Mục
lục
Lời
tựa.
Chương
một: Ý nghĩa Phật đản
-
Thông điệp sự ra đời của Phật.
-
Ðôi điều suy nghiệm nhân ngày Khánh Ðản
-
Ðức Phật của chúng ta.
-
Những đặc điểm của Ðức Phật.
-
Ðức Phật, một nhân cách vĩ đại.
-
32 tướng tốt của bậc Ðại Nhân.
Chương
hai: Ý nghĩa Phật thành đạo
-
Con
đường tìm đạo và chứng đạo của Ðức Bổn Sư.
-
Con đường Trung đạo.
-
Bốn mươi chín ngày thiền định.
-
Ý nghĩa sự thành đạo của Ðức Bổn Sư.
-
Người chiến thắng.
-
Thập hiệu Như Lai.
LỜI TỰA
Viết
về gương người tốt việc tốt, một nhà báo có thể làm
thành một phóng sự xuất sắc, có tính giáo dục cao. Viết
về một danh nhân lịch sử, một học giả có thể dựa vào
các tài liệu khoa học mà thực hiện một đề tài nghiên
cứu có tính thuyết phục, có giá trị lâu dài. Ðó là những
tác phẩm mang tính khách quan, và ngòi bút của tác giả cứ
từ các dữ kiện thực tế mà đưa lên trang giấy những hình
ảnh sinh động.
Nhưng
đối với Ðức Thích Ca Mâu-Ni, là một bậc vĩ nhân lịch
sử của thế giới, Ðấng Giáo Chủ của hàng tứ chúng con
Phật, Bậc Thầy của ba cõi chúng sinh, thì ngòi bút điêu
luyện nào có thể diễn tả tường tận cuộc đời của Ngài,
từ lúc Ðản sinh đến khi nhập diệt? Ngôn từ nào vẽ ra
được hình tướng trang nghiêm đẹp đẽ, biểu hiện được
tinh thần Bi-Trí-Dũng, ca tụng hết được công lao hoằng hóa
lợi sinh của Ngài trong suốt bốn mươi lăm năm ròng rã?
Là
con người, mấy ai không có tham sân si? Ðôi khi chỉ vì một
chút quyền lợi, một chức vụ nhỏ nhoi, người ta đã nhẫn
tâm giết hại nhau rồi. Thái tử Sĩ-Ðạt-Ta cũng là con người,
sống trong uy quyền tột đỉnh, trong hạnh phúc gia đình đầm
ấm, lại tự nguyện từ bỏ tất cả, sống cuộc đời Sa-môn
khổ hạnh trong núi rừng, tìm đạo giải thoát. Sự hy sinh
ấy há chẳng phải vô vùng cao cả hiếm hoi?
Suốt
sáu năm thiết tha cầu đạo, hết học với các vị Tiên đến
thực hành công phu khổ hạnh, quên cả thân xác đến nỗi
hình hài chỉ còn da bọc lấy xương, Ngài vẫn không cô phụ
lý tưởng đời mình. Lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la
thể hiện rõ một ý chí dũng mãnh, một nghị lực siêu phàm
của Ngài. Dù trên đường tu mà Ngài không đạt mục đích
tối hậu là giác ngộ và giải thoát sinh tử thì Ngài không
chùn bước, chỉ riêng ý chí nghị lực ấy cũng đã khiến
nhân loại phải cúi đầu!
Thế
mà, sau khi tu thành đạo, Ngài đã tạo dựng cho mình những
danh vọng quyền lực gì? Thông thường, chúng ta miệt mài
làm việc học tập, chịu nếm trải muôn vàn đắng cay, chịu
hy sinh hạnh phúc gia đình và cả tuổi thanh xuân của mình,
cũng chỉ hy vọng có ngày thành công trong sự nghiệp; và lúc
ấy, chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng, về vật chất
lẫn tinh thần. Chính niềm hy vọng ấy là động lực kích
thích động viên ta cố gắng vượt qua mọi khó khăn gian khổ.
Riêng đối với Ðức Phật, dù được người đời tôn xưng
là Bậc Giác ngộ Viên mãn, là Ðấng Giáo chủ Thích-Ca Mâu-Ni,
Ngài cũng vẫn sống cuộc đời vô cùng đạm bạc. Hình ảnh
Ðức Phật dẫn đầu đoàn Tăng sĩ, đầu trần chân đất,
vận áo nhuộm ôm bình bát, khất thực từng nhà trên đường
về thành Ca-tỳ-la-vệ quê hương, thật trái ngược với bức
tranh “vinh quy bái tổ” lộng lẫy hoành tráng của một vị
Thái tử, theo tưởng tượng của vua cha và quần thần. Nhưng
chính sự trái ngược giữa tưởng tượng và thực tế ấy
càng làm nổi bật tư cách cao thượng và sự vĩ đại của
một Bậc Giác ngộ đã thành tựu tinh thần vô ngã vị tha.
Trong
cuộc đời hoằng hóa độ sinh, khó có thể tính được bao
nhiêu đường đất Ngài đã đi, bao nhiêu nhà được Ngài
gieo duyên bằng hạnh khất thực, bao nhiêu người được nghe
những lời Ngài giáo hóa. Trong Tăng đoàn của Ngài, mọi người
đều bình đẳng trong sinh hoạt, trong tu học và trong quả
chứng. Chính Ngài đã làm một cuộc đại cách mạng khi triệt
để xóa bỏ ý thức phân biệt giai cấp, mà biểu tượng
đỉnh cao là sự đảnh lễ của một vị vua dòng Sát-đế-lợi
trước một bậc A-la-hán xuất thân từ giai cấp mạt hạng
Thủ-đà-la.
Có
thể nói, ngày Ðản sinh (rằm tháng tư) và đêm Thành đạo
(mùng tám tháng chạp) là hai dấu ấn quan trọng bậc nhất
của cuộc đời Ðức Phật, và là hai ngày trọng đại nhất
đối với những người con Phật chúng ta. Bởi vì nếu Bồ-tát
Hộ Minh không thị hiện xuống cõi Ta-bà thì không có Thái
tử Sĩ-Ðạt-Ta, không có ngày khởi đầu một kỷ nguyên mới
– kỷ nguyên của từ bi, trí tuệ và hùng lực - không có
Ðức Phật, không có Pháp, cũng không có Tăng già. Như vậy,
ngày Ðản sinh là dấu ấn thứ nhất bắt đầu cuộc đời
Thái tử, và đêm Thành đạo là dấu ấn thứ hai của sự
ra đời ba ngôi báu Phật – Pháp – Tăng trên thế gian này.
Ðã
hai mươi lăm thế kỷ trôi qua, con người vẫn còn lăn lộn
trong cuộc tử sinh. Ðâu đó vẫn còn hận thù chiến tranh.
Chúng ta vẫn còn nhiều lúc giật mình khi biết nơi này nơi
kia còn tàn sát nhau, hành hạ nhau không thương tiếc. Mây mù
đang bao phủ bầu trời, và nhân loại đang từng ngày lo sợ
những cái chết không báo trước. Tuy thế, một góc trời
bình an hạnh phúc vẫn còn hiện hữu. Chỉ cần chúng ta tỉnh
thức, lắng sâu tâm thức nghe bức thông điệp từ bi cứu
khổ của Ðức Phật. Pháp âm vi diệu ấy vẫn vang vọng nếu
ta chịu mở lòng ra đón nhận. Ánh giác ngộ ấy vẫn chói
lọi nếu ta chịu quay lại soi sáng chính mình!
Chúng
tôi không phải là nhà văn với khả năng sử dụng từ ngữ
văn hoa chuẩn xác; cũng không phải nhà nghiên cứu với kiến
thức uyên bác, với sự nghiên tầm công phu, lại viết về
sự ra đời và sự thành đạo của một Bậc Ðại Thánh Vô
thượng, thì quả là một việc làm quá sức chúng tôi, không
khỏi lỗi lầm với những bậc thức giả. Nhưng vì lòng tôn
kính biết ơn vô hạn đối với người đã hy sinh cả cuộc
đời mình để chỉ dạy cho chúng sinh phương pháp thoát ly
sinh tử; vì lòng tôn kính nhớ ơn vô biên đối với vị Cha
lành nuôi lớn thân huệ mạng của mình; và vì tâm thành thiết
tha muốn tất cả mọi người luôn nhớ về gương sáng của
Ngài, nguyện đời đời đi theo con đường Ngài đã đi và
đã đến đích; nên chúng tôi tập hợp những bài viết đã
đăng trên một số tập san Phật giáo(*), làm thành quyển
sách này. Nhưng vì là những bài viết cùng chủ đề, không
sao tránh khỏi có nhiều chỗ trùng lập. Ðộc giả hãy thông
cảm cho. Xin được xem đây như một nén tâm hương, kính dâng
lên Ðức Từ phụ Bổn Sư nhân ngày Khánh Ðản.
Mong
rằng tất cả chúng ta luôn được sống trong hào quang vô
lượng của Ngài!
Thiền
Thất Viên Giác
Ngày
Phật Ðản – PL. 2548
THÍCH
THÔNG HUỆ
Chương một.
Ý NGHĨA
PHẬT ÐẢN 
THÔNG
ÐIỆP SỰ RA ÐỜI CỦA PHẬT
Vào
ngày trăng tròn cách đây trên 25 thế kỷ, có một bậc vĩ
nhân xuất hiện ở đời. Ngài sinh vào cung Vua Tịnh Phạn
năm 563 trước Tây lịch. Ðó là thái tử Sĩ Ðạt Ta, sau thành
Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Cuộc đời Ngài từ lúc đản
sinh đến khi nhập diệt là một cuộc đời hết sức đẹp
đẽ và có ý nghĩa. Ngài đã đi vào quá khứ, nhưng uy đức
và trí tuệ của Ngài vẫn còn sống mãi với con người và
cuộc đời. Hôm nay, nhân ngày Phật đản sinh, chúng ta cần
ôn lại một đôi điều trong các Kinh điển Phật giáo để
hiểu được ý nghĩa sự ra đời của Ðức Từ phụ. Từ
đó, chúng ta nguyện noi gương Ngài, luôn tinh tấn trên bước
đường tự lợi, lợi tha. Chúng ta đều biết, Hoàng Hậu
Ma Gia hạ sinh Ngài tại vườn Lâm Tỳ Ni, trên đường về
quê ngoại. Khi mới sinh ra, Ngài đi được bảy bước, mỗi
bước có hoa sen nâng chân, một tay chỉ trời, một tay chỉ
đất, Ngài đọc bài kệ như sau:
Thiên
thượng Thiên hạ
Duy
ngã độc tôn
Nhất
thiết thế gian
Sinh
lão bệnh tử.
Tạm
dịch:
Trên
trời và dưới trời
Chỉ
có Ta trên hết
Tất
cả trong thế gian
Ðều
Sinh lão bệnh tử.
Những
hình ảnh trên đây mang nhiều ý nghĩa rất sâu mầu. Vì sao
Thái tử Sĩ Ðạt Ta đi bảy bước mà không nhiều hơn hoặc
ít hơn? Con số bảy nói lên điều gì? Về mặt thời gian,
người ta thường cho là có ba thời: quá khứ, hiện tại,
vị lai. Về không gian thì có bốn phương chính: Ðông, Tây,
Nam, Bắc. Những quan niệm về thời gian và không gian, thật
ra chỉ là con đẻ của vọng tưởng, không phải là lẽ thực.
Cho nên, hình ảnh Thái tử đi bảy bước tượng trưng Ngài
đã siêu vượt được thời gian và không gian, không còn bị
ràng buộc trong những qui ước tương đối của con người.
Về
hoa sen, tất cả Phật tử đều biết một đặc điểm rất
tuyệt vời của nó, là mọc từ bùn nhơ mà vươn lên rồi
tỏa hương thơm ngát. Hoa sen ở trong bùn mà không bị lấm
bùn, không bị bùn nhơ làm ô nhiễm. Thái tử cũng như thế,
sinh vào chốn trần lao để làm lợi ích cho chúng sinh nhưng
không bị vướng mắc, nhiễm nhơ bởi bùn lầy ngũ dục.
Bài
kệ bốn câu Ngài đọc đã làm một số người hiểu lầm.
Ðạo Phật là đạo Vô ngã, vì sao vị Giáo chủ lại đề
cao cái "Ta" của mình quá đáng như thế? Nếu đọc kỹ hai
câu sau, chúng ta mới thấy cái nghĩa lý uyên áo trong đó.
Tất cả chúng sinh, không ai thoát được bốn điều khổ não
là Sanh, Già, Bệnh, Chết, dù ở cõi Chư Thiên (trên trời)
hay cõi người (dưới trời). Chỉ riêng "Ta" là trên hết vì
"Ta" đã thoát được sự ràng buộc này. Thử hỏi, tất cả
những hình tướng của thế gian, có cái gì không chịu sự
chi phối của lý vô thường? Có sanh thì có diệt, có hình
tướng thì phải có hũy hoại, dù là thân hình có 32 tướng
tốt và 80 vẻ đẹp của Thái tử. Vì thế, cái "Ta" ở đây
dứt khoát không phải là cái ngã hữu hình hữu hoại của
Ngài, mà chính là cái "Chơn Ngã". Ðó là Chơn-tâm, Phật tánh,
là Bản-tâm-thanh-tịnh, là Phật-tri-kiến, là Tâm Viên-giác,
là Bản-lai-diện-mục... Nó có vô số tên vì bản chất nó
không có tên. Nó không có hình tướng nên không thể bị hũy
diệt. Nó trùm khắp vạn hữu nên siêu việt cả không gian
và thời gian. Tất cả mọi hàm linh đều có cái Ngã này,
không ai hơn không ai kém. Phật đã nhận ra và sống viên mãn
với nó nên Ngài thành Phật, còn chúng ta vì quên nó nên cứ
mãi trôi lăn trong sanh tử luân hồi.
