Lời
Tựa
Chúng
ta đang sống trong môi trường ngày càng quen với sự chết
chóc thương tật của đồng loại, càng hối hả trong hưởng
thụ vật chất, càng bị lôi dẫn bởi những đòi hỏi bản
năng. Mỗi người tự tạo cho mình một ốc đảo, tự trang
bị những phương tiện bảo vệ, và vô tình hay cố ý làm
hại những sinh linh ở ngoài chốn nương thân ấy vì lợi
ích của riêng mình. Và từng ngày trôi qua, trái đất nóng
dần lên vì khí thải độc hại, vì hiệu ứng nhà kính và
vì hận thù tàn bạo lòng người. Con người cứ thế từng
bước tiến dần đến chỗ tự hũy diệt mà không hề hay
biết.
Tuy
nhiên, ở một khoảng trời xanh đâu đó, vẫn còn một dòng
suối mát, một vòng tay êm, một lời ru dịu ngọt: đó là
thông điệp về tình thương, vang lên từ hơn 2.500 năm trước,
do một chiến sĩ dũng cảm đã chiến thắng trong cuộc trường
chinh chống lại kẻ thù phiền não ngay trong bản thân mình.
Nhận được tín hiệu tình thương ấy, chúng ta giật mình
nhìn lại chính ta, nhìn lại người thân, nhìn ra chung quanh...
ta chợt hiểu ra rằng, từ lâu nay ta đã là kẻ vô ơn bội
bạc. Bởi vì, chỉ biết hưởng thụ những tiện nghi vật
chất, những thú vui tạm bợ, ta đã quên đàng sau những thành
quả ấy là sức lao động của biết bao người. Ta cũng chợt
hiểu rằng, mỗi người đều có liên hệ chặt chẽ với
cộng đồng nhân loại, nên khi ta làm tổn hại người vật
chung quanh ta, làm ô nhiễm môi trường sống, tức là ta đã
tự hại chính bản thân mình!
Những
bài viết trong tập sách này, xin được xem là những lời
ca xưng tán ý nghĩa cao cả của ngày Vu Lan, ngày hội lớn
của Phật giáo và của tất cả những ai muốn có một hạnh
phúc đích thực ngay trong cuộc sống hiện tại. Nhiều nốt
nhạc trong các câu ca ấy có sự trùng lập vì cùng mang một
chủ đề; nhưng theo thiển ý, dù lặp lại trăm vạn lần
cũng chưa đủ để tôn vinh những nét đẹp của ngày Lễ
hội truyền thống này. Và bổn phận của người con Phật
chúng ta là cố gắng phát đi những tín hiệu tình thương
đến khắp nơi khắp chốn, góp công sức nhỏ nhoi của mình
vào việc làm thanh sạch môi sinh và tạo dựng một không gian
yêu thương hòa ái.
Tất
cả chúng ta hãy nắm tay nhau xin sống trọn nghĩa NGƯỜI!
Thiền
Thất Viên Giác
Mùa
Vu Lan Báo Hiếu - PL. 2548
THÍCH
THÔNG HUỆ
1- NGÀY LỄ
HỘI TRUYỀN THỐNG
Hàng
năm, vào ngày rằm tháng bảy, các Phật tử đến chùa tụng
nghi lễ Vu Lan, nghe quý thầy giảng về đạo Hiếu; đây là
một điều rất đáng tán dương. Có thể nói, ngày Vu Lan đã
trở thành một lễ hội truyền thống, là ngày đền ơn đáp
nghĩa, không chỉ riêng cho những người con Phật, mà chung
cho cả dân tộc Việt Nam. Vì vậy, nhân mùa Vu Lan năm nay,
chúng ta cũng cần nhắc lại những ý nghĩa sâu xa của lễ
hội này, để hiểu rõ do đâu mà ngày rằm tháng bảy được
gọi là ngày Vu Lan báo hiếu, ngày xá tội vong nhân, ngày Tự
tứ và là ngày Phật hoan hỷ.
- VU
LAN VÀ ÐỀN ƠN ÐÁP NGHĨA .
Ðức
Khổng Tử đã nói: “Nhơn vi vạn vật tối linh” (Con người
là tối linh trong muôn vật). Loài vật chỉ có thiên tính nuôi
con, không có ý thức phải sống như thế nào cho phù hợp
với đạo đức; còn con người có khối óc, có lý trí, nên
ngoài bản năng, con người còn biết nhớ ơn và đền ơn.
Chúng ta sinh ra và lớn lên, không ai có thể độc lập tồn
tại được, mà phải nhờ cha mẹ và các ân tình khác trong
cuộc sống. Ðức Phật dạy, có bốn ơn lớn mà con người
cần phải biết để báo đền: Ơn cha mẹ, ơn sư trưởng,
ơn chúng sanh và ơn tổ quốc, gọi là Tứ trọng ân.
Trong
các hình thức văn hóa, chúng ta thường thấy ca ngợi tình
mẹ hơn là tình cha. Không phải vì cha không thương con bằng
mẹ, công lao nuôi dạy con không bằng mẹ, mà bởi vì tình
cảm của người cha thường ít biểu lộ ra ngoài, nên con
cảm thấy gần gũi mẹ hơn cha. Thật ra, đức nghiêm của
cha và đức từ của mẹ kết hợp nhau, dung hòa lẫn nhau mới
tạo nên sinh khí và sự bình ổn trong gia đình, mới là điều
kiện cần và đủ cho sự giáo dục con cái.
“Công
cha như núi Thái sơn,
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra”.
Công
của cha cao vời vợi như ngọn núi lớn, nghĩa của mẹ rạt
rào bất tận như suối nguồn. Công và Nghĩa là hai phạm trù
có thể diễn đạt được ý nghĩa của tình cha mẹ đối
với con. Hiểu được điều này, chúng ta thấy cha và mẹ
đều có địa vị cao cả ngang nhau trong lòng con cái. Vì vậy,
mỗi người chúng ta đều phải tìm mọi cách báo đáp trọng
ân này. Nhưng làm cách nào để báo đáp cho tròn chữ hiếu
?
Kinh
Tăng Chi Bộ tập I, Phật dạy rằng: “Những ai đền ơn bằng
cách nuôi dưỡng cung phụng cha mẹ bằng của cải vật chất,
thì không bao giờ đủ để trả ơn cha mẹ. Nhưng này các
Tỳ kheo ! Ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích
hướng dẫn an trú vào thiện giới; đối với cha mẹ san tham,
khuyến khích hướng dẫn an trú vào bố thí; đối với cha
mẹ theo ác-trí-huệ, khuyến khích hướng dẫn an trú vào trí
huệ. Cho đến như vậy, này các Tỳ kheo! là làm đủ và trả
đủ ơn cha và mẹ”. Dựa vào lời Phật dạy, chúng ta đã
biết báo hiếu đúng nghĩa phải như thế nào. Trước tiên,
chúng ta phải lo cho cha mẹ đầy đủ về vật chất, tùy khả
năng của mỗi người. Kế đến, chúng ta phải nghĩ đến
đời sống tinh thần và đạo đức cho cha mẹ. Nếu Người
có tà kiến, phải giúp đỡ Người có được chánh kiến;
nếu Người theo tà giới, phải khuyên Người theo chánh giới;
nếu Người làm điều ác, phải khuyên Người làm những hạnh
lành; nếu Người chưa có chánh tín, phải khuyến khích Người
trở về nương tựa nơi Tam-bảo, sống một cuộc đời hiền
thiện.
Chúng
ta đọc câu chuyện Ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất
là hai vị đệ tử lớn của Phật, thấy hai Ngài đều có
mẹ vì tạo tội nên bị đọa vào khổ xứ. Sau khi được
Phật chỉ dạy, các Ngài khẩn thiết xin với chư Tăng tu hành
thanh tịnh, vào ngày rằm tháng bảy thành tâm chú nguyện cho
mẹ mình. Tâm thành của chư vị Thánh Tăng chuyển được
tâm ác của hai bà mẹ nên hai bà thoát kiếp đọa đày. Chuyện
này cho thấy, hai vị tôn giả dù xuất gia tu hành đã được
giải thóat, vẫn nhớ đến công ơn sanh thành dưỡng dục
của cha mẹ. Không phải chỉ nhớ đến cha mẹ đời này,
mà còn nghĩ tưởng đến cha mẹ và bà con quyến thuộc ở
vô số kiếp về trước. Ðức Phật đã từng lạy đống
xương khô, nhân đó thuyết bài Kinh Báo Hiếu Phụ Mẫu, một
áng văn tuyệt tác, làm rơi lệ biết bao nhiêu người từ
thời ấy cho mãi đến ngàn sau. Cho nên, với tầm nhìn của
người bình thường, những người xuất gia dường như là
bất hiếu. Nhưng thật sự, cung phụng cha mẹ bằng món ngon
vật lạ chỉ có giá trị giới hạn, vì thuộc về vật chất
hữu hình hữu loại. Còn người xuất gia tu hành đạt đạo,
khuyến khích cha mẹ cùng tu hành để thoát khổ sinh tử luân
hồi, đó mới là đại hiếu vì có giá trị vĩnh hằng, đó
mới thực sự xứng đáng đền ơn cha mẹ.
Kinh
Tương Ưng tập I có nói:
“Người
nào theo thường pháp,
Nuôi
dưỡng mẹ và cha,
Chính
do công hạnh này,
Ðối
với cha với mẹ,
Nhờ
vậy bậc Hiền Thánh,
Trong
đời này tán thán,
Sau
khi chết được sanh,
Hưởng
an lạc chư Thiên”.
Thường
pháp là pháp không biến đổi theo thời gian và không gian,
là chân lý muôn đời. Do lòng hiếu thảo phụng dưỡng cha
mẹ, những người con ấy được các bậc Hiền Thánh tán
thán; và sau khi chết được sanh về cõi trời, hưởng nhiều
sự an lạc. Thật ra, một người con hiếu thảo sẽ tự cảm
nhận trong thân tâm mình có sự tươi mát bình an. Ðó là cảm
thọ của chư Thiên ngay trong hiện kiếp. Ngược lại, những
người bất hiếu với cha mẹ thì không xứng đáng với danh
nghĩa là người. Ðây là điều kiện để những tội ác khác
phát sinh, vì đạo hiếu là căn bản của đạo đức con người.
Nếu chúng ta không thương cha mẹ, thì chắc chắn không thể
nào chúng ta có tình thương thật sự đối với ai. Cho nên,
điểm đầu tiên của lòng từ bi phải là lòng hiếu thảo.
Phật đã dạy, phụng thờ trời đất quỷ thần không bằng
hiếu kính với cha mẹ, vì cha mẹ là thần linh bậc nhất,
chính là Phật tại thế. Ðiều này cho thấy, địa vị của
cha mẹ đối với con cái rất quan trọng. Nhất là trong xã
hội hiện tại, đôi nơi đã đánh mất nền tảng đạo đức,
chạy theo xa hoa phù phiếm, thì trong gia đình và học đường,
mỗi đứa trẻ đều phải được dạy bảo để thấm nhuần
về đạo hiếu.
* Ơn
lớn thứ hai cần phải báo đáp là ơn đối với sư trưởng.
Ðó là các thầy cô dạy chúng ta những kiến thức thế gian,
từ lúc còn thơ chưa biết chữ đến khi thành người hữu
dụng. Người tu còn có một ân nghĩa xuất thế, đó là Chư
Phật, Bồ tát và Thầy Tổ. Chính các Ngài có đầy đủ năng
lực trí huệ, giúp chúng ta có một cái nhìn siêu việt về
cuộc sống, giúp chúng ta đẩy lui vô minh, tẩy trừ tập khí
phiền não, để trở thành một người tự tại an lạc trong
dòng đời. Cho nên, tinh thần tôn sư trọng đạo, từ bao giờ
cho đến bây giờ, vẫn cần được nhắc nhở và đề cao.
* Ðối
với ơn chúng sanh, ta cần phải quán chiếu mới thấu triệt.
Thân chúng ta sinh ra và lớn lên là nhờ công ơn của rất
nhiều người, từ người nông phu cho lúa gạo, người thợ
dệt cho vải vóc, người thợ nề xây nhà cho ở... đến bạn
bè, người láng giềng, những kẻ giúp việc... mỗi mỗi đều
giúp đỡ ta trong những công việc hàng ngày. Nhìn rộng hơn,
chúng ta sẽ thấy có một sự liên hệ hỗ tương giữa mình
và vũ trụ vạn hữu, đây là thuyết trùng trùng duyên khởi
Phật đã dạy. Cho nên, không những nhớ ơn chúng sanh hữu
tình, ta còn phải mang nặng công ơn của vạn vật vô tình
nữa. Vào thời đức Phật, một vị Tỳ kheo ngồi nghĩ dưới
gốc cây một lát rồi ra đi, cũng phải nhớ ơn cái cây đã
tỏa bóng mát che nắng cho mình. Nói gì đến không khí chúng
ta thở, nước chúng ta uống, ánh sáng mặt trời ban sức sống
cho muôn loài... Tất cả là ơn chúng sanh mà mỗi người đều
thọ nhận, dù khó thể đáp đền. Vì thế, nếu có dịp cứu
giúp người hoạn nạn, khốn khổ hơn mình, nếu nơi nào bị
thiên tai dịch họa, chúng ta cần đóng góp tài lực, vật
lực, tùy theo khả năng. Ðây là tinh thần lá lành đùm lá
rách, mà cũng là để đền ơn chúng sanh. Trong nhiều kiếp
luân hồi, biết đâu những người bị nạn ấy là thân nhân
quyến thuộc của mình ? Với cái nhìn duyên sinh, phóng tầm
mắt đến đâu ta cũng thấy toàn là bà con thân quyến. Mà
đã là thân nhân với nhau, chẳng lẽ chúng ta nỡ làm hại
người, làm người phiền não, chẳng lẽ không cùng gánh vác
chia xẻ những nỗi đau thương mất mát của người ? Ðây
chính là tiền đề của lòng từ bi, ban vui và cứu khổ.
