VIII. CHƯƠNG
OAI ĐỨC TỰ TẠI
Lúc
bấy giờ, Bồ tát Oai Đức Tự Tại ở trong đại chúng, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đại
bi Thế Tôn! Ngài đã rộng vì chúng con phân biệt tùy thuận
Giác-tánh như thế, khiến các Bồ tát Giác-tâm được sáng
suốt, nương theo Viên-âm của Phật, không nhơn nơi sự tu
tập mà được thiện lợi.
Bạch
Đức Thế Tôn! Ví như một thành lớn, ngoài có bốn cửa,
tùy những người ở các phương đến, chẳng phải chỉ một
con đường. Tất cả Bồ tát trang nghiêm Phật quốc và thành
tựu Bồ đề, chẳng phải chỉ nhờ một phương tiện. Cúi
xin Đức Thế Tôn rộng vì chúng con tuyên nói tất cả thứ
lớp phương tiện, và những người tu hành gồm có mấy hạng,
khiến các vị Bồ tát trong hội này và chúng sanh cầu Đại
thừa đời mạt pháp chóng được khai ngộ, dạo chơi trong
biển Đại-tịch-diệt của Như Lai”
Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Oai Đức Tự Tại rằng: “Lành
thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì
các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi Như Lai những
phương tiện như thế. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà
nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Oai Đức Tự Tại rất đỗi vui mừng, vâng theo
lời dạy, cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe.
“Này
Thiện nam tử! Tâm Diệu-giác vô-thượng trùm khắp mười
phương xuất sanh ra Như Lai cùng tất cả các pháp, bình đẳng
đồng thể. Đối với người tu hành thật không có hai, mà
phương tiện tùy thuận thì vô số. Tuy nhiên, nếu tóm gọn
về ý nghĩa “theo tánh sai biệt”, chỉ có ba pháp môn phương
tiện.
Này
Thiện nam tử! Các Bồ tát khi đã ngộ được Viên Giác thanh
tịnh, dùng Giác tâm thanh tịnh đó giữ hạnh lặng lẽ. Do
lắng hết các vọng niệm mà biết được thức tâm phiền
động. Khi Tịnh Huệ phát sanh, thân tâm khách trần từ đây
dứt hẳn, liền được nội tâm sinh ra lặng lẽ khinh an. Vì
sự lặng lẽ này nên trong mười phương thế giới, tâm của
các Như Lai hiện rõ vào đó, như bóng trong gương. Pháp phương
tiện này gọi là Xa-ma-tha.
Này
Thiện nam tử! Khi các Bồ tát ngộ được Giác-tâm thanh tịnh,
dùng Giác-tâm thanh tịnh ấy mà rõ được tâm tánh cùng các
căn trần đều là huyễn hóa. Lúc ấy liền khởi ra huyễn
trí để trừ các huyễn, biến hóa các pháp huyễn để khai
thị chúng sanh như huyễn. Do khởi ra các huyễn ấy, nên liền
được nội tâm phát ra lòng đại bi khinh an. Tất cả Bồ
tát theo đây mà khởi hạnh, thứ lớp tăng tiến. Trí quán
huyễn kia chẳng đồng với huyễn, nhưng do cái trí quán được
điều ấy cũng là huyễn, nên huyễn tướng hằng dứt, các
Bồ tát mới viên mãn được diệu hạnh, cũng như lúa mạ
lớn lên nhờ đất. Pháp phương tiện này gọi là Tam-ma-bát-đề.
Này
Thiện nam tử! Khi các Bồ tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh,
dùng Giác tâm thanh tịnh ấy mà không chấp thủ các huyễn
hóa và các tướng tĩnh lặng. Lúc này, nhận rõ thân tâm đều
là chướng ngại, nhưng Giác-minh vô-tri không y nơi các ngại,
hằng siêu vượt qua những cảnh ngại và không ngại. Thọ
dụng thế giới cùng với thân tâm, tuy tướng ở trong trần
cảnh (nhưng không bị trần cảnh làm ngại) giống như tiếng
từ trong chuông vượt thoát ra ngoài, phiền não và Niết bàn
không chướng ngại nhau. Bấy giờ, nội tâm liền phát sinh
sự lặng lẽ khinh an. Cảnh giới tịch diệt tùy thuận của
Diệu giác, thân và tâm tự tha đều không đến được; chúng
sanh, thọ mạng đều là phù tưởng. Pháp phương tiện này
gọi là Thiền-na.
Này
Thiện nam tử! Ba pháp môn này đều là thân cận tùy thuận
với Viên-giác. Mười phương Như Lai nhơn đây thành Phật,
cho đến mười phương các Bồ tát tu tập nhiều thứ phương
tiện, tất cả có dị đồng, cũng đều y nơi ba thứ sự
nghiệp như thế, nếu được chứng ngộ viên mãn thì liền
thành tựu Viên-giác.
Này
Thiện nam tử! Giả sử có người tu theo Thánh đạo, giáo
hóa cho những người khác, thành tựu được trăm ngàn ức
quả vị A-la-hán và Bích Chi Phật, cũng không bằng một người
nghe pháp môn Viên-giác vô ngại này, tùy thuận tu tập chỉ
trong một sát na”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói
kệ rằng :
“Oai Đức! Ông nên biết,
Tâm
Đại-giác vô thượng
Xưa
nay không hai tướng.
Tùy
thuận các phương tiện
Số
kia đến vô lượng.
Như
Lai tổng khai thị
Chỉ
có ba pháp môn:
Tịch
tịnh Xa-ma-tha
Như
gương chiếu các tượng.
Như
huyễn Tam-ma-đề
Như
mạ dần tăng trưởng.
Thiền-na
duy tịch diệt
Như
tiếng thoát từ chuông.
Ba
diệu pháp môn này
Đều
tùy thuận Viên Giác.
Mười
phương các Như Lai
Và
các Đại Bồ tát
Nhơn
đây được thành đạo.
Ba
pháp được viên chứng
Đạt
cứu cánh Niết bàn”.
Trong
chương Thanh Tịnh Huệ, chúng ta đã nghe Đức Phật đề cập
đến hạnh tu và những cấp bậc tùy thuận Viên Giác. Chương
này giản trạch về những pháp môn phương tiện tùy thuận
tánh Viên Giác. Phương tiện thật ra có rất nhiều, nhưng
tựu trung gồm ba pháp môn: Xa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề và Thiền-na.
Vị
Bồ tát đứng đầu bổn chương là Ngài Oai Đức Tự Tại.
Oai đức là tướng trang nghiêm bên ngoài, Tự tại chỉ sức
tự chủ bên trong. Ai muốn có hai đức tính trên, phải tu
theo ba pháp môn được giảng nói trong chương này.
“Lúc
bấy giờ, Bồ tát Oai Đức Tự Tại ở trong đại chúng, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quì dài chắp tay mà bạch Phật rằng: Đại
bi Thế Tôn! Ngài đã rộng vì chúng con phân biệt tùy thuận
Giác tánh như thế, khiến các Bồ tát Giác tâm được sáng
suốt, nương theo Viên âm của Phật, không nhơn nơi sự tu
tập mà được thiện lợi”: Ngay phần duyên khởi,
Bồ tát Oai Đức Tự Tại đã bạch Phật rằng: Trong chương
trước, Phật dạy về 4 cấp bậc tùy thuận Viên Giác và
hạnh tu của từng cấp bậc. Khi nghe đến chỗ này, nhiều
vị Bồ tát trong pháp hội được khai ngộ, không bao giờ
lầm lẫn nữa. Điều đặc biệt là nhờ Viên âm của Phật
mà được lợi ích thiện diệu, dù chưa trải qua tu tập.
Vì sao được như vậy?
Chúng
ta biết rằng, Viên-âm là âm thanh thuyết pháp chứa đựng
ý nghĩa nhiệm mầu tròn đầy uy đức. Kinh thường mô tả,
Đức Phật khéo thuyết ở đoạn đầu, khéo thuyết ở đoạn
giữa và khéo thuyết ở đoạn sau. Danh từ chuyên môn gọi
là Sơ thiện, Trung thiện và Hậu thiện. Như vậy từ khi bắt
đầu đăng tòa thuyết pháp đến khi kết thúc, lời Phật
dạy đều viên mãn vi diệu, nên được gọi là Viên âm, đầy
đủ hai ý nghĩa :
- Một
là, trong một buổi thuyết pháp của Phật, đại chúng có
mặt đều được lợi ích, nhiều hay ít tùy trình độ căn
cơ của mỗi người cao thấp khác nhau. Ví như một trận mưa
trút xuống, tất cả cây cối thảo mộc đều được tưới
nước mưa, nhưng thấm ướt nhiều ít là tùy cây lớn hay
nhỏ.
- Hai
là, lời dạy của Phật chứa đựng đầy đủ nghĩa lý sâu
mầu. Nhà Thiền có câu “Tâm thông thuyết thông”. Người
tu lấy tâm làm tông, nên khi một người ngộ được bổn
tâm, ngôn ngữ người ấy dùng sẽ rất sinh động và phong
phú. Đức Phật đã thành tựu giác ngộ viên mãn, nội lực
tu tập bên trong của Ngài đã tròn đầy, nên khi biểu hiện
ra ngôn ngữ bên ngoài, thì ngôn ngữ ấy luôn vi diệu. Người
được nghe, dù chưa trải qua thời gian tu tập, vẫn có thể
phát khởi niềm tin mạnh mẽ.
“Bạch
Đức Thế Tôn! Ví như một thành lớn, ngoài có bốn cửa,
tùy những người ở các phương đến, chẳng phải chỉ một
con đường. Tất cả Bồ tát trang nghiêm Phật quốc và thành
tựu Bồ đề, chẳng phải chỉ nhờ một phương tiện”:
Muốn vào thành lớn, người bên ngoài có thể qua một trong
bốn cửa. Từ nhiều phương đến, người nơi xa có thể đi
rất nhiều đường chớ không phải một. Cũng như vậy, Bồ
tát khắp mười phương, muốn dùng công đức trang nghiêm cõi
Phật và thành tựu Bồ đề, có thể thiết lập rất nhiều
phương tiện.
“Cúi
xin Đức Thế Tôn rộng vì chúng con tuyên nói tất cả thứ
lớp phương tiện, và những người tu hành gồm có mấy hạng,
khiến các vị Bồ tát trong hội này và chúng sanh cầu Đại
thừa đời mạt pháp chóng được khai ngộ, dạo chơi trong
biển Đại tịch diệt của Như Lai”: Bồ tát thỉnh
Phật tuyên nói những pháp môn phương tiện thứ lớp, và
những hạng người tu hành tương ứng với các pháp môn ấy.
Nhờ lời dạy của Phật, những người tu Đại thừa mau chóng
ngộ tâm Viên Giác, sau đó khởi công tu tập, cuối cùng đạt
đến sự tự tại trong vô công dụng hạnh, gọi là dạo chơi
trong biển Đại tịch diệt của Như Lai.
“Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Oai Đức Tự Tại rằng:
“Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể
vì các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp hỏi Như Lai những
phương tiện như thế. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà
nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Oai Đức Tự Tại rất đỗi vui mừng, vâng theo
lời dạy, cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe”: Đức
Thế Tôn hứa khả sẽ nói về những pháp môn phương tiện
và Bồ tát Oai Đức Tự Tại cùng đại chúng lắng sâu tâm
thức chuẩn bị nghe. Đây là một tư thế thiền tập mà tất
cả thiền sinh chúng ta nên biết. Trước khi pháp sư thuyết
giảng, người nghe phải bặt hết các duyên, nghĩa là phải
dẹp hết mọi nguyên nhân làm tâm ta loạn động. Có như thế
mới thẩm thấu được lời giảng dạy, mới có thể hiểu
được những ý nghĩa sâu mầu mà nhiều lúc ngôn từ không
diễn tả hết.