Hiểu
được những điều này, chúng ta thấy mình được đôi phần
an ủi. Nếu chúng ta ngồi trong tư thế thiền tọa, tâm an
định không bị vọng tưởng lôi dẫn, thì rõ ràng ngay lúc
ấy chúng ta cũng đang ngồi trên tòa sen. Nếu chúng ta đi từng
bước thiền hành, tâm an trú trong giờ phút hiện tại mà
không duyên theo các pháp, thì mọi bước đi của chúng ta cũng
có hoa sen nâng chân. Và nếu chúng ta luôn luôn tinh tấn, gội
rữa dần từng lớp bụi ngũ dục, ở ngay trong cuộc đời
mà không bị nhiễm ô theo trần cảnh, thì một lúc nào đó,
ánh trực giác đột nhiên bừng lên, bóng tối vô minh từ
bao đời kiếp sẽ bị xua tan không còn dấu tích.
Trong
Kinh A Hàm có câu: " Một chúng sinh duy nhất, một con người
phi thường đã xuất hiện trên thế gian này, vì lợi ích
cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn,
vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên
và loài người". Vì sao đức Phật được gọi là "một chúng
sinh". Ở đây, chúng ta phải hiểu chữ "chúng sinh" theo nghĩa,
các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà thành. Như vậy,
thân tướng của Ðức Phật, dù đủ vẻ đẹp và tướng
tốt, cũng là do tứ đại giả hợp mà thành, cũng bất tịnh
và vô thường như mọi người. Do đó, Ngài cũng là con người,
là chúng sinh, nhưng khác chúng ta ở chỗ, Ngài là một con
người phi thường, một chúng sinh duy nhất. Bởi vì, Ngài
là một chúng sinh không còn tham-sân-si, không còn lậu hoặc
phiền não. Bởi vì, Ngài là một con người tuy sinh ra nơi
chốn trần lao, nhưng tự tại với tất cả mọi cám dỗ của
ngũ dục lục trần. Sự xuất hiện của Ðức Phật mục đích
cao cả, là vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên và loài
người. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng chói về
sự quên mình để đem lại an lạc và chỉ bày chân lý tối
thượng cho chúng sinh.
Kinh
Pháp Cú 193, Phật dạy: "Khó gặp được Như Lai, không phải
đâu cũng có, chỗ nào Phật đản sinh, nơi đó tất an lạc".
Nếu cho rằng Như Lai là Ðức Phật có 32 tướng tốt, gọi
là Như Lai xuất thế, thì quả thật rất khó gặp. Ðức Phật
Thích Ca ở Ấn Ðộ đã nhập diệt trên 2.500 năm, đến nay
chúng ta vẫn chưa thấy có một vị Phật nào khác ra đời.
Nhưng nếu hiểu theo tinh thần Kinh Kim Cang, Như Lai tức không
từ đâu đến cũng không đi về đâu, nghĩa là phi sắc phi
tướng, vô hình vô vật, thì khi chúng ta tọa thiền, tâm lặng
lẽ mà hằng tri, thì khi ấy Như Lai đã hiện tiền. Một niệm
tỉnh giác thì Ðức Phật ra đời, vì Phật là Giác. Một
niệm điên đảo chạy theo trần cảnh thì Ðức Phật nhập
diệt. Khi Như Lai tự tâm đản sanh, nghĩa là lúc tâm an định
sáng suốt thì rõ ràng nơi ấy tức khắc được an lạc.
Trong
Kinh Pháp Cú 182: " Ðược sinh ra làm người đã là khó. Ðược
sống còn lại khó hơn. Ðược nghe chánh pháp là khó. Ðược
gặp Ðức Phật ra đời là rất khó". Quả thật, được làm
thân người là khó, vì ngoài thế giới loài người gồm 4
châu nhân gian, còn có các cõi khác như địa ngục, ngạ quỷ
... Nhưng cái khó ở đây là khó phát tâm tu hành, vì thường
thì những nơi quá sung sướng (như cõi trời) hoặc quá khổ
sở (như địa ngục), chúng sinh ít có điều kiện được
nhắc nhở để tiến tu. Còn cõi người thì không quá sung
sướng mà cũng không quá khổ cực, nhiều khi gặp những thăng
trầm trong cuộc sống hay đau khổ mất mát, đó là những
cơ hội để con người thấy rõ lý vô thường hay lý nhân
quả, từ đó nguyện theo con đường Phật dạy.
Trong
bốn cái khó ở trên, được gặp Phật ra đời là khó nhất.
Trong một thế giới, không bao giờ có hai vị Phật xuất hiện
đồng thời. Chỉ khi nào giáo pháp của vị Phật trước đã
hết lưu truyền, thì vị Phật sau mới ra đời. Hiện nay,
dù đang trong thời mạt pháp, chúng ta không tận mắt thấy
được Ứùng hóa thân của Phật, nhưng chúng ta vẫn còn nghe
chánh pháp, vẫn còn chiêm ngưỡng được dung nhan của Ngài
qua hình tượng. Cho nên, nếu có ai tự xưng là Phật, giảng
pháp cho người khác, hoặc phao tin sắp có Hội Long Hoa, Phật
Di Lặc ra đời..., thì đó chỉ là những lời dối trá, mê
hoặc người đời, nhằm phục vụ cho một ý đồ đen tối
nào đó.
Sự
thị hiện của Ứùng hóa thân Phật trên cõi đời là một
sự kiện hiếm gặp, là điều vị tằng hữu (chưa từng có).
Nhưng chúng ta có khi nào tự hỏi, Ngài xuất hiện trên đời
để làm gì? Trong Kinh Pháp Hoa, Phật dạy: "Chư Phật xuất
hiện ở đời chỉ vì một đại sự nhân duyên: Khai thị
cho chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến". Bản hoài của Chư
Phật mười phương là muốn chỉ cho chúng sinh thấy, ai cũng
có tri-kiến- Phật, tức Phật tánh như nhau, bình đẳng không
khác. Từ đó sẽ nhận ra và hằng sống với Phật tánh của
chính mình một cách viên mãn.
Kinh
Phạm Võng, Trường Bộ tập I, Phật dạy rằng: "Này các Tỳ
kheo! Thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa
đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân của
Như Lai còn tồn tại, thì Chư Thiên và loài người có thể
thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì Chư Thiên và
loài người không thể thấy được". Khi Ðức Phật còn tại
thế, thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của Ngài là một
điều kiện tốt để dễ gần và dễ giáo hóa những chúng
sinh căn cơ thấp kém. Vì chìu uốn theo tánh dục của chúng
sinh nên Ngài phải thị hiện sắc thân như thế. Nhưng dù
thân ấy còn tồn tại, mà cái nghiệp lực thúc đẩy thọ
lãnh thân sau đã không còn. Chính lòng ái dục đã tạo dòng
nghiệp lực khiến đưa đến một đời sống khác, với chánh
báo và y báo tương ứng. Ứng hóa thân của Phật, vì có hình
tướng nên Chư Thiên và loài người có thể thấy được.
Khi thân ấy đã hoại, Ðức Phật trở về với pháp thân
vô tướng nên không ai có thể thấy được Ngài. Tất cả
chúng ta cũng đều có pháp thân vô tướng như thế. Vấn đề
ở chỗ chúng ta có nhận ra không, và tu hành cách nào để
sống được với chân thân, miên mật từng phút giây.
Chúng
ta đã xét qua một số ý nghĩa về sự đản sinh của Ðức
Phật, để thấy rõ rằng, sự xuất hiện của Ðức Thế
Tôn, vị Giáo chủ của chúng ta, là một việc hy hữu ở đời.
Cứ mỗi lần mùa Khánh Ðản đến, người Phật tử về chùa,
nghe quý Thầy nhắc lại về cuộc đời và những đức tính
cao đẹp của Ngài, chúng ta mới biết rằng, Ngài cũng đã
trải qua vô lượng kiếp tu hành, cuối cùng mới thị hiện
là Thái tử Sĩ Ðạt Ta ở Ấn Ðộ, sau thành Phật hiệu là
Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một bậc vĩ nhân, đã để lại một
hình ảnh không bao giờ phai mờ trong lòng những người con
Phật khắp năm châu bốn biển. Vì cuộc đời Ngài quá vĩ
đại và đẹp đẽ, nên từ xưa đến nay, biết bao người
đã dùng mọi hình thức văn hóa để ca tụng cái toàn chân,
toàn thiện, toàn mỹ của Ngài. Biết bao người đã nguyện
theo gương Ngài, quên mình để phụng sự chúng sinh, hy sinh
hạnh phúc riêng tư để lo cho hạnh phúc của nhiều người.
Những sứ giả của Như Lai đã mang thông điệp của Ðức
Phật đi vào cuộc đời, làm cho con người hiểu được bản
chất của kiếp sống là vô thường, là đau khổ, từ đó
thúc giục con người sớm theo lời dạy nơi Ngài tu hành để
được giác ngộ và giải thoát.
Hôm
nay, một lần nữa kỷ niệm ngày Phật đản, chúng ta đem
hết tâm thành quy ngưỡng và đảnh lễ Ngài. Chúng ta thấy
mình rất có phước duyên nên mới được làm người, được
thấm nhuần dòng sữa pháp, được Chư Tăng Ni hướng dẫn
tu hành, được làm bạn đạo cùng những người hiền thiện.
Chúng ta nguyện nhớ mãi hình ảnh Ngài bước trên hoa sen khi
mới ra đời, để bắt chước Ngài cũng bước từng bước
an lạc, thảnh thơi trên những bất ổn của cuộc sống. Thân
ngũ uẩn của chúng ta tuy ở trong trần thế, nhưng phải biết
vươn lên, không để bùn nhơ của ngũ dục làm ô nhiễm. Từ
đó, chúng ta sẽ góp phần thổi một luồng sinh khí mới vào
cuộc đời, khiến mọi người cũng được an lạc và hạnh
phúc. Ðây là cách duy nhất để đền đáp ơn khó đền của
Ðức Bổn Sư vô cùng quý kính của chúng ta.
ÐÔI
ÐIỀU SUY NGHIỆM NHÂN NGÀY KHÁNH ÐẢN
Một
lần nữa, ngày kỷ niệm Ðức Phật đản sinh lại về trên
toàn thế giới. Trong không khí tưng bừng của ngày hội lớn
này, những người con Phật chúng ta hãy suy gẫm đôi điều
về sự xuất hiện của Ðức Bổn Sư. Từ đó, chúng ta có
thể rút ra những bài học quý giá, cần thiết cho cuộc sống
thường nhật và cho bước đường tu hành.
Hội
nghị Tôn giáo thế giới lần thứ tư, tổ chức tại Népal,
đã chính thức công nhận vườn Lâm-Tỳ-Ni là nơi Ðức Phật
Thích Ca đản sinh. Vị Giáo chủ của chúng ta là một nhân
vật lịch sử, ra đời cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ,
và vườn Lâm-Tỳ-Ni trở thành một Thánh tích. Tuy Ngài là
người của nước Ấn Ðộ, nhưng lời dạy của Ngài - những
chân lý vượt thời gian và không gian, giờ đây đã lan truyền
khắp hành tinh, mang tính hòa bình, xây dựng và đem lại hạnh
phúc đích thực cho con người.
Kinh
Trung Bộ tập I, Phật dạy: "Này Xá Lợi Phất! Những ai nói
một cách chân chính về Như Lai, sẽ nói như vầy: Một hữu
tình không bị si chi phối, đã sinh ở đời vì lợi ích, vì
hạnh phúc của chúng sinh; vì lòng thương tưởng cho đời;
vì lợi ích an lạc và hạnh phúc cho chư thiên và loài người".
Vì sao Ðức Phật là một hữu tình không bị si chi phối?
- Ðức Phật xa xưa cũng là một chúng sinh hữu tình, cũng
từng vô minh tạo nghiệp, quay cuồng trong vòng luân hồi sinh
tử. Nhưng Ngài cũng đã trải qua vô lượng kiếp tu hành,
nên trong kiếp cuối cùng này, Ngài không còn si mê nữa. Sự
ra đời của Ngài tại Ấn Ðộ là một sự thị hiện, vì
lợi lạc cho muôn loài chúng sinh, nên đáng để chư Thiên
và loài người ca ngợi tán thán.
Trong
lịch sử tồn tại và phát triển của mình, loài người đã
đạt được một tầm cao về khoa học kỹ thuật, cho phép
đi sâu vào những bí ẩn của vũ trụ và cơ thể con người.
Nhưng bên cạnh trình độ cao của nền văn minh vật chất,
nhân loại đang bị đe dọa bởi bạo lực và chiến tranh -
không những là chiến tranh sắc tộc hay tranh chấp lãnh thổ,
mà còn nhân danh tôn giáo để tiến hành những cuộc Thánh
chiến đẫm máu. Trong suốt thế kỷ vừa qua, hành tinh chúng
ta đã mang biết bao thương tích vì hai trận thế chiến ở
nữa đầu thế kỷ, cùng vô số cuộc xung đột vũ trang và
chiến tranh hũy diệt trên quy mô lớn sau này. Và do những
bất hạnh, những khổ đau triền miên đó, con người đã
hướng về Ðạo Phật, đến với giáo lý Phật Ðà, như đứa
con mang thân xác gầy mòn tiều tụy về nằm trong chiếc nôi
êm của mẹ hiền. Thật vậy, Ðạo Phật là đạo từ bi,
ban vui và cứu khổ. Những người con Phật không bao giờ mượn
danh vị Giáo chủ của mình để truyền đạo bằng bạo lực,
bằng binh quyền. Ðạo Phật cũng không bao giờ chủ trương
bắt buộc người khác phải theo đạo mình. Bởi vì, như đã
dẫn, Ðức Phật ra đời vì an lạc hạnh phúc cho muôn loài
chúng sinh, vì muốn loài người được giác ngộ và giải
thoát khỏi khổ đau và sinh tử luân hồi.