* Ơn
lớn thứ tư là ơn đối với tổ quốc. Nếu không có sự
bảo hộ của nhà nước, của pháp luật; nếu không có binh
phòng, vệ phòng ngày đêm giữ gìn an ninh trật tự và đề
phòng giặc ngoại xâm, liệu chúng ta có yên ổn sinh sống
và tu hành được không ? Những người Việt sống xa quê,
do hoàn cảnh hay do sinh kế phải bôn ba nơi đất lạ, vẫn
mang trong lòng nỗi nhớ quê hương. Tiếng gọi thiêng liêng
của Tổ quốc luôn luôn vang vọng trong mọi con tim người
dân Việt, vì vậy bao nhiêu giặc ngoại xâm - kể cả những
kẻ thù hùng mạnh và hung hãn nhất, cũng đành chịu thất
bại trước sức quật cường và tinh thần yêu nước của
dân tộc Việt-Nam.
Làm
người là một hạnh phúc vô cùng to lớn, nên chúng ta phải
biết trân quý từng giây phút, để sống thế nào cho có đạo
lý, phù hợp với tình cảm giữa người và người. Việc
báo ân báo hiếu là điều cần thiết phải làm để đem lại
hạnh phúc cho gia đình, tạo nền móng đạo đức căn bản,
tạo sự an bình cho xã hội. Ðây là nghĩa vụ thiêng liêng
của tất cả mọi người, không phải dành riêng cho những
người con Phật. Bởi vì, dù ở địa vị nào, sống trong
quốc độ nào, theo tôn giáo nào, tinh thần đền ơn đáp nghĩa
vẫn có giá trị muôn đời. Vì thế, có thể nhắc lại mà
không sợ lầm, Vu Lan là một ngày lễ hội truyền thống của
dân tộc Việt-Nam.
- VU
LAN VÀ TỰ TỨ
Một
số Phật tử tụng kinh hằng đêm, chắc nhớ hai câu này:
“Thượng
báo tứ trọng ân,
Hạ
tế tam đồ khổ”.
(Trên
đền bốn ơn nặng, dưới cứu khổ tam đồ).
Những
chúng sanh tạo nghiệp nặng nơi thân khẩu ý, lúc chết phải
đọa vào ba đường ác là địa ngục, ngạ quỹ, súc sanh.
Nhà Phật nêu lên hình ảnh của một người bị treo ngược
chân lên trời, đầu chúc xuống đất, để tượng trưng cho
những nỗi khổ cùng cực. Cái khổ cùng cực này không chỉ
người bị đọa tam đồ mới chịu, mà ngay người đang sống,
đôi lúc cũng lâm vào những cảnh quẩn bách khiến thân tâm
có thể cảm nhận rõ điều này.
Tinh
thần từ bi của đạo Phật ban rải khắp muôn loài. Cho nên,
ngày Vu Lan còn có ý nghĩa là ngày xá tội vong nhân. Chúng
ta đừng hiểu lầm Vu Lan Bồn là cái chậu đựng trăm món
ngon, chờ đến ngày rằm tháng bảy đem đến chùa nhờ chư
Tăng cầu nguyện cho thân nhân còn sống hay đã chết. Chữ
Vu Lan Bồn có nghĩa là Giải đảo huyền hoặc Cứu đảo huyền,
tức giải cứu khỏi cái khổ treo ngược.
Trong
vòng luân hồi sanh tử, chúng ta đã bao lần là bà con quyến
thuộc với nhau. Vì vậy, sự liên hệ giữa chúng ta và tất
cả chúng sinh cùng khắp pháp giới là một điều có thể
hiểu được. Từ đó, tình thương của chúng ta sẽ chan hòa
một cách bình đẳng đến muôn loài muôn vật, không hạn
cuộc thời gian và không gian. Và ý nghĩa trọng đại của
lễ Vu Lan chính là lòng biết ơn và đền ơn tất cả chúng
sinh trong ba cõi sáu đường. Tình thương của chúng ta đối
với mọi loài có tính cách xả kỷ, rộng lớn và bình đẳng
chứ không còn là tình cảm luyến ái hệ lụy trong gia đình.
Nếu hiểu được chân nghĩa này, từ trong vô thường huyễn
mộng của cuộc sống, chúng ta sẽ tìm được một hướng
đi và lẽ sống tốt đẹp cho mình và cho mọi người. Chính
ngày Vu Lan giúp chúng ta hướng tâm mình đến chân trời bao
la đó.
Nhưng
làm cách nào để có thể cứu giúp chúng sinh đang bị đọa
đày nơi khổ xứ ?
Ðức
Phật dạy, ngày rằm tháng bảy là ngày Tự tứ. Trong ngày
ấy, chư Phật mười phương đều hoan hỷ, vì thấy chư Tăng
tu hành thanh tịnh, hòa hợp. Nhờ đức hạnh, đạo lực của
chư Tăng mới có thể hướng tâm người quá vãng đến nẻo
thiện, chuyển được nghiệp ác cho họ. Như vậy, gốc của
lễ Vu Lan là ngày Tự tứ.
Từ
thời đức Phật còn tại thế, mỗi năm từ rằm tháng tư
đến rằm tháng bảy, chư Tăng phải thực hiện chế độ
an cư, nghĩa là yên ở nơi một trú xứ thu nhiếp các căn,
nỗ lực tu tập Giới - Ðịnh - Huệ. Nguyên nhân đầu tiên
để Phật đặt ra chế độ này, là vì trong ba tháng hạ,
ở Ấn Ðộ mưa nhiều, nước ngập cả lối đi, sau đó côn
trùng sinh sôi nảy nở, nên trở ngại cho việc đi lại hoằng
pháp và vô tình giẫm chết côn trùng. Sau ba tháng cấm túc,
Phật nhận thấy nhiều vị Tỳ kheo đắc Thánh quả, nhờ
ít bận rộn đi lại, tránh bớt các duyên và quyết liệt
tu hành. Do kết quả đó nên sau này, chế độ an cư trong ba
tháng hạ được duy trì mãi trong Tăng chúng.
An
cư phải đi đôi với kiết giới. Sinh hoạt của chư Tăng
trong thời gian này khác hơn so với ngày thường. Những ngày
bình thường, do duyên sự bề bộn, các vị có thể du phương
làm Phật sự, kỷ luật trong Tăng-đoàn có khi lơi lỏng. Nhưng
trong ba tháng hạ, mọi việc đều thu xếp gọn lại, chư Tăng
chỉ đi lại giới hạn trong khuôn viên của tự viện; chỉ
có những vị có duyên sự đặc biệt, phải xin phóng giới
mới được ra ngoài. Mới nhìn, chư Tăng có vẻ rảnh rỗi,
không bận tâm về sinh kế vì nhờ Phật tử hỗ trợ cúng
dường; nhưng thật ra nội tâm của các vị quả là một trường
chiến đấu ! Một mặt, phải khép mình vào một kỷ luật
hết sức nghiêm khắc; mặt khác, phải chiến đấu không ngơi
nghỉ với bao nhiêu tập khí phiền não. Nhờ vậy, sau thời
gian kiết hạ, nếu vị nào giữ giới tinh nghiêm, nỗ lực
tu học, có sức tỉnh lực thì sẽ có tiến bộ đáng kể.
Nơi nào tổ chức tu hành nghiêm túc sẽ có thể sản sinh những
người xuất cách, còn nếu tổ chức lơi lỏng sẽ khó đào
tạo được Tăng tài.
Cũng
cần nhấn mạnh một điều: Tinh thần an cư là thanh tịnh
và hòa hợp. Ðây cũng là ý nghĩa của chư Tăng và cũng là
sức mạnh của Tăng đoàn. Một nhóm người chung sống hòa
hợp với nhau nhưng tâm không thanh tịnh, sinh hoạt và hành
động không theo chánh pháp thì không phải là người tu chân
chính. Ngược lại, dù sống thanh tịnh, giữ giới đúng mức
nhưng lại bất hòa với nhau, thì sức thanh tịnh cũng vẫn
còn hạn chế, chưa đúng với danh nghĩa người tu.
Trong
nhà Thiền, tinh thần an cư còn có một ý nghĩa về Lý. Dù
ở nơi nào, dù vắng vẻ hay ồn náo, nếu sáu căn tiếp xúc
với sáu trần mà tâm không duyên theo các pháp, đó mới thật
sự là “độc xử nhàn cư”. Như vậy, hàng cư sĩ tại gia,
nếu sắp xếp được công việc, tránh bớt các duyên, hàng
năm có thể tổ chức cho mình một thời gian nhất định nào
đó để tĩnh tu. Do chúng ta căn cơ và trình độï tu hành
còn kém, nên cần có độc cư về sự để trợ duyên cho việc
tu tập.
Cuối
cùng của chế độ an cư, và cũng là cốt tủy của lễ Vu
Lan, là ngày Tự Tứ vào rằm tháng bảy. Tự là chính mình,
Tứ là đưa ra trước mọi người. Nội dung của Tự Tứ là
mỗi người tự trình bày những lỗi lầm mình đã phạm,
không giấu giếm, gọi là phát lồ sám hối; đồng thời kính
thỉnh đại chúng, nếu thấy, nếu nghe, nếu nghi mình có mắc
phải lỗi nào mà chính mình không biết, xin từ bi và hoan
hỷ nêu ra để mình sửa đổi. Ðối với người thế gian,
điều này thật khó thực hiện; nhưng đối với người tu
thì đây là điều cần thiết. Người cử lỗi phải hoan hỷ,
thật tâm muốn huynh đệ của mình tốt đẹp; người được
cử lỗi cũng phải lấy làm sung sướng, vì có đại chúng
chỉ dạy, ban bảo cho mình. Người xuất gia, nhất là mới
vào đạo, phải được ở gần Thầy và đại chúng, để
được chỉ bảo cho mình những điều mà tự mình không hay
biết.
Do
tất cả Tăng chúng đều an trú trong sự thật, can đảm tự
cử lỗi của mình và chỉ lỗi cho người, nên ngày Tự Tứ
là ngày chư Phật mười phương đều hoan hỷ. Do tâm các vị
thanh tịnh như thế, Phật tử mới quy hướng về nơi kiết
hạ, chờ ngày Tự Tứ nhờ chư Tăêng cầu siêu cho thân nhân
đã khuất được sanh về các cõi lành, cầu cho người sống
được thân tâm an lạc, vững chãi sống trong chánh pháp. Nhờ
phước lực của chư Tăng trong ba tháng thanh tịnh tu hành,
nên thức tỉnh được tâm người đã khuất và làm người
sống cảm thấy bình an. Cho nên, ngày rằm tháng bảy là ngày
hết sức quan trọng trong ba tháng an cư. Bản chất của ngày
này là An cư và Tự Tứ, từ đó mới có cái ngọn là Vu Lan
và Báo Hiếu, hay đền ơn đáp nghĩa.
***
Vu
Lan chính là ngày hội tụ những niềm vui lớn trong tâm hồn
những người con hiếu hạnh, những người có đạo đức,
biết trở về nguồn cội. Nếu quán triệt được và sống
được đúng tinh thần của Vu Lan, thì chính con người của
chúng ta cũng là hiện thân của “Ðại hiếu Mục Kiền Liên
Bồ tát”. Chúng ta không tìm một vị Mục Kiền Liên nào
trong thời quá khứ, mà phải tìm Mục Kiền Liên ngay trong
con người xác thịt của chúng ta.
Nhân
mùa Vu Lan năm nay, đảnh lễ trước Phật đài, chúng ta thề
nguyền noi gương hiếu hạnh của Ngài Mục Kiền Liên, làm
tròn bổn phận của một người con hiếu thảo. Chúng ta cũng
nhớ đến tất cả chúng sinh đang còn chìm đắm trong vô minh
tăm tối, nguyện hồi hướng công đức cho muôn loài đều
phát Bồ đề tâm, đồng tu hành và đồng thành chánh giác.
Từ chỗ đứng vững chắc của mình bằng hạnh hiếu và bằng
tất cả lòng thành, chúng ta đã có vật phẩm dâng lên cúng
dường Tam Bảo một cách có ý nghĩa.
2- MÙA AN
CƯ TỰ TỨ
Ðối
với Phật tử tại gia, nói đến Vu Lan là nói đến sự nhớ
ơn và đền ơn. Các vị vân tập về chùa trong những ngày
nầy, được nhắc nhở và thấm thía về bốn ơn lớn mà
ai cũng phải cưu mang và tìm cách đáp đền; nhờ vậy đạo
đức được tôn vinh, tình người càng thắm thiết. Riêng
với hàng tu sĩ, ba tháng hạ còn có ý nghĩa quan trọng hơn
nhiều. Ðây là cột mốc đánh dấu từng bước tiến trên
lộ trình tu tập, là cơ hội tự quay lại soi sáng chính mình,
là điều kiện tốt để rèn luyện ý chí và trau dồi phẩm
hạnh, ngày càng đến gần mục đích cuối cùng là Giác ngộ
- Giải thoát.
"An
cư" theo nguyên nghĩa là ở yên một chỗ. Tiếng Pali, Vassavàsa
là sự cư ngụ trong mùa mưa(*). Theo lịch sử Phật giáo, năm
528 trước Tây lịch là năm Ðức Phật Thích Ca thành đạo,
cũng là năm đầu tiên thành lập Tăng đoàn. Ðầu mùa hạ,
Ðức Phật cùng 61 vị đệ tử yên tu nơi Lộc Uyển, nhưng
chưa định chế Luật an cư. Do nhóm Lục quần Tỳ kheo thường
xuyên qua lại suốt năm, cả trong mùa mưa nước lớn, bị
dân chúng chỉ trích là "Sa môn đi đạp chết cỏ non, đoạn
mạng sống côn trùng, có khi trôi mất y bát, tọa cụ", nên
Ðức Phật nhân đó quở trách và đặt ra Luật an cư trong
ba tháng mùa hạ.