Kinh
Pháp Hoa có nói: “Thập phương Bạt-già phạm, Duy hữu nhất
thừa pháp, Vô nhị diệc vô tam”. Mười phương các đấng
Như Lai chỉ có pháp nhất thừa, không hai cũng không ba. Đó
là cứu cánh Phật thừa. Như vậy, chân lý chỉ có một còn
phương tiện để đạt đến cứu cánh lại rất nhiều. Chúng
sanh có tám vạn bốn ngàn trần lao phiền não thì Đức Phật
cũng có ngần ấy pháp môn đối trị. Nhiều người hay chấp
pháp, cho pháp tu của mình hay hơn cả, rồi chỉ trích chê
bai pháp tu của người khác. Điều nầy không nên có ở người
tu Phật. Chúng ta có quyền khen pháp môn của mình, tôn xưng
vị Thầy của mình, nhưng cần tôn trọng pháp môn và vị
Thầy của người khác, miễn sao đó là chánh pháp điều trị
hết bệnh phiền não cho người. “Qui nguyên tánh vô nhị,
phương tiện hữu đa môn”: Tánh bản nguyên của chúng sanh
không hai không khác, nhưng phương tiện tu hành lại có nhiều
cửa. Đức Phật được tôn xưng là Vô thượng Y Vương vì
Ngài biết tùy bệnh cho thuốc, điều trị được mọi tâm
bệnh cho chúng sanh.
“Này
Thiện nam tử! Tâm Diệu giác vô thượng trùm khắp mười
phương xuất sanh ra Như Lai cùng tất cả các pháp, bình đẳng
đồng thể”: Như các chương trước, dù giảng về
những phương tiện thứ lớp, nhưng đầu tiên Phật vẫn đi
thẳng vào cứu cánh là tâm Viên-Giác. Tâm này trùm khắp mười
phương, bình đẳng giữa chư Phật và chúng sanh, giữa tất
cả pháp thế gian và xuất thế gian. Sở dĩ nói tâm này xuất
sanh ra Như Lai, vì tất cả Như Lai do liễu ngộ tâm này mà
thành Phật, như kinh Bát Nhã nói: “Bát Nhã là mẹ của chư
Phật
mười phương ba đời”. Bát Nhã là Căn-bản-trí, chính là
tâm Viên-Giác vậy.
Tâm
Viên Giác không những xuất sanh tất cả Như Lai, mà còn xuất
sanh tất cả các pháp. Bởi vì tất cả pháp đều từ tâm
sanh, tâm không chỗ sanh thì pháp không chỗ trụ. Khi tâm biến
đổi sanh diệt, các pháp có nhiều hình trạng vô thường;
khi tâm ở trong trạng thái nhất như, mọi pháp cũng đều
trong tự thể bình đẳng. Nói khác đi, khi ngộ được tâm
Viên Giác thì các pháp trở nên thanh tịnh, khi mê tâm Viên
Giác thì các pháp biến thành nhiễm ô. Nhưng tất cả pháp
dù tịnh hay nhiễm cũng đều lấy Viên Giác làm tự thể,
nên Phật nói “Bình đẳng đồng thể”.
“Đối
với người tu hành thật không có hai, mà phương tiện tùy
thuận thì vô số. Tuy nhiên, nếu tóm gọn về ý nghĩa theo
tánh sai biệt, chỉ có ba pháp môn phương tiện”: Vì
tất cả pháp đều lấy Viên Giác làm thể, nên người tu
hành cũng phải lấy việc ngộ tự tâm Viên Giác làm mục
đích rốt ráo, không có mục đích thứ hai nào nữa. Tuy nhiên,
do trình độ căn cơ của chúng sanh sai biệt không đồng, nên
phương tiện tu hành tương ứng phải nhiều vô số. Dù vậy,
tóm tắt cũng không ngoài ba phương pháp thực hành:
1-
Xa-ma-tha: Là pháp môn tu dừng mọi vọng tâm loạn động. Liên
hệ với Nhất-tâm-tam-quán của tông Thiên-thai, thì Xa-ma-tha
đồng với quán Không, tức thuộc Chơn đế.
2-
Tam-ma-bát-đề: Là pháp môn tu tương đương với quán Giả
bên tông Thiên Thai, thuộc về Tục đế.
3-
Thiền na: Là Quân bình Chỉ-quán, tức Định-Huệ đẳng trì,
đồng với quán Trung của tông Thiên Thai, thuộc về Trung-đạo-đế.
Chúng
ta nên phân biệt Xa-ma-tha và Tam-ma-bát-đề, tức Ma-ha-chỉ-quán,
với Chỉ và Quán của Tiểu thừa. Chỉ quán của Tiểu thừa
là Tiệm tu, nhờ Chỉ hay Quán được thuần thục, cuối cùng
được giải thoát, tức là từ ngoài tu vào. Còn Ma-ha-chỉ-quán
của Đại thừa, trước phải ngộ tâm Viên Giác rồi mới
tu, tức từ trong tu ra. Cho nên, không phải ngộ rồi là xong
việc, mà còn phải trải qua thời gian tu hành, nhanh hay chậm
tùy căn cơ và sự tinh tấn của mỗi người.
“Này
Thiện nam tử! Các Bồ tát khi đã ngộ được Viên Giác thanh
tịnh, dùng Giác tâm thanh tịnh đó giữ hạnh lặng lẽ. Do
lắng hết các vọng niệm mà biết được thức tâm phiền
động. Khi Tịnh Huệ phát sanh, thân tâm khách trần từ đây
dứt hẳn, liền được nội tâm sinh ra lặng lẽ khinh an”:
Đức Phật bắt đầu dạy về phương pháp Xa-ma-tha. Bồ tát
trước tiên phải ngộ tâm Viên Giác, sau mới dùng tâm ấy
giữ cái hạnh lặng lẽ. Rõ ràng ở đây Phật dạy tu theo
Tánh-biết-vọng, y nơi nhơn không sanh diệt là Giác tâm thanh
tịnh mà lắng hết các vọng niệm khởi ra trên thức tâm.
Khi vọng niệm đã lắng, ta thấy thức tâm phiền động sanh
diệt một cách tường tận. Đó là cái bị thấy, thuộc về
khách. Một số thiền sinh thắc mắc, sau một thời gian công
phu lại thấy mình có quá nhiều vọng tưởng lăng xăng. Do
vì tâm yên lặng, chúng ta nhận diện được vọng, đưa vọng
ra ánh sáng của tự tâm; vậy là tiến được một bước,
trong khi người đời không biết vọng là gì, ngỡ tâm suy
nghĩ là mình nên mãi bị vọng kéo lôi. Tu Chỉ ở đây là
dùng Giác tâm lắng tất cả ý niệm, nghĩa là từ cái nhân
vô sanh mà tu ra. Do dụng công lắng niệm nên phát huệ, vì
thế Phật gọi là Tịnh-Huệ phát sanh. Lúc ấy, chúng ta thấy
thân tứ đại là giả hợp không phải là mình, tâm vọng
duyên ảnh sáu trần, cũng chỉ là khách; thân tâm khách trần
sẽ lặng dứt.
Nhưng
mà, cái gì biết được thân tâm sanh diệt là khách trần?
Chúng ta phải khéo nhận ra cái thường biết đó. Khi nhận
ra được nó, chúng ta không còn tu theo lối điểm mặt từng
vọng một, như Thạch-Củng thợ săn, một mũi tên chỉ bắn
trúng một con mồi; mà phải như Mã-Tổ Đạo-Nhất, một mũi
tên bắn trúng một bầy! Lúc này, đi đứng nằm ngồi, mọi
trạng thái của thân và tâm, chúng ta đều hằng biết. Những
cụm mây vô minh bây giờ không còn làm ngăn ngại nền trời
tự tánh nữa, mà tô điểm cho nền trời. Tự nhiên chúng
ta sẽ thấy nội lực sung mãn, bên trong cảm thấy lặng lẽ
nhẹ nhàng. Nhưng cũng nên lưu ý một điều: Đừng bám vào
trạng thái lặng lẽ ấy làm kế sống, vì như vậy chúng
ta đã chấp vào những cảm thọ. Kinh Lăng Nghiêm gọi đó
là Ma Thọ Ấm, không phải là cứu cánh.
“Vì
sự lặng lẽ này nên trong mười phương thế giới, tâm của
các Như Lai hiện rõ vào đó, như bóng trong gương. Pháp phương
tiện này gọi là Xa-ma-tha”: Khi gương hết bụi bặm,
những hình ảnh bên ngoài sẽ hiện rõ một cách trung thực.
“Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán”, như câu nói
trong nhà Thiền. Cũng vậy, tâm càng an định thì càng nhận
rõ các phiền động trên thức tâm, kể cả nhưng vọng vi
tế; và ở bất cứ tư thế nào của thân, chớ không phải
chỉ trong lúc tọa thiền. Khi đạt được sự lặng lẽ khinh
an, vọng niệm dứt sạch, vô minh hằng đoạn, Pháp thân hiện
bày. Tâm chúng ta lúc này tương ứng với tâm của chư Phật
mười phương, nên tâm Phật hiện rõ trong tâm ta. Tâm gương
trong sáng của ta và tâm gương chư Phật chiếu nhau, in bóng
lên nhau mà không có sự ngăn ngại.
“Này
Thiện nam tử! Khi các Bồ tát ngộ được Giác tâm thanh tịnh,
dùng Giác tâm thanh tịnh ấy mà rõ được tâm tánh cùng các
căn trần đều do huyễn hóa”: Đây là pháp tu thứ
hai, Tam-ma-bát-đề tức tu Quán. Bồ tát trước phải ngộ
Giác tâm thanh tịnh, sau mới dùng Giác tâm ấy rõ biết sáu
căn, sáu trần và sáu thức đều nhơn huyễn hóa mà có. Pháp
tu này cũng theo Tánh-biết-vọng như pháp Xa-ma-tha nói trên.
“Lúc
ấy liền khởi ra huyễn trí để trừ các huyễn, biến hóa
các pháp huyễn để khai thị chúng sanh như huyễn. Do khởi
ra các huyễn ấy, nên liền được nội tâm phát ra lòng đại
bi khinh an”: Trong chương Phổ Nhãn, Đức Phật đã
giảng về lý như huyễn rất cặn kẽ. Ở đây, Phật dạy
chúng ta phương tiện dùng huyễn để trừ huyễn. Bởi vì
ở giai đoạn đầu đang dụng công, nếu không dùng tâm năng
huyễn để trừ cảnh sở huyễn thì chúng ta biết lấy gì
để tu? Cho nên, lần lượt theo thứ tự, khởi đầu ta biết
căn-trần-thức là do huyễn hóa, dùng trí như huyễn phá sạch
vô minh. Sau đó, huyễn trí này phát ra diệu dụng, thi thiết
phương tiện giáo hóa chúng sanh như huyễn.
Bồ
tát nhơn nơi huyễn trí, hiểu được tất cả chúng sanh đều
bình đẳng cùng chư Phật, chỉ vì bị các huyễn quay cuồng
mà quên đi Giác tánh. Quán sâu như vậy, Bồ tát thành tựu
quán trí, phát ra sự khinh an từ nội tâm và lòng từ bi rộng
lớn đối với muôn loài. Công phu càng sâu thì tình thương
trang trải cho chúng sanh càng tự nhiên và sự cảm thông càng
nẩy nở.
“Tất
cả Bồ tát theo đây mà khởi hạnh, thứ lớp tăng tiến.