Trong
thời Ðức Phật, xã hội Ấn Ðộ được chia thành bốn giai
cấp, trong đó có hai giai cấp thống trị là Bà-la-môn lãnh
đạo về tinh thần, và Sát-đế-lợi có sức mạnh binh quyền,
đứng đầu về chính trị xã hội. Giai cấp thấp hèn nhất
là Thủ-đà-la, bị chà đạp bóc lột, không còn có quyền
làm người nữa. Chính Ðức Phật, như một nhà đại cách
mạng, đã dõng dạc tuyên bố: "Không có giai cấp khi mọi
dòng máu cùng đỏ, không có giai cấp khi mọi nước mắt cùng
mặn". Bằng trí tuệ siêu xuất, Ngài thấy tất cả chúng
sinh - kể cả chúng sinh hạ đẳng, đều có Phật tánh như
nhau. Vì vậy, bức thông điệp của Ngài trao truyền cho xã
hội đương thời và cho muôn thế hệ về sau, mang tính bình
đẳng và tính tự do tuyệt đối, cũng như trả lại cho con
người quyền làm chủ thực sự đối với vận mệnh của
chính mình.
Vì
sao nói Ðạo Phật có tính bình đẳng tuyệt đối? - Chúng
ta biết Ðức Phật chủ trương không phân biệt giai cấp và
giới tính. Trong Tăng đoàn của Ngài, nhiều vị thuộc giai
cấp Thủ-đà-la hoặc nữ giới được xuất gia. Ðây là bình
đẳng về xã hội, chỉ có tính cách tương đối. Ðỉnh cao
nhất của sự bình đẳng, là mọi người đều ngang nhau khi
thọ lãnh nghiệp báo hoặc khi tu thành đạo quả. Phàm phu
chúng ta, nếu tạo nghiệp ác thì bị đọa vào ba đường
khổ, nếu tạo nghiệp thiện sẽ được tái sinh về các cõi
lành. Ðức Phật và chư vị Tổ sư, dù đã đắc đạo nhưng
nếu còn dư báo, cũng phải trả cho xong: Phật bị nạn kim
thương mã mạch, Tổ Sư Tử bị chặt đầu, Tổ Huệ Khả
chết trong nhà ngục... đó là bình đẳng đối với nghiệp
báo. Nhưng nếu phàm phu nghe lời Phật dạy, tinh tấn tu hành
đúng
đường đúng hướng, thì có ngày cũng thành Phật như Ngài.
Có thể nói, chỉ có vị Giáo chủ của Ðạo Phật mới đặt
mình ngang hàng với tất cả chúng sinh - vì đây là cái thấy
như thật của một người đã thực sự giác ngộ.
Mặt
khác, Ðức Phật đã dạy rõ cho chúng ta về lý nhân quả,
với hai cặp phạm trù nhân quả thế gian và xuất thế gian
(Khổ - Tập, Diệt - Ðạo). Ðể phù hợp với trình độ căn
cơ, Ngài cũng phương tiện dạy về Ngũ thừa và phương pháp
tu hành tương ứng (tu Nhơn thừa phải giữ năm giới, tu Thiên
thừa là hành Thập thiện...). Tất cả chúng ta đều có quyền
tự do lựa chọn con đường mình đi, tự do tạo nghiệp và
tự do thọ lãnh quả báo. Nếu thấy được cái khổ tột
cùng nhất chính là cái khổ luân hồi, không muốn trầm luân
sinh tử nữa, chúng ta cũng có quyền lựa chọn pháp môn thích
hợp để đạt mục đích cuối cùng là giải thoát. Ðây há
chẳng phải là sự tự do tột đỉnh, tự do tuyệt đối sao?
Từ
năm 1948, thế giới lấy ngày 10/12 làm ngày Quốc tế Nhân
quyền, và hô hào tất cả các nước hãy "Trả thế giới
con người, những quan hệ của con người về với bản thân
con người". Nhưng thật ra, ở nơi này nơi khác vẫn còn đầy
dẫy những áp bức bất công, đầy dẫy sự kỳ thị chủng
tộc - quốc gia - tôn giáo. Chỉ riêng Ðức Phật ngay trong
thời đại văn minh chưa phát triển, con người còn mê tín
theo những giáo thuyết thần quyền, Ngài đã bảo mình không
phải là thần linh để có quyền ban phước giáng họa cho
ai. Trong suốt cuộc đời, Ngài cũng nói năng sinh hoạt như
mọi người, cũng tọa thiền khất thực như các đệ tử
của Ngài. Ðức Phật là một con người bình thường, nhưng
khác chúng ta ở chỗ không còn bị tham-sân-si chi phối, nên
trong cái bình thường ấy chứa đựng cái phi thường. Ngài
luôn đề cao tư cách con người, luôn dạy con người phải
tự mình tìm sự giải thoát ngay trong chính mình chứ không
mong cầu ở tha lực. Vì thế, Ðạo Phật đã trả về cho
con người quyền làm người chân chính nhất.
Sự
kiện Ðức Phật đản sinh được xem là điều chưa từng
có; không những hy hữu về thời và xứ, còn là hy hữu về
đức và sự. Hy hữu thời là rất hiếm được sinh ra cùng
thời với Phật; hy hữu xứ là khó thể ở cùng nơi để
chiêm ngưỡng kim thân của Ngài. Ngài có vô lượng phước
đức và vô lượng trí huệ, nên gặp được người như Ngài
là điều hiếm có - đó là hy hữu đức. Lại nữa, sự nghiệp
hoằng hóa độ sanh của Ngài trong vô lượng kiếp tu hành
thật không thể nghĩ bàn, tất cả chư vị Bồ tát hay Hiền
Thánh Tăng đều không sánh kịp, vì vậy ta gọi là hy hữu
sự.
Một
hình ảnh độc đáo trong quang cảnh ra đời của Ðức Phật,
là bảy bước đi nở bảy đóa sen. Ở đây, chúng ta không
bàn về vấn đề thực hay hư của sự kiện, mà chỉ đề
cập đến ý nghĩa sâu xa của nó. Phật dạy: "Như hoa sen tươi
đẹp và dễ thương, không nhiễm ô bùn nhơ nước đục, giữa
chốn bụi trần ta không nhiễm chút bợn nhơ, như vậy ta là
Phật". Hoa sen tươi đẹp thanh khiết, tỏa hương thơm ngát
đã có gốc rễ từ đâu? Nếu không có bùn nhơ nước đục
sen không nẩy mầm, tăng trưởng rồi trổ hoa như thế. Thái
tử Sĩ -Ðạt- Ta sinh ra trong hoàng cung, hưởng tất cả lạc
thú thế gian, nhưng Ngài đã bỏ lại sau lưng để một mình
đi tìm chân lý. Sống trong ngũ dục nhưng Ngài không tham đắm,
luôn luôn canh cánh trong lòng ba câu hỏi lớn: Con người từ
đâu sinh ra? - Sau khi chết đi về đâu?- Có cách nào giải
thoát khỏi luân hồi sinh tử? Ngài mang thân phận làm người,
giữa chốn bụi trần mà không bị nhiễm ô, khác nào hoa sen
trong bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Lịch sử Phật giáo có
rất nhiều hoa sen ngát hương như thế: Tướng quốc Bùi Hưu
và Bàng Long Uẩn ở Trung Hoa, Sơ Tổ Trúc Lâm và Tuệ Trung
Thượng Sĩ của Việt Nam. Dù là cư sĩ hay người xuất gia,
đều tìm được hạnh phúc đích thực từ mãnh đất phiền
não nhiễm nhơ của cuộc đời.
Từng
bước đi nở hoa sen là biểu tượng của những bước chân
vững chãi và thảnh thơi trong cuộc đời. Ðây là bí quyết
của những hành giả tu Phật. Muốn thành bậc xuất trần,
phải ngay từ trần tục mà vươn lên. Người có sức mạnh
tu hành là người luôn thắng được những khó khăn trở ngại
đến từ bên ngoài và cả bên trong nội tâm của chính mình.
Tu không phải là trốn chạy các pháp mà là trực diện với
chúng, nhưng tâm không dính mắc khi đối duyên xúc cảnh -
Ðối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Khi tiếp xúc với trần
cảnh mà tâm không khởi niệm phân biệt hay - dở, tốt - xấu,
ưa - ghét ..., ngay đó đã là Thiền, không cần hỏi Thiền
chi nữa. Hiểu được như vậy, chúng ta mới thấu triệt được
tinh thần của Ðại thừa Phật giáo, ngay trong vô thường
mà thấy cái hằng hữu, ngay trong khổ đau mà chứng được
Bồ đề.
Một
biểu tượng khác của hoa sen thường được đề cập đến
trong nhà Thiền, là sen nở hoa trong lò lửa. Chúng ta có tin
được điều này không? Xin hãy nghe bài kệ:
Thấm
thoát thu qua mấy độ rồi
Ðời
người bóng chớp áng mây trôi
Muôn
vật hiện bày trò ảo hóa
Sen
nở trong lò sắc thường tươi.
Trong
lò lửa vô thường của thân tứ đại, có một đóa sen luôn
luôn tươi tốt. Ðóa sen ấy là Diệu Pháp Liên Hoa. Ðây cũng
là ý nghĩa của cành mai không bao giờ tàn, mà Thiền sư Mãn-Giác
đã nhìn thấy. Hoa sen hay cành mai ấy là chân tâm, là Phật
tánh của mỗi chúng sinh. Tuy chúng sinh ở trong cảnh giới
vô thường, mang thân vô thường, tâm nghĩ tưởng cũng vô
thường, nhưng pháp thân không bao giờ biến hoại theo thời
gian vô cùng và không gian vô biên. Người tu chúng ta phải
nhận được chân tâm bất sinh, bất diệt trong ngũ uẩn sinh
diệt và luôn sống với nó - đó là mục đích cuối cùng
của mỗi người tu Phật.
Có
khi nào chúng ta tự hỏi: Ðức Phật xuất hiện nơi đời
là vì bản thân Ngài hay vì chúng sinh? Và vì sao trong suốt
45 năm hoằng pháp, tựu trung Ngài chỉ nói về khổ và phương
pháp thoát khổ? - Bản hoài của chư Phật là chỉ cho tất
cả chúng sinh nhận ra và sống được với bản lai Phật tánh
của chính mình. Do vậy, Ðức Thích-Ca thị hiện trên thế
gian này là vì chúng sinh, muốn chúng sinh cũng được giác
ngộ giải thoát như Ngài. Nhưng bởi chúng sinh còn vô minh,
nhận lầm cái giả cho là thật, cái khổ cho là vui, cái không
có chủ thể cho là ngã, cái nhiễm nhơ cho là thanh tịnh, nên
Ngài phải giúp chúng ta ý thức được cuộc đời là khổ
não vô thường. Một người luôn luôn sống trong cảnh sung
sướng giàu sang, mọi việc đều thành tựu như mong cầu,
thì khó tu và khó tiến. Nếu gặp việc bất như ý hay đau
khổ trong đời sống, ta mới dễ thức tỉnh, dễ đến với
Ðạo. Có thể nói, khổ đau là chất liệu nung nấu người
tu tìm cách thoát khổ, là điều kiện cần thiết để một
hành giả thăng tiến đạo lực, vì đạo lực chỉ biểu hiện
nơi cảnh thử thách truân chuyên, cũng như bùn nhơ nước đục
là điều kiện cần để hoa sen nở và tỏa hương thơm ngát.
Nhân
ngày Khánh đản, chúng ta suy nghiệm lại một số điều mà
Ðức Phật muốn truyền trao, bằng thân và khẩu giáo. Ðặc
biệt, chúng ta học nơi Ngài tình thương bao la, trí huệ siêu
xuất và ý chí phi thường. Có tình thương bao la tức đại
bi, Ngài đã thị hiện vào các cõi tế độ quần sinh. Do giác
ngộ tột cùng nên Ngài có đại trí tức trí vô sư, thấu
triệt được thực tướng của tất cả pháp và thể nhập
chân tâm thường trụ; từ đó khởi phát diệu dụng, thiết
lập phương tiện giáo hóa người hữu duyên. Do ý chí phi
thường tức đại hùng, Ngài đã chiến thắng những chướng
ngại nội tâm cũng như những thử thách bên ngoài mà thành
tựu đạo quả.
Chúng
ta cũng thệ nguyện thừa hưởng pháp âm vi diệu của Ngài,
vun bồi lý tưởng giải thoát để cuộc sống thăng hoa, để
lòng từ mở rộng. Chúng ta cố gắng tu tập theo Ngài để
cuộc đời mình có nhiều lợi ích, nhiều ý nghĩa; và trang
trải kết quả ấy cho những người xung quanh cũng được
lợi ích như mình. Ðó là cách cúng dường Ðức Bổn Sư thiết
thực nhất.
ÐỨC
PHẬT CỦA CHÚNG TA
Ngày
Phật đản được xem như ngày tết của Phật giáo, vì đánh
dấu thời điểm trọng đại một bậc vĩ nhân ra đời vì
lợi ích cho nhân loại nói riêng và cho chúng sinh trong toàn
pháp giới nói chung. Cuộc đời của Ðức Bổn Sư, từ khi
sinh ra đến khi nhập diệt, đều thể hiện tính cách kỳ
vĩ siêu tục có một không hai. Cho đến bây giờ, dù đã trải
qua 25 thế kỷ, trí tuệ và lòng từ bi của Ngài vẫn còn
ảnh hưởng sâu đậm đến cuộc đời, và là tấm gương
sáng chói cho tất cả mọi người con Phật.