Kinh
Hoa Nghiêm, Ðức Phật dạy: "Giới là cội gốc của Bồ đề,
là cửa ngõ của Niết bàn, là chiếc thuyền đưa chúng sanh
qua biển sanh tử". Giới luật nhà Phật không phải là những
giáo điều, những quy định pháp lý cứng nhắc, mà là những
nguyên tắc sinh hoạt tu hành có tính tự nguyện. Mỗi người
có quyền giữ gìn tôn trọng hay không, và tự mình được
hưởng kết quả tốt hay gánh chịu hậu quả xấu tùy hành
động của mình. một vị Tỳ kheo ít dục, biết đủ, đoạn
giảm, viễn ly, cầu thiện hành, được Ðức Phật tán thán
là hạng đệ nhất, tối thắng, thượng thủ trong hàng tứ
chúng (Kinh Tăng Chi Bộ). Tỳ kheo "ít dục, biết đủ" tức
là căn bản đoạn trừ tham lam, là một trong ba độc, là nguồn
gốc của ngọn lửa sân có thể thiêu cháy cả rừng công
đức. Tỳ kheo biết "đoạn giảm" là biết chế ngự, dần
dần đoạn trừ phiền não kiết sử. Tỳ kheo "viễn ly" là
biết xa lìa những duyên sự thế gian, những ràng buộc của
ái dục. Tỳ kheo "cầu thiện hành" là cầu làm tất cả các
điều lành để thiện nghiệp ngày càng tăng trưởng. Tích
cực giữ gìn cấm giới là nội dung đầu tiên và căn bản,
luôn được nhắc nhở và đề cao trong mùa an cư. Từ bước
đầu tiên ấy, các vị Tỳ kheo tịnh tu ba nghiệp thân - miệng
- ý, tu tập Tam huệ học (Văn-Tư-Tu) và Tam vô lậu học (
Giới-Ðịnh-Tuệ).
Nói
như thế, không có nghĩa là việc tu hành chỉ chú trọng trong
ba tháng hạ, bởi vì đó là một tiến trình liên tục và
trường diễn. Tuy nhiên, vào những ngày bình thường, do bận
rộn học tập giảng dạy ở trường lớp, do làm nhiều Phật
sự phải tiếp duyên xúc cảnh, nên sự thúc liễm thân tâm
không mạnh mẽ bằng thời gian ở yên trong môi trường thanh
tịnh, cùng đại chúng tập trung. Ðặc biệt với các vị
Tăng ni trẻ, trường hạ còn là nơi thuận lợi để được
gần gũi, học hỏi về giới hạnh và sở tu của các vị
tôn túc giáo phẩm, những bậc đạo cao đức trọng đã có
quá trình tu chứng.
Trở
lại vấn đề giới luật, ngoài việc áp dụng cho từng cá
nhân người tu, còn có những nguyên tắc sống chung trong tập
thể Tăng đoàn. Tinh thần Lục hòa cộng trụ là động lực
thúc đẩy tăng đoàn phát triển và hoàn thiện, trong đó có
sự bình đẳng là trọng tâm: Bình đẳng về vật chất (Thân
hòa đồng trụ, lợi hòa đồng quân), bình đẳng trong luật
chế (Giới hòa đồng tu), hòa hợp trong tư tưởng và lời
nói (kiến hòa đồng giải, ý hòa đồng duyệt, khẩu hòa
vô tránh). Nhờ sống theo tinh thần này nên đại chúng có
sự hòa hợp từ hình thức đến nội dung, như lời Phật
dạy: "Ðể Tăng già được ổn thuận, để kềm giữ các
Tỳ kheo khó kềm giữ, để các thiện Tỳ kheo được ổn
cố tự thân". Thanh tịnh thân tâm từng cá thể và hòa hợp
trong đời sống tập thể là ý nghĩa sâu xa và cao quý của
hai chữ Tăng già (Sangha).
Mùa
an cư không những có tầm quan trọng đặc biệt đối với
cộng đồng Tăng lữ và cá nhân từng tu sĩ xuất gia, mà còn
có ảnh hưởng sâu rộng đến môi trường xung quanh và toàn
thể xã hội. Vì sao nói như thế? - Ngoài lòng từ bi tránh
việc vô tình làm hại côn trùng cây cỏ nếu qua lại thường
xuyên trong mùa mưa, các vị tu sĩ còn được nhắc đến bốn
ơn nặng phải đền, trong đó có ơn chúng sanh hữu tình và
vô tình. Từ đó, ý thức bảo vệ môi trường sống được
đề cao, người tu không làm bất cứ điều gì tổn hại đến
tất cả chúng sanh, dù là chúng sanh hạ đẳng. Khoa học đã
chứng minh, ngay cả cây cỏ cũng cảm nhận được sự thiện
ác trong tư tưởng con người. Một tư tưởng tốt khởi lên,
có thể tạo một từ lực làm môi trường được thanh lương;
một tư tưởng xấu ác cũng làm vạn vật chịu ảnh hưởng
theo chiều ngược lại. Ý thức lăng xăng của người bình
thường còn có khả năng tác động đến môi sinh như thế,
huống gì tâm thanh tịnh của một vị tu hành đắc lực và
hơn nữa của cả một tập thể Tăng - già!
Về
phương diện xã hội, nếu đạo đức được tôn vinh, nếu
có nhiều người tu theo tinh thần "tốt đời đẹp đạo",
xã hội ấy sẽ được bình an phúc lạc. Bởi vì mỗi người
đều có quan hệ hữu cơ với mọi người mọi vật, nên người
tu sĩ với ba nghiệp thanh tịnh sẽ có sức cảm hóa lớn đối
với cộng đồng, không những bằng khẩu giáo mà còn bằng
thân giáo. Do vậy, Tăng đoàn hòa hợp thanh tịnh sẽ giúp
tịnh hóa nhân sinh, từ đó góp phần an định xã hội.
Những
vị đệ tử trong thời Ðức Phật, nhờ tập trung toàn lực
trau dồi phẩm hạnh, thực hiện thanh quy, tịnh hóa thân-miệng-ý
và tu tập Giới-Ðịnh-Tuệ, nhiều vị đã đắc thánh quả
sau ba tháng an cư. Kết quả nầy khẳng định sự thành công
của Luật hạ, và là một nguyên nhân khiến an cư trở thành
truyền thống tu học cho tất cả Tăng ni. Theo Phật giáo Nam
tông, có hai khoảng thời gian an cư trong năm: Tiền an cư từ
16/6 đến 15/9 Âl; Hậu an cư từ 16/7 đến 15/10 Âl. Nếu bận
việc, không nhập hạ vào thời gian Tiền an cư, hành giả
có thể xin Hậu an cư, nhưng không được hưởng quả báu
Kathina; nếu cố ý không nhập hạ, vị ấy phạm tội Tác
ác (Dukkata). Theo Bắc tông, thời gian an cư từ 15/4 đến 15/7,
và ngày Hưu hạ Tự tứ là 14 - 15 hoặc 16/7 Âl. Trong ngày
ấy, chư Tăng tụ họp lại tự cử lỗi mình và thỉnh cầu
đại chúng, nếu thấy - nghe hay nghi mình phạm lỗi, xin tuyên
ra để mình sửa đổi. Tinh thần "phê và tự phê bình" một
cách trân trọng, chân thành và hoan hỉ làm toàn thể đại
chúng đều được thanh tịnh. Sau một mùa an cư, mỗi vị
tu sĩ thực hiện nghiêm túc theo luật nghi sẽ được thêm
một tuổi hạ. Hạ lạp là tiêu chuẩn quy định sự trưởng
thành của người tu và tôn ti trật tự trong Tăng đoàn. Ðiều
nầy nói lên sự trân trọng về đức độ và về quá trình
tu học, vì đạo Phật chủ trương rằng, trí tuệ thế gian
vay mượn từ bên ngoài (Trí hữu sư) không thể nào sánh nổi
Trí tuệ vô sư xuất thế gian do quá trình tu đạo và chứng
đạo.
Nhờ
tự thân nỗ lực, tinh chuyên hành trì, lại dám tự cử lỗi
và thành tâm sám hối, nên vị Tỳ kheo được thanh tịnh ba
nghiệp sau ngày Tự tứ. Thân tâm thanh tịnh nên trên tương
ưng cùng chư Phật Bồ Tát, dưới có thể chuyển hóa tâm
người, kể cả người đã khuất; sức chú nguyện của chư
Tăng vì thế thật bất khả tư nghì. Ðiều này giải thích
tại sao Ðức Phật dạy Ngài Mục-Liên nên cung thỉnh chư
vị Hiền Thánh Tăng làm lễ cầu siêu cho thân mẫu nhân ngày
Tự tứ, và kết quả là mẹ Ngài thoát kiếp Ngạ quỷ, sanh
về cõi Trời. Trong đời hiện tại, chúng ta khó thể gặp
chư Hiền Thánh Tăng, nhưng với lòng chí thành chí kính của
gia chủ, sự thanh khiết của tài vật cúng dường, kết hợp
với cộng lực chú nguyện của các vị Tăng ni trai giới nghiêm
cẩn, cũng có thể hoán cải tâm người đã khuất, buổi lễ
cầu siêu cũng có kết quả nhất định.
Riêng
với hàng Phật tử, mùa Vu-Lan là cơ hội để chúng ta vừa
tu học vừa tạo phước duyên, theo tinh thần Phước huệ song
tu luôn được nhắc nhở và đề cao trong đạo Phật. Chúng
ta đến chùa nghe pháp, hiểu rõ ý nghĩa báo ân báo hiếu,
thực hiện đúng lời chỉ dạy của quý Thầy để trở thành
người thật sự có đạo đức. Chúng ta thọ Bát quan trai
giới, học làm người xuất gia trong một ngày, gieo chủng
tử xuất thế gian để thăng tiến nhanh trên đường đạo.
Chúng ta cúng dường Trường hạ, công quả tại chùa, trợ
duyên cho chư Tăng ni trong những việc Phật sự và trong sinh
hoạt thường nhật, để quý vị có đủ điều kiện tu học.
Tất cả việc làm ấy chỉ nhằm mục đích gieo duyên lành
cùng Phật pháp, nhờ thiện nghiệp giúp ta vượt qua mọi khó
khăn trở ngại trên đường tu. Bằng sự quan tâm đúng mức
đến sinh hoạt và tu học của chư Tăng ni, bằng tâm thành
thiết tha đến tương lai của Giáo hội và tiền đồ của
Ðạo pháp, bằng sự kính ngưỡng Ðức Bổn Sư như một bậc
Thầy dẫn đường chứ không như một thần linh ban phước
giáng họa, sự cúng dường của chúng ta mới đúng pháp và
đầy đủ ý nghĩa.
***
Hiếu
là độ được song thân,
Nhân
là cứu vớt trầm luân muôn loài.
Trải
qua vô lượng kiếp luân hồi, tất cả chúng sanh đều có
sự liên hệ gia đình huyết thống với bản thân ta. Người
con Hiếu đúng nghĩa không phải chỉ lo phụng dưỡng về vật
chất, tinh thần và tâm linh cho cha mẹ đời nầy, mà còn phải
độ cha mẹ nhiều đời thoát khỏi trầm luân sanh tử. Chữ
Nhân đích thực không chỉ là tình thương đối với đồng
loại, mà còn là lòng từ bi bình đẳng đối với muôn loài
chúng sanh hữu tình và vô tình. Phát khởi tâm nguyện tự
lợi - lợi tha, tự độ - độ tha, tự giác - giác tha là bước
đầu trên lộ trình tâm linh của một vị tu Bồ Tát đạo,
hành Bồ Tát hạnh. Giữ gìn phẩm hạnh, nỗ lực công phu,
thể hiện tốt pháp Lục hòa và tùy duyên hóa độ chúng sanh,
là những nội dung tu học để tâm nguyện ấy được thành
tựu. Dù trong đời mạt pháp, kết quả an cư không được
như khi Ðức Phật còn tại thế, nhưng nếu bản thân quyết
chí hành trì và nương sức cộng tu của đại chúng, hành
giả cũng có sự tiến bộ vượt bậc.
An
cư là điều kiện tối cần thiết và là cơ hội thuận lợi
nhất để người xuất gia tự thân hành trì, tự thân chứng
ngộ và tự thân giải thoát. Người tu đắc đạo, với đầy
đủ định lực - trí lực và công đức lực, có thể báo
đền mọi ân tình ân nghĩa một cách tích cực và trọn vẹn,
chính là người thực hiện đầy đủ ý nghĩa cao cả của
hai chữ Hiếu và Nhân. Có thể nói, ba tháng an cư là thời
gian lý tưởng để tứ chúng đồng tu, để nâng cao sức sống
của Tăng đoàn bằng sự thanh tịnh và hòa hợp, để Giáo
hội được phát triển và hoàn thiện; từ đó, Phật pháp
được xương minh, Tam Bảo được trường tồn.
3- THÔNG
ÐIỆP VU LAN
Ðối
với các nước Phật giáo Bắc tông, Vu Lan là một lễ hội
quan trọng và có nhiều ý nghĩa sâu xa. Những người con Phật
đều biết, Kinh Vu Lan là thông điệp kêu gọi tất cả mọi
người giữ gìn giềng mối đạo đức; rằm tháng bảy là
một ngày trọng đại, để mọi người có dịp tỏ lòng hiếu
thảo đối với các đấng sinh thành, đền ơn những người
còn sống và đã khuất, ngoài ý nghĩa Tự tứ và giải hạ
đới với chư Tăng ni.
Có
chủ thuyết cho rằng chết là hết, xác thân khi trở về cát
bụi thì không còn gì tồn tại nữa; cho nên làm ác hay hành
thiện cũng như nhau. Ngược lại, có thuyết chủ trương linh
hồn bất tử, được vĩnh viễn ở trên thiên giới hay muôn
kiếp bị đọa đày nơi địa ngục, tùy theo người lúc còn
sống có trọn vẹn dâng mình cho đấng tối cao hay không. Ðạo
Phật có cái nhìn khác hẳn, không chấp đoạn cũng chẳng
chấp thường. Phật dạy, có hằng hà sa số thế giới hữu
hình và vô hình đồng thời hiện hữu. Sự sống không bao
giờ gián đoạn, chỉ là thay hình đổi dạng mà thôi. Người
gọi là “sống” nghĩa là đang tồn tại trên thế giới
này; người gọi là “chết” có nghĩa đã bỏ thân này và
tiếp tục sống dưới một hình thức khác, quẩn quanh trong
ba cõi sáu đường. Chúng sinh mãi trầm luân trong sanh tử vì
vô minh tạo nghiệp, dù nghiệp thiện hay ác vẫn không thoát
khỏi luân hồi. Muốn giải thoát sinh tử, thân-miệng-ý phải
dừng tạo nghiệp, đây là đường lối và ý nghĩa của sự
tu hành.
