V- CHƯƠNG
KIM CANG TẠNG
Lúc
bấy giờ, Bồ tát Kim Cang Tạng ở trong đại chúng, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức
Đại Bi Thế Tôn! Ngài hãy khéo vì tất cả chúng Bồ tát
mà tuyên dương pháp hạnh ở nơi Nhơn địa của Như Lai là
Viên Giác thanh tịnh Đại Đà-la-ni, và các phương tiện thứ
lớp cho chúng sanh khai phát được sự mê mờ. Pháp chúng ở
trong hội này, nương nhờ lòng từ bi thương xót dạy bảo
của Ngài mà vén mở sự u tối, mắt huệ được sáng tỏ.
Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu những chúng sanh bản lai đã thành Phật,
thì sao lại có tất cả vô minh? Nếu những vô minh của chúng
sanh sẵn có, thì nhơn duyên gì Như Lai lại nói bản lai thành
Phật? Những loài Dị sanh ở mười phương, nếu vốn đã
thành Phật đạo rồi sau khởi ra vô minh, vậy thì bao giờ
tất cả Như Lai lại sanh tất cả phiền não nữa? Cúi mong
Đức Thế Tôn không bỏ đi lòng từ vô hạn, vì các Bồ tát
mà khai mở tạng bí mật, và vì tất cả chúng sanh đời mạt,
được nghe pháp môn liễu nghĩa kinh giáo như thế mà dứt
hẳn sự nghi ngờ”.
Bồ
tát Kim Cang Tạng nói rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh
đi thỉnh lại từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Lúc
bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Kim Cang Tạng rằng:
“Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới có thể
vì các Bồ tát và chúng sanh đời mạt, mà hỏi Như Lai về
những phương tiện cứu cánh và những bí mật sâu xa, ấy
là lời dạy liễu nghĩa Đại thừa tối thượng, dành cho
các hàng Bồ tát, có thể khiến cho các Bồ tát tu học ở
mười phương và tất cả chúng sanh đời mạt có được niềm
tin quyết định, dứt hẳn sự nghi ngờ. Ông hãy lắng nghe,
ta sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Kim Cang Tạng vui mừng vâng theo lời dạy của
Phật, cùng đại chúng lắng sâu tâm thức chuẩn bị nghe.
“Này
Thiện nam tử! Tất cả thế giới thủy-chung, sanh-diệt, tiền-hậu,
có-không, tụ-tán, khởi-chỉ, niệm niệm nối nhau, xoay vần
qua lại, các thứ thủ-xả đều là luân hồi. Nếu chưa ra
khỏi luân hồi mà biện biệt tâm Viên Giác, thì tánh Viên
Giác kia cũng đồng với lưu chuyển, nếu nói thoát khỏi luân
hồi thì không thể có được.
Ví
như mắt chớp làm mặt nước gợn sóng; lại như mắt nhìn
trừng trừng thấy vòng lửa xoay. Mây bay trăng chạy, thuyền
đi bờ dời, cũng lại như thế.
Này
Thiện nam tử! Các sự xoay vần chưa dứt, các vật kia muốn
đứng lại trước, còn không thể được, huống gì dùng cái
tâm cấu sanh tử luân chuyển chưa từng thanh tịnh mà quán
tánh Viên Giác của Phật, thì không luân chuyển được sao?
Thế nên các ông mới sanh khởi ba điều nghi hoặc.
Này
Thiện nam tử! Ví như mắt nhặm nên vọng thấy hoa đốm trong
hư không. Nếu trị được mắt nhặm, không thể hỏi rằng
cái nhặm đó đã dứt thì lúc nào lại sanh khởi nữa. Vì
cớ sao? Nhặm mắt và hoa đốm, hai pháp này vốn chẳng đối
đãi. Cũng như không - hoa diệt trong hư không, không thể hỏi
rằng hư không lúc nào lại sanh ra hoa đốm nữa. Vì cớ sao?
- Vì hư không vốn không có hoa, chẳng phải có sanh diệt.
Sanh tử, Niết-bàn đồng là khởi diệt, tánh Diệu Giác tròn
chiếu thì lìa cả hoa và nhặm.
Này
Thiện nam tử! Phải biết hư không chẳng phải tạm có, cũng
chẳng phải tạm không, huống gì Viên Giác tùy thuận của
Như Lai lại là bản tánh hư không bình đẳng !