Kinh
kể rằng, Ðức Bổn Sư của chúng ta vốn là một vị Ðại
Bồ-tát ở nội viện cung trời Ðâu Suất. Ngài chỉ sinh vào
cõi Ta-bà một lần cuối cùng là thành tựu quả vị Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, nên được tôn là Bồ-tát Nhất sanh
Bổ xứ. Trước khi nhập thai, Ngài quan sát khắp cõi Diêm-phù-đề,
thấy nước Ấn Ðộ là trung tâm, và Vương quốc Ca-tỳ-la-vệ
là nơi cường thịnh nhất. Vua Tịnh-Phạn và Hoàng Hậu Ma-Gia
là những người đạo đức, có duyên với Ngài từ nhiều
đời. Trong Vương quốc, phần đông dân chúng được thuần
hóa, những ngành Triết học rất thịnh hành. Vì thế, Ngài
chọn hoàn cảnh trên làm y báo.
Gần
đến ngày sinh, Hoàng hậu Ma-Gia theo tục lệ trở về quê
mẹ. Ðến vườn Lâm-Tỳ-Ni, bà hạ lệnh nghỉ chân. Thấy
trên cành cây vô ưu có một nụ hoa vừa nở, bà đưa tay lên
hái. Ngay lúc đó, Thái tử từ hông phải của bà sinh ra. Vừa
mới ra đời, Thái tử đã đi bảy bước, có bảy hoa sen nâng
chân. Một tay chỉ trời, một tay chỉ đất, Ngài đọc bài
kệ như sau:
Ngã
ư nhất thiết
Thiên
nhân chi trung
Tối
tôn tối thắng.
Vô
lượng sinh tử
Ư
kim tận hỉ.
Tạm
dịch:
Ta
đối với tất cả
Chư
Thiên và loài người
Là
tối tôn tối thắng.
Qua
vô
lượng sinh tử
Kiếp
này là chấm dứt.
Một
bài kệ khác thường được truyền tụng hơn:
Thiên
thượng thiên hạ
Duy
ngã độc tôn
Nhất
thiết thế gian
Sinh
lão bệnh tử.
Tạm
dịch:
Trên
trời dưới trời
Chỉ
Ta trên hết
Tất
cả thế gian
Sinh
lão bệnh tử.
Những
sự kiện phi khoa học nầy khiến chúng ta khó thể chấp nhận;
và nếu không hiểu ý nghĩa sâu xa của huyền thoại Ðản
sinh, ta dễ cho đó là dị đoan mê tín.
Người
xưa có câu “Lưu danh thiên cổ, lưu xú vạn niên” (Ðể
lại tiếng thơm ngàn đời, để lại tiếng xấu muôn năm).
Ðối với những bậc vĩ nhân có công lớn với đất nước,
lịch sử luôn luôn ca ngợi và trong dân gian cũng có nhiều
truyền thuyết về cuộc đời của các Ngài. Ðây là biểu
hiện lòng tôn kính ngưỡng vọng của người đời, phù hợp
với tinh thần Ðông phương ưa sự mầu nhiệm huyền bí, khác
với tính thực tế của Tây Phương, thường đánh giá sự
việc bằng thước đo khoa học. Ðức Phật là bậc vĩ nhân
đệ nhất trong lịch sử, truyền thuyết về Ngài đã nói
lên phần nào sự tôn sùng kính ngưỡng của các hàng môn
đệ.
Mặt
khác, huyền thoại Ðản sinh của Ðức Phật còn có ý nghĩa
tượng trưng sâu xa. Vì Ngài đã là vị Ðại Bồ-tát trước
khi thị hiện xuống cõi Ta-bà, nên Ngài không sinh theo lối
thông thường mà sinh từ hông phải của hoàng hậu Ma-Gia.
Bên phải tượng trưng sự thuận chiều, tức thuận chiều
Niết-bàn và nghịch chiều sinh tử. Ngài không bị cuốn vào
vòng xoáy luân hồi mà vượt thoát, và độ nhiều người
cùng vượt thoát như Ngài. “Phương pháp nào giúp con người
thoát ly sinh tử?” là vấn nạn lớn nhất của kiếp người,
nhưng chỉ có Ngài biết đặt ra và biết cách trả lời thỏa
đáng.
Bảy
bước đi của Thái tử lúc mới hạ sinh tượng trưng ba yếu
tố thời gian (quá khứ – hiện tại – vị lai) và bốn chiều
không gian (đông tây nam bắc). Một người tự tại giữa dòng
sinh tử sẽ không bị chi phối bởi thời gian vô cùng và không
gian vô biên. Hoa sen nở dưới gót chân Thái tử biểu tượng
sự trong sạch giữa cuộc đời, sống trong trần mà không
nhiễm trước, như hoa sen mọc giữa bùn lầy mà vẫn nở hoa
thơm.
Thật
ra, những câu chuyện thần kỳ về Ðức Phật được truyền
tụng bao đời nay, ngẫm lại vẫn chưa tương xứng với phẩm
chất cao quý, với công hạnh độ sanh của Ngài. “Xưng dương
cập tán thán, ức kiếp mạc năng tận”. Dù xưng tán trong
trăm ngàn ức kiếp, chúng ta cũng không thể nói hết sự vĩ
đại siêu tuyệt của cuộc đời Ngài. Ngay sự thị hiện
bằng thân 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp cũng có tính cách
giáo hóa – vừa nói lên công đức tu hành trong vô lượng
kiếp của một bậc Ðại Thánh, vừa chiều uốn theo sự ưa
thích cái đẹp của chúng sinh để dễ bề tiếp cận dạy
bảo họ. Ngài cũng có một cuộc sống thế tục trước khi
xuất gia, cũng có những sinh hoạt bình thường như mọi người,
khiến ai cũng thấy Ngài vô cùng gần gũi ; từ đó phát khởi
lòng tin mình cũng có khả năng tu hành và thành đạo như Ngài.
Một
người có thân tướng đẹp đẽ hiếm thấy, có cuộc sống
cao sang tột bực, có hạnh phúc gia đình hoàn mỹ, vì sao lại
từ bỏ tất cả, sống đời cô độc khổ hạnh trong rừng
già? Ðối với chúng ta, chỉ từ bỏ chút ít tài sản hay
quyền lợi nhỏ nhoi để theo đuổi một mục đích, đã là
việc khó làm. Và khi làm được điều ấy, ta lại mong thụ
hưởng kết quả, mong cho bản thân mình và người xung quanh
có một ngày mai tươi sáng hơn hôm nay. Chỉ riêng Ðức Phật
nhận chân cuộc đời và con người đều là những thứ giả
tạm nay còn mai mất, nên với ý chí xuất trần, Ngài nỗ
lực đi tìm lẽ thật tuyệt đối, cái chân thường hằng
hữu trong các pháp giả hợp vô thường. Sau khi đạt được
ý nguyện, trở thành vị Giáo chủ mà Trời người đều kính
ngưỡng, Ngài vẫn bình đẳng với tất cả mọi người trong
một cuộc sống vô cùng giản dị. Ðôi chân trần đưa Ngài
đi khắp nơi, gieo duyên và hóa độ cho biết bao người, trong
suốt 45 năm ròng không hề mệt mỏi. Ðến giờ phút cuối
cùng, Ngài vẫn còn thiết tha nhắc nhở việc tu hành cho môn
đệ. Những chân lý Ngài đã thấy, những phương pháp hành
trì thoát ly sinh tử, Ngài đều chỉ dạy tường tận, không
hề giấu giếm chút gì, vì thế ta tôn xưng Ngài là Bậc Giác
hạnh viên mãn. “Viên mãn” không có nghĩa Ngài đã độ
tất cả chúng sinh, không có nghĩa tất cả môn đệ của Ngài
đều thành tựu quả vị tối thắng. “Viên mãn” chỉ có
nghĩa, giáo pháp của Ngài là rốt ráo cao tột, những điều
cần dạy Ngài đã dạy hết, Ngài không để lại điều gì
bí mật cho riêng mình. Ai tuân theo lời Ngài chỉ dạy, đi
đúng con đường Ngài đi, chắc chắn sẽ đạt kết quả như
Ngài.
Một
người kinh doanh, trước tiên phải có vốn đầu tư. Người
muốn có một học vị, phải trang bị vốn kiến thức tương
xứng về lĩnh vực chuyên môn. Ðối với người Phật tử,
muốn đạt mục tiêu Giác ngộ – Giải thoát, trước hết
phải có lòng tin đối với Tam bảo. Chúng ta tin Ðức Phật
là Bậc Toàn giác, là vị cha lành với trí tuệ, từ bi và
hùng lực siêu xuất đáng cho ta tin phục kính ngưỡng. Chúng
ta tin Pháp là những lời Ðức Phật tuyên thuyết, là thuyền
bè đưa ta qua sông sinh tử, là ngọn đuốc soi đường trong
đêm tối vô minh. Chúng ta tin chư Tăng là những người thay
Phật lưu truyền chánh pháp. Tuy chư Tăng chưa giác ngộ bằng
Ðức Phật, nhưng các vị nhận trọng trách trung gian giữa
Ðức Phật và chúng sinh nên là “Sứ giả Như-Lai”; các
vị thắp sáng đuốc tuệ, làm chánh pháp mãi mãi trường
tồn, nên được tôn xưng là Tăng bảo – một trong ba ngôi
báu. Nếu chúng ta không có niềm tin sâu xa đối với Tam bảo,
ta không chịu khó nghiên cứu giáo lý, không tu hành theo chánh
pháp, dễ bị lôi cuốn bởi ngũ dục lục trần, đường tu
có thể rơi vào những ngã rẽ đáng tiếc. Do vậy, có thể
nói, niềm tin Tam bảo là một trong những điều kiện quan
trọng bậc nhất của người Phật tử.
Ðức
Phật đã nhập diệt, thân 32 tướng tốt không còn nữa, nhưng
ánh giác của Ngài vẫn soi sáng, pháp âm vi diệu của Ngài
vẫn vang vọng và ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn
nhân loại. Nếu không có Phật pháp, con người sẽ còn độc
ác hung bạo gấp bao lần, cuộc đời còn chìm đắm trong đau
khổ biết bao lâu. Chúng ta có diễm phúc được sống trong
hào quang của Ðức Phật, tự thấy đời mình có phần an
ổn thanh lương, phiền não có phần giảm thiểu; từ đó vững
bước tiến trên đường đạo. Ðể có thể tiếp cận với
Ngài, chúng ta không mong thấy được thân tướng, mà phải
nương vào nội tâm tỉnh giác của chính mình. Một niệm giác
là ta đối diện với ba đời chư Phật, một niệm mê là
Phật nhập Niết-bàn. Như thế, giữ gìn thân miệng ý thanh
tịnh là phương pháp trực tiếp gặp Ðức Phật một cách
dễ dàng và có kết quả không nghi.
NHỮNG
ÐẶC ÐIỂM CỦA ÐỨC PHẬT
Thông
thường, khi liên tưởng đến Ðức Bổn Sư, chúng ta nghĩ
đến sắc thân tuyệt hảo của Ngài với 32 tướng tốt và
80 vẻ đẹp. Ðó là sự toàn mỹ của hình thức, mà vì chìu
uốn theo thị hiếu của chúng sanh, Ngài đã thị hiện ra đời
để dễ bề tiếp cận và giáo hoá. Riêng nhân cách vĩ đại
của Ngài, sự toàn thiện toàn chân của đời sống nội tâm,
chúng ta khó thể hiểu được thấu đáo vì không có trình
độ tâm chứng khả dĩ tương ưng. Tuy vậy, những người
con Phật chúng ta cũng cần biết đến một số đặc điểm
nổi bật của Ngài, dù chỉ là sơ lược, để củng cố lòng
tin và càng thêm tôn kính vị Giáo chủ của mình .
Ðọc
lịch sử Ðức Phật Thích Ca từ khi sinh ra đến khi thành
đạo và nhập diệt, chúng ta thấy Ngài cũng là một người
như bao người bình thường khác.Ngài cũng từng hưởng lạc
thú thế gian, từng đau khổ bệnh hoạn và cuối cùng, cũng
từ giã cuộc đời như bất cứ ai. Ðây là một điều khích
lệ lớn, vì chúng ta thấy Ngài vô cùng gần gũi, và tin tưởng
mình cũng có khả năng tu hành, chứng ngộ như Ngài, nếu chúng
ta biết đi đúng đường đúng hướng.
Kinh
Kim Cang, đoạn mở đầu diễn tả một số công việc thường
nhật của Ðức Bổn Sư: "Khi ấy gần đến giờ thọ trai,
Ðức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-Vệ khất
thực. Trong thành, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở
về trú xứ. Sau khi thọ trai, Ngài cất y bát, rửa chân, trải
tòa ngồi".Tất cả việc làm nầy hoàn toàn quen thuộc đối
với mọi người, không có gì mang tính chất siêu phàm vượt
thế hay phô diễn thần thông diệu dụng. Vậy tại sao Trưởng
lão Tu-Bồ-Ðề cung kính ca ngợi: "Ðức Thế Tôn! Thật ít
có, Như-Lai khéo hộ niệm các vị Bồ -Tát, khéo phó chúc
các vị Bồ- Tát "? - Như hoa sen trong bùn vẫn nở hoa tinh khiết,
Ðức Phật ở trong trần lao nhưng không vướng chút nhiễm
nhơ. Ngài đã tẩy sạch lậu hoặc phiền não, không còn vô
minh tăm tối. Hàng ngày Ngài vẫn đối duyên xúc cảnh, vẫn
sinh hoạt nói năng, nhưng tâm Ngài không khởi niệm phân biệt
khen-chê-ưa-ghét. Nhà Phật gọi đó là Tâm bình thường -
tâm ấy chính là Ðạo. Toàn thân Ðức Phật là Ðạo, nên
bên trong hình thức bình thường lại chứa đựng sự phi thường,
ngay nơi những hành động thường tục luôn ẩn tàng sự siêu
tục. Chính vì thế, chúng ta luôn xưng Ngài là Ðấng Thế
tôn - bậc tôn quí của thế gian.