Vì
tin có nhiều cõi giới đang hiện hữu ngoài trái đất, nên
chúng ta tin rằng, những người thân đã khuất của chúng
ta có thể đang sống ở đó. Do đó, trong ngày Vu Lan, chúng
ta không chỉ nhớ nghĩ đến người sống, mà còn mở lòng
đến những chúng sinh ở khắp pháp giới. Có những vấn đề
đượm màu siêu thực, huyền bí, hoang đường, nhưng nếu
suy gẫm kỹ, ta thấy chúng cần thiết vô cùng cho con người
và cuộc đời. Ví như những chuyện về địa ngục, ngạ
quỷ, vốn không thích hợp trong thời đại khoa học, nhưng
khiến người bỏ bớt điều ác. Cũng vậy, cảnh giới vô
cùng phúc lạc sung sướng của Chư Thiên có thể khuyến khích
con người cố gắng tu phước, làm lợi cho bản thân và cho
người xung quanh.
Ngài
Mục Liên khi đạt quả vị A-La-Hán, nhớ đến người mẹ
thân yêu đã mất, nên vận thần thông đi khắp các cõi tìm
mẹ. Ngài thấy mẹ mình đang chịu đói khát khổ sở nơi
cõi ngạ quỷ vì nghiệp ác bà đã tạo lúc sinh tiền. Mục
Liên được tôn xưng là thần thông đệ nhất trong mười
đại đệ tử của Ðức Phật, vì sao Ngài không thi triển
thần lực để cứu mẹ, ngay cả không thể cho mẹ một bữa
cơm no lòng? Bởi vì, tha lực dù kỳ đặc mạnh mẽ đến
đâu, cũng không thắng được nghiệp lực. Mẹ của Ngài đã
tích lũy nhiều nghiệp ác, ngay cả lúc hấp hối vẫn khởi
niệm bất thiện, nên tích lũy nghiệp và cận tử nghiệp
đều chiêu cảm bà vào đường dữ. Ðến khi được Ngài
Mục Liên dâng chén cơm, bà vẫn còn lòng tham lam bỏn xẻn,
sợ kẻ khác cướp mất cơm của mình. Thần thức đã bị
đọa lạc vào khổ xứ nhưng vẫn tiếp tục gây nghiệp không
tốt, vì vậy đến chén cơm đưa lên miệng vẫn hóa thành
than lửa!
Thấy
mình bất lực trước hoàn cảnh khốn khổ của mẹ, Ngài
Mục Liên vô cùng đau xót, vội trở về cầu Phật chỉ dạy
phương pháp cứu mẹ. Lời Phật dạy trong câu chuyện này
là một bài học quý giá về ý nghĩa và phương pháp chú nguyện
cho người đã khuất. Sau ba tháng an cư kiết hạ, tu hành thanh
tịnh, cộng đồng Tăng lữ có một sức mạnh tinh thần rất
lớn. Niệm lực của chư Tăng hướng tâm về người đã khuất,
tâm người ấy chuyển hóa theo chiều hướng thiện, mới có
thể thay đổi nghiệp duyên và được vãng sanh. Sự chú nguyện
của chư Tăng là tha lực, tâm người chết chuyển đổi là
tự lực, có sự kết hợp đồng bộ của cả hai mới đủ
sức xoay chiều nghiệp lực. Trong đó, tự lực là chủ yếu,
là quyết định, còn sức chú nguyện là trợ duyên. Ðiều
này cho thấy, đạo Phật luôn chủ trương, con người phải
tự mình gắng công tu hành chứ không mong cầu ở thần thánh
bên ngoài, vì chính Ðức Phật cũng không có quyền ban phước
giáng họa cho ai.
Từ
ý nghĩa này, chúng ta thấy tinh thần xá tội vong nhân trong
ngày Vu Lan không những giúp người đã khuất được siêu
độ, mà còn giáo dục cho người sống; nếu chưa thể sạch
nghiệp thì chúng ta cũng phải tu hành thế nào để chuyển
nghiệp. Lúc sống có tịnh tu ba nghiệp thân-khẩu-ý thì khi
nhắm mắt, con người mới mong được siêu thăng. Nếu lúc
sống làm nhiều điều xấu ác thì khi mất, dù quyến thuộc
tổ chức cầu cúng chu đáo, cũng khó hy vọng vãng sanh về
các cõi lành. Vì sao như thế? - Trong thời Ðức Phật, cộng
đồng Tăng lữ toàn những bậc Hiền Thánh Tăng, như đã mô
tả trong Kinh Vu Lan: Người đặng bốn tòa đạo quả, chứng
vô sanh, người tu hành thanh tịnh trong núi sâu rừng thẳm,
người đã đắc lục thông như Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát...
Các vị ba nghiệp đều thanh tịnh nên khi cùng nhau chú nguyện,
niệm lực bất khả tư nghì đã khiến mẹ Ngài Mục Liên
chuyển tâm ác thành hiền thiện, nhờ đó mới thoát khỏi
khổ xứ. Ngày nay trong thời mạt pháp, chúng ta khó có phước
duyên cung thỉnh các bậc Hiền Thánh Tăng cầu siêu cho thân
quyến. Trong khi thiết lễ, nếu gia chủ không thành tâm chí
kính hướng về Tam Bảo, chỉ xem trọng hình thức để có
tiếng khen với người ngoài, thì làm sao có thể ảnh hưởng
tốt đến tâm thức người đã mất? Cho nên, về phương diện
tâm linh, có ba điều kiện thiết yếu để buổi cầu siêu
đạt được kết quả: Chư Tăng tu hành thanh tịnh; gia chủ
chí thành chí kính; tâm người chết chuyển đổi từ ác thành
hiền.
Ở
Việt Nam ta có tập tục thờ cúng tổ tiên và lập đền thờ
các bậc tiền hiền, những anh hùng dân tộc. Ðây là nét
đẹp văn hóa thể hiện lòng biết ơn đối với những người
đã khuất. Ðức Phật dạy: Con người có bốn ơn nặng cần
cưu mang và đáp đền, gọi là Tứ trọng ân: ơn Cha Mẹ, ơn
Sư trưởng, ơn chúng sanh và ơn Tổ quốc. Theo lý duyên sinh,
mọi tồn tại đều có liên hệ khắng khít và hỗ tương
với những tồn tại khác. Con người cũng vậy, không ai có
thể đơn độc tự sống còn, mà phải nhờ công lao của rất
nhiều người khác để thỏa mãn những nhu cầu thể chất
và tinh thần. Ngay cả loài vô tình cũng có ơn với chúng ta:
cây trái để ăn, nước để uống, không khí để thở...
Biết ơn tất cả những ai và những gì đã giúp đỡ mình
trong cuộc sống, chúng ta không thể làm hại người, vật
và hủy hoại môi trường sinh thái. Ngược lại, chúng ta phải
thể hiện lòng biết ơn ấy một cách tích cực trong khả
năng của mình. Ðặc biệt là lòng hiếu đạo đối với cha
mẹ và những người đã dưỡng nuôi, dạy dỗ chúng ta nên
người. Kẻ nào bất hiếu với những bậc sinh thành là những
kẻ không có căn bản đạo đức, vì nếu không thương cha
mẹ thì không thể thật lòng thương yêu ai. Ngay cả những
bậc giác ngộ cũng còn giữ lòng hiếu thảo với cha mẹ,
không chỉ ở kiếp này mà cả những kiếp về trước. Các
ngài Mục Kiền Liên, Xá Lợi Phất là những tấm gương sáng
chói về hiếu đạo mà chúng ta cần noi theo. Từ đó, ta mới
có thể mở rộng lòng thương đến những người khác và
đến tất cả chúng sinh muôn loài. Có thể nói, lòng hiếu
thảo là tiền đề của lòng từ bi. Người con Phật phải
thể hiện lòng từ bi vô hạn ấy, không chỉ đối với loài
người mà còn đối với mọi loài động thực vật, không
chỉ đối với chúng sinh hữu hình mà còn với các cõi giới
vô hình.
Lễ
hội Vu Lan là lễ hội của những người có lòng từ bi và
của những người con hiếu. Nét đẹp của Vu Lan là hướng
tâm đến tất cả chúng sinh đang đau khổ, dù còn sống hay
đã mất; là nhớ ơn và có dịp đền những ơn nghĩa mình
đã cưu mang. Ðối với người con Phật, Vu Lan là một thắng
hội, vì đây là một lễ hội thù thắng về nhiều khía cạnh
tâm linh, đạo đức và xã hội. Hiểu và áp dụng tinh thần
Vu Lan đúng đắn để làm tốt đạo đẹp đời, thì thông
điệp Vu Lan mới có giá trị vĩnh cửu, giúp cải thiện đời
sống cho cá nhân và cho cộng đồng xã hội.
4- VU LAN
VÀ TRUYỀN THỐNG BÁO HIẾU
Hằng
năm đến rằm tháng bảy, lễ Vu Lan lại về. Nói đến lễ
Vu Lan, chúng ta nghĩ ngay đến truyền thống báo hiếu theo tinh
thần Phật giáo Bắc phương, mà điểm khởi đầu là từ
kinh Vu-Lan-Bồn.
Nội
dung Kinh Vu-Lan-Bồn, chủ yếu Ðức Phật chỉ dạy cho Tôn
giả Mục Kiền Liên về phương cách đền ơn cha mẹ. Có thể
nói, đạo hiếu là giềng mối đạo đức, là bổn phận căn
bản của con người. Bởi vì, nếu bổn phận làm con không
tròn thì không thể làm tròn bổn phận nào khác; một người
bất hiếu với cha mẹ không thể là người có đạo đức,
dù giàu sang quyền thế đến đâu.
“Mộc
bổn thủy nguyên” - cây có cội nước có nguồn. Chúng ta
ai cũng có cha mẹ; dù là trẻ mồ côi hay bị bỏ rơi cũng
mang ơn người dưỡng nuôi chăm sóc. Các bậc sinh thành dưỡng
dục ấy đã giới thiệu cho ta bước vào cuộc đời, đã
chịu biết bao gian lao khổ nhọc để nuôi dạy ta thành người
có ích. Mẹ hiền dịu gần gũi nên gọi là từ mẫu, cha nghiêm
trang phép tắc nên gọi là nghiêm phụ. Ðức nghiêm của cha
quân bình với đức từ của mẹ giúp con được phát triển
về nhân cách đúng mực. Ngày xưa, cha lo sinh kế bên ngoài,
mẹ ở nhà đảm đang nội trợ, giáo dục con cái, tạo sự
phân công hợp lý trong gia đình. Ngày nay, hoàn cảnh sống
thay đổi, nhiều khi cả cha mẹ đều phải đi làm, việc giáo
dục gần gũi con không còn như xưa; nhưng suy cho cùng, tình
cảm gia đình vẫn là tình cảm thiêng liêng nhất, và công
ơn cha mẹ vẫn là công ơn cao tột không gì sánh nổi.
Kinh
Tâm Ðịa Quán, Phật dạy:
Mẹ
hiền còn sống là mặt trời giữa trưa chói sáng
Mẹ
hiền khuất bóng là mặt trời đã lặn.
Mẹ
hiền còn sống là mặt trăng sáng tỏ
Mẹ
hiền khuất rồi là đêm tối âm u.
Mẹ
còn sống, cả trái đất tràn ngập ánh nắng rực rỡ của
mặt trời và ánh sáng dịu mát êm ả của mặt trăng. Lúc
ta còn nhỏ, gặp chuyện buồn khổ sợ hãi, chỉ cần sà vào
lòng mẹ, được vòng tay mẹ ôm ấp chở che, được ngửi
hơi ấm quen thuộc của mẹ, tự nhiên ta cảm thấy bình an
lạ lùng, tưởng như không có gì trên đời có thể não hại
được ta. Khi ta đau ốm, toàn thân rã rời, mắt hoa đầu
choáng váng, chỉ cần bàn tay êm mát của mẹ dịu dàng đặt
lên trán, chỉ cần nghe một lời âu yếm hỏi han, tự nhiên
ta thấy như bệnh tật đã giảm đi phân nửa. Ðến khi ta
có gia đình, bằng tình thương vô bờ bến của ta đối với
con cái, ta mới thấu hiểu tấm lòng của cha mẹ ta bao la đến
dường nào!
“Tâm
hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”. Người con
có tâm hiếu với cha mẹ là phù hợp với tâm chư Phật, có
hạnh hiếu là thể hiện được công hạnh của các Ngài.
Người có trí không bao giờ dám khinh chê những người con
hiếu thảo, dù người ấy đang ở tầng lớp thấp nhất của
xã hội. Có thể nói, điều kiện tiên quyết để làm người
tốt là phải có hiếu với cha mẹ. Nói như thế không có
nghĩa là phủ nhận những giá trị khác ở thế gian, nhưng
mọi đức tính của con người đều đứng sau chữ Hiếu.
Ngày nay, sống trong thời đại văn minh khoa học mà giá trị
vật chất đã lấn át giá trị tinh thần, nhiều người thành
danh nhưng chỉ nhớ vun vén cho bản thân, cho gia đình riêng
mà không nghĩ gì đến cha mẹ. Nhiều người vì sinh kế phải
xa quê hương, thỉnh thoảng gửi tiền quà về, xem như đã
làm tròn bổn phận. Họ không biết rằng, đối với cha mẹ,
số tiền và món quà vô cảm ấy không thể nào bằng một
ly nước lạnh con trực tiếp dâng lên với tất cả tấm lòng!