Này
Thiện nam tử! Ví như nấu kim khoáng, vàng chẳng phải do nấu
mới có. Khi đã thành vàng rồi, không trở lại làm khoáng
nữa. Dầu trải qua thời gian vô tận, tánh vàng vẫn không
biến hoại. Cho nên, ông không thể nói rằng: “Vốn chẳng
thành tựu”. Viên Giác của Như Lai cũng lại như vậy.
Này
Thiện nam tử! Tâm Viên Giác nhiệm mầu của tất cả Như
Lai vốn không có Bồ đề và Niết-bàn, cũng không có việc
thành Phật hay không thành Phật, không phải Vọng-luân-hồi
hay Phi-luân-hồi.
Này
Thiện nam tử! Các hàng Thanh văn viên mãn được cảnh giới
của mình, thân tâm ngôn ngữ đều đoạn dứt, mà còn không
thể đến được Niết-bàn của tâm Viên Giác, huống hồ
dùng tâm tư duy mà đo lường cảnh giới Viên Giác của Như
Lai được sao? Ví như người dùng lửa đom đóm đốt núi
Tu di, hẳn không thể được. Dùng tâm luân hồi khởi ra cái
thấy biết luân hồi mà vào nơi biển Đại-tịch-diệt của
Như Lai, cũng không thể được. Thế nên ta nói: Tất cả Bồ
tát và chúng sanh đời mạt, trước hết phải đoạn trừ
căn bản luân hồi từ vô thỉ.
Này
Thiện nam tử! Cái tư duy có tạo tác là từ nơi Hữu tâm
mà khởi, đều là bóng dáng của sáu trần vọng tưởng duyên
khí, cũng như không hoa, chẳng phải tâm thể chân thật. Dùng
tâm tư duy này biện biệt cảnh giới của Phật cũng giống
như hoa đốm mà kết thành quả trong hư không, vọng tưởng
xoay vần, thì không thể được.
Này
Thiện nam tử! Tâm Phù-động hư dối, nhiều xảo kiến, không
thể thành tựu được Viên Giác phương tiện. Ông phân biệt
như vậy, không phải là vấn đề chủ yếu”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói
kệ rằng :
“Kim Cang Tạng nên biết,
Tánh
tịch diệt Như Lai
Chưa
từng có thủy-chung.
Nếu
dùng tâm luân hồi
Tư
duy thêm rối rắm
Chỉ
đến bờ luân hồi
Không
vào được biển Phật.
Ví
như nấu kim khoáng
Vàng
chẳng nấu mới có.
Dù
xưa nay là vàng
Nhờ
nấu mới thành tựu.
Một
khi đã thành vàng
Không
trở lại làm khoáng.
Sanh
tử và Niết-bàn
Phàm
phu cùng chư Phật
Đồng
là tướng không hoa.
Tư
duy còn huyễn hóa
Huống
chi các hư vọng.
Nếu
liễu ngộ tâm này
Sau
mới cầu Viên Giác”.
Trong
ba chương trước, Đức Thế Tôn nói rõ về tánh Viên Giác,
về Như huyễn tam muội, về phương tiện tiệm thứ tu hành.
Nhờ vậy, đại chúng dứt bỏ mê mờ, phát khởi trí thanh
tịnh.
Tuy
nhiên, vì Đức Phật bảo, chúng sanh bản lai đã thành Phật,
nên trong pháp hội nảy sinh nghi ngờ. Bồ tát Kim Cang Tạng,
vì muốn giải nghi cho đại chúng và củng cố niềm tin vững
chắc, nên đứng lên thưa hỏi Phật. Kim Cang Tạng nghĩa là
kho kim cương; niềm tin của đại chúng nếu chưa đạt đến
chỗ vững chắc như kim cương bất hoại, thì không thể tu
được Viên Giác. Do đó, chủ yếu của chương này là giải
trừ mọi nghi vấn và tạo cho các Bồ tát cùng chúng sanh đời
mạt pháp một niềm tin kiên định.