Do
rốt ráo chứng ngộ, có cái nhìn thấu thể vào bản chất
muôn pháp, nên Ðức Phật không chấp nhận có một quyền
lực siêu nhiên nào có thể kiểm soát và chi phối vận mệnh
con người. Ngài cũng từng nói, Ngài không phải là một đấng
thần linh có quyền ban phước giáng hoạ cho ai. Mỗi người
tự làm chủ vận mệnh của mình, tự mình tạo nghiệp và
thọ hưởng kết quả của nghiệp ; không ai cứu rỗi được
mình và mình cũng không thể tu thay cho người khác.
Phật
dạy:
"Hãy
tự xem con là hải đảo của con
Hãy
tự xem con là nơi nương tựa của con
Không
nên tìm nương tựa nơi ai khác".
Người
đi biển gặp trận cuồng phong, thuyền gần chìm đắm, bỗng
nhiên thấy một hòn đảo ở phía trước, ai cũng muốn tấp
ngay vào để tìm sự bình an. Hải đảo là nơi nương tựa
của thuyền khi gặp tai nạn trên biển, cũng như mình là nơi
nương tựa vững chắc của mình khi bị sóng đời vùi dập.
Ðối với người tu, sự nổ lực cá nhân chính là điều
kiện quyết định để đạt mục tiêu giác ngộ và giải
thoát. Nếu gởi gắm mục đích tối hậu của đời mình vào
một năng lực siêu nhiên, ấy là ta đã lầm lạc từ căn
bản. Ðức Phật còn bị nạn kim thương mã mạch, huống gì
phàm phu chúng ta. Cho nên, cầu Phật gia hộ cho mìmh luôn gặp
may mắn hạnh phúc, là điều không thực tế. Chúng ta hiểu
cặn kẽ luật nhân quả, có sức mạnh tinh thần, thì dù gặp
thử thách khó khổ vẫn có sức tự chủ và kham nhẫn. Người
biết tu không phải mong tránh khỏi nạn tai, mà là người
luôn giữ chánh niệm tỉnh giác trước mọi hoàn cảnh thuận
nghịch trong đời.
Ðề
cao tinh thần tự lực, không phải đạo Phật hoàn toàn chối
bỏ sự gia trì giúp đỡ của tha lực. Tuy "tự mình thắp
đuốc lên mà đi ", nhưng phải "thắp lên với chánh pháp".
Ðức Phật là bậc Ðạo sư, vị Thầy dẫn đường. Chúng
ta tự mình tiến bước, nhưng phải đi theo con đường Ngài
đã đi, nếu không muốn lạc vào ngã rẽ. Khi tâm ta thanh tịnh,
phần nào tương ứng cùng tâm chư Phật Bồ-Tát, tự nhiên
được thần lực của các Ngài gia hộ độ trì, sự linh ứng
sao có thể phủ nhận? Nếu tham sân si còn đầy dẫy mà thắp
hương dâng lễ cầu xin việc nầy việc khác, mong các Ngài
thỏa mãn nguyện ước của mình, thử hỏi điều mong ước
ấy có thể thành tựu được không?
Trả
cho con người quyền làm chủ cuộc đời mình, trong cả ba
thời quá khứ - hiện tại - tương lai, quả thật đạo Phật
mang tính nhân bản rất cao và tính tự do tuyệt đối. Ðây
là một nét độc đáo của đạo Phật, vì vị Giáo chủ không
bao giờ tự xưng mình là Ðấng cứu tinh của nhân loại. Với
tinh thần nầy, chúng ta đến chùa nghe pháp, cũng không vội
vàng tin tưởng mù quáng vào ai, không thần tượng hóa người
nào, dù đó là một vị thầy khả kính. Nói như thế không
phải khuyến khích sự tự tôn kiêu mạn hay sự nghi ngờ quá
đáng, mà chỉ cốt đề cao khả năng tư duy độc lập, trí
tuệ nhận định đúng - sai, hay - dỡ. Người Phật tử cần
có chánh kiến và chánh tín, biết đâu là đường hướng
phải theo, ai là vị Thiên tri thức hướng dẫn đời mình.
Khi đã quyết định đúng, ta sẽ có niềm tin kiên cố, có
sức mạnh phi thường vượt qua mọi trở ngại gian nan để
hoàn thành đạo nghiệp. Ta sẽ có sức sống trào dâng, có
cơ hội bơi lội vào công phu của chính mình để truyền đạt
sức sống ấy cho mọi người xung quanh.
Một
đặc điểm quan trọng và độc đáo góp phần hình thành nhân
cách vĩ đại của Ðức Phật, cũng là một yếu tố căn bản
khiến đạo Phật còn lưu truyền mãi đến ngày nay, là tính
bình đẳng đích thực. Không những Ngài chủ trương bình
đẳng giữa những giai cấp trong xã hội, giữa hai giới nam
và nữ, mà còn bình đẳng giữa loài người với mọi loài
chúng sanh. Ðặc biệt hơn cả là sự bình đẳng giữa Ngài
là vị Giáo chủ tối cao với tất cả môn đệ. Bằng trí
tuệ siêu xuất của một bậc Giác ngộ toàn triệt, Ngài thấy
mọi chúng sanh đều có Phật tánh, mọi chúng sanh đều có
khả năng thành Phật. Vàng còn trong quặng bị lẫn nhiều
tạp chất, chưa biểu lộ giá trị thật sự của nó. Ðến
khi được tôi luyện thành vàng ròng, nó mới được tôn vinh.
Ðức Phật là vàng đã tôi luyện, chúng sanh còn là vàng trong
quặng phiền não vô minh. Nói về hình thức, Phật và chúng
sanh khác nhau ngàn trùng. Nhưng về bản chất, thì rõ ràng
giữa Phật và chúng sanh không hơn không kém. Bản chất vàng
ấy là Phật tánh bình đẳng của muôn loài hữu tình, mà
nếu nhận ra, tức đã có chánh nhân thành Phật.
Xã
hội Ấn Ðộ thời bấy giờ bị phân chia thành bốn giai cấp,
trong đó Thủ -Ðà- La là giai cấp nô lệ, bần cùng nhất
và bị khinh miệt nhất. Chính Ðức Phật đã làm một cuộc
cách mạng lớn khi mạnh mẽ xóa bỏ giai cấp, khiến lung lay
cả thể chế cố định từ bao đời. Ngài đã dõng dạc tuyên
bố: "Không có giai cấp khi mọi dòng máu cùng đỏ; không có
giai cấp khi mọi nước mắt cùng mặn". Trong giáo đoàn của
Ngài, mọi người đều được cư xử ngang nhau, đều được
hưởng pháp âm vi diệu như nhau, đều có điều kiện tu hành
giống nhau, và đều có cơ hội chứng Thánh quả nếu tu hành
đắc lực. Ðối với nữ giới, xã hội đương thời không
xem trọng, các giáo phái khác cũng không cho gia nhập. Riêng
Ðức Phật, dù đợi Ngài A-Nan cầu xin đến ba lần và đặt
ra Bát kỉnh pháp, Ngài vẫn cho phép Di mẫu cùng một số nữ
đệ tử xuất gia. Chư Ni trong thời Ðức Phật cũng chứng
Thánh quả, cũng có những vi nổi danh đệ nhất về trí tuệ,
thần thông, biện tài ... như chư Tăng không khác.
Tâm
từ bi của Ðức Phật vô cùng rộng lớn, nên Ngài đối xử
bình đẳng với tất cả mọi người, không phân biệt thân
sơ, thù bạn. Kẻ sát nhân Anguilimala hay kỹ nữ Ambapàli cũng
được Ngài giáo hóa và thành tựu công hạnh như các Ðại
đệ tử của Ngài. Ngay như Ðề-Bà-Ðạt-Ða, kẻ phá hòa
hợp Tăng, ác tâm hãm hại Ngài nhiều lần, Ngài vẫn tha thứ
bao dung. Thuyền to sóng lớn, chính người có công phu tu hành
cao thâm lại thường gặp nhiều trở ngại thử thách kinh
khiếp, mà nếu vượt qua được, sẽ tiến một bước rất
dài trên đường đạo. Cho nên, ta có thể hiểu vì sao Ðức
Phật bảo Ðề-Bà-Ðạt-Ða là Thiện hữu tri thức bậc nhất
của Ngài. Chúng ta theo gương Ngài, nhìn cuộc đời bằng đôi
mắt bao dung như thế thì phiền não giảm thiểu biết chừng
nào !
Một
số giáo phái thời Ðức Phật có tục lệ giết súc vật
tế cúng thần linh. Bằng biện tài vô ngại, Ðức Phật đã
thuyết phục được ngoại đạo bãi bỏ việc giết hại ấy.
Trong giáo đoàn của Ngài, các môn đệ đều phải giữ gìn
cấm giới, mà giới không sát sanh, bao gồm việc không giết
người và cả súc vật - được đưa lên hàng đầu. Bởi
vì, tất cả chúng sanh hữu tình đều có mạng sống, cũng
ham sống sợ chết như con người. Không lý gì con người lại
dùng sinh mạng của chúng để phục vụ cho nhu cầu dinh dưỡng
và giải trí cho mình; nói chi đến việc tế lễ cầu Thánh
Thần ban ơn phước. Ngay cả cây cỏ, chúng cũng có cái biết,
dù rất yếu và thô. Ngày nay, các nhà khoa học đã chứng
minh, cây khi được nghe những bản nhạc êm dịu sẽ trổ
hoa và ra trái nhanh hơn những cây đối chứng. Cách đây trên
25 thế kỷ, vị Giáo chủ của chúng ta đã dạy các Tỳ-Kheo,
phải có lòng biết ơn những loài thực vâït cho mình bóng
mát, rau quả, không được hũy hoại mầm sống dù ở hình
thức nào. Có thể nói, người tu theo tinh thần đạo Phật
không những tôn trọng sinh mạng của con người và loài vật,
mà còn biết bảo vệ môi trường sống, biết tạo khung cảnh
yên lành thanh lương cho tất cả chúng sanh.
Nhân
ngày Phật đản, chúng ta ôn lại những đức tính hiếm có
của Ðức Bổn Sư, để thấy mình có phước duyên vô hạn
mới được làm đệ tử của Ngài, được đi theo con đường
Ngài chỉ dạy. Nhân cách vĩ đại của Ðức Phật là tấm
gương sáng chói về trí tuệ, đạo đức và phương cách xử
thế. Hiểu Ngài bao nhiêu, chúng ta càng tôn kính và tin tưởng
Ngài bấy nhiêu. Và tôn kính tin tưởng Ngài, chúng ta cũng
tôn kính tin tưởng giáo pháp của Ngài cùng những sứ giả
thay Ngài nối truyền mạng mạch Phật Pháp.
Chúng
ta nguyện noi gương Ngài, nỗ lực tu hành để phát huy trí
tuệ và từ bi, tích cực đem Ðạo vào đời để chan rải
niềm an lạc hạnh phúc cho tất cả mọi loài. Một ngày nào
đó, chúng ta viên thành công hạnh tư lợi - lợi tha, đó mới
thật là đền đáp được ơn sâu dày của Ðức Bổn Sư,
mới không cô phụ bản hoài của chư Phật Bồ - tát. Tu hành
theo tinh thần ấy, chúng ta mới xứng đáng là môn đêï trong
nhà Phật, và dù đã xa Ðức Phật một khoảng cách không
gian và thời gian, chúng ta vẫn ở trong Pháp hội Linh Sơn,
vẫn được tắm gôïi trong hào quang vi diệu của Ngài, vẫn
tận hưởng khoảnh khắc thiên-thu của cành sen Ðức Phật
và nụ cười Ca-Diếp!
ÐỨC
PHẬT MỘT NHÂN CÁCH VĨ ÐẠI
“Một
người, nầy các Tỳ kheo, khi xuất hiện ở đời, là xuất
hiện một cách vi diệu. Người ấy là ai? Chính là Thế Tôn,
bậc A-La-Hán Chánh đẳng giác”. Ðức Phật đã nói về sự
xuất hiện của chính bản thân Ngài và của chư Phật, một
sự kiện vô cùng trọng đại ngàn năm chưa một thuở.
Vì
sao sự kiện Ðức Phật đản sinh được tôn xưng bằng mỹ
từ “vi diệu”? - Bởi vì sự hiện diện của Ngài trên
thế gian như ánh sáng mặt trời xua tan bóng đêm tăm tối;
chúng sanh nhờ Ngài dẫn lối đã biết thế nào là hạnh phúc
đích thực, là bình an vĩnh cửu, thế nào là tình thương
chân thật và bình đẳng giữa người với người, giữa người
với vũ trụ vạn loại. Và trên tất cả, Ngài ban cho toàn
thể loài người một phương thuốc nhiệm mầu điều trị
được nỗi khổ lớn nhất của chúng sanh: nỗi khổ trầm
luân sinh tử.
Một
tác phẩm quan trọng viết về cuộc đời Ðức Phật Thích-Ca,
từ lúc đản sinh đến khi nhập diệt, là Phật Sở Hành Tán
của Bồ-tát Mã Minh (100-160), tác giả bộ Luận Ðại thừa
Khởi tín. Trong tác phẩm nầy có nhắc lại lời Ðức Bổn
Sư lúc mới đản sinh như sau:
Thử
sinh vi Phật sinh
Tắc
vi hậu biên sinh
Ngã
duy thử nhất sinh
Ðương
độ ư nhất thiết.
