thiếu trí tuệ đi nữa nhưng nếu mà đọc qua
bài của Thầy Thông lạc thì rõ ràng là không ai có thể cho
là Thầy dạy dúng hết, và như vậy việc làm của Thầy trở
thành phản tác dụng. Thầy tự cô lập mình trong vòng tay
của ma, của các thế lực vô minh, và thầy đang làm lợi
cho chúng qua việc làm tất trách này. Đáng lý chúng tôi sẽ
viết nhận xét trực tiếp vào tất cả những bài viết tiếp
theo của Thầy, nhưng đến đây cũng là quá rồi. Vì theo quan
điểm của Thầy Thông lạc qua những bài viết này, thì đúng
hết thuốc chữa, nói theo ngôn từ của đức Phật thì đây
là việc làm của loại “Nhất Xiển đề” giống như Đề-bà-đạt-đa
vào thời kỳ đức Phật còn tại thế vậy. Đối với hạng
người này chính đức Phật cũng hết lời huống chi là chúng
ta!)
Bốn
mươi lăm năm thuyết pháp độ chúng sanh, Ðức Phật đã trang
bị cho chúng ta vừa đủ những pháp hành để tu tập đi đến
giải thoát; cho nên những gì lý luận cao siêu thì Ðức Phật
cho đó là tưởng tri, hý luận để làm giàu cho sự tranh luận
hơn thua, không nhằm mục đích giải thoát. Những điều
đó không ích lợi cho mình cho người mà còn sanh oán thù và
làm mất thì giờ vô ích. Thế mà người sau muốn triển
khai cái rừng lá cây của Ðức Phật đã chứng, như Tổ Long
Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mã Minh, v.v... vì thế đẻ ra chân
lý Chân Không. Mục đích của
Ngài Long Thọ là nhằm đập phá luôn chân lý Khổ, Tập, Diệt,
Ðạo của Ðạo Phật để giáo pháp Bát Nhã Ba La Mật của
mình trở thành một chân lý duy nhất không còn một chân lý
nào hơn được. Vì thế Thầy Tổ
của chúng ta quá phục lăn chân lý ấy nên xúm nhau triển
khai trí tuệ Bát Nhã Chân Không. Từ Chân Không sản xuất
ra Thiền Tông, khiến cho người đệ tử Trung Hoa đầu tiên
của giáo phái này bị tàn tật cụt một cánh tay vì cầu
pháp và về sau chết một cách oan uổng trong tù. Ðó
là cái thấy tưởng tri của các Tổ đã giết người, chứ
không phải là liễu tri để cứu người. Từ đây nó
mang đến những tai hại cho con người biết dường nào.
Bao nhiêu tu sĩ hủy hoại một phần cơ thể để cầu pháp
Chân Không như trong kinh Pháp Hoa đã dạy: Lấy toàn thân hoặc
hủy hoại một phần cơ thể để cúng dường chư Phật cầu
pháp.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Với trí nhỏ bé thấp kém hạ liệt
của Thầy thì làm sao có thể hiểu thấu được Tánh không
là gì mà cũng đòi chen vào để bàn luận? Đối với các
nhà luận sư bên Tiểu thừa cũng ngọng họng, mở không ra
lời bỡi những câu cật vấn và trả lời của Bồ -tát Long
Thọ. Thầy bảo: “ Mục đích của
Ngài Long Thọ là nhằm đập phá luôn chân lý Khổ, Tập,
Diệt, Ðạo của Ðạo Phật để giáo pháp Bát Nhã Ba La Mật
của mình trở thành một chân lý duy nhất không còn một chân
lý nào hơn được.” Không hiểu ở
đây Thầy dùng từ chân lý Bát-nhã Ba-la-mật là một thứ
chân lý gì vậy? Thầy dựa vào đâu mà bảo rằng ngài Long
Thọ đập phá luôn chân lý Khổ, Tập, Diệt, Đạo? Thầy
bảo rằng Khổ là chân lý, mà đã là chân lý thì nó bất
biến, không thay đổi, mà đã không thay đổi thì cần gì