“Lúc
bấy giờ, Bồ tát Kim Cang Tạng ở trong đại chúng, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức
Đại bi Thế Tôn! Ngài hãy khéo vì tất cả chúng Bồ tát
mà tuyên dương pháp hạnh ở nơi Nhơn địa của Như Lai là
Viên Giác thanh tịnh Đại Đà-la-ni, và các phương tiện thứ
lớp cho chúng sanh khai phát được sự mê mờ. Pháp chúng ở
trong hội này, nương nhờ lòng từ bi thương xót dạy bảo
của Ngài mà vén mở sự u tối, mắt huệ được sáng tỏ”:
Đây là đoạn mở đầu, gồm nghi thức thưa thỉnh và những
lời Bồ tát Kim Cang Tạng cầu xin Đức Phật vì lòng từ
hối, tức lòng thương xót dạy bảo, giúp đại chúng vén
mở sự u tối và mở sáng mắt huệ. Sau đây là ba câu hỏi
mấu chốt của chương này:
“Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu những chúng sanh bản lai đã thành Phật,
thì sao lại có tất cả vô minh? Nếu những vô minh của chúng
sanh sẵn có, thì nhơn duyên gì Như Lai lại nói bản lai thành
Phật? Những loài Dị sanh ở mười phương, nếu vốn đã
thành Phật đạo rồi sau khởi ra vô minh, vậy thì bao giờ
tất cả Như Lai lại sanh tất cả phiền não nữa? Cúi mong
Đức Thế Tôn không bỏ đi lòng từ vô hạn, vì các Bồ tát
mà khai mở tạng bí mật, và vì tất cả chúng sanh đời mạt,
được nghe pháp môn liễu nghĩa kinh giáo như thế mà dứt
hẳn sự nghi ngờ”.
Bồ
tát Kim Cang Tạng nói rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh
đi thỉnh lại từ đầu đến cuối như vậy ba lần”: Khi
nghe Đức Phật bảo, chúng sanh xưa nay đã thành Phật, chúng
ta có dám tin điều này không? Nếu bản lai đã là Phật, sao
bây giờ lại là chúng sanh vô minh? Cũng như, nếu nước bản
lai là trong, sao bây giờ lại đục? Đó là nghi vấn thứ nhất.
Nghi
vấn thứ hai, đặt vấn đề ngược lại: Nếu những vô minh
ấy của chúng sanh là sẵn có từ nguyên thủy, thì đâu có
được tự tánh thanh tịnh. Vậy nhân duyên gì Phật lại nói
chúng sanh bản lai thành Phật?
Nghi
vấn thứ ba khiến chúng ta liên hệ đến một câu trong kinh
Lăng Nghiêm: “Chơn tâm vốn thanh tịnh, hốt nhiên sanh
ra sơn hà đại địa”. Những loài chúng sanh khác nhau
trong mười phương sáu nẻo luân hồi, nếu vốn đã là Phật
mà quên đi để làm chúng sanh, thì liệu có một lúc nào đó,
các Đức Như Lai lại khởi sanh phiền não nữa? Có lẽ trong
chúng ta, nhiều người cũng tự hỏi điều này. Bao nhiêu năm
tu hành tích cực, tam thường bất túc, chịu mọi kham khổ
để vượt qua tất cả chướng ngại khó khăn, thành tựu
Phật quả. Rồi tự nhiên, đến một ngày nào đó phát sanh
phiền não, trở lại làm chúng sanh vô minh, thì còn ai muốn
tu nữa?
Thật
ra, cả ba câu hỏi trên chỉ tập trung vào một vấn nạn:
Có phải Phật và chúng sanh cứ thay phiên nhau lưu chuyển trong
một vòng lẩn quẩn hay không? Và như vậy thì, ý nghĩa giải
thoát nằm ở đâu? Rõ ràng ba câu hỏi này là những nghi vấn
hàng đầu của mọi người tu hành, và nếu trả lời được
chúng một cách thỏa đáng, thì sẽ có một niềm tin vững
chắc như kim cương, không bao giờ bị hủy hoại. Đây là
ý nghĩa thứ nhất của chương này, có Bồ tát Kim Cang Tạng
xuất hiện.
Ý
nghĩa thứ hai của kim cương là đặc tính quí báu nhất so
với các kim thạch khác, như tự tánh Viên Giác vừa bất sinh
bất diệt vừa quí giá không có gì sánh bằng. Mặt khác,
kim cương được dùng để ví với trí tuệ Bát nhã, nên gọi
là Trí Kim Cương. Chỉ có Trí Kim Cương mới công phá được
thành quách vô minh, mới xâm nhập vào tạng bí mật của Như
Lai. Mười phương ba đời chư Phật chỉ có một bí mật,
kể cả Bồ tát cũng không thể hiểu thấu, đó là tự tâm
Viên Giác. Gọi là “của Như Lai” vì chỉ Như Lai mới có
thể nhận rõ và sống trọn vẹn với tự tâm, còn ngoài ra
chưa phải là Viên-mãn-giác thì vẫn còn những điều nghi
hoặc vi tế.