Tạm
dịch:
Phật
thị hiện sinh ra
Là
lần sinh cuối cùng
Ta
trong một đời nầy
Nguyện
độ khắp tất cả.
Bài
kệ nầy cho thấy rõ, sự xuất hiện của Ðức Phật là sự
thị hiện của một Bồ-Tát Nhất sanh bổ xứ. Chỉ còn sinh
ra trên thế gian nầy trong một đời, tu hành và thành tựu
quả vị Phật, nên Ngài biết rõ đây là lần sinh cuối cùng.
Còn phàm phu chúng ta, khi ra đời mờ mờ mịt mịt, đâu thể
biết mình phải chịu luân hồi bao nhiêu kiếp nữa? Có phước
duyên gặp Phật pháp, nguyện nỗ lực tu hành mong chặt đứt
mối manh sinh tử, nhưng chúng ta cũng phải trải qua biết bao
đời kiếp, đâu phải chỉ một sớm một chiều. Ðiều này
nhắc nhở chúng ta thận trọng khi nghe người quả quyết có
thể giúp ta giải thoát chỉ trong một đời.
Vì
biết rõ đây là lần sinh cuối cùng, nên Ðức Phật nguyện
trong đời này độ khắp tất cả muôn loài. Ròng rã suốt
45 năm, Ngài đã đi cùng khắp xứ sở, giáo hóa cho mọi người
biết con đường sáng phải theo nếu muốn vĩnh thoát luân
hồi. Công hạnh của các vị Bồ-tát, từ lúc sơ phát tâm
đến Nhất sanh bổ xứ đều nhằm mục đích duy nhất, vừa
tự lợi vừa làm lợí ích cho chúng sanh. Ðến khi thành Phật,
các Ngài vẫn thị hiện khắp các cõi, dưới nhiều hình tướng
thích hợp, hóa độ cho những chúng sanh hữu duyên. Các Bồ-tát
Quan-Âm, Văn Thù, Phổ Hiền hoặc cư sĩ Duy-Ma-Cật đều là
những hình ảnh tuyệt vời về công hạnh độ sanh của các
vị Cổ Phật, trợ hóa cho Ðức Phật Thích Ca.
Bản
thân Ðức Phật đã từng miệt mài khổ luyện ở trường
đời và trường đạo, nhờ vậy ngài sở đắc kiến thức
bác lãm của thế gian và trí tuệ tuyệt vời xuất thế gian.
Từ năm 16 tuổi, Ngài đã thông thạo văn chương võ nghệ,
luôn dẫn đầu trong những cuộc thi tài. Lúc xuất gia tìm
thầy học đạo, Ngài đã quán thông mọi ngành tư tưởng
triết học và tôn giáo đương thời, thấu triệt 62 kiến
chấp của ngoại đạo. Nhiều lần vào hội chúng ngoại đạo
có khi đông cả ngàn người, Ngài vẫn dễ dàng đối phó.
Nhờ trí tuệ siêu xuất và vô ngại biện tài, Ngài thấy
rõ những sai lầm trong các luận thuyết của họ, và bẻ gãy
những luận điểm ấy một cách khoa học, đầy sức thuyết
phục. Một số vị trưởng lão hoặc chức sắc cao cấp của
Bà-la-môn, Kỳ-na-giáo ... đã quy y theo Ðức Phật, trở thành
những đệ tử lớn của Ngài. Ðức Phật được tôn xưng
là bậc Thế gian giải, vì Ngài uyên bác về cuộc sống thế
gian về mọi lĩnh vực trong đời người. Ngài đã chỉ dạy
tường tận về bản chất của cuộc đời là khổ, nguyên
nhân của khổ để đưa đến cái thấy như thật về các
pháp là con đường bất tử thực chứng Niết-bàn.
Không
những Ðức Phật là vị đại diện tối cao của trí tuệ,
Ngài còn là tấm gương sáng ngời về lòng từ bi vô hạn
và ý chí kim cương. Bằng trí tuệ xuất thế, Ngài nhìn tất
cả các pháp một cách thấu thể tận nguồn cội của chúng,
nên đối cảnh mà tâm vẫn như như. Ngài thấy chúng sanh muôn
loài đều bình đẳng ở tánh giác, chỉ vì vô minh nhận thân
cảnh giả là thật mình, mãi tạo nghiệp và đắm chìm trong
sinh tử, nên Ngài phát khởi tình thương bình đẳng và rộng
khắp tất cả chúng sanh. Ðây là bản chất của lòng từ
bi – ban vui và cứu khổ. Chính vì lòng từ bi, Ngài đã hy
sinh mọi tài sản, quyền lực và hạnh phúc thế gian, cả
thân xác mình lúc tìm thầy học đạo, chỉ với mục đích
duy nhất là tìm cho mình và cho chúng sanh con đường thoát
ly sinh tử.
Sống
và tu chỉ với mục đích duy nhất ấy, Ngài đã khắc phục
biết bao trở ngại từ bên ngoài và cả bên trong: bên ngoài
là hoàn cảnh khó khổ, ngoại đạo phá khuấy; bên trong là
những tập khí tham-sân-si ngay tự thân. Ðây là ý chí sắt
đá, là hùng lực của bậc Thánh nhân, thể hiện rõ nhất
nơi lời thề sấm sét dưới cội Tất-bát-la: dù thịt nát
xương tan, nếu chưa thành tựu đạo quả thề không rời khỏi
chỗ nầy! Và sau 49 ngày nổ lực công phu, cuối cùng Ngài
đã hoàn thành sự nghiệp vĩ đại: trở thành Bậc Vô thượng
Chánh Ðẳng Chánh giác, Ðấng ban vui của toàn thể chúng sanh,
Bậc Thầy cao cả của Trời và Người!
Nhân
cách tuyệt vời của Ðức Phật còn biểu hiện ở tính khiêm
cung, một đức tính rất đáng quý và rất hiếm gặp nơi
những vị đứng đầu thiên hạ. Dù được tôn xưng bằng
nhiều danh hiệu cao quý, dù được các bậc vua chúa cung kính
cúng dường, Ngài vẫn giữ nếp sống giản dị của Sa Môn.
Bàng bạc trong kinh điển là lời Ðức Phật nhiều lần nhắc
nhở, Ngài không phải là một Ðấng quyền năng ban phước
giáng hoạ, mà chỉ là một Người dẫn đường. Những ai
đi theo con đường Ngài chỉ dẫn đều có thể giác ngộ giải
thoát; nhưng đi hay không, đi nhanh hay chậm là công việc của
riêng mỗi người. Với lời dạy nầy, Ðức Phật đã trả
lại cho con người quyền làm chủ đích thực – làm chủ
cả vận mệnh, tương lai và sự sanh tử của chính mình.
Chúng
ta đang sống trong thời kỳ khoa học công nghệ đang phát triển
vượt bâïc, nhưng đời sống tâm linh lại có chiều hướng
đi xuống. Con người phần đông thiên về tiện nghi vật chất,
chỉ nghĩ đến quyền lợi bản thân và lợi ích cục bộ
mà quên sự cần thiết của đạo đức. Từ đó đưa đến
hận thù, chiến tranh, đau khổ; và hạnh phúc như là một
thứ xa xỉ phẩm, một cái bóng phù du không bao giờ với tới.
Sự hiện diện của Ðức Phật, của Tăng đoàn, sự truyền
bá chánh pháp của Ngài đã trở nên cần thiết và sự quan
yếu đối với sự bình an của toàn nhân loại. Bởi vì, Ngài
chỉ dạy rõ ràng cho chúng ta về đạo tình đạo nghĩa, về
những hiểu biết đúng đắn đối với các pháp thế gian
và xuất thế, về phương pháp tìm hạnh phúc đích thực cho
mình và cho mọi người. Hình ảnh Ngài và các Thánh đệ tử
đầu trần chân đất, ôm bình bát đi khất thực một cách
thong dong tự tại, là một hình ảnh thật đẹp đẽ của
một hạnh phúc Vô ngã-vị tha. Tình cảm thì không ai không
có, nhưng cần được tịnh hoá và hướng về tha nhân mới
là tình cảm chân chính; còn tình cảm vị kỷ, yêu thương
người vì mình chỉ là sự ràng buộc chiếm hữu của phàm
phu.
Mặt
khác, lòng từ bi cần được soi sáng bằng trí tuệ. Người
quá nhiều tình cảm bi luỵ rất dễ bị khuynh đảo trước
những cám dỗ của tiền trần, dễ bị lung lay trước những
gian nan trở ngại. Có trí tuệ, lòng từ bi sẽ được hướng
dẫn một cách chuẩn xác, các công việc ngoài đời cũng như
trong đạo sẽ chu toàn. Hơn nữa, nhờ biết suy xét cân nhắc,
con người càng thêm ý chí nghị lực vượt qua mọi hoàn cảnh
khó khăn, dù gặp nhiều thất bại cũng không nản lòng. Muốn
thành công trong công danh sự nghiệp, người đời phải trải
qua bao nhiêu năm học hành khổ luyện, bao nhiêu cay đắng của
thất bại, thậm chí bao nhiêu lần bị nhục nhã rẻ khinh?
Sự nghiệp thế gian còn như thế, huống gì là sự nghiệp
xuất thế gian là thành Phật tác Tổ, càng đòi hỏi đại
hùng lực, đại ý chí mới mong bơi ngược dòng nước, phục
hồi chức năng ban sơ là nhận ra Phật tâm sẵn đủ của
chính mình.
Sơ
Tổ Trúc Lâm Ðại Ðầu Ðà, trong bài phú Cư Trần Lạc Ðạo
đã viết:
Bụt
ở trong nhà, chẳng phải tìm xa
Nhân
khuấy bản nên ta tìm Bụt
Ðến
cốc hay chỉn Bụt là ta.
Vì
quên gốc (khuấy bản) nên chúng ta mãi lăng xăng tìm Phật
nơi rừng núi xa xôi, không ngờ Phật ở ngay trong ta- ấy là
tánh giác thanh tịnh hằng hữu mà chúng sanh nào cũng có. Mỗi
chúng sanh như một đợt sóng trên biển cả, sinh ra là sóng
nổi, mất đi là sóng chìm. Sóng có sinh diệt chìm nổi, còn
bản chất nước chưa bao giờ sinh diệt; thân chúng sanh chết
đi sinh kia, lẩn quẩn trong sáu đường ba cõi , còn
tánh giác hay Phật tâm không hình tướng, như hư không bàng
bạc khắp chốn thì có bao giờ vắng mặt? Ðức Phật Thích
Ca lịch sử có 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp là Ðức Phật
hình tướng, có sinh có tử; còn Ðức Phật Pháp thân không
đi không đến, chưa hề sinh ra và chưa hề nhập diệt. Người
giác ngộ là người nhận ra và sống được với Ðức Phật
Pháp thân ấy của chính mình; trong khi phàm phu chúng ta lại
nhận lầm thân sinh diệt là mình, mà quên Ðức Phật Pháp
thân sẵn có, từ đó cứ mãi chịu nỗi khổ luân hồi. Chúng
ta không biết rằng tâm suy nghĩ tưởng tượng chỉ là hư
dối không phải mình; còn lúc bặt hết vọng tưởng điên
đảo, ta vẫn rõ ràng thường biết- cái Biết ấy mới là
chân thật. Ðây cũng là ý nghĩa diệu mầu của sự đản
sinh: Khi tâm an định mà hằng tỉnh hằng giác là Phật ra
đời, khi vọng tưởng lăng xăng che mờ tánh giác là Phật
nhập diệt.
Ðức
Phật xuất hiện nơi đời có ảnh hưởng lớn lao và tốt
đẹp đối với vận mệnh nhân loại. Nhất là trong thời
đại nhiều biến động tinh thần và những đe doạ thường
trực giữa người với người, giữa người với thiên nhiên
và môi trường sinh thái, thông điệp về lòng từ bi của
Ðức Phật là một phương thuốc điều trị tâm bệnh không
thể thiếu. Khi nào con người còn đau khổ, đạo Phật còn
giữ vai trò phụng sự, vì giáo lý nhà Phật giúp con người
ý thức rõ hơn bản chất của sự khổ, thúc giục con người
tiến tu thoát khổ. Ðức Phật lịch sử đã trở về quá
khứ, nhưng trí tuệ và lòng từ bi của Ngài vẫn còn mãi
là tấm gương sáng tuyệt vời cho chúng ta noi theo.
32
TƯỚNG TỐT CỦA BẬC ÐẠI NHÂN
Sau
khi Thái tử Tất-Ðạt-Ða đản sinh, vua cha Tịnh-Phạn triệu
tập các vị tinh thông tướng số đến tiên đoán vận mệnh
cho Thái tử. Các vị xem tướng xong, đồng tâu lên rằng:
“Thái tử có đủ 32 tướng tốt của một Bậc Ðại nhân,
thật hiếm có trên đời. Ðây là những dấu hiệu báo trước
Ngài sẽ là Bậc vĩ nhân đệ nhất trong thiên hạ. Nếu Ngài
làm vua, sẽ là vị Chuyển luân Thánh vương; nếu xuất gia
tu hành, Ngài sẽ là Bậc Ðại Giác Ngộ”.