phải tu, vì có tu đi chăng nữa, nó vẫn không hết khổ. Trường
hợp nếu Thầy bảo rằng cái khổ này sẽ thay đổi, và như
vậy là Thầy chấp nhận chân lý bị thay đổi. Nhưng từ
trước đến giờ có ai từng nghe là chân lý bị thay đổi
bao giờ; nhưng trong hiện tại có một vị tự xưng là mình
đã đạt tam minh chứng A-la-hán bảo rằng chân lý bị thay
đổi! Một cái đầu óc như vậy mà cũng chen chân mở miệng
tranh luận cùng với các luận sư, và với cái kiến thức
què quặt như vậy đem ra cãi chày cãi cối, không biết lý
lẽ là gì! Cái Không của Bát-nhã là cái Không của Trung đạo,
cái không của giả danh. Nó không phải là cái
không đối
lập với cái có của
Thầy đâu. Nó là cái không của: “Chúng nhân duyên sanh pháp,
ngã thuyết tức thị không, Diệc vi thị giả danh, Diệc thị
Trung đạo nghĩa, Vị tằng hữu nhất pháp, Bất tùng nhân
duyên sanh, Thị cố nhất thiếp pháp, Vô bất thị không giả.
(Phẩm nhân duyên, Trung Luận, tr.33. Đ.30) (Pháp do các duyên
sinh, Tôi nói đó là không, Cũng chính là giả danh, Cũng là
nghĩa Trung đạo. Chưa từng có một pháp, Không từ nhân duyên
sinh. Cho nên tất cả pháp, Không gì không phải không.) Đó
là nghĩa chữ không của Tánh không mà Bồ-tát Long Thọ đã
triển khai từ lời dạy của đức Phật đã từng tuyên bố:
«Apratītyasamutpanno dharmaḥ kaścim na vidyate.» (Không bao giờ
có thể có một sự vật gì phát sinh mà không có nhân duyên)
Ở đây chúng tôi cũng không cần phải nêu ra dong dài về
vấn đề này. Nếu vị nào cần hiểu rõ hơn xin đọc thêm
bài viết về THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN và TỨ ĐẾ của chúng
tôi trong Tập San Nghiên Cứu Phật Học
5 & 6 (Thừa Thiên-Huế) trên các mạng thuvienhoasen, phatviet.com,
quangduc.com, buddhismtoday.com v.v…) Khi mà Thầy đã không
hiểu thấu được nghĩa đích thực của chúng thì đừng có
viết càn, viết bậy, nói linh tinh không đâu vào.
Thầy
có đọc kinh Bổn sanh, trong chính hệ thống Pàli chưa? Kinh
này đức Phật kể lại tiền kiếp của ngài khi còn hành
Bồ-tát đạo đời quá của chính đức Phật qua hạnh Bồ-tát.
Nếu Thầy đọc qua rồi, thì không bao giời Thầy có những
lời lẽ hỗn xược xấc láo của kẻ vô học đối với Bồ-tát
hạnh như vậy. Thật là tội nghiệp cho những kẻ vô minh
luôn luôn úp mặt trong bóng tối mà luôn nói về ánh sáng!
tự ngôn tự đại một cách ngông cuồng của kẻ thiếu học
hành.)
Còn
cái thấy của Ðức Phật thì không giống như cái thấy của
các Tổ, cái thấy không tưởng tri, cái thấy không vọng ngữ,
không nói láo, không dựng lên cái không có mà thành có như
các Tổ: Này các Tỳ Kheo cái gì trong toàn thế giới được
thấy, được ý tư duy và quan sát, Ta được rõ biết như
sau: Tất cả đều được Như Lai biết đến, Như Lai không
có dựng đứng lên cái mới. Lời xác định này của Ðức
Phật rất rõ ràng, Ðức Phật không có dựng lên một cái
gì kỳ đặc mới mẻ. Ðọc kinh sách phát triển, chúng ta
thấy các Tổ thường hay dựng lên những pháp mới lạ ngoài
sự hiểu biết của trí hữu hạn của con người, nên thành
ra pháp tưởng, mà pháp tưởng là pháp không có thật.