Vì thế, lời dạy về đạo Hiếu của Ðức Phật là lời
cảnh tỉnh có giá trị muôn đời; trở về với giáo lý đạo
Phật là trở về truyền thống tốt đẹp có nguy cơ bị đẩy
lùi hay đánh mất.
Có
ba mức độ về hiếu đạo:
1-
Tiểu hiếu: Người con bao giờ cũng kính trọng vâng lời cha
mẹ, không dám có một lời nói, một cử chỉ nào vô lễ
hoặc làm trái ý song thân. Cha mẹ khi mạnh khỏe, lúc ốm
đau, nếu có bất cứ nhu cầu gì thì con phải tìm mọi cách
thỏa mãn. Mạnh Tông là một gương hiếu thảo, điển hình
của người xưa. Mùa đông giá buốt, mẹ Ngài ốm nặng thèm
một bát canh măng. Tìm quanh không thấy, Ngài ngồi khóc dưới
bụi tre. Nước mắt nhỏ xuống thành dòng làm tan cả tuyết
băng. Lòng hiếu thảo của Ngài thấu đến cõi Trời, cảm
động cả loài vô tri, từ gốc tre cằn cỗi mọc lên mụt
măng non. Mẹ Ngài ăn được bát canh măng khỏi bệnh.
Việc
hiếu thảo không phải ai cũng làm được, nhưng đối với
đạo Phật, hiếu thảo có đôi khi trở thành bất hiếu. Vì
sao lại như thế? Bởi vì, người con chưa hiểu lý Nhân quả,
chỉ biết vun bồi hạnh phúc thế gian cho cha mẹ, mà không
biết mình có thể tạo ác duyên như sát sanh hại vật, trộm
cướp tài sản của người khác, vô tình khiến cha mẹ chịu
quả bất thiện ở tương lai. Cho nên, người con có lòng phụng
dưỡng cha mẹ là tốt, nhưng không vì thế mà tạo tác nghiệp
dữ để ảnh hưởng đến cha mẹ về sau.
2-
Trung hiếu: Người con có đạo đức, tin sâu nhân quả, không
những chu cấp đầy đủ cho cha mẹ về vật chất và tinh
thần, mà còn hướng các Người theo chánh pháp. Trợ duyên
cho cha mẹ tạo phước báo tránh điều tội lỗi, khuyên cha
mẹ quy y Tam bảo và giữ gìn năm giới. Khi cha mẹ quá vãng,
bố thí cúng dường hồi hướng công đức cho hương linh song
thân. Nếu có điều kiện thiết lễ trai tăng, nhờ bi nguyện
và sức hộ niệm của cộng đồng Tăng lữ giúp song thân
chuyển sanh ở cảnh giới mới hoặc vãng sanh về các cõi
lành. Như thế, người con Trung hiếu đã góp phần tạo nhân
lành cho cha mẹ, trong hiện đời được thỏa mãn an vui và
đời sau cũng không sợ đọa vào đường ác.
3-
Ðại hiếu: Con người qua vô lượng kiếp trôi lăn trong sanh
tử, có biết bao nhiêu đấng sinh thành dưỡng dục chớ đâu
phải chỉ cha mẹ đời nầy. Các Người đã dày công nuôi
nấng dạy dỗ ta, nhiều khi tạo nghiệp bất thiện để ta
có điều kiện thành người, nên có thể vì ta mà bị đọa
vào khổ xứ. Kinh Phạm Võng Bồ Tát, Phật dạy: “Tất cả
người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta. Bao nhiêu
đời kiếp ta từ đó mà sanh ra, nên chúng sanh trong sáu đường
đều là cha mẹ của ta cả”.
Muốn
cứu độ cha mẹ nhiều đời, chúng ta phải sống và tu như
thế nào? Phải có Ðại hiếu mới tròn ơn vẹn nghĩa. Ðây
chính là chí nguyện độ tận chúng sanh của những bậc Trưởng
tử Như Lai. Người xuất gia nguyện cắt bỏ tình cảm riêng
tư, tích cực công phu tu tập, khi đạt một trình độ tâm
chứng rồi ra giáo hóa khuyến tấn người đời. Nhiều người
nghe giảng, phát tâm tu hành theo chánh pháp, chuyển tâm xấu
ác thành hiền thiện. Như vậy, một người xuất gia đạt
đạo, cha mẹ đời nầy được lợi ích mà cha mẹ nhiều
đời cũng có cơ hội thấm nhuần giáo nghĩa của Ðức Phật.
Người xuất gia ấy là người con Ðại hiếu.
Nhưng
tại sao ngày rằm tháng bảy được chọn làm ngày lễ Vu Lan
báo hiếu? - Vì lễ Vu Lan gắn liền với ý nghĩa Tự tứ của
chư Tăng. Sau ba tháng an cư tu tập Giới-Ðịnh-Tuệ, tịnh
hóa ba nghiệp, các vị tụ hội cử hành lễ Tự tứ vào ngày
rằm tháng bảy. Mỗi vị tự cử lỗi mình và phát lồ sám
hối, đồng thời nhờ đại chúng chỉ cho những lỗi mình
đã phạm mà vô tình không biết. Chư Tăng mạnh dạn tự cử
lỗi và sám hối nên ngày nầy còn gọi là ngày Phật hoan
hỉ. Nhờ quá trình an cư kiết giới, thúc liễm thân tâm và
Tự tứ, nên khi cầu siêu sức chú nguyện của chư Tăng trong
buổi lễ sẽ lớn lao và mạnh mẽ phi thường. Kết hợp với
trai đàn thanh tịnh và lòng chí thành chí kính của những
người dự lễ, tâm người đã khuất sẽ cảm nhận và chuyển
đổi về hướng thiện lành. Do tâm chuyển nên nghiệp chuyển,
người đã khuất có thể vãng sanh. Như thế, một buổi lễ
cầu siêu muốn có kết quả tốt đẹp, phải hội đủ bốn
điều: Chư Tăng trai giới nghiêm cẩn; Phẩm vật cúng dường
thanh tịnh; Gia chủ thành tâm thành ý; Tâm người quá vãng
cảm ứng và biến chuyển. Ðạo Phật chú trọng nơi tâm,
không cần hình thức phô trương tốn kém. Nhiều khi sát sanh
hại vật cúng tế linh đình còn làm người chết thêm tổn
phước, và chỉ là hình thức gạt đời không có ý nghĩa
đạo lý. Người con hiếu đạo và có chánh kiến phải lo
cho cha mẹ vẹn toàn lúc sanh tiền, và lúc các Người khuất
bóng, lễ tang chỉ đơn giản và đúng lễ đúng pháp là đủ.
Sự cúng dường cầu nguyện trong tang lễ, một mặt nói lên
tình cảm của những người sống đối với người đã khuất,
mặt khác nhắc nhở người còn sống luôn phải giữ gìn giềng
mối đạo đức và nề nếp gia phong, mà trên hết là chữ
Hiếu.
Ngày
Vu Lan là một ngày lễ trọng đại không chỉ của các Phật
tử, mà của tất cả những người con hiếu hạnh. Báo hiếu
là trách nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận thiêng liêng của con
đối với những bậc sanh thành dưỡng dục. Tùy hoàn cảnh
và khả năng, ta có thể báo đáp ơn sâu dày của cha mẹ bằng
những hình thức và mức độ khác nhau, nhưng tựu trung, phải
làm thế nào cho cha mẹ vui vẻ an ổn trong những ngày còn
lại. Ðặc biệt, cần hướng cha mẹ tu theo chánh pháp để
khi các người khuất bóng, có thể vãng sanh về cõi an lành.
Mong rằng tất cả chúng ta, nhân lễ hội truyền thống nầy,
nhớ nghĩ đến ơn nghĩa sanh thành để tìm cách đáp đền
trong muôn một.
5- NGÀY LỄ
HỘI TÌNH NGƯỜI
Ngày
nay, trên thế giới có nhiều tôn giáo, nhưng nhìn chung, tôn
giáo nào cũng truyền dạy căn bản đạo đức cho tín đồ.
Thánh đường, Tự viện là nơi rao giảng đạo lý; các tu
sĩ là những cán bộ tâm linh, những vị thầy dẫn đường
cho môn đệ hướng đến mục đích nâng cao đời sống tinh
thần. Bởi vì tinh thần là thượng tầng kiến trúc trong khi
thể xác chỉ là hạ tầng cơ sở, nên đạo đức là một
trong những tiêu chuẩn căn bản để đánh giá con người,
khiến con người có thể đứng trên muôn loài muôn vật.
Ðức
Phật trước khi dạy môn đệ làm Hiền Thánh, cũng rất xem
trọng tư cách làm người. Con người khi sống trong xã hội
là "sống cùng, sống với", không ai có thể đơn độc mà
tồn tại và phát triển. Nói khác đi, mỗi người chúng ta
đều chịu nhiều ơn nặng, từ khi sinh ra đến khi nhắm mắt.
Nhà Phật đề cập đến Tứ trọng ân (ơn cha mẹ, ơn Thầy
Tổ, ơn chúng sanh và ơn Tổ quốc), và ngày Vu-Lan là dịp
tôn vinh những ân tình ân nghĩa ấy.
Trong
cuộc sống, không có hạnh phúc nào lớn hơn hạnh phúc còn
cha mẹ, và không có bất hạnh nào lớn hơn bất hạnh của
kẻ mồ côi. Hình ảnh người cha lao động cần mẫn sớm
hôm, người mẹ dịu hiền chăm chút các con từng miếng ăn
giấc ngủ, đã từng là - và mãi là - những cung bậc êm đềm
của bài hợp xướng gia đình. Căn bản đạo đức cũng bắt
đầu từ sự giáo dục của gia đình, vì cha mẹ là chuẩn
mực của các con từ lúc còn thơ ấu. Và mãi mãi về sau,
dù ở lứa tuổi nào, chúng ta cũng thấy cha mẹ là chỗ dựa
tinh thần vững chắc. Có thể lúc ta thành công trong sự nghiệp
hay hạnh phúc trong cuộc sống lứa đôi, ta không cảm nhận
rõ điều này. Nhưng khi gặp cảnh ngộ không may, khi bị sóng
đời dập vùi tơi tả, khi hoàn toàn mất niềm tin đối với
người xung quanh, ta mới chợt hiểu rằng, nơi một góc trời
xa yêu dấu, cha mẹ vẫn là chiếc nôi ấm cho mình ru giấc
ngủ sâu, là vòng tay êm xóa tan hết nơi mình mọi buồn đau
hận tủi. Ân sủng thiêng liêng ấy, tình cảm bao la bất tận
ấy, ta có thể tìm được nơi đâu, ngoài cha mẹ của mình
?
Ðêm
khuya trăng rụng xuống cầu
Cảm
thương cha mẹ dãi dầu ruột đau.
Người
con xa quê hương, vất vả mưu sinh, có lúc phải tạm quên
cha mẹ. Cũng có khi do mãi vui với vợ con bạn bè, nên tình
quê bị lui xuống hàng thứ yếu. Nhưng một hôm nào đó, khi
cuộc vui đã tàn, còn một mình ta trong đêm khuya vắng lặng,
nhìn ánh trăng cô đơn dưới dòng sông, ta chợt nhớ về làng
cũ. Ta chợt nhớ về hai đấng sinh thành tuổi cao sức yếu,
ngày ngày tựa cửa trông ngóng tin con. Ðau lòng lắm khi thấy
mình chưa đền đáp một phần nhỏ công ơn sâu dày của cha
mẹ. Vội vã trở về mong chuộc lại lỗi lầm, thì hỡi ôi,
cha mẹ đã không còn! Hối hận cách mấy, khóc than cỡ nào
cũng không thể kéo lại thời gian đã mất. Nỗi đau nầy,
niềm hối tiếc nầy đến bao giờ mới nguôi ngoai ?
Mất
cha con cũng u ơ
Mất
mẹ con cũng bơ vơ một mình.
Không
người nào muốn mình mất cha mẹ, nhưng vô thường nào có
tha cho một ai ? Vì thế, ngay khi cha mẹ còn sinh tiền, ta nên
biết trân quý từng ngày sum họp, như quý viên ngọc vô giá
đang cầm trên tay mà chắc chắn không thể giữ được vĩnh
viễn. Sự trân quý ấy, kết hợp với sự biết ơn và thương
kính chân thành đối với cha mẹ, là những điểm xuất phát
của lòng hiếu thảo. Chúng ta biết ơn cha mẹ vì thân ta do
cha mẹ mà có, nhờ cha mẹ mà trưởng thành. Chúng ta thương
cha mẹ khi ta còn thơ dại, vì cha mẹ là nơi nương tựa vững
chãi bình an nhất. Ta thương cha mẹ khi ta khôn lớn, vì biết
mỗi ngày ta sống hạnh phúc ấm no là một ngày ta rút bớt
sức lực của các Người. Ta càng thương cha mẹ khi ta có
con cái, vì lúc bấy giờ ta mới thấm thía được sự hy sinh
của cha mẹ đối với con. Rồi một hôm, nhìn kỹ dung nhan
cha mẹ, hốt nhiên thấy các Người đã quá già yếu, thì
ngoài tình thương ta còn có sự lo lắng, vì biết thời gian
sum họp chỉ còn tính từng tháng từng ngày! Những người
con hiếu thảo, thời gian qua đã có phước duyên phụng dưỡng
cha mẹ, giờ càng cố tạo nhiều cơ hội làm các Người vui
lòng. Còn những người chưa từng nghĩ đến chữ Hiếu, nay
có kịp giật mình tỉnh ngộ, hay vẫn còn rong chơi đâu đó
nơi hội chợ phù hoa ?
Ngày
nay, trong xu thế khôi phục và phát huy truyền thống văn hóa
đạo đức, các quan hệ xã hội càng được đề cao. Trong
đó, quan hệ thầy-trò được đặt lên hàng đầu. Phần đông
gia đình phải bận rộn về sinh kế, nên việc việc dạy
dỗ con em đều phó thác cho thầy cô. Vì thế, môi trường
giáo dục chủ yếu về chữ nghĩa lẫn đạo đức là nhà
trường.