Trong
mùa an cư cuối cùng, Ðức Phật báo trước sẽ lên cung trời
Ðao-Lợi thuyết pháp cho chư Thiên và Thánh mẫu Ma-Gia. Vua
xứ Kosala là Pasennadi, do lòng kính ngưỡng Ðức Phật, xin
phép được họa chân dung Ngài trước khi Ngài tạm rời nhân
gian. Ðược Ðức Phật chấp thuận, nhà vua thỉnh Ngài thọ
trai tại hoàng cung; ở đây có 12 vị họa sư nổi tiếng cùng
tề tựu để quan sát và vẽ lại chân dung Ðức Phật. Tuy
nhiên, sau đó tất cả các họa sư đều quỳ xuống xin nhà
vua tha tội, vì “Hình tướng Ðức Thế Tôn đẹp lạ lùng,
chúng thần sửng sờ chỉ ngắm nhìn suốt buổi mà không vẽ
được nét nào cả”. Ðức Phật nghe nói thương tình, cho
in bóng mình lên nền nhà để các họa sư đồ họa lại.
Ðây là bức vẽ chân dung đầu tiên của Ðức Phật.
Về
sau, nhà vua lại truyền lệnh cho các thợ điêu khắc tài giỏi
trong nước tạc tượng Ðức Phật theo mẫu vẽ ấy. Nhưng
không người thợ nào dám nhận nhiệm vụ, vì “Sắc tướng
Ðức Thế Tôn vạn lần cao quý, siêu tuyệt trần gian; nếu
không chuyển tải được những đức tướng ấy trên tượng
thì e đắc tội với Ngài”. Có một vị Thiên nhân chuyên
về kiến trúc tên Tỳ-Thủ Yết-Ma hóa thân làm thợ mộc,
yết kiến nhà vua xin nhận việc. Chỉ sau một ngày, vị Trời
ấy đã tạc xong pho tượng Ðức Phật bằng gỗ trầm hương,
cao 7 thước mộc, mặt và tay chân đều màu vàng tía. Nhà
vua vừa trông thấy bức tượng, phát sinh đức tin thanh tịnh,
chứng Nhu thuận nhẫn, bao nhiêu nghiệp chướng phiền não
đều được tiêu trừ (kinh Ðại thừa công đức tạc tượng
Phật - Ðại chính Tân tu Ðại tạng kinh).
Các
tài liệu Phật học mô tả 32 tướng tốt của Ðức Phật
có đôi chỗ khác nhau, nhưng tựu trung có thể kể ra như sau:
1-
Ðỉnh đầu có nhục kế.
2-
Tóc màu xanh đậm, xoăn thành Vòng theo chiều bên phải.
3-
Trán rộng và bằng phẳng.
4-
Khoảng giữa hai chân mày có một sợi lông trắng mịn.
5-
Mắt xanh biếc, mi dài như mi ngưu vương.
6-
Có đủ 40 răng.
7-
Răng nhỏ và đều khít.
8-
Răng trơn láng, trắng trong như ngọc.
9-
Chân răng rất sâu, không khuyết hở.
10-
Lưỡi rộng và dài, có thể chạm đến chân tóc trên trán.
11-
Nước trong cổ họng có vị ngọt thơm.
12-
Quai hàm như hàm sư tử
13-
Giọng nói trong ấm và vang xa như tiếng Phạm vương.
14-
Thân hình thon cao.
15-
Da mịn màng, màu như vàng ròng, bụi không thể bám vào.
16-
Lông trên mình màu xanh và mềm mại, đều xoay tròn theo chiều
bên phải.
17-
Mỗi lỗ chân lông chỉ có một sợi lông mọc.
18-
Bảy chỗ bằng phẳng và đều đặn.
19-
Nửa thân trên như thân sư tử.
20-
Không có khuyết lõm giữa hai vai.
21-
Hai tay buông thỏng dài đến đầu gối.
22-
Ðầu cánh tay trắng tròn.
23-
Ngón tay thon dài.
24-
Tay chân mềm mại.
25-
Lòng bàn chân có đủ 1.000 xoáy trôn ốc.
26-
Kẻ ngón chân có màng da lưới.
27-
Âm tàng như mã vương.
28-
Ðùi như lộc vương.
29-
Gót chân thon, tròn đẹp.
30-
Mắt cá chân tròn, không lộ ra.
31-
Mu bàn chân cao và đều đặn.
32-
Lòng bàn chân bằng phẳng, có hình bánh xe.
Ðiểm
qua 32 tướng tốt để chúng ta có thể nhận diện nhân dáng
toàn mỹ của Ðức Phật. Thật ra, có một vài chi tiết khó
hình dung nơi một con người thời nay, như tướng lưỡi rộng
dài quá mức hay màng da lưới ở kẻ ngón; hoặc một số
tướng tốt chỉ xuất hiện khi Ðức Phật đã trưởng thành
chứ không phải được mô tả lúc Ngài đang ở tuổi sơ sinh,
như tướng răng, giọng nói, thân hình... Tuy nhiên, chúng ta
không nên dùng ý thức phàm tình để xét đoán về một Bậc
Thánh nhân, vì đôi khi những chi tiết mô tả về Ngài có
thể ẩn tàng một ý nghĩa sâu xa nào đó. Ví dụ, tướng
lưỡi rộng dài là kết quả bao nhiêu đời kiếp Ngài không
một lời nói hư dối; khối thịt vun trên đỉnh đầu (nhục
kế) là tướng của một người có trí tuệ tột đỉnh; lông
trắng giữa hai chân mày (bạch hào tướng quang) tượng trưng
cho Trung đạo, lìa sự cố chấp hai bên; lòng bàn chân có
hình bánh xe biểu hiện một sứ mạng cao cả là lưu truyền
chánh pháp... Những tướng tốt hy hữu ấy đã minh chứng
bao nhiêu công đức tích lũy được trong vô lượng kiếp tu
hành của một Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, chỉ còn một đời
ở cõi Ta-bà là thành tựu Phật quả.
Thân
tướng tốt đẹp cũng là sự thị hiện của Ngài, do chìu
theo sự ưa thích cái đẹp của chúng sinh. Khi mới tiếp xúc
lần đầu, chúng ta thường chú ý đến vẻ ngoài của người
đối diện, sau đó mới tìm hiểu về tính tình và đời sống
nội tâm. Ðức Bổn Sư của chúng ta, với 32 tướng tốt và
80 vẻ đẹp thật toàn mỹ và phi phàm, đã khiến cho bất
cứ ai, khi vừa gặp Ngài đều sinh lòng quý kính. Ðây là
điều kiện thuận lợi để tiếp cận với người khác, sau
đó Ngài mới tùy duyên mà giáo hóa. Trong pháp hội của Ðức
Phật, được nhìn dung mạo Ngài, nghe giọng nói Ngài trầm
hùng như tiếng sóng biển, tiếng chim Ca-lăng-tần-già, toàn
thể đại chúng đều sinh lòng kính tín, tâm hoan hỷ thanh
tịnh lạ thường. Nhiều người đắc quả vị Hiền Thánh
chỉ sau một lần được diện kiến Ðức Phật hoặc nghe
Ngài thuyết pháp.
Nhưng
thân tướng đẹp đẽ vô song ấy, có phải không bao giờ
đổi thay hoại diệt? Trong kinh kể lại, một hôm Ðức Phật
ngồi sưởi ấm dưới nắng, Ngài A-Nan đến gần, buồn rầu
thưa rằng “Bạch Ðức Thế Tôn, làn da ánh như vàng ròng
của Người nay còn đâu, chỉ có màu xám xịt nhăn nheo của
tuổi già”. Ðức Phật dạy: “Này A-Nan, đây là sanh thân
của Như-Lai, hữu hình ắt hữu hoại”. Thân xác do tứ đại
hợp thành, đủ duyên thì hiện hữu, hết duyên lại trở
về cát bụi. Vô thường có tha ai bao giờ? Vô thường là
quy luật tất yếu của cuộc sống, nhưng cũng là điều kiện
cần thiết cho sự tiến hóa của vũ trụ vạn loại. Hoa nở
rồi tàn, rụng xuống thành rác, từ rác có cây khác mọc
lên, và hoa lại nở, tạo thành vòng biến chuyển không dừng
trụ. Sanh thân của Ðức Phật, dù đầy đủ 32 tướng tốt
và 80 vẻ đẹp cũng do tứ đại duyên hợp tạm có, tồn tại
trên thế gian trong 80 năm và cũng chịu sự chi phối của luật
vô thường, cũng ở trong vòng biến chuyển của luân hồi
sinh tử. Thế thì, ý nghĩa cao cả của sự tu hành là Giác
Ngộ - Giải Thoát phải được hiểu như thế nào?
Kinh
Phạm Võng Trường Bộ tập I, Ðức Phật dạy rằng: “Này
các Tỳ-kheo, thân của Như-Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến
đưa đến một đời sống khác đã bị chặt đứt. Khi thân
Như-Lai còn tồn tại, thì chư Thiên và loài người có thể
thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thì chư Thiên và
loài người không thể thấy được”. Ðộng lực khiến tái
sanh vào kiếp khác là phiền não tham sân si đã bị chặt đứt
thì dù sanh thân còn tồn tại nhưng đã thoát khỏi vòng kiềm
tỏa của luân hồi. Chư Thiên và loài người chỉ có thể
thấy được sanh thân của Ðức Phật, tức thân có 80 vẻ
đẹp và 32 tướng tốt, thân có sinh ra, có bệnh tật, có
già nua và có hoại diệt. Nhưng khi sanh thân không còn nữa,
thì mắt của Trời người không thể thấy Như-Lai. Bởi vì
Như-Lai chính là Pháp Thân vô tướng, là Thật tướng thường
trụ. Pháp thân vô tướng nên không bao giờ sinh diệt, vì
không có chỗ trụ nên thường hiện hữu khắp cõi Tam thiên,
vắng lặng mà chiếu soi, không thể dùng ý thức suy lường
mà sẵn đủ nơi tất cả chúng sanh. Ðức Bổn Sư đã nhận
ra và hằng sống với tánh giác sẵn đủ ấy nên Ngài là
Phật; còn chúng sanh do quên tánh giác, mãi đuổi theo trần
cảnh, tạo nghiệp, nên vẫn còn lang thang trong sáu nẻo luân
hồi. Chư Phật thị hiện nơi đời cũng chỉ có một mục
đích duy nhất là chỉ cho chúng ta thấy và trực nhận tánh
giác nơi mình, từ đó gột rửa dần tập khí phiền não,
cuối cùng thể nhập Pháp thân. Ðó là ý nghĩa của sự tu
hành, cũng là bản hoài của chư Phật, Chư Bồ tát.
Cuộc
đời của Ðức Bổn Sư, từ lúc còn trên ngôi vị Thái tử
đã không màng đến danh lợi hạnh phúc thế gian, đến khi
thành đạo vẫn vì chúng sanh giáo hóa suốt 45 năm ròng, là
một cuộc đời vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Ngài cũng
là người, nhưng là một người phi thường từ thể chất
đến tinh thần, từ hình tướng đến tâm linh, từ trí tuệ
đến lòng từ bi ban rải bình đẳng đến chúng sanh vạn loại.
Chỉ phác thảo về những đặc điểm bên ngoài của Ðức
Phật, cũng đủ cho chúng ta phát khởi lòng tôn kính đối
với Ngài - Bậc giáo chủ vĩ đại, Bậc Tôn sư của Trời
người, như kinh Nikaya viết: “Một chúng sinh duy nhất, một
con người phi thường xuất hiện trong thế gian này, vì lợi
ích cho số đông, vì hạnh phúc cho số đông, vì lòng bi mẫn,
vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc cho Chư Thiên
và loài người!” Những người con Phật chúng ta, muốn làm
tròn chữ hiếu đối với Ðức Bổn Sư, phải nguyện đời
đời tinh tấn tu hành theo lời Ngài chỉ dạy để cuối cùng,
thành tựu quả vị Phật như Ngài!
Chương hai.
Ý NGHĨA
PHẬT THÀNH ÐẠO
CON
ÐƯỜNG TÌM ÐẠO VÀ CHỨNG ÐẠO CỦA ÐỨC BỔN SƯ
Hàng
năm, đến ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, hàng Phật tử nô
nức đón chào một sự kiện lịch sử: Ðức Phật Thích Ca
thành đạo. Có thể nói, đây là một ngày vô cùng trọng
đại, vô cùng thiêng liêng đối với tất cả những người
con Phật, vì nếu không có ngày này, sẽ không có Phật Thích
Ca; và như thế, cũng không có chánh pháp được lưu truyền
và không có chư Tăng giữ gìn mạng mạch Phật pháp.
Hòa
với niềm vui chung của muôn loài chúng sanh, hôm nay chúng ta
cùng tìm hiểu về ý nghĩa của ngày Phật thành đạo. Ðặc
biệt, chúng ta cần biết rõ chặng đường tu hành và nội
dung tâm chứng Ðức Phật. Ngài đã trải qua những phương
pháp hành trì như thế nào, và cuối cùng thành tựu đạo
quả ra sao. Hiểu rõ con đường Ðức Phật đã đi, chúng ta
sẽ theo lời dạy của Ngài, nỗ lực công phu để có thể
tự mình bơi lội trong mảnh đất tâm của chính mình.
I-
Con đường tìm đạo
1-
Cầu học nơi các vị Ðạo-sư:
Từ
khi còn ở trong cung vua, Thái tử Siddhatta đã được học hỏi
nhiều nhà tư tưởng lớn. Lúc đã vượt thành xuất gia, Thái
tử trải qua biết bao nhiêu gian khổ dầm sương dãi nắng,
vượt núi băng ngàn, hy vọng tìm được Minh sư giúp mình
thoát khỏi luân hồi sinh tử. Thái tử đã theo học với nhiều
bậc ẩn tu, cùng công phu với nhiều nhóm Sa-môn theo những
phương pháp khác nhau. Từ đó, Ngài đã am tường 62 kiến
chấp của ngoại đạo, hiểu rõ tư tưởng của Lục Sư ngoại
đạo và Lục Ðại học phái. Ðáng kể nhất, Ngài đã được
sự chân truyền của Ðạo sư Alara Kalama, người chứng được
địnhVô sở hữu xứ, và Ðạo sư Uddaka Ramaputta, người chứng
Phi tưởng Phi phi tưởng xứ. Chỉ trong một thời gian ngắn,
Ngài đã đạt được, chứng được những gì hai vị Ðạo
sư này đã chứng đạt.