Chúng
ta hãy nghe tiếp Ðức Phật nói: Này các tỳ kheo, nếu Ta nói
rằng: Ta biết tất cả, cái gì trong toàn thế giới được
thấy, được ý tư duy và quan sát. Như vậy là có nói
láo trong Ta. Nếu Ta nói như sau: Ta nói cả hai,
biết và không biết. Như vậy là có nói láo trong ta. Nếu
Ta nói như sau: Ta không biết và cũng không phải không
biết. Như vậy là có nói láo trong Ta. Và như vậy là có lỗi
trong Ta.
Lời
dạy trên của Ðức Phật đã xác định những kinh sách luận
của các Tổ sắc tức thị không, không tức thị sắc là
nói láo, lừa đảo tín đồ. Cho nên kinh sách của Ðức Phật
không có lý luận cao siêu ngoài sức hiểu biết của con người.
Kinh sách của Ðức Phật không có bài kinh nào dạy trừu tượng,
mơ hồ như luận của các Tổ.
(Nhận
xét hai đoạn văn trên: Thầy dẫn chứng đức Phật nói,
nhưng đức Phật nói ở đâu? ở kinh nào? Trang mấy? Một
người viết bài thì phải đưa dẫn chứng và những xuất
xứ của nó ở đâu trang mấy, chứ đâu có chuyện nói khơi
là đức Phật dạy, hay Phật nói thế này, thế nọ một cách,
không bằng chứng cụ thể. Viết văn như vậy có giá trị
nào! Viết như vậy độc giả có thể nghi ngờ về tri thức
học hành nghiên cứu của người viết, và họ có thể bảo
là người viết phịa ra để lừa thiẹn hạ.)
Chúng
ta hãy đọc tiếp bài kinh Kàlaka: Này các tỳ kheo, Như Lai
là vị đã thấy những cái gì cần thấy, nhưng không có tưởng
tượng điều đã được thấy, không có tưởng tượng những
cái gì không được thấy, không có tưởng tượng những gì
cần phải thấy, không có tưởng tượng đối với người
thấy. Ðã nghe những cái gì cần nghe, nhưng không có
tưởng tượng điều đã được nghe, không có tưởng tượng
những cái gì không được nghe, không có tưởng tượng những
gì cần phải nghe, không có tưởng tượng đối với người
nghe. Ðã cảm giác những gì cần cảm giác, nhưng không
có tưởng tượng điều đã được cảm giác, không có tưởng
tượng những cái gì không được cảm giác, không có tưởng
tượng những gì cần phải cảm giác, không có tưởng tượng
đối với người cảm giác. Ðã thức tri những cái gì
cần thức tri, nhưng không có tưởng tượng điều đã được
thức tri, không có tưởng tượng những cái gì cần phải
thức tri, không có tưởng tượng đối với người thức tri.
Như vậy này các tỳ kheo, Như Lai đối với các pháp được
thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, nên
vị ấy là như vậy. Lại nữa hơn người là như vậy,
không có ai khác tối thượng hơn và thù thắng hơn, Ta tuyên
bố như vậy.
Bài
kinh này Ðức Phật đã xác định rõ ràng những gì Ðức
Phật dạy đều là thực tế, cụ thể, không có tưởng tượng.
Còn kinh sách phát triển đều dạy tưởng tượng quá nhiều,
cho nên người ta gọi kinh sách phát triển là kinh tưởng.
Luận của các Tổ đều nằm trong trong tưởng tượng mà ra.