"Nhất
tự vi sư, bán tự vi sư". Người dạy ta một chữ là thầy
ta, dạy nửa chữ cũng là thầy. Nhờ thầy, ta mới tiếp cận
với tri thức loài người, mới hòa nhập với đời sống
văn minh, mới có nghề nghiệp ổn định. Ở thời đại hiện
nay, khi thế giới ngày càng thu hẹp, con người ngày càng xích
lại gần nhau nhờ những phương tiện truyền thông và giao
thông tiên tiến, tri thức lại càng cần thiết để bắt kịp
và thích nghi với đà tiến hóa của xã hội. Do vậy, vai trò
của thầy cô càng trở nên quan trọng không thể thiếu, đối
với quan điểm thế gian.
Trên
phương diện xuất thế gian, thầy dạy đạo còn có vị trí
cao cả hơn, vì nhờ thầy dạy ta những phương pháp tu hành
để trở thành người đạo đức, để thăng hoa đời sống
tâm linh. Nếu ta biết ơn cha mẹ và thầy cô ngoài đời vì
công sanh thành dưỡng nuôi và giáo dục ta trong một đời
kiếp, thì ta càng nhớ thầy dạy đạo gấp nhiều lần hơn,
vì thầy nuôi lớn thân huệ mạng bất sinh bất diệt của
ta, dìu dắt ta trên lộ trình giác ngộ giải thoát.
Kinh
Vu-Lan-Bồn Sớ có 4 câu kệ:
Khể
thủ Tam giới Chủ
Ðại
hiếu Thích Ca Văn
Lụy
kiếp báo thâm ân
Tích
nhân thành chánh giác.
Chúng
ta cúi lạy Bậc Ðại hiếu Thích Ca là Ðấng Giáo chủ trong
ba cõi. Ngài đã trải qua nhiều kiếp báo đáp những ân sâu,
nhờ tích chứa nhân lành nên ngày nay thành tựu đạo quả
vô thượng. Ðức Phật là một tấm gương sáng chói về lòng
hiếu thảo và sự trọng nghĩa trọng tình. Với trí vô sư,
Ngài biết tất cả chúng sanh đều có liên hệ thân thuộc
lẫn nhau, qua vô lượng kiếp luân hồi trong quá khứ. Do vậy,
Ngài dạy chúng ta mở lòng thương bình đẳng và rộng khắp
đến tất cả mọi loài, không sát sanh hại vật để thỏa
mãn nhu cầu ăn mặc, giải trí cho riêng mình.
Trong
đời hiện tại, mỗi cá thể cũng có tương quan hữu cơ với
cộng đồng xã hội nói riêng và với vạn vật nói chung.
Chúng ta chịu ơn tất cả mọi người, từ người nông phu
gieo trồng lúa mạ rau trái cho ta ăn, người thợ dệt làm
ra y phục cho ta mặc, đến biết bao ngành nghề khác phục
vụ ta trong cuộc sống đời thường. Chúng ta cũng chịu ơn
cỏ cây hoa lá chim muông tạo cho ta môi trường thanh sạch;
và nhờ sự hiện hữu vô vị lợi của chúng, ta có thể học
được nhiều bài học quý giá về cách sống trọn tình. Loài
hoa nào cũng cố gắng nở hết sức để làm đẹp và tỏa
hương cho đời, mà không hề giữ lại một chút gì cho riêng
mình; loài chim mỗi sáng cũng cố gắng hót ca hết sức để
tặng cho đời những âm thanh trong trẻo. Chúng không hề ganh
ghét tị hiềm lẫn nhau, không hề phân biệt kẻ nhận lãnh
là thiện hay ác, giàu có hay nghèo hèn. Những bài học ấy
lúc nào cũng sẵn sàng trước mắt, nếu ta biết mở lòng
ra đón nhận.
Chúng
ta cũng mang ơn những vị lãnh đạo quốc gia đã vạch kế
hoạch cho toàn dân được cơm no áo ấm, được yên ổn làm
việc học hành. Cuộc sống thanh bình hiện tại đã được
đánh đổi bởi vô vàn hy sinh mất mát của quá khứ. Cuộc
sống ấy được duy trì cũng nhờ sự đóng góp tích cực
và thầm lặng của biết bao chiến sĩ, đang chiến đấu trên
những trận tuyến tuy vô hình nhưng thật nhiều cạm bẫy
gian nan.
Ngày
Vu-Lan, với thông điệp nhắc nhở mọi người nhớ lại và
tìm cách đáp đền những ân tình ân nghĩa đã cưu mang, đã
góp phần trong công tác văn hóa tư tưởng, giúp thúc đẩy
xã hội phát triển hòa nhịp giữa vật chất, tri thức và
đạo đức. Bởi vì, một xã hội văn minh không phải nhờ
sự phồn vinh vật chất, mà từ phong cách sống và lối cư
xử giữa con người với nhau sao cho hợp với tình đời lý
đạo. Cho nên, có thể nói ngày lễ Vu-Lan là một Lễ hội
tình người, không chỉ có ý nghĩa đối với hàng tứ chúng
con Phật, mà còn đối với toàn thể nhân loại nói chung -
bây giờ và mãi mãi.
6- BÁO HIẾU
BÁO ÂN
Những
người
con Phật chúng ta, có lẽ ít nhất một lần trong đời được
nghe kể về câu chuyện cảm động của Ðức Mục-Kiền-Liên
cứu mẹ thoát kiếp ngạ quỷ. Từ câu chuyện ấy, Ngài được
tôn xưng là Bậc Ðại Hiếu, ngày rằm tháng bảy được gọi
là ngày báo hiếu, và lễ Vu Lan trở thành một thắng hội
ở các nước Phật giáo Bắc tông.
Ðối
với Việt-Nam, một đất nước có hơn bốn ngàn năm văn hiến,
đạo Hiếu được xem như thước đo giá trị tinh thần và
là chuẩn mực đạo đức con người. Việc đền đáp công
ơn sinh thành dưỡng dục là bổn phận của tất cả mọi
người, không phân biệt tôn giáo, giới tính hay địa vị
xã hội. Vì thế, ý nghĩa báo hiếu của ngày Vu-Lan đã biến
lễ hội này thành một ngày trọng đại, một truyền thống
tốt đẹp của cả dân tộc.
Tuy
nhiên, ý nghĩa của lễ Vu-Lan không chỉ dừng lại ở đó.
Rằm tháng bảy còn là ngày Tự tứ, ngày chư Phật hoan hỉ,
ngày đền ơn đáp nghĩa và ngày xá tội vong nhân. Trong phạm
vi bài viết này, chúng tôi chỉ xin đi sâu vào hai lĩnh vực
quan trọng là báo hiếu và báo ân, mà mỗi người Phật tử
chân chính đều cần hiểu đúng và làm đúng.
I-
VU-LAN VÀ TINH THẦN BÁO HIẾU.
Quyển
“Nhị thập tứ hiếu” mô tả nhiều gương sáng về hiếu
đạo của các bậc hiền nhân Trung Quốc. Mỗi vị có một
cách bày tỏ lòng biết ơn khác nhau đối với cha mẹ, nhưng
tựu trung có một điểm chung nhất: Tất cả đều ý thức
được rằng, công ơn của các đấng sinh thành dưỡng dục
thật cao vời như non Thái, bao la như trời biển; người con
dù làm bất cứ điều gì cũng khó thể đền đáp trọn vẹn.
Vì vậy, Lão Lai dù tuổi cổ lai hy vẫn múa hát và làm đủ
trò trẻ con cho cha mẹ vui; Mạnh-Tông đang mùa đông giá rét
khóc bên bụi tre, nước mắt rơi xuống gốc tre làm mọc lên
chồi măng tươi ngọt, mẹ hiền nhờ ăn măng mà hết bệnh.
Cũng vì vậy, Mẫn Tử Khiên dù bị mẹ kế ghét bỏ hành
hạ, vẫn không để lòng oán trách, lại còn xin cha đừng
đuổi mẹ đi, vì “nếu mẹ ở lại thì chỉ mình con đói
rét, nếu mẹ ra đi thì cả ba anh em đều chịu khổ”. Hiểu
được lòng hiếu thảo của các vị, chúng ta cũng sâu sắc
cảm thông với nỗi đau không gì sánh nổi của Thầy Tử
Lộ: Khi còn hàn vi, ông phụng dưỡng hai thân bằng những
bữa canh rau; đến khi làm quan, vật chất dư thừa thì cha
mẹ không còn cho mình báo hiếu!
Ðối
với người thế gian, những gương hiếu thảo như thế là
tột cùng, làm cảm động lòng Trời, lòng người và cảm
động cả loài vô tình như cây cỏ. Chữ HIẾU lại được
đánh giá theo ba mức độ từ thấp lên cao: Tiểu, Trung và
Ðại hiếu.
Mỗi
người sinh ra trong một hoàn cảnh gia đình khác nhau, nhưng
ai cũng có các bậc sinh thành và dưỡng dục. Ngay cả những
trẻ mồ côi hay bị bỏ rơi, không biết cha mẹ ruột là ai,
vẫn phải nhờ những bàn tay từ thiện cưu mang, nuôi dưỡng
mình. Cho nên, được trưởng thành, được làm người hữu
dụng, chúng ta phải nhớ ơn những người đã sinh ra mình,
nuôi dạy mình; và bằng mọi cách, đền đáp công ơn này
trong muôn một.
Chữ
Hiếu ở đây phát xuất từ tình thương yêu chân thật và
sâu đậm, kết hợp với lòng biết ơn của người con. Với
tình cảm ấy, chúng ta cố gắng thỏa mãn mọi nhu cầu của
cha mẹ, làm thế nào để các Người được vui vẻ ấm cúng
trong tuổi xế chiều. Không phải chỉ người giàu có mới
báo hiếu được, mà đôi khi cha mẹ chỉ cần một vài lời
dịu ngọt, một thái độ ân cần quan tâm, đã cảm thấy
an ủi rồi. Có những bà mẹ rất tội nghiệp, được con
chu cấp tiền bạc đầy đủ, nhưng điều bà cần là tình
thương ấm áp của đứa con, thì lại thiếu thốn. Bởi vì
con lo phát triển công danh sự nghiệp nơi xa, thời gian rảnh
rỗi còn phải nghĩ đến vợ con bạn bè. Ðứa con đâu biết
người già thường cảm thấy cô đơn trống vắng, lại dễ
tủi lòng, số tiền vô tri vô cảm gửi về hàng tháng làm
sao lấp được khoảng trống trong tâm hồn người mẹ xa con?
Ðó là chưa nói đến những kẻ bất hiếu, nỡ để cha mẹ
già đói khổ quạnh hiu nơi quê nghèo hay trong nhà dưỡng lão,
dù bản thân mình đang dư thừa vật chất. Cha mẹ đã không
thương, thì có bao giờ họ thật sự yêu thương ai ngoài chính
bản thân mình?
Tuy
nhiên, con hết lòng thương kính cha mẹ, đáp ứng đầy đủ
nhu cầu vật chất và tinh thần cho cha mẹ, có đủ trả ơn
cho các Người chưa? - Nhà Phật cho đó chỉ mới là Tiểu
hiếu, tức là lòng hiếu thảo ở bậc thấp nhất. Và tùy
hành động báo hiếu của người con, mà Tiểu hiếu có lúc
đúng nghĩa chữ Hiếu, nhưng có khi ngược lại, trở thành
bất hiếu. Vì sao như thế? - Bởi vì, người con chỉ biết
chú trọng phần thể chất và tình cảm của cha mẹ, mà chưa
nghĩ đến phần đạo đức và tâm linh cho các Người. Mặt
khác, nếu cha mẹ có những ham muốn bất thiện, hoặc vượt
quá khả năng đáp ứng của người con; con vì thương cha mẹ,
phải tìm đủ cách để thỏa mãn, kể cả những cách không
hợp pháp, hợp đạo lý. Việc làm ấy có thể gây hậu quả
không tốt, tạo nghiệp ác cho bản thân và cả cho cha mẹ,
vô tình thành bất hiếu. Do vậy, song song với lòng thương
cha mẹ, người con còn phải biết kết hợp với trí tuệ
và đạo đức. Nếu cha mẹ tham lam bỏn xẻn, ta khuyên nên
mở rộng lòng bố thí cúng dường. Nếu cha mẹ thường sân
hận tật đố, ta khuyên nên buông xả chớ chấp trước, biết
thông cảm để hiểu và thương yêu mọi người. Nếu cha mẹ
chưa biết gì về Phật pháp, ta dần dần giúp cha mẹ hiểu
được giáo lý, thọ trì tam quy ngũ giới. Ðây là tinh thần
Trung hiếu, tức đạo hiếu bậc trung, mà người Phật tử
chúng ta cần thực hiện để có thể báo hiếu song thân một
cách đầy đủ và đúng nghĩa.
Trường
hợp cha mẹ đã qua đời, chúng ta phải làm cách nào để
báo hiếu? Kinh Vu-Lan, Ðức Phật dạy rõ về phương pháp cầu
siêu cho người đã khuất trong ngày rằm tháng bảy, trong đó
có những điều rất quan trọng: Một là, thỉnh chư Tăng phải
là những vị tu hành thanh tịnh, trong ba tháng an cư kiết giới
trang nghiêm, thực hiện tinh thần Tự tứ đúng nghĩa. Hai là,
gia chủ sửa soạn phẩm vật cúng dường chay tịnh, chí thành
chí kính cầu nguyện Tam Bảo hộ trì cho vong linh người thân.
Ba là, trong buổi trai đàn đúng lễ, tâm thanh tịnh của chư
Tăng và tâm thành kính của gia chủ tác động vào thần thức
của người đã khuất, khiến người ấy hướng về đường
lành, nghiệp ác chuyển thành nghiệp thiện. Ðủ ba điều
kiện ấy, buổi cầu siêu mới có kết quả, người đã khuất
sẽ được vãng sanh.