Trí quán huyễn kia chẳng đồng với huyễn, nhưng do cái trí
quán được điều ấy cũng là huyễn, nên huyễn tướng hằng
dứt, các Bồ tát mới viên mãn được diệu hạnh, cũng như
lúa mạ lớn lên nhờ đất. Pháp phương tiện này gọi là
Tam-ma-bát-đề”: Bồ tát khởi hạnh quán như huyễn
theo thứ lớp như trên, càng lúc càng tăng tiến. Đến một
lúc nào đó, Bồ tát lại thấy rằng cái huyễn trí chẳng
đồng với huyễn hóa kia, cuối cùng cũng là huyễn. Đã biết
là huyễn nên lại xa lìa. Cứ như thế mà tiến sâu vào, đến
mức độ không xa lìa được nữa, gọi là “huyễn tướng
hằng dứt”, Tuy vậy, Bồ tát phải y cứ vào đất tâm của
mình mới viên mãn diệu hạnh, như lúa mạ phải nhờ đất
mới lớn lên được.
Liên
hệ đến phương pháp “Biết vọng không theo”, chúng ta thấy
có sự tương đồng. Lúc tọa thiền, thấy vọng khởi lên,
chúng ta biết là vọng liền buông. Đó là dùng cái tâm-năng-biết
để buông cái vọng-bị-biết. Khi vọng-bị-biết đã hết,
phải buông luôn cái tâm-năng-biết, vì đó không phải là
cứu cánh mà chỉ dùng tạm thời làm phương tiện, trong giai
đoạn đầu tu tập, chính là huyễn-trí được diễn tả trong
kinh này.
Tuy
nhiên, nếu còn nằm trong vòng đối đãi năng và sở thì chúng
ta cứ buông vọng mãi, không bao giờ hết vọng được. Chỉ
khi nào chúng ta liễu hội được rằng, phải y cứ nơi tự
thể mà buông, nghĩa là từ trong tu ra, thì mới dứt được
vọng và sự tu hành rất nhẹ nhàng. Kinh Lăng Nghiêm nói “Thức
tâm thường trụ”, không bao giờ dẹp sạch thức-tâm. Trong
kinh Lăng Già, Phật dạy: “Tức vọng tức chơn”. Cho nên,
trong giai đoạn sau, khi liễu vọng, chuyển thức thành trí,
chúng ta mới biết, dụng công đối trị chỉ là tạm thời
điều phục tâm. Bởi vì, ngay vọng đã là chơn, không thể
tìm chơn ở ngoài vọng; cũng như ngay sóng đã là nước, không
cần dẹp sóng mới có nước. Sau 49 ngày đêm thiền định,
khi sao Mai vừa mọc, Đức Phật hoát nhiên đại ngộ chính
là nhận ra tự tâm Viên Giác có sẵn trong thân ngũ uẩn sanh
diệt này.
Như
vậy, khi tu theo phương tiện Tam-ma-bát-đề này, nếu còn đối
đãi giữa tâm và cảnh, giữa năng và sở thì quán chưa được
rốt ráo. Khi xa lìa hết các huyễn, không còn tâm năng-quán
và cảnh sở-quán, tánh Viên Giác phi huyễn mới hiện bày.
Tánh Viên Giác không đồng với huyễn, nhưng nó là tự thể
của tất cả các huyễn. Khi nhận ra được điều này, chúng
ta mới biết các pháp là huyễn nhưng vẫn thường Như, vì
mọi pháp đều ở trong Như tánh, đều từ tâm Viên Giác phát
sinh ra. Lúc này, ta không còn khởi quán nữa, đến chỗ vô
công dụng hạnh là pháp quán thành tựu viên mãn.
“Này
Thiện nam tử! Khi các Bồ tát ngộ được Viên Giác thanh tịnh,
dùng Giác tâm thanh tịnh ấy mà không chấp thủ các huyễn
hóa và các tướng tĩnh lặng”: Đức Phật giảng về
pháp thứ ba, gọi là Thiền na. Bồ tát sau khi ngộ được
Viên Giác thanh tịnh, một mặt không chấp giữ các huyễn
hóa tức không dính mắc vào pháp Quán; mặt khác, không chấp
vào các tướng tĩnh lặng do tu Chỉ. Đây chính là quân bình
Chỉ quán, khiến cho Định và Huệ đồng đều.
“Lúc
này, nhận rõ thân tâm đều là chướng ngại, nhưng Giác minh
vô tri không y nơi các ngại, hằng siêu vượt qua những cảnh
ngại và không ngại”: Bồ tát tu Thiền na, vừa dứt
được vọng tưởng lăng xăng, vừa quán các pháp như huyễn
một cách sâu xa, nên nhận rõ rằng, cả thân lẫn tâm đều
là chướng ngại. Lúc này, Bồ tát thấy rõ cái Giác minh vô
tri của mình ở ngay nơi các ngại ấy mà không vướng mắc
ngại. Từ “vô tri” ở đây không phải là không biết gì,
mà là đồng nghĩa với vô tâm. Giác minh là Giác tâm sáng
tỏ, đó là Huệ; Vô tri là Định; chính là Tự tánh Định
và Tự tánh Huệ.
“Các
ngại” là chỉ chung các tướng đối đãi: “Cảnh ngại”
chính là các Căn, Trần và Thức, đồng với phiền não; “Không
ngại” là nội tâm tịch tịnh của mình, đồng với Niết
bàn. Phiền não và Niết bàn, cả hai đều không nhiễm. Như
vậy, không vướng vào các pháp là vượt qua cảnh ngại, tức
lìa được sự chướng, dứt tận phiền não; không dính vào
chỗ lặng lẽ là vượt qua cảnh không ngại, tức lìa được
Lý-chướng, chẳng thủ Niết bàn.
“Thọ
dụng thế giới cùng với thân tâm, tuy tướng ở trong trần
cảnh (nhưng không bị trần cảnh làm ngại), giống như tiếng
từ trong chuông vượt thoát ra ngoài, phiền não và Niết bàn
không chướng ngại nhau”: Vì đã lìa được hai chướng,
nên dù còn mang thân ngũ uẩn, còn ở trong trần lao, nhưng
Bồ tát không thấy ngăn ngại. Giống như khi đánh chuông,
tiếng trong chuông thoát ra ngoài một cách dễ dàng. Thức tâm
của ta cũng vậy, dù gá trong thân ràng buộc, khi được chuyển
hóa đến rốt ráo, nó sẽ không bị giới hạn trong thân.
Lúc ấy ta thấy mình chính là vũ trụ vạn hữu, ta và muôn
pháp đều hòa trong thế giới đại đồng. Tất cả là một
và một là tất cả. Vì thế, các Bồ tát dù ở trần lao
mà vẫn tự tại, hành Bồ tát đạo giáo hóa chúng sanh trong
tinh thần Ba-la-mật.
“Bấy
giờ, nội tâm liền phát sinh sự lặng lẽ khinh an. Cảnh giới
tịch diệt tùy thuận của Diệu giác, thân và tâm tự tha
đều không đến được; chúng sanh, thọ mạng đều là phù
tưởng. Pháp phương tiện này gọi là Thiền na”: Không
đọa vào phiền não của pháp thế gian, cũng không sa vào Niết
bàn của pháp xuất thế gian, nội tâm liền phát sinh sự lặng
lẽ khinh an. Đây là trạng thái đại định, trở về với
tự tánh thanh tịnh, khác với sự lặng lẽ của người tu
Chỉ.
Ở
cảnh giới tịch diệt này, chỉ có địa vị Diệu giác mới
có thể tùy thuận; thân tâm của ta và người không làm sao
tạo tác hay phân biệt nổi. “Thân và tâm tự tha” là hai
tướng Nhơn và Ngã, hợp với “Chúng sanh và thọ mạng”
thành Tứ tướng, theo tinh thần của kinh Kim Cang. Cả bốn
tướng này đều là con đẻ của vọng tưởng, chỉ là tướng
hư phù trôi nổi trên nền trời tự tánh.
Như
vậy, tu Thiền na là Chỉ Quán song vong hay quân bình Chỉ quán.
Hành giả không kẹt trong tịch tịnh của Chỉ, cũng không
rơi vào chấp các huyễn của Quán. Tự tánh Viên Giác vốn
tự tịnh tự định, tự chiếu tự soi mà không do tạo tác,
cho nên hành giả có thể đạt đến trạng thái vô công dụng
hạnh.
“Này
Thiện nam tử! Ba pháp môn này đều là thân cận tùy thuận
với Viên Giác. Mười phương Như Lai nhơn đây thành Phật,
cho đến mười phương các Bồ tát tu tập nhiều thứ phương
tiện, tất cả có dị đồng, cũng đều y nơi ba thứ sự
nghiệp như thế, nếu được chứng ngộ viên mãn thì liền
thành tựu Viên Giác”: Trong ba pháp môn nói trên, nếu
ai tùy thuận tu tập bất cứ pháp môn nào, cũng có thể thành
tựu Viên Giác. Mười phương các Đức Như Lai cũng nhờ ba
pháp môn này mà thành Phật quả. Các vị Bồ tát, dù tu bao
nhiêu phương tiện khác nhau, cũng đều y nơi ba sự nghiệp
này. Ai chứng ngộ được viên mãn thì đều thành tựu đạo
nghiệp.
“Này
Thiện nam tử! Giả sử có người tu theo Thánh đạo, giáo
hóa cho những người khác, thành tựu được trăm ngàn ức
quả vị A-la-hán và Bích Chi Phật, cũng không bằng một người
nghe pháp môn Viên Giác vô ngại này, tùy thuận tu tập chỉ
trong một sát na”: Ở đây có sự so sánh giữa tinh
thần Nhị thừa và Bồ tát Đại thừa. Hàng Nhị-thừa, nếu
tu theo Tứ đế thì thành tựu A-la-hán, nếu tu theo Thập nhị
nhơn duyên thì thành Duyên-giác. Các vị khi chứng Niết bàn,
bản thân mình được giải thoát nhưng chỉ là tròn hạnh
tự lợi, không có chí lợi tha. Bồ tát Đại thừa, khi nhận
ra bổn tâm chân thật của chính mình, thấy mình và mọi chúng
sanh đều đồng một thể tánh. Từ đó phát sinh đồng thể
đại bi, phát đại nguyện vào tất cả các cõi giáo hóa chúng
sanh. Các vị tu tập Lục độ theo tinh thần Ba-la-mật, vừa
tự lợi vừa lợi tha qua nhiều đời kiếp không biết mệt
mỏi, cho đến ngày công hạnh viên mãn. Do vậy, giữa hai hạnh
tu, Đức Phật cho thấy sự khác biệt một trời một vực
giữa Bồ tát đạo và Nhị-thừa đạo.
“Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói
kệ rằng :
Oai
Đức! Ông nên biết,
Tâm
Đại giác vô thượng
Xưa
nay không hai tướng”.
Tâm
Viên Giác sẵn đủ ở mỗi chúng sanh, không có gì hơn. Từ
xưa đến nay chỉ có một Phật thừa, không hai cũng không
ba.
“Tùy
thuận các phương tiện
Số
kia đến vô lượng.
Như
Lai tổng khai thị
Chỉ
có ba pháp môn”.
Do
chúng sanh căn tánh không đồng nên phương tiện tu hành tương
ưng cũng nhiều vô kể. Tuy vậy, Đức Phật gom lại tựu trung
chỉ có ba pháp môn.
“Tịch
tịnh Xa-ma-tha
Như
gương chiếu các tượng”.
Pháp
môn thứ nhất là Xa-ma-tha, dùng Giác tâm lắng tất cả ý
niệm. Khi vọng tưởng dứt sạch, gương tâm trong sáng in rõ
thế giới vạn hữu cùng tâm của mười phương các Đức
Như Lai.