Vô
sở hữu xứ và Phi Phi tưởng xứ là hai tầng cao nhất trong
bốn tầng Trời Vô-sắc-giới. Từ thấp lên cao gồm có:
- Không
vô biên xứ: Hành giả thấy bao nhiêu cảnh giới đều không
thật, toàn bộ thế giới chỉ là hư không, thân mình hòa
tan trong hư không và tâm hoàn toàn lặng lẽ như hư không.
Vị ấy thấy tâm mình đồng nhất với không gian vô biên,
và hư không trở thành bản chất của toàn thể vũ trụ. Ðây
là tầng thiền định thứ nhất.
- Thức
vô biên xứ: Hành giả thấy hư không là cảnh giới bị biết
và tâm thức là cái hay biết. Vị âý đồng hóa đối tượng
nhận thức là hư không với chủ thể nhận thức là tâm thức
của mình. Tất cả đều do tâm thức biến ra. Vị ấy thấy
tâm thức của mình là vô biên. Ðây là tầng thiền định
thứ hai.
- Vô
sở hữu xứ: Tầng thứ ba, hành giả quán chiếu hư không
là cảnh giới bên ngoài, tâm thức là cảnh giới bên trong;
cả hai đều không thật có. Như vậy, không có một pháp nào
thật sự hiện hữu, vì tâm ta như một đại họa sư, vẽ
ra tất cả mọi cảnh giới. Vị ấy thấu triệt tính cách
hư giả của vạn pháp nên buông bỏ cả đối tượng lẫn
chủ thể nhận thức. Tuy nhiên, vị ấy vẫn còn cái cảm
giác biết được mình đang buông bỏ; mà còn tri giác tức
vẫn còn đối tượng của tri giác.
- Phi
tưởng Phi phi tưởng xứ: Ðây là tầng thiền định cao nhất
của các Ðạo sư thời bấy giờ. Hành giả biết rõ, tri giác,
tức là tưởng, nếu không vượt thoát được thì không đạt
đến chân lý. Do vậy, vị ấy xả trừ tất cả tưởng và
nghĩ mình đã hoàn toàn giải thoát, chứng nhập Niết- bàn.
Ðây là một điều lầm lẫn lớn, vì hành giả mới loại
trừ hết các tưởng thô mà vẫn còn những tưởng vi tế.
Vị ấy vẫn còn thấy mình có chứng có đắc nên ngã tướng
chưa đoạn tận, vì thế không thể nào thoát khỏi vòng sinh
tử.
Chỉ
có Sa môn Siddhatta Gotama mới có đủ trí tuệ để nhận ra
rằng, nhận thức phi thường của vị Ðạo sư bậc nhất
là Uddaka Ramaputta vẫn chưa phải là cảnh giới cứu cánh,
chưa đáp ứng được mục đích tu hành của Ngài là xa lìa
khổ đau và thóat khỏi luân hồi. Vì thế, Ngài lại từ giã
vị Thầy ấy cũng như đã giã từ những người Thầy trước,
dù vị Ðạo sư già đôi phen khẩn khoản mời Ngài ở lại
để cùng dẫn dắt đồ chúng.
Ở
đây chúng ta thấy rõ, trước khi xuất gia Thái tử Siddhatta
đã định cho mình một mục đích tối thượng: tìm bằng
được một phương cách giải quyết vấn đề sinh tử. Với
lý tưởng ấy, Ngài từ bỏ mọi thú vui trần thế và cả
những danh lợi cùng niềm an lạc xuất thế, vì những điều
vui ấy chỉ là tạm bợ, chưa phải là rốt ráo giải thoát.
Chỉ những người có lập trường kiên định, có ý chí xung
thiên và lòng từ bi vô hạn với muôn loài chúng sanh, mới
có thể quên mình, một lòng cầu đạo như thế.
2-
Sáu năm khổ hạnh:
Vì
biết rằng không thể tìm cầu đạo vô thượng từ bên ngoài,
Sa môn Gotama quyết định không đi tham vấn với vị Thầy
nào nữa. Ngài tìm một nơi hoang vắng trong rừng sâu, thực
hành công phu khổ hạnh.
Trước
đây, Ngài đã đôi lần gặp những người tu theo phương pháp
này. Các vị chủ trương, muốn tâm được an lạc thanh tịnh
thì phải chếâ ngự thân thể không để cho ngũ dục lôi
cuốn. Bởi vì, khổ đau phát sinh từ chấp ngã; nếu thân
xác vượt thoát được mọi cám dỗ trần tục thì ý thức
chấâp ngã không còn, đau khổ sẽ không có cơ hội hoành
hành, con người sẽ giải thoát khỏi phiền não. Do vậy, các
vị tìm đủ cách để hành hạ thân xác mình; hoặc mỗi ngày
chỉ ăn vài hột mè, vài hột cơm hay ăn phân trâu bò; hoặc
đứng một chân giữa trời nắng; hoặc quất roi vào thân
cho chảy máu hay nằm lăn lộn trên gai; hoặc tọa thiền và
cố gắng nín thở hay đè nén vọng niệm ...
Thời
gian công phu khổ hạnh này, Sa-môn Gotama có bạn đồng tu là
năm anh em Sa-môn Kondanna (Kiều Trần Như), lúc trước cùng
học với Ngài tại đạo tràng của Ðạo sư Ramaputta. Với
tài năng xuất cách và nghị lực phi thường, Ngài luôn vượt
qua các bạn đồng tu. Bây giờ cũng vậy, sự thực hành khổ
hạnh ép xác và sức chịu đựng ghê gớm của Ngài làm năm
anh em Kondanna khiếp đảm và kính phục vô cùng. Thân hình
của Ngài giờ chỉ còn da bọc xương; nếu ấn vào bụng,
có thể sờ được xương sống sau lưng; da không còn màu vàng
sáng của vẻ đẹp ngày nào mà chuyển sang khô xỉn do thiếu
chất dinh dưỡng và lâu ngày không tắm gội. Nhìn Ngài, không
ai có thể tưởng tượng cái thây ma biết cử động kia là
một Thái tử với 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Chỉ còn
sót lại đôi mắt sáng như sao, giờ như hai viên ngọc long
lanh dưới đáy giếng sâu thẳm.
Sáu
năm ròng rã trôi qua, Sa-môn Gotama vẫn không tìm được đạo
lý dù thân thể đã kiệt quệ. Ngài thấy rõ rằng, sự thụ
hưởng ngũ dục làm suy giảm giá trị tâm linh, khiến con người
mãi chịu trầm luân; ngược lại, sự hành hạ xác thân cũng
làm tâm trí ngu muội, vì thân và tâm là hai mặt của một
thực thể. Sống buông thả theo bản năng là một cực đoan,
chế ngự bạc đãi thân xác là một cực đoan thứ hai. Cả
hai cực đoan đều không phải là phương hướng đúng đắn
để giải quyết vấn đề sinh tử. Ngài quyết định đi vào
Trung đạo: Bồi dưỡng lại sức khỏe, dùng niềm an lạc
do thiền định đưa đến làm thức ăn cho thân tâm; và Ngài
thực hành con đường nội nhiếâp, tự mình làm thầy cho
chính mình.
Khi
uống bát sữa đầu tiên của mục nữ Sujata, Ngài bắt đầu
đoạn tuyệt với phương pháp khổ hạnh, đồng thời lại
phải chia tay với nhóm Sa-môn Kondanna. Năm anh em cho rằng Ngài
đã thối chí, không còn là người để họ trông cậy tin
tưởng, nên bỏ Ngài ra đi. Ngài buồn vì sự hiểu lầm này
nhưng không giận trách họ, dốc lòng hạ thủ công phu, mong
có một ngày thành tựu đạo quả sẽ tìm gặp và giúp họ
tu hành.
II-
Thành tựu đạo bồ đề.
Sức
khỏe được phục hồi, trí óc trở lại minh mẫn, Sa-môn
Gotama đến một gốc cây Pippala bên dòng sông Neranjara (Ni-liên-thuyền),
trải cỏ làm tọa cụ. Ngồi vững chãi trong tư thế hoa sen,
Ngài tuyên thệ một lời sắt đá: "Ta ngồi nơi đây gia tâm
thiền định, dù thịt nát xương tan, nếu chưa chứng được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ta quyết không rời khỏi
chỗ này!". Một lần nữa, Ngài vận dụng ý chí và nghị
lực siêu phàm của mình để độc lập tấn công vào những
cõi miền hoang sơ trong tâm thức.
Các
kinh Ðại thừa diễn tả: Khi sao Mai vừa mọc, Ngài hoát nhiên
đại ngộ, và thốt lên rằng: "Lạ thay! Tất cả chúng sanh
đều có bản tâm thanh tịnh thường nhiên, cớ sao cứ mãi
đắm chìm trong luân hồi sinh tử?”. Do thấy chúng sanh đều
có Phật tánh bình đẳng cùng mười phương chư Phật, nên
sau khi thành Ðạo, Ngài đi khắp nơi giáo hóa suốt bốn mươi
chín năm ròng, không hề mệt mỏi. Sau này, Thiền tông chủ
trương "chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật" mà
không qua thứ lớp tu tập, có phải trung thành với kết quả
chứng ngộ của Ðức Bổn Sư không?
Riêng
kinh A-Hàm mô tả rất chi tiết quá trình chứng ngộ của Sa-môn
Gotama. Trải qua 49 ngày đêm thiền định, Ngài lần lượt
chứng được từ Sơ thiền đến Tứ thiềân. Ðây là cảnh
giới thuộc cõi Trời Sắc giới, dành cho những người thoát
ly ngũ dục và chuyên tu Thiền định. Khác với cõi Dục giới
chỉ có Thức mà không có Ðịnh, và cõi Vô Sắc giới có
Ðịnh mà không Huệ; cõi Sắc giới bao gồm cả Ðịnh và
Huệ, nên còn gọi là Cõi trời thiền. Cõi này vẫn còn nằm
trong tam giới nên chưa thoát khỏi luân hồi, gồm 4 tầng thiền
định từ thấp lên cao.
- Sơ
Thiền (ly sanh hỷ lạc): Do xa lìa ngũ dục nên đạt được
trạng thái khinh an. Hành giả vẫn còn ham muốn nhưng chỉ
mong muốn những điều thanh cao, cho nên còn gọi là Sơ thiền
là Dục Thanh.
- Nhị
Thiền ( Ðịnh sanh hỷ lạc): Do tâm thanh tịnh, thường ở
trong định nên phát khởi niềm vui.
- Tam
Thiền (Ly hỷ diệu lạc): Hành giả lìa bỏ cái vui thô (hỷ)
để đi sâu vào cảnh giới thanh tịnh, phát sinh cảm giác
diệu lạc.
- Tứ
Thiền (Xả niệm thanh tịnh): Do buông xả hoàn toàn nên được
nhất tâm thanh tịnh. Nếu có duyên với Ðại thừa, vị ấy
ngộ được Chân tâm, lần lượt tu tập theo các đạo quả
Bồ-đề. Nếu không gặp Thiện tri thức, vị âý lạc vào
Tứ Thiền Không, an trú vào cảnh thanh tịnh ấy mà quên mất
Bổn tâm, diệt chủng Bồ-đề.
Trở
lại con đường của Sa-môn Gotama, vào đêm thứ 49 của giai
đoạn thiền quán dưới cội cây Pippala với lời tuyên bố
sấm sét, và là đêm cuối cùng của chặng đường ruổi rong
tìm đạo.
An
trú tâm vào giờ phút hiện tại, Ngài bắt đầu phóng ánh
sáng trí tuệ soi thấu vào tận cùng ngõ ngách của tâm thức.
Vào cuối canh ba, Ngài thấy rõ những kiếp sống của chính
mình đã trải qua từ vô thủy; trí huệ này gọi là Túc mạng
minh. Cuối canh tư, Ngài thấy tất cả chúng sanh cùng khắp
pháp giới, sau khi chếât lại theo nghiệp thọ sanh nơi khác;
thấy rõ ràng như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã
tư đường. Cái thấy này gọi là Thiên nhãn minh hay Sanh tử
trí; do Ngài đã sống được với bản tâm thanh tịnh thường
nhiên, vốn trùm khắp vũ trụ vạn hữu, không có gì ra ngoài
bản tâm.
Tiếp
tục việc khám phá mọi bí mật của thân tâm và vạn pháp,
đến canh năm Ngài thoát khỏi Dục lậu, Hữu lậu vàVô minh
lậu. Không còn Dục lậu, tâm Ngài không tham đắm bất cứ
dục lạc nào của trần thế. Không còn Hữu lậu, Ngài không
ưa thích bất cứ cảnh giới nào, dù là cõi Trời cao nhất
trong Tam giới. Không còn Vô minh lậu, Ngài phá tung được
ngục tù tối tăm ngàn đời, giam hãm chúng sanh trong si mê,
phiền não, từ đó mãi mãi tạo nghiệp và mãi mãi lăn lộn
trong ba cõi sáu đường. Chứng được Lậu tận minh, thành
tựu Viên mãn giác, hoàn toàn đẩy lùi tất cả lậu hoặc
vô minh, Sa-môn Gotama trở thành Ðức Phật Thích-Ca Mâu Ni,
là bậc Thầy của muôn loài chúng sinh trong tam giới. Bấy
giờ là cuối canh năm của một ngày mùng 8 tháng chạp, năm
Ngài được 35 tuổi.
Và
đây là khúc ca khải hoàn của một người vừa đạt được
chiến công oanh liệt nhấât -