Thân
mẫu hai vị đại đệ tử của Ðức Phật là Xá-Lợi-Phất
và Mục-Kiền-Liên, cũng nhờ hai vị làm theo lời dạy trên
mà thoát khỏi khổ xứ. Nếu các Ngài không xuất gia, tu hành
thành tựu đạo quả, làm sao biết mẹ mình đang bị đọa
lạc mà cầu Ðức Phật cứu giúp? Ngay cả các vị tu sĩ chân
chính, dù chưa đạt đạo, cũng có thể dễ dàng khuyên cha
mẹ tích cực tu hành, gieo chủng tử Phật pháp cho các Người,
để những đời sau tiếp tục đi theo chánh đạo, cuối cùng
vĩnh thoát luân hồi. Sự báo hiếu này có giá trị đích thực,
siêu xuất thế gian nên được gọi là Ðại hiếu.
II-
VU-LAN VÀ TINH THẦN BÁO ÂN.
Ngoài
công ơn của cha mẹ, con người còn có những ơn nghĩa khác
phải đáp đền. Nhà Phật đề cao bốn ơn nghĩa chính, đó
là Tứ trọng ân, tức ơn của cha mẹ, của sư trưởng, của
chúng sinh và của Tổ quốc. Có thể nói, tinh thần báo hiếu
tức đền ơn cha mẹ là nghĩa hẹp của Vu-Lan, còn tinh thần
báo ân tức bốn ơn nặng là ý nghĩa rộng rãi và đầy đủ,
thuộc phạm trù đạo đức của lễ hội này.
* Thế
nào là ân sư trưởng? Chúng ta sinh ra và lớn lên, ngoài cha
mẹ dạy dỗ dưỡng nuôi, còn được học hỏi nơi nhiều
thầy cô khác. Người được học hành nơi trường lớp, từ
mẫu giáo đến lúc tốt nghiệp đã chịu ơn dạy bảo của
bao nhiêu vị thầy? Ai đã cầm tay chúng ta nắn nót từng nét
chữ; ai dạy những kiến thức phổ cập và chuyên sâu, tạo
căn bản cho chúng ta phát triển công danh và sự nghiệp sau
này; ai dạy đạo đức làm người, cho chúng ta trở thành
người dân hữu ích...? Nếu không có thầy trong trường học,
khó lòng đào tạo những nhân tài cho đất nước.
Ở
trường đời, những người dạy chúng ta kinh nghiệm sống,
các kỹ năng nghề nghiệp, là người thầy giúp chúng ta có
sự vững chãi và trưởng thành trong cuộc sống. Phạm vi này
rất rộng, từ người cho ta một lời chỉ dẫn, một lời
khuyên khi hữu sự, đến người tận tình truyền thụ những
yếu lý trong nghề; từ người dạy ta những điều hiền thiện
đến người chống đối phỉ báng ta - đây là các thử thách
đôi khi cần thiết để chúng ta có dịp nhìn lại bản thân
mình.
Ðối
với người tu, Sư trưởng còn là ơn Thầy Tổ. Ðây là ân
nghĩa xuất thế gian, vì các Ngài dạy chúng ta biết rõ thế
nào là cái khổ của chúng sinh, cái gì là nguyên nhân của
đau khổ. Nhờ các Ngài, chúng ta mới biết những phương pháp
thoát khỏi phiền não khổ đau, được an lạc tự tại trong
đời này và nhất là giải thoát nỗi khổ lớn nhất của
kiếp phù sinh - nỗi khổ trầm luân sinh tử. Chính được
đào luyện trong trường đạo, chúng ta mới có cơ hội tận
hưởng hạnh phúc đích thực và tuyệt đối. Vì thế, công
ơn của các Ngài đối với chúng ta quả là ơn nghĩa khó đền!
* Ơn
nặng đối với chúng sinh, người tu chúng ta cần tĩnh tâm
quán chiếu để thấy rõ sự liên hệ giữa mình với tất
cả chúng sinh hữu tình và vô tình. Từ những nhu cầu vật
chất như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, đường đi... đến nhu
cầu tinh thần như thi ca nhạc họa... chúng ta đều nhờ công
lao của người khác đưa đến. Không chỉ mang ơn con người,
chúng ta cũng phải nhớ ơn những loài hữu tình khác nữa.
Ngay cả loài nhỏ nhất như vi khuẩn ký sinh trong cơ thể chúng
ta, nếu không có chúng thì một số chức năng cũng khó thể
chu toàn (*)!
* Ơn
lớn thứ tư trong Tứ trọng ân là ơn đối với Tổ quốc.
Lịch sử chống ngoại xâm trong suốt quãng đường giữ nước
và dựng nước của dân tộc ta, đã chói lọi biết bao gương
anh hùng liệt sĩ, hy sinh quên mình cho nền độc lập và tự
do của đất nước. Ngay cả trong thời bình, nếu không có
lực lượng quân đội và an ninh quốc phòng, không có sự
bảo vệ của hiến pháp và pháp luật, người dân làm sao
yên ổn để sinh sống, tu hành? Quốc văn giáo khoa thư có
kể câu chuyện một người có dịp đi du lịch khắp chốn.
Người ta hỏi ông, ông đã đến nhiều nước trên thế giới,
đã tận mắt chiêm ngưỡng những thắng cảnh nổi tiếng,
vậy theo ông thì nơi nào đẹp nhất? Ông ta trả lời bằng
một câu rất đơn giản nhưng rất thấm thía: “Chốn quê
hương đẹp hơn cả”. Ðây là tâm trạng của phần đông
- nếu không muốn nói là hầu hết - người dân Việt sống
xa quê hương. Dù bất cứ lý do nào, bất cứ hoàn cảnh gì
khiến phải bôn ba nơi xứ người, nỗi nhớ về chỗ chôn
nhau cắt rốn vẫn là một niềm ray rứt khôn nguôi. Vừa nặng
oằn chữ ÂN, vừa thắm thiết chữ TÌNH: công ơn đối với
đất nước quê hương, nơi đã cho ta một hình hài, một dòng
máu; tình nghĩa đối với gia đình với xóm làng quyến thuộc.
Ðây là tình tự dân tộc, là tiếng gọi thiêng liêng của
Tổ quốc, từ đó tạo nên lòng yêu nước sâu đậm và ý
chí kiên cường bảo vệ giống nòi. Ðiều này giải thích
tại sao đất nước ta từng bị xâm chiếm, dân tộc ta từng
bị nô lệ mà vẫn không đồng hóa; tại sao Việt Nam có thể
chiến thắng rất nhiều giặc ngoại bang hung hãn để giữ
vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, để ngày hôm nay
có thể sánh vai cùng bè bạn khắp năm châu.
Con
người sống có thể thiếu những loại hình giải trí, thiếu
tiện nghi vật chất, nhưng dứt khoát không thể thiếu những
nhu cầu thiết yếu cho sự sinh tồn: nhịn ăn được vài mươi
ngày, nhịn uống nước được 1-2 ngày, nhịn thở chỉ được
5-10 phút. Hành tinh chúng ta sở dĩ có sự sống là vì có không
khí và nước, từ đó cây cối rau quả mọc lên làm lương
thực cho động vật. Cho nên, nhớ ơn các loài vô tình cũng
là một đạo lý. Nhìn lại thế kỷ XX, thế kỷ chói sáng
nhất về những thành tựu khoa học kỹ thuật, nhưng cũng
bạo liệt nhất về chiến tranh và hũy hoại môi trường.
Chúng ta giật mình thấy rõ, chính con người vừa nâng cao
mức sống nhưng cũng vừa gây hại cho bản thân mình. Giông
bão, lũ lụt, dịch họa mỗi năm càng tăng về số lượng
và về mức độ tàn phá, một phần do cây rừng đầu nguồn
bị đốn chặt tràn lan, phần khác do môi trường sinh thái
bị ô nhiễm bởi các khí thải, bởi các chất độc hại
từ những khu công nghiệp. Tầng Ozon bị thủng, hiệu ứng
nhà kính làm trái đất nóng dần lên, khiến bệnh tật phát
sinh và thiên tai dồn dập, há chẳng phải là hậu quả của
một nền khoa học tiên tiến nhưng mãi chạy theo lợi nhuận
nên quên đi sự tương quan giữa mình và người?
III-
Ý NGHĨA CỦA BÁO HIẾU VÀ BÁO ÂN
Trong
thuyết trùng trùng duyên khởi, Ðức Phật dạy mỗi cá thể
đều có sự liên hệ hỗ tương và duyên sinh với toàn thể
vũ trụ vạn loài, không phải chỉ trong hiện tại mà cả
trong vô lượng kiếp quá khứ và tương lai. Với tinh thần
đó, rõ ràng con người không thể độc lập tồn tại, mà
phải nương tựa nhau, nhờ vả cùng nhau sinh sống. Ngày nay,
với phương tiện giao thông và viễn thông phát triển mạnh
mẽ, trái đất trở thành ngôi nhà ấm cúng, các dân tộc
xích lại gần nhau hơn, thì sự liên hệ hỗ tương này lại
càng chặt chẽ. Nếu con người làm điều gì tổn hại đến
kẻ khác hay hũy hoại môi trường, đó chính là trở lại
làm hại cho bản thân mình. Vì thế, nhớ ơn và đền ơn vừa
có ý nghĩa đạo đức đối với người và vật đã giúp
đỡ mình, vừa có ý nghĩa tự hoàn thiện mình và bảo vệ
sức khỏe thể chất cùng tinh thần của chính mình nữa.
Ðạo
hiếu đối với cha mẹ là tình yêu thương và lòng biết ơn
cao nhất. Người con hiếu thảo ngay tự thân đã cảm nhận
một niềm an lạc thanh lương, người khác nhìn cũng đem lòng
quý kính. Ðức Mục-Kiền-Liên được chúng ta thờ lạy tôn
xưng, không phải vì Ngài là bậc thần thông đệ nhất trong
mười đại đệ tử của Phật, mà chính vì Ngài là bậc
đại hiếu. Có thể nói, đạo hiếu là căn bản đạo đức
của con người và là điều kiện quyết định khiến phân
biệt loài người với những loài động vật khác. Ðạo hiếu
cũng là bước khởi đầu của tình thương nhân loại, bởi
vì có thương được cha mẹ mình, chúng ta mới có thể thương
bà con quyến thuộc và tất cả những người quen hoặc không
quen biết. Ở một số nước phát triển về văn minh vật
chất, con người dần dần phai lạt đi tình cảm gia đình.
Con lớn lên là muốn tự lập, xa cha mẹ để được tự do
sống cuộc sống riêng mình, thỉnh thoảng có về thăm cha
mẹ thì cũng chỉ một vài câu chuyện trao đổi rồi lại
ra đi. Từ sự lạnh nhạt trong tình cha mẹ - con cái đến
sự lãnh đạm trước nỗi khổ của đồng loại, chỉ là
một bước thật ngắn, có phải như thế không?
Tinh
thần tôn sư trọng đạo là một viên gạch lớn xây dựng
nền tảng đạo đức xã hội, và hiện tại cũng là một
vấn nạn đối với gia đình và học đường. Học trò của
nhà giáo Chu Văn An ngày xưa, dù làm quan lớn trong triều, lúc
đến thăm thầy vẫn phải đứng hầu cung kính, làm điều
gì sai quấy vẫn phải bị thầy đánh đòn. Học trò ngày
nay, có nhiều kẻ đã không nhớ ơn thầy cũ, ngay cả thầy
cô đang dạy, cũng không biết kính trọng thương yêu. Chúng
ta nghe quá nhiều trường hợp học trò mắng chửi thầy, đánh
đập thầy, thậm chí còn sát hại thầy! Có phải do vật
chất thừa thải làm băng hoại tinh thần, hay do không có sự
phối hợp chặt chẽ giữa cha mẹ và nhà trường, để giáo
dục đầy đủ cho con em về cả kiến thức lẫn đạo đức,
ngay từ thuở còn thơ ấu? Ðạo Phật chủ trương biết ơn
và đền ơn, không những giúp củng cố tình cảm gia đình
và học đường, mà còn mang tính giáo dục cao về đạo đức
nhân nghĩa; không những có giá trị trong thời Ðức Phật
còn tại thế, mà ngày càng chứng tỏ sự cần thiết phải
được nhắc lại và đề cao; không những được học hỏi
và thực hiện trong tứ chúng con Phật, mà thiết tưởng cần
được phổ biến trong toàn xã hội. Ở nước ta, ngày 20/11
hàng năm được gọi là ngày Nhà Giáo Việt Nam, các học sinh
và phụ huynh có dịp tỏ lòng trân trọng biết ơn những người
đã khai sáng trí tuệ cho mình và con em mình. Còn đối với
những vị Thầy chỉ cho mình con đường sáng, nhờ đó mình
thoát khỏi khổ đau và thoát ly sinh tử, thì chúng ta phải
làm thế nào để báo đáp? - Ðây là điều mà tất cả những
người con Phật chân chính cần suy gẫm.
Một
mặt khác, bằng cái nhìn duyên sinh, chúng ta thấy rõ sự tương
tức và tương nhập của bốn trọng ân. Chúng xoắn xuýt hòa
quyện nhau, liên hệ chặt chẽ với nhau để tạo nên một
cốt lõi duy nhất: đó là bổn phận làm người. Trong những
kiếp luân hồi bất tận, tất cả chúng sinh đều có thể
là cha mẹ, là bà con quyến thuộc của nhau. Chúng ta kính trọng
và biết ơn cha mẹ ở đời này, cũng nên nhớ nghĩ đến
cha mẹ của mình ở vô lượng đời trước. Như vậy, há
chẳng phải lòng hiếu thảo cũng là lòng biết ơn chúng sinh
đó sao? Và các thầy cô dạy chúng ta những kiến thức thế
gian và xuất thế, há chẳng phải có duyên thân tình ruột
thịt với chúng ta ở một kiếp nào đó xa rồi? Lại nữa,
nói đến lòng biết ơn đối với Tổ quốc là nói đến tình
cảm đồng bào, là tình làng nghĩa xóm. Ðức Phật dạy, cùng
đi chung một chuyến đò là đã có duyên với nhau 500 kiếp;
chúng ta cùng một dân tộc một đất nước, kết quả này
được tạo nên từ bao nhiêu kiếp hạnh ngộ? Cho nên, phóng
tầm mắt đến đâu, chúng ta cũng thấy toàn là cha mẹ anh
em ruột thịt của mình. Có lẽ nào chỉ vì một chút lợi
lộc cho bản thân mà nỡ làm tổn hại đến những người
thân thiết ấy? Có lẽ nào trông thấy cha mẹ anh em ta đang
đau khổ vì chiến tranh, vì thiên tai, vì bệnh tật ở nơi
này nơi khác, mà ta không sẵn lòng san sẻ chút ít tài vật
công lao? Khi có được tình thương bao la và bình đẳng đối
với mọi người mọi vật, tự nhiên ta sẽ biết cách sống
thế nào cho có ân tình ân nghĩa. Ta cũng sẽ tự nhiên trở
thành một người đạo đức, vì chính tình thương ấy là
tâm từ bi - mật hạnh của một Bồ tát.