“Như
huyễn Tam-ma-đề
Như
mạ dần tăng trưởng”.
Pháp
môn thứ hai là Tam-ma-bát-đề, quán như huyễn theo thứ lớp,
cũng y cứ vào Giác tâm thanh tịnh, càng ngày càng tăng tiến,
như lúa mạ ngày càng lớn.
“Thiền
na duy tịch diệt
Như
tiếng thoát từ chuông”.
Pháp
môn thứ ba là Thiền na. Bồ tát cũng dùng Giác tâm, vừa dứt
vọng tưởng vừa quán các pháp như huyễn đến mức độ
siêu việt được cả Sự chướng và Lý chướng. Lúc này,
dù còn có thân ngũ uẩn, còn trong trần lao, nhưng Bồ tát
đã được tự tại, như tiếng trong chuông thoát ra ngoài một
cách dễ dàng khi đánh chuông.
“Ba
diệu-pháp-môn này
Đều
tùy thuận Viên Giác
Mười
phương các Như Lai
Và
các Đại-Bồ-tát
Nhơn
đây được thành đạo.
Ba
pháp được viên chứng
Đạt
cứu cánh Niết-bàn”.
Ba
pháp môn vi diệu này, nếu ai viên dung tu chứng cũng đều
thành tựu Phật đạo. Mười phương Như Lai và các Đại Bồ
tát cũng nhơn đây tu tập mà thành đạo quả.
Để
đúc kết bổn chương, chúng ta cần nắm vững ba pháp tu theo
Viên Giác này. Có hiểu rõ từng pháp môn, khi học đến chương
sau, chúng ta mới không bị rối rắm :
1-
XA-MA-THA.
Trung
Hoa dịch là Tác Chỉ, thuộc về Tịnh hạnh, tu theo Vô-vi nên
là Tịnh-quán.
Tác
Chỉ nghĩa là dừng mọi tạo tác của tâm thức, Chỉ tự
nhiên đưa đến Định. Thuộc về Tịnh-hạnh vì dừng mọi
loạn động của tâm, trả tâm về trạng thái thanh tịnh.
Xa-ma-tha an tâm ở nơi Vô-vi, quét sạch mọi tạo tác sanh diệt
của tâm thức, cho nên thuộc Tịnh-quán, nghĩa là Quán về
trạng thái thanh tịnh.
Đối
chiếu với Nhất tâm tam quán của Tông Thiên-Thai, Xa-ma-tha
tương đương Không-Quán, thuộc về Chơn đế. Đây là quán
về Không, tâm trở nên tịch tịnh lặng lẽ.
2-
TAM-MA-BÁT-ĐỀ.
Trung
Hoa dịch là Tác Quán, thuộc về Huyễn hạnh, tu theo Hữu-vi
nên là Huyễn-quán.
Tác
Quán nghĩa là Quán các pháp đều như huyễn, từ đó dừng
hết mọi tạo tác của tâm. Thuộc về Huyễn-hạnh vì đây
là hạnh tu trực tiếp vào mọi sự vật hiện tượng, thấy
các pháp đều là huyễn, không còn chấp vào thân-tâm và cảnh.
Do y cứ vào các pháp có hình tướng nên tu theo Hữu-vi, thuộc
Huyễn quán, nghĩa là Quán về tính chất như huyễn của các
pháp.
So
sánh bên Tông Thiên Thai, Tam-ma-bát-đề tương đương Giả-Quán,
thuộc về Tục-đế. Đây là quán mọi sự vật đều giả
hợp, không thật có.
3-
THIỀN-NA.
Trung
Hoa dịch là Tác-Tư-duy, thuộc về Tịch-hạnh. Đây tu theo
Tịnh-Huyễn song vong hoặc Chỉ Quán bất nhị nên thuộc Tịch
quán, tương đương với Trung quán bên Tông Thiên Thai, thuộc
Trung đế.
Tác-Tư-duy
nghĩa là do tư duy mà dừng mọi tạo tác. Kinh Di Giáo nói,
Đức Phật tư- duy về việc độ sanh. Đây chính là tư-duy
theo nghĩa này. Tư-duy ở đây là diệu dụng của tự tánh,
nên dù có tư-duy mà không tạo tác. Tâm khởi niệm đều xứng
theo tự tánh, không rơi vào tình trạng đầu thêm đầu, đuôi
thêm đuôi. Nơi tri kiến mà không thêm tri kiến, biết tất
cả mà không thêm hiểu biết. Điều này rất phù hợp với
tinh thần Thiền Đốn-ngộ, cũng là tu theo Tánh biết vọng.
Tịch-hạnh
là hạnh tu bằng trạng thái lặng lẽ bản lai của tự tánh.
Tịnh-Huyễn song vong nghĩa là không tu theo Chỉ, cũng không
theo Quán mà điều hợp cả hai để xứng với Giác tâm. Đây
là lối tu tuyệt kỹ, không còn pháp đối trị, bởi vì nhận
rõ mọi đối đãi nhị nguyên đều là con đẻ của vọng
tưởng. “Chỉ” là trạng thái yên định của tự tánh,
“Quán” là dụng chiếu soi của tự tánh. Chỉ là thể, Quán
là dụng. Thể và dụng chỉ là hai mặt của một thực thể
nhiệm mầu, cho nên nói Chỉ-Quán bất nhị.
Ngài
Thần Hội nói “Vô niệm niệm ấy tức niệm chân như, Vô
sanh sanh ấy tức sanh thật tướng” - Vô niệm mà vẫn hằng
niệm, Vô sanh nhưng vẫn cứ sanh. Cũng như Lục Tổ “Đối
cảnh tâm cứ sanh” bởi vì “An tâm tại vọng tình. Ngay
đó không ba chướng”. Nếu chúng ta đi vào con đường Trung-đạo-đế,
Đệ-nhất-nghĩa-đế này, nhận ra Vọng tức chơn, Thể tức
Dụng - Dụng tức thể, ta sẽ rõ tinh thần của Bát Nhã Tâm
kinh “Sắc tức thị không, không tức thị Sắc”. Ta sẽ
rõ, Sắc ở đây là Chơn Sắc, là diệu dụng; Không ở đây
là Chơn Không, chính là bản thể.
Học
đến đây, chúng ta càng thấy tinh thần thiền Đốn Ngộ phù
hợp vô cùng với giáo điển. Có thể nói, Thiền là tâm của
Phật, mà Giáo là miệng của Phật. Từ đó, chúng ta lại
càng có niềm tin vững chắc vào đường lối tu hành của
mình. Vấn đề còn lại là chúng ta có quyết tâm đi theo con
đường đó hay không. Nếu chúng ta cứ kiên trì đi mãi, đi
không biết mệt mỏi và cũng không cần biết bao giờ sẽ
đến đích, nhất định có ngày chúng ta sẽ thành tựu Phật
quả.
IX- CHƯƠNG
BIỆN ÂM
Lúc
bấy giờ, Bồ tát Biện Âm ở trong đại chúng, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đại
bi Thế Tôn! Pháp môn như thế, thật là hy hữu! Bạch Đức
Thế Tôn! Các phương tiện này, tất cả Bồ tát đối với
môn Viên Giác, có bao nhiêu phương thức tu tập? Nguyện Đức
Thế Tôn vì đại chúng và chúng sanh đời mạt pháp mà phương-tiện
khai-thị, khiến ngộ thật-tướng”.
Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Biện Âm rằng: “Lành thay!
Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì các Bồ
tát và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi Như Lai về những pháp
môn tu tập như thế. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Biện Âm rất đỗi vui mừng, vâng theo lời dạy,
cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe.
“Này
Thiện nam tử! Tánh Viên Giác thanh tịnh của tất cả Như
Lai vốn không có người tu tập và pháp tu tập. Tất cả Bồ
tát và chúng sanh đời mạt pháp, nương nơi sức huyễn chưa
giác ngộ mà tu hành, lập bày ra hai mươi lăm thứ định-luân
thanh-tịnh:
1-
Nếu các Bồ tát chỉ giữ sự lặng lẽ cùng cực; do sức
lặng lẽ đó, hằng đoạn được phiền não, cứu cánh thành
tựu, không rời chỗ ngồi, liền vào Niết bàn. Vị Bồ tát
này gọi là “Riêng tu Xa-ma-tha”.
2-
Nếu các Bồ tát chỉ quán như huyễn, nhờ Phật lực biến
hóa thế giới, có nhiều thứ tác dụng, đầy đủ diệu hạnh
thanh tịnh của Bồ tát, đối với Đà-la-ni không mất đi
Tịch-niệm và các Tĩnh-huệ. Vị Bồ tát này gọi là “Riêng
tu Tam-ma-bát-đề”.
3-
Nếu các Bồ tát chỉ diệt các huyễn, không giữ nơi tác
dụng, riêng đoạn được phiền não; phiền não đoạn sạch
liền chứng thật tướng. Vị Bồ tát này gọi là “Riêng
tu Thiền-na”.
4-
Nếu các Bồ tát, trước giữ sự chí tĩnh, dùng tâm tịnh-huệ
chiếu các pháp huyễn, liền ở trong đó khởi hạnh Bồ-tát.
Vị Bồ-tát này gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, sau tu Tam-ma-bát-đề”.
5-
Nếu các Bồ tát, trước dùng tịnh huệ chứng đến chỗ
tánh tĩnh lặng, liền đoạn phiền não, hằng thoát khỏi sanh
tử. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, sau tu Thiền-na”.
6-
Nếu các Bồ tát, dùng huệ Tịch tĩnh lại hiện sức huyễn,
nhiều thứ biến hóa để độ chúng sanh; sau đó đoạn hết
phiền não mà vào Tịch-diệt. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
tu Xa-ma-tha, giữa tu Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na”.
7-
Nếu các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh đoạn hết phiền não,
sau đó khởi lên diệu hạnh thanh tịnh của Bồ tát độ các
chúng sanh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, giữa
tu Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề”.
8-
Nếu các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh tâm đoạn phiền não,
lại độ chúng sanh, kiến lập thế giới. Vị Bồ tát này
gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, sau đồng tu Tam-ma-bát-đề và
Thiền-na”.
9-
Nếu các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh giúp phát biến-hóa, sau
đoạn phiền não. Vị Bồ tát này gọi là “Trước đồng
tu Xa-ma-tha và Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na”.
10-
Nếu các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh giúp tịch diệt, sau đó
khởi tác dụng, biến hóa thế giới. Vị Bồ tát này gọi
là “Trước đồng tu Xa-ma-tha và Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề”.
11-
Nếu các Bồ tát, dùng sức biến hóa mỗi mỗi tùy thuận,
mà vẫn giữ được chí tĩnh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
tu Tam-ma-bát-đề, sau tu Xa-ma-tha”.
12-
Nếu các Bồ tát, dùng sức biến hóa tất cả cảnh giới,
mà vẫn giữ được sự tịch diệt. Vị Bồ tát này gọi
là “Trước tu Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na”.
13-
Nếu các Bồ tát, dùng sức biến hóa làm tất cả Phật sự,
mà vẫn an trụ nơi tịch tĩnh và đoạn phiền não. Vị Bồ
tát này gọi là “Trước tu Tam-ma-bát-đề, giữa tu Xa-ma-tha,
sau tu Thiền-na”.
14-
Nếu các Bồ tát, dùng sức biến hóa, khởi tác dụng vô ngại
đoạn các phiền não, rồi an trụ nơi chí-tĩnh. Vị Bồ tát
này gọi là “Trước tu Tam-ma-bát-đề, giữa tu Thiền-na,
sau tu Xa-ma-tha”.