Trong bài kinh Kàlaka Ðức Phật chỉ rõ cho chúng ta thấy kinh
tưởng là kinh nói láo, nên Thầy Tổ của chúng ta tu hành
hết sức mà chẳng được những gì, toàn là thứ ảo giác.
(Nhận
xét đoạn vân trên: Không hiểu Thầy trích tên kinh này
ở đâu trong năm bộ NIKAYA? tập mấy? trang mấy?ai dịch? Đúng
đức Phật đối với hàng căn cơ hạ liệt, thì đức Phật
phải tuyên bố như vậy để ngăn ngừa những sai lầm trong
tưởng tượng của người có căn cơ thấp kém. Những lời
dạy của đức Phật luôn luôn phù hợp với căn cơ từng
loại chúng sanh, vì chúng luôn luôn phù hợp với nguyên tắc
nhân qủa. Chính vì muốn phù hợp với từng căn cơ theo nhân
quả mà đức Phật nói vô lượng pháp môn để đối trị
lại căn cơ bệnh của mọi chúng sanh, nên giáo lý của đức
Phật thường gọi là khế kinh để phù hợp khế cơ khế
lý đối với nhân sanh vả vũ trụ. Đâu phải đức Phật
chỉ dạy có mỗi một căn cơ hạ liệt Tiểu thừa như Thầy
không thôi, mà ngay trong nhóm căn cơ tiểu thừa hạ liệt cũng
có nhiều loại, nên có nhiều kinh huống chi là căn cơ của
chúng sanh thì vô lượng, nào trung, nào đại, nào tiểu, nào
thinh văn, nào Bích chi Phật, duyên giác, nào Độc giác, nào
Bồ-tát, nào thiên, nào nhơn, v.v… Không lý trong những căn
cơ này mà chỉ dạy một thứ căn cơ! Mà ở đây, vì không
hiểu được toàn bộ giáo thuyết của Ngài, Thầy chỉ biết
chấp chặt vào những kinh đức Phật dạy cho một thứ căn
hạ liệt dạy cho mình rồi bắc mọi người phải theo loại
kinh này, nếu ai không theo như Thầy, mà theo kinh khác thì cho
họ theo tà đạo, không phải Phật dạy, những loại kinh này
là kinh của ngoại đạo, rồi có tâm đối kỵ huỷ báng một
cách mục hạ vô nhơn, tạo ra nghiệp dữ thân khẩu ý!)
Tổ
Long Thọ, Thế Thân, Vô Trước, Mã Minh, v.v... các Ngài là
cha đẻ của những chân lý tưởng, nên chân lý của các Ngài
siêu tưởng và chân lý ấy nếu áp dụng vào thế giới tưởng
thì rất phù hợp, còn ở cảnh thế gian của loài người
thì nó là một chân lý ngụy, lừa đảo mà Ðức Phật bảo
là nói láo.
Theo
tôi nghĩ con người trên hành tinh này chỉ có một chân lý,
không thể có hai ba chân lý được, cho nên chân lý của Ðạo
Phật đưa ra khổ, tập, diệt, đạo mà mọi người trên hành
tinh này đều công nhận là đúng, mà đúng thật như vậy,
cho nên không còn có một chân lý thứ hai nào được xen vào
cái thế giới của loài người này được nữa.
Do
hý luận của Long Thọ lừa đảo thiên hạ, khiến cho tín
đồ Phật Giáo quên đi nguồn gốc Nguyên Thủy của Ðạo
Phật, đánh mất một nền đạo đức nhân bản làm người
không làm khổ mình khổ người. Thật là quá uổng!
Cuối
cùng những tín đồ Phật giáo chạy theo miệng lưỡi của
Long Thọ chẳng có người nào làm chủ sanh, già, bịnh, chết
được; thường chết trong bịnh tật đau khổ để cho tín
đồ mục kích thấy được Chân Không của Long Thọ, nó không
có không. Mà các Tổ còn phải trải qua nhiều đời kiếp
thọ tội vọng ngữ tưởng tri Chân Không, vì tội lừa đảo
đã giết biết bao nhiêu tín đồ Phật Giáo từ khi có Chân
Không của Long Thọ.