* *
*
Nhân
ngày Vu-Lan, nhắc lại ý nghĩa Báo hiếu và Báo ân để chúng
ta thấy rõ rằng: Ngoài yếu lý của đạo là giác ngộ và
giải thoát sinh tử, Ðức Phật còn ân cần chỉ dạy cho chúng
ta cách làm người. Nếu chưa biết cách làm người, chúng
ta khoan nghĩ đến chuyện thành Hiền thành Thánh. Nhất là
trong thời đại hiên tại, thời đại của toàn cầu hóa,
của cuộc cách mạng tin học thâm nhập đến tận mỗi tế
bào, thời đại của tiện nghi vật chất tiến theo tỉ lệ
nghịch với sự phát triển tinh thần, luân lý và đạo đức;
thì mỗi người con Phật chúng ta, phải tự thấy mình có
trách nhiệm lớn. Chúng ta phải thắp sáng ý thức của mình
bằng ngọn đuốc chánh pháp của Phật; phải tinh tấn tu hành,
nỗ lực công phu. Ðồng thời, vì những ơn nghĩa đã mang
từ bao kiếp, chúng ta phải thương yêu và giúp đỡ tất cả
mọi người mọi vật, bằng khả năng sẵn có của mình; rồi
tùy duyên hướng dẫn người xung quanh hiểu và làm theo lời
Phật dạy, trong tinh thần Tứ nhiếp pháp. Chúng ta cũng góp
một phần công sức nhỏ nhoi của mình vào việc bảo vệ
môi trường sinh thái, để hành tinh xanh yêu quí này mãi mãi
là viên ngọc tuyệt vời trong vũ trụ bao la. Làm được những
việc tốt đạo đẹp đời như vậy, chúng ta mới có thể
báo đền bốn ơn nặng này trong muôn một!
7- VU LAN
- TRUYỀN THỐNG CỦA ÐẠO HIẾU
Cứ
mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, tất cả người con Phật
đều nhớ đến trách nhiệm báo ân báo hiếu đối với hai
đấng sanh thành. Hàng Phật tử khắp năm châu bốn biển cùng
nhau long trọng tổ chức đại lễ Vu Lan, nương vào uy đức
ngôi Tam Bảo, cầu nguyện cho cha mẹ còn sống được an lạc
trong chánh pháp, cha mẹ đã qua đời siêu sanh về các cõi
lành. Thương cha kính mẹ được coi là truyền thống tốt
đẹp lâu đời của mỗi người dân Việt. Tình thương đối
với cha mẹ luôn luôn là mối ân tình thiêng liêng nhất.
Từ
thuở xa xưa đến nay, tấm gương hiếu hạnh của Tôn giả
Mục Kiền Liên vẫn mãi mãi soi sáng, làm thắm đượm nhân
tình. Sau khi thành đạt đạo quả A La Hán, ngài Mục Kiền
Liên dùng thiên nhãn quan sát khắp, thấy Mẹ mình bị đọa
đày làm loài quỷ đói. Ngài là hàng đệ tử thần thông
đệ nhất, tin rằng sẽ cứu được Mẹ qua cơn đói khát
đày đọa tấm thân. Ngài với hai tay cầm bát cơm xuống cõi
âm dâng lên cho Mẹ. Mẹ ngài cầm bát cơm vừa đưa ngang miệng,
thì than ôi ! Cơm hóa thành than hồng, không thể ăn được.
Tôn giả chính mắt chứng kiến cảnh tượng này, lòng đau
khổ vô cùng. Tôn giả trở về xin Phật mở lượng từ bi
cứu độ Mẹ ngài.
Phật
dạy: “Mẹ ông đã nhiều kiếp gieo nhơn xan tham keo kiệt,
nên nay phải chịu quả báo làm loài quỷ đói. Một mình ông
không thể cứu được. Phải nhân ngày rằm tháng bảy, tổ
chức cúng dường Phật và chúng Tăng trong mười phương, nhờ
vào uy lực và sức chú nguyện của Phật và chúng Tăng mười
phương thì mẹ ông mới có thể siêu thoát được”.
Sau
đó, Tôn giả Mục Kiền Liên vâng theo lời Phật dạy, đến
ngày rằm tháng bảy đem phẩm vật đến cúng dường chúng
Tăng mười phương. Mẹ của Ngài nhờ uy đức phước lực
của chúng Tăng và lòng chí thành chí kính của Ngài, sớm
được thoát khỏi nỗi thống khổ của loài quỷ đói, siêu
sinh về cõi lành.
Từ
đó, ngày lễ Vu Lan được tổ chức long trọng để hàng Phật
tử câu hội về ngôi Tam Bảo, cúng dường Ðức Phật và
chúng Tăng, cầu cho cha mẹ còn sống được thân tâm an lạc,
sau khi mạng chung được sanh về các cõi lành.
Về
phương diện giáo dục đạo đức của đạo Phật, một điểm
đáng ghi nhận là giáo dục về hiếu đạo. Hiếu đạo là
nền tảng đạo đức của đạo làm người cho ra người.
Chúng ta có thể trang trải tình thương đến tất cả mọi
loài mọi vật, nhưng điểm xuất phát làm nền tảng, phải
từ sự hiếu kính cha mẹ. Một người có thể thương đủ
hạng người, tình thương đó trùm hết muôn loài vạn vật,
nhưng nếu không thương kính cha mẹ thì tình thương đó e
thành giả dối, vì không có gốc rễ, không được lập cước
từ căn bản. Cho nên hiếu đạo xưa nay vẫn thường được
đề cao trong phạm vi luân lý đạo đức. Nếu chưa thực hiện
hiếu đạo ngay trong đời sống gia đình đối với cha và
mẹ thì chưa thể xứng đáng là một con người. Người xưa
có câu: “Thiên kinh vạn quyển, hiếu nghĩa vi tiên”. Ngay
như người xuất gia học đạo vẫn còn phải cưu mang bốn
ân nặng là ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân chúng sanh và ân
tổ quốc. Trong bốn ân thì ân cha mẹ vẫn còn là mối ân
tình sâu đậm với mỗi người xuất gia tu Phật. Trong “Cư
trần lạc đạo” của vua Trần Nhân Tông viết:
“Tụng
kinh niệm Bụt
Chúc
Thánh khẩn cầu
Tam
hữu tứ ân
Ta
nguyền được trả”.
Vì
công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ quá là cao dày,
nên Kinh Thi có câu: “Phụ hề sanh ngã, Mẫu hề cúc ngã.
Ai ai phụ mẫu, Sanh ngã cù lao. Dục báo thâm ân, hiều thiên
võng cực”. (Cha sanh ra ta, mẹ nuôi nấng ta. Thương cha mẹ
lắm, vì sinh ta nhọc nhằn. Ðến khi muốn báo đáp ân sâu,
thì than ôi, trời cao không cùng !) .
Công
ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ quả là lớn lao, như
trời cao. Khi người con muốn đền đáp ân sâu thì lúc đó
như trời cao với không tới, từ khi cưu mang đến mở mắt
chào đời, trưởng thành và lớn khôn, cha mẹ phải chịu
biết bao là khổ sở, nhọc nhằn. Thế mà khi sức sống đã
truyền hết cho con thì cha mẹ hơi tàn sức tận, rồi trở
thành “người thiên cổ”. Ai có lớn lên nếm mùi cay đắng,
thấm gót phong trần thì mới thắm thía cái ơn của cha mẹ
mình. Một người biết đến điều ân nghĩa, chắc chắn không
dám vội quên cái ơn của cha mẹ.
Phật
dạy: “Này các Tỳ kheo, có hai hạng người, ta nói là không
thể trả ơn được. Thế nào là hai ? Ðó là mẹ và cha. Nếu
một bên vai cõng mẹ, một bên vai cõng cha, làm như vậy suốt
một trăm năm, cho đến khi cha mẹ trăm tuổi. Như vậy, này
các Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn cho mẹ và cha.
Nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội và dù tại đấy,
mẹ cha có vãi đại tiện, tiểu tiện, dù như vậy, này các
Tỳ kheo, cũng chưa làm đủ để trả ơn mẹ và cha...” (Kinh
Tăng Chi I-75)
Ca
dao Việt Nam có câu :
“Công
cha như núi Thái Sơn
Nghĩa
mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
Một
lòng thờ mẹ kính cha
Cho
tròn chữ hiếu mới là đạo con”.
Ở
người cha, nổi bật là đức nghiêm; có nghiêm mới giáo dục
con cái có đạo đức, có văn hóa, sau trở thành người đủ
tài đủ đức, nên tính đức người cha sừng sững, vòi vọi
như núi Thái Sơn. Còn tính đức của người mẹ thì muốn
con có cuộc sống no ấm, đủ đầy; người mẹ lại thường
gần gũi, an ủi, vỗ về con cái hơn, nên tình nghĩa của người
mẹ, nó đậm đà, da diết như suối nguồn bất tận. Suối
nguồn tình thương của người mẹ, nó dịu dàng, đầm ấm,
âm thầm tuôn chảy không bao giờ dừng nghỉ.
Phật
dạy trong Kinh Nhẫn Nhục: “Cùng tột điều thiện không gì
hơn hiếu, cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu”.
Một
kẻ bất hiếu với cha mẹ là kẻ đã vong ân bội nghĩa, kẻ
đã vong ân bội nghĩa thì không còn sự xấu ác nào ở trên
thế gian mà họ không dám làm, kẻ ấy đã quên cội nguồn.
Có
gì sung sướng bằng khi chúng ta còn cha mẹ. Mỗi khi mùa Vu
Lan về, chúng ta được cài lên áo chiếc hoa hồng tươi thắm.
Sự hiện hữu của cha mẹ trong gia đình khác nào sự hiện
hữu của các thiên thần. Còn cha còn mẹ là còn thiên đường
của tuổi thơ. Còn cha còn mẹ là còn Phật trong nhà. Muốn
đạt được tâm Phật, không gì hơn giữ gìn tâm hiếu; muốn
đạt được hạnh Phật, không gì hơn giữ gìn hạnh hiếu.
Vì mãi lo kính thờ Phật bên ngoài mà quên kính thờ Phật
trong nhà, nên mới có câu: “Phật trong nhà không thờ, thờ
Thích Ca ngoài đường”.
Phật
dạy: “Những gia đình nào, này các Tỳkheo, trong ấy các
con cái kính lễ cha mẹ ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận ngang bằng với Phạm Thiên. Những gia đình nào,
này các Tỳ kheo, trong ấy các con cái kính lễ mẹ cha ở trong
nhà, những gia đình ấy được chấp nhận như các Ðạo sư
thời xưa. Những gia đình nào, này các Tỳ kheo, trong ấy các
con cái kính lễ mẹ cha ở trong nhà, những gia đình ấy được
chấp nhận là đáng được cúng dường”.
“Phạm
Thiên, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha. Các Ðạo
sư thời xưa, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với mẹ cha.
Ðáng được cúng dường, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa
với mẹ cha. Vì cớ sao ? Giúp đỡ rất nhiều, này các Tỳ
kheo, là mẹ cha đối với con cái, nuôi chúng lớn, dưỡng
dục chúng, giới thiệu chúng vào đời.” (Phật thuyết như
vậy, Cat, 7 - 503)
Ân
sâu nghĩa nặng của cha mẹ có thể kết thành những vần
thơ tuyệt tác nhất. Và tự nhiên hạnh hiếu được coi là
đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất trong
mọi thời đại, từ cổ chí kim, từ Ðông sang Tây. Dùng bút
mực để diễn tả trọng ân của cha mẹ vẫn còn mãi với
kiếp sống con người. Vậy thì, đã là một Phật tử theo
chánh đạo, chúng ta phải báo đáp ân sinh thành dưỡng dục
của cha mẹ thế nào mới xứng đáng? Muốn báo hiếu đầy
đủ nhất phải gồm hai phần: vật chất và tinh thần.
1-
Về đời sống vật chất thì phải lo hầu hạ, phụng dưỡng
cha mẹ những nhu cầu cần thiết, để cha mẹ được thảnh
thơi an dưỡng trong tuổi xế chiều.
2-
Về đời sống tinh thần phải thường xuyên khích lệ trợ
duyên cho cha mẹ học hiểu chánh pháp, biết tránh ác làm lành,
giữ gìn ba nghiệp lành, tiến đến giải thoát an vui vĩnh
viễn.
Có
một Thiền sư, tuy bản thân xuất gia, nhưng vẫn giữ tròn
hiếu đạo cho đến khi cha mẹ khuất bóng :
“Giang
sơn còn nặng gánh tình
Trời
chưa cho nghỉ thì mình cứ đi
Khi
nào trời bảo thôi đi
Giang
sơn cất gánh, ta thì nghỉ ngơi”.
Trong
mùa Vu Lan năm nay, hàng Phật tử chúng ta nghiêng mình kính
cẩn trước Phật đài, thề nguyền noi gương hiếu hạnh của
đức Mục Kiền Liên, làm tròn trách nhiệm một người con
chí hiếu chí kính, biết nhớ ơn và đền ơn đối với hai
đấng sanh thành, càng nghĩ đến tất cả chúng sanh trong p