15-
Nếu các Bồ tát, dùng tác dụng phương tiện của sức biến
hóa, đạt đến chỗ chí-tĩnh và tịch- diệt, cả hai đều
tùy thuận. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Tam-ma-bát-đề,
sau đồng tu Xa-ma-tha và Thiền-na”.
16-
Nếu các Bồ tát, dùng sức biến hóa mỗi mỗi khởi tác dụng,
giúp cho chí tĩnh, sau đó đoạn phiền não. Vị Bồ tát này
gọi là “Trước đồng tu Tam-ma-bát-đề và Xa-ma-tha, sau tu
Thiền-na”.
17-
Nếu các Bồ tát, dùng sức biến hóa giúp cho tịch-diệt,
sau trụ nơi Vô-tác Tĩnh-lự Thanh- tịnh. Vị Bồ tát này gọi
là “Trước đồng tu Tam-ma-bát-đề và Thiền-na, sau tu Xa-ma-tha”.
18-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch diệt mà khởi lên chí tĩnh,
an trụ nơi thanh tịnh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu
Thiền-na, sau tu Xa-ma-tha”.
19-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch-diệt mà khởi tác dụng,
đối với tất cả cảnh vẫn có công- dụng tịch-diệt tùy-thuận.
Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề”.
20-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch diệt các thứ tự tánh,
an nơi tĩnh-lự mà khởi biến hóa. Vị Bồ tát này gọi là
“Trước tu Thiền-na, giữa tu Xa-ma-tha, sau tu Tam-ma-bát-đề”.
21-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch-diệt của tự tánh vô tác,
khởi lên tác dụng; nơi cảnh giới thanh tịnh, trở về tĩnh-lự.
Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Thiền-na, giữa tu Tam-ma-bát-đề,
sau tu Xa-ma-tha”.
22-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch diệt mỗi mỗi thanh tịnh,
rồi trụ nơi tĩnh lự mà khởi ra các biến hóa. Vị Bồ tát
này gọi là “Trước tu Thiền-na, sau đồng tu Xa-ma-tha và
Tam-ma-bát-đề”.
23-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch diệt giúp cho chí tĩnh, rồi
khởi biến hóa. Vị Bồ tát này gọi là “Trước đồng tu
Thiền-na và Xa-ma-tha, sau tu Tam-ma-bát-đề”.
24-
Nếu các Bồ tát, dùng sức tịch diệt giúp cho biến hóa,
rồi khởi lên chí tĩnh cảnh huệ trong sáng. Vị Bồ tát này
gọi là “Trước đồng tu Thiền-na và Tam-ma-bát-đề, sau
tu Xa-ma-tha”.
25-
Nếu các Bồ tát, dùng Huệ Viên Giác viên hiệp tất cả,
đối với các pháp Tánh-Tướng không rời Giác tánh. Vị Bồ
tát này gọi là “Tu trọn ba thứ tự tánh, thanh tịnh tùy
thuận”.
Này
Thiện nam tử! Đây là hai mươi lăm định luân của Bồ tát.
Tất cả Bồ tát đều phải tu hành như thế. Nếu các Bồ
tát và chúng sanh đời mạt pháp, muốn y theo các luân này,
phải giữ gìn phạm hạnh, tịch tĩnh tư duy, thiết tha sám
hối, trải qua hai mươi mốt ngày. Ghi rõ tên của hai mươi
lăm luân, chí tâm khẩn thiết, tùy tay bốc lấy, mở ra xem
liền biết Đốn hay Tiệm. Còn một niệm nghi ngờ thì không
thành tựu.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói
kệ rằng :
“Biện
Âm, ông nên biết!
Tất
cả các Bồ tát
Huệ
thanh tịnh không ngại
Đều
nương Thiền định sanh.
Ấy
là: Xa-ma-tha
Tam-ma-đề,
Thiền-na
Tu
ba pháp Đốn-Tiệm
Thành
25 định luân.
Mười
phương các Như Lai
Ba
đời người tu hành
Đều
nhơn nơi pháp này
Thành
tựu được Bồ đề.
Chỉ
trừ người Đốn ngộ
Người
không tùy thuận pháp,
Tất
cả các Bồ tát
Và
chúng sanh đời mạt
Thường
phải theo luân này
Tùy
thuận siêng tu tập,
Nhờ
sức đại bi Phật
Mau
chứng được Niết bàn.
Trong
chương này, Bồ tát Biện Âm thỉnh Phật giản trạch về
các phương pháp tu tập, y cứ vào ba phương tiện đã nói
ở chương trước: Xa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề và Thiền-na. Tất
cả gồm 25 phương pháp, gọi là định luân, do sự kết hợp
của ba phương tiện trên, một cách đa dạng và phức tạp.
Biện
là Biện biệt, Âm là âm thanh thuyết pháp của Phật. Biện
Âm ở đây nói về khả năng phân tích tư duy khéo léo hiểu
được những lời Phật dạy. Có hiểu tỏ tường mới ứng
dụng tu tập, thể nhập Viên Giác.
“Lúc
bấy giờ, Bồ tát Biện Âm ở trong đại chúng, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quì dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đại
bi Thế Tôn! Pháp môn như thế, thật là hy hữu !”:
Trước tiên, Bồ tát Biện Âm ca ngợi ba pháp môn Xa-ma-tha,
Tam-ma-bát-đề và Thiền-na, quả thật hiếm có trên đời.
“Bạch
Đức Thế Tôn! Các phương tiện này, tất cả Bồ tát đối
với môn Viên Giác, có bao nhiêu phương thức tu tập? Nguyện
Đức Thế Tôn vì đại chúng và chúng sanh đời mạt pháp
mà phương tiện khai thị, khiến ngộ thật tướng”:
Các Bồ tát tu theo Viên Giác, có bao nhiêu cách hạ thủ công
phu từ ba pháp môn gốc nói trên? Các vị phải tu từng pháp
môn hay tu chung cả ba? “Thật tướng” tức tướng chân thật
của tất cả các pháp, là tự tâm Viên Giác - chỗ sở quy
của mọi phương tiện công phu.
“Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Biện Âm rằng: “Lành thay!
Lành
thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì các Bồ tát
và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi Như Lai về những pháp môn
tu tập như thế. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy Bồ tát Biện Âm rất đỗi vui mừng, vâng theo lời dạy,
cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe.
Này
Thiện nam tử! Tánh Viên Giác thanh tịnh của tất cả
Như Lai vốn không có người tu tập và pháp tu tập”: Cũng
như các chương trước, khởi đầu bao giờ Đức Phật cũng
nhấn mạnh đến tánh Viên Giác thanh tịnh. Đây là thâm ý
của kinh Viên Giác, luôn lấy tự tánh của mỗi người làm
chỗ y cứ, và cũng là thâm ý của các kinh điển Đại thừa:
Kinh Niết bàn gọi đó là Phật tánh, Kinh Pháp Hoa gọi là
Tri kiến Phật, Kinh Lăng Nghiêm gọi là Chân tâm thường trụ...
Ở
đây, Đức Phật dạy, tánh Viên Giác vốn rời mọi ý niệm
năng sở đối đãi, không có người hay tu và pháp được
tu, cũng không có người chứng và pháp được chứng.
“Tất
cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp, nương nơi sức huyễn
chưa giác ngộ mà tu hành, lập bày ra hai mươi lăm thứ định
luân thanh tịnh”: Nói đến Viên Giác là nói đến
trực chỉ, không có người năng tu và pháp sở tu. Nhưng vì
chúng sanh chưa giác ngộ các pháp như huyễn, chưa thể nhập
Viên Giác, nên Đức Phật phải tạm lập bày ra hai mươi lăm
định luân thanh tịnh, căn cứ từ ba pháp môn gốc.
Định
luân là gì? Ở đây có hai ý nghĩa: Một là, Định là Thiền
định, Luân là bánh xe; dùng ba pháp môn thiền định luân
chuyển thay nhau tu tập. Thứ hai, ý nghĩa cao xa hơn, Định
là quyết định, Luân là nghiền nát; dùng các phương tiện
tu tập quyết định nghiền nát hết vọng tưởng điên đảo,
giúp tâm hành giả trở về trạng thái vắng lặng thanh tịnh
bản lai. Như vậy, đây tuy là phương tiện tu hành, nhưng cũng
hết sức nhiệm mầu, để chứng nhập Viên Giác.
Một
điều cần lưu ý: Các định luân được lập ra đều vì
những chúng sanh huyễn pháp chưa trừ hết, phiền não chưa
đoạn xong. Đối với hành giả đã chứng ngộ các pháp này
trở nên thừa, cũng như người đã no thì không cần bất
cứ thức ăn nào nữa. Hiểu như vậy, chúng ta thấy có một
niềm quí kính vô cùng và sự biết ơn vô hạn đối với
Phật Tổ. Các Ngài đã vì những người còn mê muội như
chúng ta mà thi thiết bao nhiêu phương tiện, giúp chúng ta có
cơ hội tu hành.
Sau
đây, Đức Phật lần lượt giảng rõ về các định luân,
tùy hành giả thấy mình thích hợp với pháp tu nào thì nỗ
lực tu tập theo pháp ấy, cuối cùng đều có kết quả như
nhau, là chứng ngộ tự tánh thanh tịnh của chính mình. Trong
25 định luân này, lấy căn bản là ba pháp môn Xa-ma-tha, Tam-ma-bát-đề
và Thiền-na, sắp xếp theo ba cách, thay đổi lẫn nhau nên
thành 25 phương tiện. Ba cách ấy là :
- Tu
riêng: Chỉ tu một trong ba pháp môn.
-
Tu xen kẽ: Ba pháp môn xen kẽ nhau, thay đổi thứ tự trước
sau hoặc kết hợp đồng thời.
-
Tu trọn vẹn: Tu cả ba pháp môn cùng một lúc, dành cho người
có căn cơ đặc biệt.
I-
TU
RIÊNG
1-
Riêng
tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát chỉ giữ sự lặng lẽ cùng cực; do sức lặng
lẽ đó, hằng đoạn được phiền não, cứu cánh thành tựu,
không rời chỗ ngồi, liền vào Niết bàn. Vị Bồ tát này
gọi là “Riêng tu Xa-ma-tha”: Phương pháp này rất phù hợp
với pháp tri vọng của Hòa thượng Trúc Lâm. Hành giả trong
tư thế tọa thiền, buông vọng tưởng sạch đến tận cùng.
Mọi tạo tác của tâm, mọi ý thức phân biệt đều vắng
bặt. Do yên lặng cùng cực nên phiền não dứt hẳn, thẳng
đến Phật quả, nên nói không rời chỗ ngồi mà nhập Niết
bàn.
2-
Riêng
tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát chỉ quán như huyễn, nhờ Phật lực biến hóa
thế giới, có nhiều thứ tác dụng, đầy đủ diệu hạnh
thanh tịnh của Bồ tát, đối với Đà-la-ni không mất đi
Tịch niệm và các Tĩnh huệ. Vị Bồ tát này gọi là “Riêng
tu Tam-ma-bát-đề”: Bồ tát quán tất cả các pháp đều như
huyễn. Khi đạt được Như huyễn tam muội, nhờ Phật lực
tự tâm tức là sức gia trì của Phật tánh chính mình, vị
ấy thấy muôn sự muôn vật đều trong trạng thái như huyễn,
đều là phản ảnh của bản tâm. Từ đó, trong mọi oai nghi
đều khởi ra diệu dụng, chuyển Ta-bà thành Tịnh độ, Địa
ngục hóa Thiên cung, nên gọi là “Nhờ Phật lực biến hóa
thế giới”.
Bồ
tát tuy quán tất cả thế giới đều là huyễn hóa, nhưng
vẫn tùy duyên làm mọi Phật sự để giáo hóa chúng sanh.