Cho
nên Thầy Tổ của chúng ta sống theo danh lợi, thường phạm
giới phá giới, bẻ vụn giới. Có ai chỉ trích lỗi thì dùng
ngôn ngữ của Long Thọ che đậy bưng bít để tự tại sống
theo dục lạc thế gian mà không ai phê phán được. Ông
Long Thọ là một người diệt Ðạo Phật đệ nhất hơn các
vị Tổ Sư khác, còn Thầy Tổ của chúng ta chỉ là những
người bắt chước, vô tình nối giáo cho Long Thọ diệt Phật
Giáo mà thôi. Người xưa nói sao thì Thầy Tổ của
chúng ta nói vậy, thậm chí còn không dám nói sai lời của
các ông ấy và cũng không bao giờ dám nói xúc phạm tới những
con người độc ác này. Thầy Tổ của chúng ta xem các vị
Tổ Sư này còn hơn là Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Có
người bảo rằng: Các tôn giáo được hoàn chỉnh đều
phải nhờ vào các tông đồ . Ðiều này đúng, nhưng đúng
với các tôn giáo khác chứ không đúng với Phật Giáo.
Tại sao vậy? Bởi vì người sáng lập ra các tôn giáo
đó chưa phải là người hoàn chỉnh, nên phải nhờ đến
những đệ tử ưu tú của mình sau này mới hoàn chỉnh giáo
pháp như: Khổng Giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo, v.v... đều
phải nhờ vào các tông đồ thêm bớt mới hoàn chỉnh được
sách kinh. Còn ngược lại, Phật Giáo, nếu có vị Tổ
Sư nào dám cả gan chỉnh đốn giáo lý của Ðạo Phật thì
sẽ liền biến thành một tôn giáo mới, một tôn giáo ngoại
đạo mang bản chất vay mượn tà giáo. Bằng chứng chúng ta
đã thấy Tổ Long Thọ, Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma và nhiều vị
Tổ khác nữa đã biến Phật Giáo thành một thứ tà giáo
ngoại đạo, khác biệt với Phật Giáo Nguyên Thủy. Cho nên
giáo lý của các Tổ là giáo lý vay mượn của Bà La Môn Giáo
thuộc hệ thống kinh Vệ Ðà. Vì thế các Tổ không phải
là người hoàn chỉnh Phật Giáo mà là phá hoại Phật Giáo,
đưa Phật Giáo đi đến suy thoái và biến tu sĩ Phật Giáo
thành trùng trong lông sư tử và thứ loại vi trùng độc này
đã giết Phật Giáo chết. Chính hiện giờ những tu sĩ
phạm giới, phá giới này là những loại vi trùng độc của
Ðạo Phật. Cho nên Phật Giáo hiện giờ đã chết thật,
chết vì những loại vi trùng này.
(Nhận
xét đoạn văn trên: Thầy có biết là Thầy đang làm gì
đó không? Không phải Thầy đang chỉnh đốn giáo lý của
đạo Phật đó sao? Vậy thì Thầy đang làm cái việc quỷ
quái gì đây? Chả lẽ chỉ có Thầy mới có quyền chỉnh
đốn giáo lý của đạo Phật, còn các vị Tổ xưa kia không
có quyền này. Nếu ai trong quá khứ mà làm việc này thì Thầy
bảo là dám cả gan chỉnh đốn giáo lý, tức là biến Phật
giáo thành một thứ tà giáo ngoại đạo! Chúng tôi không thấy
có ai từ xưa tới nay lại ngang ngược độc tài như Thầy
cả, không biết việc làm này do thiếu hiểu biết hay do động
cơ nào thúc đẩy đây, mà biến Thầy thành một kẻ không
biết lý, không biết lẽ, không biết nhân, không biết quả,
không biết ngay cả chính mình luôn! Không biết mình đang viết
gì, mình đang làm gì! Ôi! Mạt pháp rồi, Ôi! Mạt pháp thật
rồi!)