Theo
Giáo môn, Bồ tát phải đi qua một lộ trình tuần tự từ
Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia
hạnh, Thập địa rồi mới qua Đẳng giác, và cuối cùng là
Diệu Giác tức thành Phật. Những vị đã nhận ra pháp thân
thường trụ, phát khởi trí kim cương công phá thành quách
vô minh, thì bước vào Kim-Cang-địa. Đây là địa vị của
Bồ tát từ Sơ địa trở lên, thuộc hàng Thập địa, là
những địa vị Bất thối chuyển. Trong Thiền môn, người
có địa vị tương đương là những thiền sư đã kiến tánh.
Các Ngài nhận ra Phật tánh hằng hữu của chính mình nên
có niềm tin kiên cố không gì lay chuyển nổi, từ đó cứ
tiếp tục tu hành cho đến ngày viên mãn.
Một
điều cần nhấn mạnh ở đây, sở dĩ Đức Phật bảo chúng
sanh đã thành Phật, là vì Ngài y nơi tánh Viên Giác sẵn đủ
ở mỗi chúng sanh mà nói. Chúng sanh sẵn đủ mầm mống giác
ngộ nhưng chưa được thanh lọc hết tập khí phiền não,
nên chưa trở lại sự trong sáng nguyên thủy của mình. Ví
như có những đám mây vô minh bay ngang nền trời tự tánh,
chúng ta cũng không ngại gì khi bảo, đàng sau đám mây có
mặt trời trí tuệ chiếu soi. “Tre dầy chẳng ngại nước
chảy qua” cũng có ý nghĩa như vậy.
“Lúc
bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Kim Cang Tạng rằng:
“Lành thay! Lành thay! Thiện nam tử! Các ông mới có thể
vì các Bồ tát và chúng sanh đời mạt, mà hỏi Như Lai về
những phương tiện cứu cánh và những bí mật sâu xa, ấy
là lời dạy liễu nghĩa Đại thừa tối thượng dành cho các
hàng Bồ tát, có thể khiến cho các Bồ tát tu học ở mười
phương và tất cả chúng sanh đời mạt có được niềm tin
quyết định, dứt hẳn sự nghi ngờ. Ông hãy lắng nghe, Ta
sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy Bồ tát Kim Cang Tạng vui mừng vâng theo lời dạy của
Phật, cùng đại chúng lắng sâu tâm thức chuẩn bị nghe”:
Đức Phật khen Bồ tát Kim Cang Tạng đã vì hội chúng và
chúng sanh đời mạt mà thưa thỉnh, mục đích muốn vào kho
tàng bí mật của Như Lai và củng cố niềm tin cho đại chúng.
Sau khi Phật hứa khả, Bồ tát Kim Cang Tạng cùng toàn thể
hội chúng lắng lòng nghe lời Phật dạy.
“Này
Thiện nam tử! Tất cả thế giới thủy-chung, sanh-diệt, tiền-hậu,
có-không, tụ-tán, khởi-chỉ, niệm-niệm nối nhau, xoay vần
qua lại, các thứ thủ-xả đều là luân hồi”: Đức
Phật dạy, mọi sự vật trên thế giới đều được nhìn
bằng ý thức nhị biên phân biệt. Vì thế, chúng có bắt
đầu rồi có chung cuộc; có sanh rồi có diệt; có trước
rồi có sau, tức có quá khứ, hiện tại và vị lai; khi đủ
duyên thì hiện hữu gọi là có; hết duyên tan rã gọi là
không; khi các duyên tập hợp là tụ, các duyên phân tán là
tán; lúc phát sanh là khởi, lúc dừng lại là chỉ. Tất cả
các pháp đều luôn luôn biến đổi sinh diệt trong từng sát
na, cũng như niệm niệm nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. “Niệm
niệm nối nhau” có nghĩa là từng sát na không dừng của
mỗi niệm, mà cũng là từng sát na biến đổi trong tự thân
của các pháp. “Xoay vần qua lại” chỉ cho sự luân hồi
trong vòng sanh diệt, như bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông thay
nhau xoay vần, gọi là Tuần-hoàn vãn phục. Đây là qui luật
tất nhiên của cuộc sống.