Các Ngài làm mọi việc với tinh thần vô trú, vô trước,
vô nhiễm, nghĩa là luôn luôn an trụ trong Viên Giác. Vì vậy,
Phật bảo “đầy đủ diệu hạnh thanh tịnh của Bồ tát”.
“Tịch
niệm” là công phu tu Chỉ, “Tĩnh huệ” là công phu tu Thiền-na.
Bồ tát tuy riêng tu Quán, nhưng do y cứ nơi Viên Giác mà tu
hành, nên đối với Đà-la-ni (là biệt danh của Viên Giác),
không mất công phu của hai pháp Chỉ và Thiền-na. Điều này
cho thấy, nếu thâm nhập trọn vẹn một pháp thì sẽ thâm
nhập cả ba.
3-
Riêng
tu Thiền-na
“Nếu
các Bồ tát chỉ diệt các huyễn, không giữ nơi tác dụng,
riêng đoạn được phiền não; phiền não đoạn sạch liền
chứng thật tướng. Vị Bồ tát này gọi là “Riêng tu Thiền-na”:
Bồ tát tu Thiền-na là Tịnh-Huyễn song vong hay Chỉ Quán bất
nhị. Vị này dùng sức tịch diệt để diệt trừ các huyễn,
nhưng không chấp vào các tác dụng biến hóa của huyễn quán,
tức không chấp vào Tam-ma-bát-đề. Lại nữa, vị ấy dùng
sức tịch diệt để tự đoạn phiền não, nhưng cũng không
giữ nơi tướng tịch lặng, nên không chấp vào Xa-ma-tha. Khi
phiền não đoạn sạch, thật tướng hiển bày, chơn tâm Viên
Giác hiện ra rỡ rỡ.
II-
TU
XEN KẼ
Trong
21 pháp tu xen kẽ sau đây, nguyên tắc chung là lấy một pháp
môn gốc trong ba pháp môn Chỉ, Quán, Thiền-na làm đầu; sau
đó kết hợp thêm một hay hai pháp môn còn lại. Nếu chúng
ta vận dụng phép hoán vị của Toán học vào đây, có thể
hiểu được các pháp tu này không khó. Tựu trung, có ba cách
chính :
- Tu
xen kẽ dùng Chỉ làm đầu: Gồm 7 pháp tu tức 7 định-luân.
-
Tu xen kẽ dùng Quán làm đầu: Gồm 7 định-luân.
-
Tu xen kẽ dùng Thiền-na làm đầu: Cũng gồm 7 định-luân.
Tổng
cộng là 21 định-luân. Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát từng
định-luân một, dựa theo lời dạy của Phật.
A-
Tu
xen kẽ dùng Chỉ làm đầu.
4-
Trước tu Chỉ, sau tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát, trước giữ sự chí tĩnh, dùng tâm tịnh-huệ
chiếu các pháp huyễn, liền ở trong đó khởi hạnh Bồ tát.
Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, sau tu Tam-ma-bát-đề”:
Người tu pháp này, đầu tiên giữ sự vắng lặng cùng cực,
tức tu Chỉ. Khi tĩnh tột cùng thì huệ phát sinh. Dùng tâm
tịnh-huệ này quán các pháp như huyễn, tức tu Quán. Theo đó
khởi các tác dụng, thượng cầu Bồ đề hạ hóa chúng sanh
cho tròn đầy diệu hạnh của Bồ tát.
5-
Trước
tu Chỉ, sau tu Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, trước dùng tịnh-huệ chứng đến chỗ tánh
tĩnh lặng, liền đoạn phiền não, hằng thoát khỏi sanh tử.
Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, sau tu Thiền-na”:
Tịnh-huệ là kếtquả của công phu tu Chỉ. Hành giả dùng
sức tịnh-huệ thẳng chứng đến tánh tĩnh lặng trên tâm
Viên Giác, tức công phu tu Thiền-na. Khi thể nhập Giác-tánh,
phiền não được đoạn trừ, Bồ tát thoát khỏi vòng luân
hồi sanh tử.
6-
Trước
tu Chỉ, giữa tu Quán, sau tu Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng huệ Tịch tĩnh lại hiện sức huyễn, nhiều
thứ biến hóa để độ chúng sanh, sau đó đoạn hết phiền
não mà vào tịch-diệt. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
tu Xa-ma-tha, giữa tu Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na”: Huệ
tịch-tĩnh thuộc công phu tu Chỉ. Tĩnh đến tột cùng là Tịch,
từ đó sinh ra Huệ. Hành giả dùng Huệ quán các pháp huyễn,
khởi ra các thứ biến hóa nhiêu ích cho muôn loài: Đây là
giai đoạn tu Quán. Sau cùng, đoạn tất cả các phiền não
mà vào Tịch diệt là công phu Thiền-na, vì tu Thiền-na là
đoạn tận phiền não.
7-
Trước
tu Chỉ, giữa tu Thiền-na, sau tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức chí-tĩnh đoạn hết phiền não, sau
đó khởi lên Diệu-hạnh thanh-tịnh của Bồ tát độ các
chúng sanh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Xa-ma-tha, giữa
tu Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề”: Hành giả dùng sức chí
tĩnh là kết quả tu Chỉ, khởi tâm đoạn phiền não tức
tu Thiền-na. Khi phiền não đã tận, vị ấy hòa quang đồng
trần độ chúng sanh như huyễn, ấy là giai đoạn tu Quán.
8-
Trước
tu Chỉ, sau đồng tu Quán và Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh tâm đoạn phiền não, lại
độ chúng sanh, kiến lập thế giới. Vị Bồ tát này gọi
là “Trước tu Xa-ma-tha, sau đồng tu Tam-ma-bát-đề và Thiền-na”:
Dùng sức chí tĩnh là công phu tu Chỉ. Hành giả quyết tâm
đoạn phiền não nhưng chưa đoạn tận; vì vậy ở giai đoạn
này, phải vừa tu Thiền-na để đoạn phiền não, vừa tu Quán
để kiến lập thế giới, hóa độ chúng sanh. Có thể nói,
giai đoạn đầu tu Chỉ là tự lợi; giai đoạn sau, vừa tu
Thiền-na vừa tu Quán, là tự lợi và lợi tha.
9-
Trước
đồng tu Chỉ và Quán, sau tu Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh giúp phát biến hóa, sau đoạn
phiền não. Vị Bồ tát này gọi là “Trước đồng tu Xa-ma-tha
và Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na”: Hành giả dùng sức chí
tĩnh của Chỉ để giúp phát khởi sức biến hóa của Quán.
Đây là vừa tự lợi vừa khởi hạnh lợi tha. Sau đó, vị
này tu Thiền-na để đoạn tận phiền não, thành tựu Vô thượng
Bồ đề.
10-
Trước
đồng tu Chỉ và Thiền-na, sau tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức chí tĩnh giúp tịch diệt, sau đó khởi
tác dụng, biến hóa thế giới. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
đồng tu Xa-ma-tha và Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề”: Hành
giả dùng sức chí tĩnh của Chỉ để diệt phiền não, tức
đồng thời tu Thiền-na. Khi tĩnh của Chỉ đến tột cùng
thì công phu Thiền-na cũng thành tựu. Phần tự lợi viên mãn,
lúc đó mới khởi hạnh lợi tha. Bồ tát ở giai đoạn sau
tu Quán, biến hóa thế giới để độ chúng sanh.
B-
Tu xen kẽ dùng Quán làm đầu.
11-
Trước tu Quán, sau tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức biến hóa mỗi mỗi tùy thuận, mà vẫn
giữ được chí tĩnh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu
Tam-ma-bát-đề, sau tu Xa-ma-tha”: Hành giả trước tiên tu Quán,
tùy trình độ và căn cơ của mỗi chúng sanh mà biến hóa
thế giới. Một mặt tùy thuận chúng sanh để giáo hóa, nhưng
mặt khác biết tất cả đều là huyễn hóa, nên vẫn giữ
được chí tĩnh, tức kết quả của tu Chỉ. Đây chính là
tinh thần Tùy duyên mà bất biến, bất biến nhưng vẫn tùy
duyên.
12-
Trước
tu Quán, sau tu Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức biến hóa tất cả cảnh giới, mà vẫn
giữ được sự tịch diệt. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
tu Tam-ma-bát-đề, sau tu Thiền-na”: Hành giả trước tiên
tu Quán, khi thành tựu thì khởi công dụng biến hóa tất cả
cảnh giới, thực hiện hạnh lợi tha. Sau đó tu Thiền-na để
đoạn phiền não, an trú nơi tánh thể lặng dứt, gọi là
“giữ được sự tịch diệt”.
13-
Trước
tu Quán, giữa tu Chỉ, sau tu Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức biến hóa làm tất cả Phật sự, mà
vẫn an trụ nơi tịch tĩnh và đoạn phiền não. Vị Bồ tát
này gọi là “Trước tu Tam-ma-bát-đề, giữa tu Xa-ma-tha, sau
tu Thiền-na”: Dùng sức biến hóa làm tất cả Phật sự là
kết quả của tu Quán. Tuy làm tất cả Phật sự hóa độ
chúng sanh, nhưng không thấy pháp để độ, mình là người
độ và chúng sanh là kẻ được độ. Đây là tinh thần Ba-la-mật
của Bồ tát, kết quả của tu Chỉ, gọi là “an trụ nơi
tịch tĩnh”, tức cảnh vắng lặng bất động. Sau cùng, hành
giả dùng pháp tu Thiền-na đoạn tận phiền não, khế nhập
Trung đạo.
14-
Trước
tu Quán, giữa tu Thiền-na, sau tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức biến hóa, khởi tác dụng vô ngại
đoạn các phiền não, rồi an trụ nơi chí tĩnh. Vị Bồ tát
này gọi là “Trước tu Tam-ma-bát-đề, giữa tu Thiền-na,
sau tu Xa-ma-tha”: Khởi đầu, hành giả dùng sức biến hóa
của tu Quán, khởi tác dụng vô ngại tùy thuận giáo hóa chúng
sanh. Sau đó tiến tu Thiền-na, đoạn tất cả phiền não. Cuối
cùng tu Chỉ an trụ trong cảnh lặng lẽ tột cùng, gọi là
chí tĩnh.
15-
Trước
tu Quán, sau đồng tu Chỉ và Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng tác dụng phương tiện của sức biến hóa,
đạt đến chỗ chí tĩnh và tịch diệt, cả hai đều tùy
thuận. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Tam-ma-bát-đề,
sau đồng tu Xa-ma-tha và Thiền-na”: Hành giả trước tiên
tu Quán, khi thành tựu mới dùng tác dụng phương tiện của
sức biến hóa để độ chúng sanh. Sau đó, đồng thời tu
Chỉ để đạt đến chỗ vắng lặng tột cùng và tu Thiền-na
để đoạn tận phiền não.
16-
Trước
đồng tu Quán và Chỉ, sau tu Thiền-na.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức biến hóa mỗi mỗi khởi tác dụng,
giúp cho chí tĩnh, sau đó đoạn phiền não. Vị Bồ tát này
gọi là “Trước đồng tu Tam-ma-bát-đề và Xa-ma-tha, sau tu
Thiền-na”: Dùng sức biến hóa thích hợp với mỗi chúng
sanh, tùy duyên hóa độ, là thành tựu của tu Quán. Đồng
thời, nhờ các thứ tác dụng của Quán trợ giúp cho tánh
chí tĩnh của Chỉ được tự nhiên thành tựu. Như vậy, nhờ
tu Quán có kết quả nên đạt luôn kết quả của Chỉ, nghĩa
là Quán-Chỉ đồng tu.
Cuối
cùng, hành giả đoạn tận phiền não bằng tu Thiền-na, thoát
khỏi sanh tử, thể nhập đạo Vô thượng.