Kính
thưa quý vị! Tôi hy vọng rằng quý vị là những người
có tâm huyết với Phật Giáo, có cái nhìn thấu suốt đâu
là chính pháp của Phật và đâu là tà Pháp của ngoại đạo.
Như tôi đã nói ở trên Ðức Phật là một con người hoàn
chỉnh, do sự tu hành đạo đức nhân bản nhân quả (tâm không
phóng dật), Ngài đã chứng được trí tuệ siêu việt, Ngài
biết sử dụng trí tuệ ấy để dạy con người trên hành
tinh này một giáo pháp vừa đủ không thiếu mà cũng không
thừa, để con người lấy đó làm thầy, làm chỗ nương tựa
vững chắc mà tu hành sau này.
Nếu
giáo pháp của Ngài còn thiếu mà các Tổ sau này bổ sung thêm
thì Ngài đâu dám di chúc: Này các Tỳ Kheo, khi Ta diệt độ,
các Thầy hãy lấy giới luật và giáo pháp của Ta mà làm
thầy, làm chỗ nương tựa tu hành. Vì người đời sau
không biết lấy giới luật lại lấy các Tổ làm Thầy (33
vị Tổ Sư Thiền Tông Ấn Ðộ và Trung Hoa), đó là làm sai
với lời di chúc của Ðức Phật. Họ cứ dựa theo lời
của các Tổ mà tu hành thành ra phá giới, phạm giới, bẻ
vụn giới, vì thế tâm không ly dục ly ác pháp, nên phần
nhiều nhập vào các loại định tưởng thuộc về thiền định
của ngoại đạo, cho nên tu sĩ Phật Giáo tu mãi mà chẳng
kết quả gì, thiền định nhập không được mà đức hạnh
cũng không có, chỉ có giỏi thuyết giảng bằng miệng lưỡi
lừa đảo, nói láo, lường gạt thiên hạ, khiến cho người
tu sĩ tu hành dỡ sống dỡ chết mà thôi.
Bởi
giáo pháp của Ðức Phật là một giáo pháp hoàn chỉnh cho
Trời, Người tu hành, cho nên kẻ nào dám thay đổi hoặc thêm
bớt, đó là kẻ loạn tưởng, điên khùng, muốn làm hơn Ðức
Phật, để rồi trở thành Ma Vương, Ác Quỷ, v.v...
Vậy
mà đời sau này lại có kẻ háo danh dám làm điều này và
đã đưa toàn bộ tín đồ Phật Giáo đi vào đường cùng,
ngõ cụt. Bằng chứng là hiện giờ tín đồ Phật Giáo
không ai tu hành nghiêm trì giới luật, không nhập được Tứ
Thánh Ðịnh để thực hiện được Tam Minh, không làm chủ
được sanh, già, bịnh, chết và chấm dứt tái sanh luân hồi.
Kính
thưa các bậc Tôn Túc, Hòa Thượng, Thượng Tọa, Ðại Ðức,
Tăng, Ni và Nam, Nữ cư sĩ Phật tử trong nước Việt Nam nói
riêng và tất cả trên thế giới nói chung. Một lần
nữa tôi kêu gọi Quý vị vì tiền đồ Phật Giáo, vì con
người trên hành tinh này đang cần phải có một nền đạo
đức nhân bản không làm khổ mình khổ người mà chính Ðạo
Phật mới có nền đạo đức ấy, tôi chỉ mong quý vị cùng
với tôi đứng lên vạch rõ và quét sạch những giáo pháp
trừu tượng, ảo giác, mê tín, dị đoan và những hý luận
mơ hồ vô ích của các nhà học giả Phật Giáo khắp nơi
trên thế giới đang trộn lẫn trong giáo pháp của Ðức Phật.