Thật
ra, bản thân các pháp thật vốn vô tình, mà tâm niệm thủ
xả là do thái độ của chúng ta đối với các pháp. Thứ
nào chúng ta ưa thích thì muốn thu tóm về mình (thủ), thứ
nào làm ta chán ghét thì muốn bỏ đi (xả). Từ đó sinh ra
các pháp đối đãi nhau, có năng-sở, chủ-khách, khiến chúng
ta cứ mãi tạo nghiệp và thọ khổ trong sáu nẻo luân hồi.
“Nếu
chưa ra khỏi luân hồi mà biện biệt tâm Viên Giác, thì tâm
Viên Giác kia cũng đồng với lưu chuyển, nếu nói thoát khỏi
luân hồi thì không thể có được”: Câu này có ý
nghĩa rất sâu xa. Chẳng hạn, một người mới có trình độ
lớp ba không thể giải phương trình toán học của lớp mười.
Một đứa trẻ không thể hiểu được những kinh nghiệm xương
máu của người đã lăn lóc nhiều năm trong cuộc sống. Cũng
vậy, nếu chúng ta đem cái tâm phàm phu đầy dẫy vô minh mà
muốn hiểu được tánh Viên Giác, thì không bao giờ hiểu
đến. Nếu chúng ta chưa thoát khỏi luân hồi, mà lại đem
tâm luân hồi để biện biệt Viên Giác, thì Viên Giác ấy
cũng bị lưu chuyển theo.
Các
vị thiền sinh cần chú ý một điều: Chúng ta thường ngồi
trong tư thế kiết già ngày 1-2 thời, hoặc mỗi chiều thiền
hành trong chánh niệm, hay có những lần lao tác mà tâm vẫn
ở một thời điểm tại đây và bây giờ; thì đột nhiên
một lúc nào đó, ta thấy có một cái gì khôn tả trào dâng
trong ta. Ánh hào quang bất chợt chiếu diệu, sự thật hiển
bày trong tíc-tắc, và mọi sự mọi vật trở nên nhiệm mầu
vô cùng. Dĩ nhiên là tâm chúng ta không được hoàn toàn thanh
tịnh suốt ngày đêm vì còn quá nhiều tập khí. Nhưng nếu
mỗi ngày chúng ta có được vài giờ sống với tâm tĩnh lặng
và chánh niệm, cũng có thể thổi được một luồng sinh khí
vào cuộc sống, bởi vì Viên Giác là sức sống, mà là sức
sống của chính mình. Mỗi người chúng ta hãy tự kinh nghiệm
lấy vấn đề này, không ai có thể truyền đạt được cho
ai.
Khi
đã hiểu được thâm ý của các kinh điển Đại thừa, chúng
ta mới thấy, khi một hạt lúa nẩy mầm thì cả thế giới
đều chịu trách nhiệm chung. Cũng vậy, nếu chúng ta tu hành
có sự thanh tịnh tươi mát, sẽ ảnh hưởng tốt đến mọi
người và môi trường sống xung quanh. Còn nếu chúng ta cứ
mãi bị những thế lực của tham dục và vô minh chi phối,
cam chịu cuộc đời sống say chết mộng, thì chúng ta sẽ
vung vãi những bất an vào những người quanh ta.
“Ví
như mắt chớp làm mặt nước gợn sóng; lại như mắt nhìn
trừng trừng thấy vòng lửa xoay. Mây bay trăng chạy, thuyền
đi bờ dời, cũng lại như thế”: Đây là những ví
dụ rất hay. Mặt nước hồ đang lặng, do mắt chớp liên
tục nên thấy nước gợn sóng. Ban đêm cầm một nén hương,
ta quay cây hương vòng tròn và chú mục nhìn thẳng, sẽ thấy
có một vòng lửa liên tục. Do mây bay nên thấy trăng chạy.