17-
Trước
đồng tu Quán và Thiền-na, sau tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức biến hóa giúp cho tịch diệt, sau trụ
nơi Vô tác Tĩnh lự Thanh tịnh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
đồng tu Tam-ma-bát-đề và Thiền-na, sau tu Xa-ma-tha”: Hành
giả dùng sức biến hóa của Quán giúp cho công phu lặng dứt
(tịch-diệt) của Thiền-na tự nhiên thành tựu. Đó là đồng
thời tu cả Quán và Thiền-na.
“Vô
tác tĩnh lự thanh tịnh” là sức chí tĩnh mà không cần dụng
công. Đây là kết quả của tu Chỉ. Như vậy, người tu pháp
này, trước tiên vừa tu Quán vừa tu Thiền-na (dùng sức biến
hóa giúp cho tịch diệt); sau đó an trụ trong cảnh giới chí
tĩnh của Chỉ (trụ nơi Vô-tác Tĩnh-lự Thanh-tịnh).
C-
Tu
xen kẽ dùng Thiền-na làm đầu.
18-
Trước tu Thiền-na, sau tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt mà khởi lên chí tĩnh, an
trụ nơi thanh tịnh. Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Thiền-na,
sau tu Xa-ma-tha”: Bồ tát trước tu Thiền-na đoạn tận phiền
não, thoát khỏi sanh tử. Khi đã thành tựu, dùng sức lặng
dứt của Thiền-na khởi lên chí tĩnh của Chỉ, thọ hưởng
pháp lạc, an trụ nơi cảnh giới thanh tịnh.
19-
Trước
tu Thiền-na, sau tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt mà khởi tác dụng, đối
với tất cả cảnh vẫn có công dụng tịch-diệt tùy-thuận.
Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Thiền-na, sau tu Tam-ma-bát-đề”:
Bồ tát tu Thiền-na được thành tựu, tức tự lợi đã tròn,
liền khởi hạnh lợi tha. Vị ấy dùng sức tịch diệt của
Thiền-na khởi các tác dụng biến hóa độ sanh, tức trở
lại tu Quán. Như vậy, tất cả cảnh đều khởi từ tánh
tịch diệt mà có, cho nên nói là “đối với tất cả cảnh
vẫn có công dụng tịch diệt tùy thuận”.
20-
Trước
tu Thiền-na, giữa tu Chỉ, sau tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt các thứ tự tánh, an nơi
tĩnh lự mà khởi biến hóa. Vị Bồ tát này gọi là “Trước
tu Thiền-na, giữa tu Xa-ma-tha, sau tu Tam-ma-bát-đề”: Hành
giả tu Thiền-na có kết quả, nhờ sức tịch diệt thấy được
tự tánh của tất cả chúng sanh. Kế đó, vị ấy thực hành
tu Chỉ để an tâm nơi tĩnh lự. Khi tâm đã như-như mới khởi
tác dụng biến hóa của Quán, vào chốn trần lao độ sanh
mà không sợ nhiễm trần.
21-
Trước
tu Thiền-na, giữa tu Quán, sau tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt của tự tánh vô tác, khởi
lên tác dụng; nơi cảnh giới thanh tịnh, trở về tĩnh lự.
Vị Bồ tát này gọi là “Trước tu Thiền-na, giữa tu Tam-ma-bát-đề,
sau tu Xa-ma-tha”: Tự tánh xưa nay sẵn đủ, không do tạo tác
mà có, nên gọi là “Tự tánh vô tác”. Hành giả tu Thiền-na
được thành tựu, nhờ sức tịch diệt của tự tánh mà khởi
tu Quán. Nơi tác dụng của Quán, vị này biến hóa cảnh trần
lao thành cảnh giới thanh tịnh. Sau cùng, từ cảnh giới thanh
tịnh, bặt tất cả vọng niệm, an trú nơi tĩnh lự của Chỉ.
22-
Trước
tu Thiền-na, sau đồng tu Chỉ và Quán.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt mỗi mỗi thanh tịnh, rồi
trụ nơi tĩnh lự mà khởi ra các biến hóa. Vị Bồ tát này
gọi là “Trước tu Thiền-na, sau đồng tu Xa-ma-tha và Tam-ma-bát-đề”:
Sức tịch diệt mỗi mỗi thanh tịnh là kết quả tu Thiền-na
được thành tựu. Do khởi hạnh lợi tha nên Bồ tát lùi lại
tu Chỉ và Quán đồng thời; vừa an trụ nơi tĩnh lự của
Chỉ, vừa khởi các thứ biến hóa của Quán mà tùy duyên
hóa độ chúng sanh.
23-
Trước
đồng tu Thiền-na và Chỉ, sau tu Quán.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt giúp cho chí tĩnh, rồi khởi
biến hóa. Vị Bồ tát này gọi là “Trước đồng tu Thiền-na
và Xa-ma-tha, sau tu Tam-ma-bát-đề”: Đầu tiên, hành giả đồng
tu Thiền-na và Chỉ để tự lợi. Phật dạy, dùng sức tịch
diệt của Thiền-na giúp cho sức chí tĩnh của Chỉ được
thành tựu, vì khi tu Thiền-na thì kết quả của Chỉ cũng
tự nhiên mà có, do đó gọi là “đồng tu”. Sau đó, hành
giả khởi tác dụng biến hóa để hạnh lợi tha cùng viên
mãn, trọn thành Phật đạo.
24-
Trước
đồng tu Thiền-na và Quán, sau tu Chỉ.
“Nếu
các Bồ tát, dùng sức tịch diệt giúp cho biến hóa, rồi
khởi lên chí tĩnh cảnh huệ trong sáng. Vị Bồ tát này gọi
là “Trước đồng tu Thiền-na và Tam-ma-bát-đề, sau tu Xa-ma-tha”:
Hành giả trước tiên dùng sức tịch diệt của Thiền-na giúp
công phu tu Quán tự nhiên thành tựu, khởi các tác dụng biến
hóa nhiêu ích chúng sanh; ấy gọi là đồng tu Thiền-na và
Quán. Sau đó, hành giả chuyên tâm tu Chỉ để đạt cảnh
giới chí tĩnh, tự lợi và lợi tha như vậy viên thành.
III-
TU
TRON VEN
25-
Tu cả ba pháp môn cùng một lúc.
“Nếu
các Bồ tát, dùng Huệ Viên Giác viên hiệp tất cả, đối
với các pháp Tánh-Tướng không rời Giác tánh. Vị Bồ tát
này gọi là “Tu trọn ba thứ tự tánh, thanh tịnh tùy thuận”:
Hành giả tu theo định luân này thuộc căn cơ viên đốn, không
cần thứ lớp mà đồng thời viên dung cả ba pháp môn. Các
vị đã ngộ nhập Viên Giác, nên có thể dùng trí huệ thanh
tịnh của mình khế hợp cả Chỉ-Quán và Thiền-na. Đối
với ba pháp môn gốc này (Phật gọi là các pháp Tánh) và
cả 25 định-luân (là các pháp Tướng) đều từ Viên Giác
mà an lập, vì vậy không lúc nào rời Giác tánh. Lại nữa,
dù các pháp Tánh-Tướng kia có sai biệt, nhưng đều tu tập
về môn Viên Giác, đều tùy thuận tự tánh thanh tịnh, cho
nên nói là “thanh tịnh tùy thuận”.
“Này
Thiện nam tử! Đây là hai mươi lăm định-luân của Bồ tát.
Tất cả Bồ tát đều phải tu hành như thế. Nếu các Bồ
tát và chúng sanh đời mạt pháp, muốn y theo các luân này,
phải giữ gìn phạm hạnh, tịch tĩnh tư duy, thiết tha sám
hối, trải qua hai mươi mốt ngày. Ghi rõ tên của hai mươi
lăm luân, chí tâm khẩn thiết, tùy tay bốc lấy, mở ra xem
liền biết Đốn hay Tiệm. Còn một niệm nghi ngờ thì không
thành tựu”: Trên đây, Phật đã giới thiệu xong hai mươi
lăm định-luân để các hàng Bồ tát và chúng sanh theo đó
tu hành. Nhưng muốn tu theo các luân này, phải có các điều
kiện sau đây :
1-
Giữ gìn phạm hạnh: Chữ “Phạm” xuất từ chữ “Phạm-thiên”,
là cõi trời dành cho những người có đời sống thanh tịnh.
Tu Phạm hạnh là giữ gìn trai giới thanh tịnh, giữ giới
luật nghiêm cẩn. Đây là Giới, tức điều kiện tiên quyết.
2-
Tịch-tĩnh: Ngăn dứt vọng tình, giữ tâm lặng lẽ. Đây là
Định.
3-
Tư duy: Lấy tịch tĩnh làm nền tảng để trầm tư vào đạo
lý. Có giữ sự lặng lẽ của tâm thì tư duy mới sâu sắc
thâm trầm. Đây là Huệ.
4-
Thiết tha sám hối: Đối trước Tam Bảo, thiết tha thỉnh
cầu gia hộ, sám hối tất cả những lầm lỗi đã phạm trong
kiếp này và những kiếp về trước. Trải qua 21 ngày như
thế, dọn tâm sẵn để làm trợ duyên cho sự tu tập được
dễ dàng.
Sau
đó, viết tên 25 luân vào các tấm phiếu, gói riêng thành
25 gói rồi chọn tùy thích một gói theo kiểu bốc thăm. Khi
mở ra xem, chúng ta sẽ biết căn cơ mình thuộc Đốn hay Tiệm,
dựa vào tên của luân được bốc trúng. Nếu còn một niệm
nghi rằng luân này không hợp với mình, hoặc đang tu lại
muốn bỏ, thì sự tu hành sẽ không thành tựu.
Ở
đây, chúng ta cũng nên để ý một điều: Thường ở Trung
Hoa thích chuyện bốc thăm, đoán số, còn Ấn Độ thì ít
đặt nặng vấn đề này, nhất là trong các kinh Nguyên-thủy
thì không thấy Phật dạy chuyện ấy. Vì thế, việc chọn
lựa định luân để theo đó tu tập, chúng ta nên nhận định
cho thấu đáo. Nếu thấy phương pháp nào thích hợp với căn
cơ trình độ của mình, thì mình cứ tu theo.
“Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói
kệ rằng :
Biện
Âm, ông nên biết!
Tất
cả các Bồ tát
Huệ
thanh tịnh không ngại
Đều
nương Thiền định sanh”.
Ở
đây, Đức Phật lại cho thấy, Thiền-định hết sức cần
thiết cho người tu Phật. Nếu nội tâm không an định thì
không thể phát sinh trí huệ.
“Ấy
là: Xa-ma-tha,
Tam-ma-đề,
Thiền-na,
Tu
ba pháp Đốn-Tiệm
Thành
25 định luân”.
Xa-ma-tha,
Tam-ma-bát-đề và Thiền-na là ba nội dung Thiền định. Các
nội dung này kết hợp theo những cách riêng thành 25 định
luân.
“Mười
phương các Như Lai
Ba
đời người tu hành
Đều
nhơn nơi pháp này
Thành
tựu được Bồ đề”.
Các
Đức Như Lai ở mười phương và những hành giả tu Viên Giác
trong ba đời, đều nương vào các pháp này mà viên thành Phật
quả.
“Chỉ
trừ người Đốn-ngộ,
Người
không tùy thuận pháp,
Tất
cả các Bồ tát,
Và
chúng sanh đời mạt,
Thường
phải theo luân này,
Tùy
thuận siêng tu tập,
Nhờ
sức đại bi Phật,
Mau
chứng được Niết bàn”.