Chúng ta hãy thanh lọc lại những gì của Ðạo Phật thì hãy
trả về cho Ðạo Phật, còn những gì không phải của Ðạo
Phật thì hãy loại bỏ, đừng để những thứ rác bẩn này
trong giáo lý của Ðạo Phật mà làm ô nhiễm Phật Giáo. Từ
bao thế kỷ nay Thầy Tổ của chúng ta đã bị những loại
kinh sách ô nhiễm này khiến cho sự tu hành chẳng đi đến
đâu cả, thậm chí đến giới đức làm người mà còn không
biết huống là giới đức làm Thánh. Người tu sĩ Phật Giáo
sống và dạy theo đạo đức của Nho Giáo như thiền sư Vạn
Hạnh Việt Nam và các thiền sư Trung Hoa (trong tập Thiền Lâm
Bảo Huấn) thường lấy Nho giáo làm đạo đức của Phật
Giáo thì chúng ta có thấy nhục nhã, xấu hổ không? Vậy
mà có kẻ hãnh diện: Vạn Hạnh dung tam tế; trong lúc Ðạo
Phật có một nền đạo đức nhân bản nhân quả tuyệt vời,
không có một tôn giáo nào có một nền đạo đức hơn như
vậy được.
Kính
Thưa Quý vị Tôn Túc, Trưởng lão, ngưỡng mong quý vị đừng
vì một lý do gì mà bỏ qua hay cố tình tránh né, hoặc làm
lơ để ngôi nhà Phật Giáo như bị một bịnh truyền nhiễm
lây lan khắp mọi nơi, trong khi quý vị có đầy đủ khả
năng và thế lực quét sạch những tà giáo ngoại đạo này
và chấn hưng lại Phật Giáo Việt Nam được tốt đẹp như
thời Ðức Phật còn tại thế. Hiện giờ trong tay của quý
vị có đầy đủ tài liệu giáo pháp chính gốc của Ðức
Phật mà quý vị còn chần chờ gì nữa?
(Nhận
xét đoạn văn trên: Thầy đang nằm mơ đó phải không,
hay tâm Thầy đã trở thành cuồng rồi! Thầy có một thứ
ước mơ thật là vọng tưởng thật là cuồng vọng và đầy
lửa đảo trong ngôn ngữ, cố muốn thuyết phục của Thầy
đối với chư vị Tôn Túc, Trưởng lão, mong họ chấn hưng
lại Phật giáo Việt nam được tốt đẹp như thời đức
Phật, là một việc là không khế cơ khế lý. Theo Phật rõ
ràng thời đại bây giờ là thời kỳ Mạt Pháp, mà Thầy
bắt nó trở thành thời Chánh Pháp là một việc làm không
tưởng, phản lại nhân quả phản lại nhân duyên, phản lại
khế lý khế cơ, phản lại chính Thầy. Chỉ có những kẻ
ngông cuồng điên đảo mới có những ý nghĩ như vậy. Cái
không tưởng ở đây nó cũng giống như việc huỷ báng Đại
thừa của Thầy vậy. Như vậy chính Thầy là kẻ đang lừa
đảo các vị Tôn túc, các Trưởng lão, trong lời kêu gọi
làm việc phi pháp của Thầy. Với tâm niệm xấu xa như vậy,
Thầy không thể nào thành công trong việc làm này được,
cho dù có xuất hiện hàng ngàn Thầy, cỡ Thầy Thông Lạc
cũng chịu thôi).
Cuối
cùng tôi xin thành tâm chúc sức khỏe của quý Hòa Thượng,
Thượng Tọa, Ðại Ðức, Tăng, Ni và Nam, Nữ cư sĩ Phật
tử được dồi dào sức khỏe. Thân ái kính chào quý vị.
Kính
ghi,
THÍCH
THÔNG LẠC
Tu
Viện Chơn Như
(Ngày
I-6-2000)
For
Printing or Down Load
Trở
Về Mục Lục