Chỉ
trừ người căn cơ quá đặc biệt, tu lối viên dung thẳng
lên Phật đạo; và những người không tin, không tùy thuận
theo pháp mà tu; còn tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt,
đều phải y cứ trên các định luân này, tinh tấn tu hành.
Nhờ hồng ân Tam bảo tha lực và Tam Bảo tự tâm, hành giả
mau thoát vòng sanh tử, chứng được Niết bàn.
Tóm
lại, trong chương Biện Âm này, đức Phật giảng rõ về 25
phương pháp tu hành, gọi là 25 định-luân, với ý nghĩa dùng
sức thiền định như bánh xe nghiền nát mọi phiền não, thể
nhập Viên Giác. Tùy căn cơ mỗi người mà chọn định luân
nào phù hợp, theo đó tu hành. Như nhiều lần chúng tôi đã
nói, bản ý của kinh là muốn chúng ta phải y nơi tự tánh
Viên Giác mà tu, cũng như trăm sông đều đổ ra biển. Cho
nên, dù có nhiều phương tiện, tất cả đều phải lấy Viên
Giác làm chỗ sở qui, mới khỏi lạc vào ngõ ngách.
Một
ví dụ về pháp Quán: Nhị-thừa quán các pháp, thấy các pháp
đều vô thường và vô ngã nên tự tánh nó là không. Ở đây,
Phật dạy Tam-ma-bát-đề là quán như huyễn - các pháp tuy
huyễn nhưng vẫn thường ở trong Như tánh. Tất cả các pháp
đều do tâm mà hiện, ngoài tâm không có pháp. Hành giả phải
luôn luôn xoay trở lại chính mình, nghĩa là y cứ nơi lý duy
tâm mà quán. Khi nhận Phật tánh nơi mình và Pháp-tánh nơi
cảnh, châu lưu cả mười phương ba đời, ta thấy Tâm-Pháp
trùm khắp mười phương. Phật là Chánh-giác, Pháp là Chánh-kiến
và Tăng là tự tánh thanh tịnh của chính mình.
X- CHƯƠNG
TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG 
Lúc
bấy giờ, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng ở trong đại
chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân
Phật, nhiễu bên phải ba vòng, quì dài chắp tay mà bạch Phật
rằng: “Đại Bi Thế Tôn! Ngài đã vì bọn chúng con mà rộng
nói việc bất tư nghì như thế, là hành tướng nơi nhơn địa
của tất cả Như Lai, khiến cả đại chúng được nghe điều
chưa từng nghe. Nhận thấy Đấng Điều Ngự trải qua hằng
sa kiếp, siêng năng cần khổ, tu tập tất cả công dụng trong
mọi cảnh giới giống như trong một niệm, hàng Bồ tát chúng
con tự thấy rất vui mừng an ủi.
Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu Giác tâm này, bản tánh đã thanh tịnh,
nhơn vì sao lại bị nhiễm ô, khiến các chúng sanh mê muội,
không nhập được Viên Giác? Cúi mong Như Lai rộng vì chúng
con mà khai ngộ Pháp tánh, khiến cho đại chúng hiện ở đây
và chúng sanh đời mạt pháp được con mắt soi rọi về sau”.
Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng
rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới
có thể vì các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi
Như Lai những phương tiện như thế. Ông hãy lắng nghe, ta
sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng rất đỗi vui mừng,
vâng theo lời dạy, cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà
nghe.
“Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thủy kiếp đến
nay, do vọng tưởng chấp có Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ mạng.
Nhận bốn tướng điên đảo này làm thật-ngã-thể của mình,
do đó sanh hai cảnh yêu và ghét. Trên cái thể hư vọng lại
chồng lên cái chấp hư vọng; hai vọng nương nhau mà sanh ra
nghiệp đạo hư vọng. Người có vọng nghiệp thì vọng thấy
lưu chuyển; người chán sự lưu chuyển, lại vọng thấy Niết
bàn. Do đây, không thể nhập vào Giác-ngộ thanh tịnh. Chẳng
phải tánh giác chống lại những người nhập vào; có người
vào được, cũng không phải tánh giác làm cho họ vào. Thế
nên, động niệm cùng với dứt niệm đều đồng với mê
muội.
Vì
cớ sao? Do vì vô minh sẵn có từ vô thủy đã làm chủ tể.
Tất cả chúng sanh, sanh ra không có mắt huệ, thân tâm đều
là vô minh. Ví như có người không tự đoạn mạng. Thế nên
phải biết, có người yêu cái ngã của mình, cùng ngã tùy
thuận. Người không tùy thuận, liền sanh oán ghét. Vì tâm
yêu ghét nuôi dưỡng vô minh, tiếp tục cầu đạo đều không
kết quả.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Ngã-tướng? Là tâm sở chứng của
các chúng sanh. Này Thiện nam tử! Ví như có người thân thể
thư thái, chợt quên thân mình. Khi tứ chi tê liệt vì bảo
dưỡng không đúng cách, được châm cứu, liền biết có ngã.
Thế nên chứng-thủ ngã-thể mới hiện ra. Này Thiện nam tử!
Như tâm kia chứng được rốt ráo, rõ biết Niết bàn thanh
tịnh của Như Lai, cũng đều là Ngã tướng.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Nhơn tướng? Là tâm ngộ chứng
của các chúng sanh. Này Thiện nam tử! Khi ngộ mình có Ngã-tướng,
lại không nhận ngã, sở ngộ phi ngã cũng lại như thế. Ngộ
này dù đã vượt qua tất cả tâm chứng, nhưng vẫn đều
là nhơn tướng. Này Thiện nam tử! Cho đến tâm kia viên ngộ
Niết bàn cũng đều là ngã, vì tâm còn một chút ngộ, chứng-lý
đầy đủ, đều là Nhơn-tướng.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Chúng-sanh-tướng? Nghĩa là tâm
của các chúng sanh tự chứng ngộ không bì kịp. Này Thiện
nam tử! Ví như có người nói “Ta là chúng sanh” thì biết
người ấy nói “chúng sanh” đó chẳng phải là TA, cũng
chẳng phải người khác. Vì sao chẳng phải là TA? Vì ta là
chúng sanh thì không phải là TA được. Vì sao chẳng phải
người khác? Vì ta là chúng sanh nên không phải là cái TA của
người khác. Này Thiện nam tử! Nhưng các chúng sanh khi liễu-chứng
liễu-ngộ đều là Ngã, Nhơn, mà tướng Ngã-Nhơn không bì
kịp. Vì còn có cái Sở-liễu, nên gọi là Chúng-sanh-tướng.
Này
Thiện nam tử! Thế nào là Thọ-mạng-tướng? Nghĩa là tâm
chiếu thanh tịnh của các chúng sanh giác ngộ cái Sở-liễu.
Trí Tất-cả-nghiệp không tự thấy nó cũng như mạng căn.
Này
Thiện nam tử! Nếu tâm chiếu thấy tất cả giác, đều là
trần cấu, vì năng giác và sở giác kia chưa rời trần. Như
nước nóng làm tan băng, không riêng có băng và cũng không
có cái biết-tan-băng. Còn Ngã và còn cái Giác-ngã cũng lại
như thế.
Này
Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp không rõ bốn tướng,
tuy trải qua nhiều kiếp cần khổ tu đạo, chỉ gọi là hữu
vi, trọn không thể thành tựu tất cả Thánh-quả. Thế nên
gọi là Chánh-pháp đời mạt. Vì cớ sao? Vì nhận tất cả
Ngã cho là Niết bàn, vì có chứng có ngộ mà gọi đó là
thành tựu. Ví như có người nhận giặc làm con, mọi tài
sản của người ấy đều bị phá tán. Vì cớ sao? Có người
ái Ngã thì cũng ái Niết bàn; khi điều phục được căn bản
ái Ngã, là tướng Niết bàn. Có người ghét Ngã cũng ghét
sanh tử, mà không biết chính Ái mới thật là cái nhơn sanh
tử, riêng ghét sanh tử thì không giải thoát.
Làm
sao biết được pháp không giải thoát? Này Thiện nam tử!
Chúng sanh đời mạt pháp tu tập Bồ đề, cho mình chứng đắc
là tự thanh tịnh, vẫn chưa thể tận diệt gốc rễ của
Ngã-tướng. Nếu lại có người khen ngợi pháp kia, liền sanh
hoan hỉ và muốn cứu độ họ. Ngược lại, nếu có ai chê
bai chỗ sở đắc của mình, liền sanh oán giận. Cho nên biết
Ngã tướng chấp trì một cách vững chắc, núp sâu trong tàng
thức, dạo chơi nơi các căn chưa từng gián đoạn. Này Thiện
nam tử! Người này hành đạo không trừ Ngã tướng, thế
nên không thể nhập vào Giác ngộ thanh tịnh.
Này
Thiện nam tử! Nếu biết Ngã không, không có người hủy báng
Ngã. Có Ngã thuyết pháp, vì chưa đoạn Ngã. Chúng sanh, Thọ
mạng cũng lại như thế.
Này
Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt cho bệnh là pháp, thế
nên gọi là người đáng thương xót. Tuy siêng năng tinh tấn
tu hành mà ngày càng thêm bệnh. Vì vậy, không thể nhập vào
Giác ngộ thanh tịnh.
Này
Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp không rõ bốn tướng,
lấy chỗ lý giải và hạnh tu của Như Lai làm hạnh tu của
chính mình, trọn không thể thành tựu. Hoặc có chúng sanh
chưa được mà cho là được, chưa chứng mà nói chứng; thấy
người tiến hơn mình, sanh tâm tật đố. Do chúng sanh kia chưa
đoạn được Ngã ái, thế nên không thể nhập vào Giác ngộ
thanh tịnh.
Này
Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp hy vọng thành đạo,
không chịu cầu ngộ, chỉ thêm đa văn, tăng trưởng ngã kiến.
Cần phải siêng năng hàng phục phiền não, khởi đại dõng
mãnh, chưa được phải làm cho được, chưa đoạn phiền não
phải khiến cho đoạn. Tham, sân, ái, mạn, xiểm khúc, tật
đố, đối cảnh chẳng sanh. Ta cùng với người ân nghĩa yêu
mến, thảy đều tiêu diệt. Phật nói người như thế, dần
dần sẽ thành tựu, cầu thiện tri thức, không lạc vào tà
kiến. Nếu đối với chỗ sở cầu mà sanh tâm yêu ghét, thì
không thể nhập vào biển Giác ngộ thanh tịnh được”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên nói
kệ rằng :
“Tịnh Nghiệp! Ông nên biết!
Tất
cả các chúng sanh
Đều
do chấp Ngã-ái
Xưa
nay vọng lưu chuyển
Do
chưa trừ bốn tướng
Không
thành tựu Bồ đề.
Nơi
tâm sanh yêu ghét
Ở
niệm còn xiểm khúc
Thế
nên nhiều mê muội
Chẳng
thể vào thành Giác.
Nếu
ngộ trong sát na
Liền
trừ Tham, Sân, Si,
Không
còn tâm ái pháp,
Dần
dần được thành tựu
Thân
ta vốn không có
Yêu
ghét do đâu sanh?
Người
cầu Thiện tri thức,
Chẳng
lạc vào tà kiến.
Sở
cầu sanh tâm khác,
Rốt
ráo chẳng thành tựu”.
Trong
chương này, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng đại diện hội
chúng, thỉnh Phật chỉ dạy phương pháp tẩy trừ nghiệp
chướng từ vô thủy. “Tịnh Chư Nghiệp Chướng” nghĩa
là sạch tất cả nghiệp chướng, những bệnh mà hành giả
có thể mắc phải trong lúc dụng công tu hành. Nhân sự thưa
thỉnh của Bồ tát, Đức Phật mới giảng về bốn tướng:
Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ mạng. Điều này kh