Người ngồi trên thuyền đang đi mà lại thấy bờ dời. Tất
cả đều là những cái thấy sai lầm, do chủ thể nhận thức
không đúng lẽ thực nên đối tượng nhận thức bị sai lệch
đi. Khi tâm chúng ta đang loạn động, nhìn mọi vật ta không
thấy được tự thể của nó. Nhưng nếu đang trong chánh niệm,
nhìn sự vật bằng ánh sáng trí tuệ, chúng ta sẽ thấy vĩnh
hằng nằm trong một sát na, mười phương thế giới thu trọn
vào đầu ngọn cỏ. Ta sẽ thấy cảnh vật xung quanh đã có
mặt từ vô thủy đến vô chung. Đức Phật vẫn đang thuyết
kinh Pháp Hoa nơi hội Linh Sơn. Bởi vì, chúng ta đang siêu việt
cả không gian và thời gian. Bởi vì, tất cả các pháp đều
ở trong một sát-na-tâm, tất cả đều chỉ hiện hữu ở
tại đây và bây giờ !
“Này
Thiện nam tử! Các sự xoay vần chưa dứt, các vật kia muốn
đứng lại trước, còn không thể được, huống gì dùng cái
tâm cấu sanh tử luân chuyển chưa từng thanh tịnh mà quán
tánh Viên Giác của Phật, thì không luân chuyển được sao?
Thế nên các ông mới sanh khởi ba điều nghi hoặc”:
Tâm chúng sanh chưa hết loạn động mãi nhìn sự vật thế
gian một cách điên đảo. Ví như lúc mây còn bay hay thuyền
còn đi thì không thể nhìn thấy trăng đứng yên hay bờ dừng
lại được. Những việc thông thường mà chúng sanh còn nhận
thức sai lầm như vậy, huống gì đem cái cấu tâm sanh tử
mà quán cảnh giới Viên Giác của Phật, thì cảnh giới này
không trở thành sai lệch được sao? Bởi vậy, Ngài Kim Cang
Tạng mới phát sanh ba điều nghi ngờ, đưa ra hỏi Phật.
“Này
Thiện nam tử! Ví như mắt nhặm nên vọng thấy hoa đốm trong
hư không. Nếu trị được mắt nhặm, không thể hỏi rằng
cái nhặm đó đã dứt thì lúc nào lại sanh khởi nữa. Vì
cớ sao?”: Đức Phật rất từ bi, dùng nhiều ví dụ
để minh họa lời dạy, khiến tất cả mọi người đều
có thể hiểu rõ. Khi mắt bị nhặm, nhìn ra hư không ta sẽ
thấy hoa đốm lăng xăng. Thật ra đó chỉ là vọng thấy.
Khi mắt được trị lành, chúng ta không thể hỏi chừng nào
mắt trở lại bị nhặm như lúc trước.
“Nhặm
mắt và hoa đốm, hai pháp này vốn chẳng đối đãi”:
Ở câu này, tôi hơi nghi ngờ lời dịch từ Phạn văn ra Hán
văn. Bản chữ Hán là “phi tương đãi”, nên chúng ta phải
hiểu là “chẳng đối đãi”. Nhưng hoa đốm bên ngoài là
trần, mắt nhặm bên trong là căn; hai pháp này quả thật đối
đãi nhau. Do mắt bị bệnh nên khởi cái biết sai lầm mà
thấy hoa đốm. Vì thế, chúng ta nên hiểu như thế này: Hai
pháp đó thật ra không có thực thể.
“Cũng
như không hoa diệt trong hư không, không thể hỏi rằng hư
không lúc nào lại sanh ra hoa đốm nữa. Vì cớ sao? - Vì hư
không vốn không có hoa, chẳng phải có sanh diệt”: Khi
mắt hết bệnh, không còn thấy hoa đốm. Ta không thể hỏi
chừng nào hư không lại sanh ra hoa đốm nữa. Kỳ thực, hư
không đâu có sanh ra hoa đốm, chỉ do mắt nhặm nên vọng
thấy mà thôi. Như vậy, cả hoa đốm lẫn mắt nhặm đều
không thật, vì nếu thật sự có thì không khi nào mất được.
Hai pháp chỉ đối đãi nhau mà tạm có. Vì tạm có nên cũng
tạm không, cho nên bảo “chẳng phải có sanh diệt”.
“Sanh
tử Niết-bàn đồng là khởi diệt, tánh Diệu Giác tròn chiếu
thì lìa cả hoa và nhặm”: Sanh tử khởi diệt thì dễ
hiểu, nhưng còn Niết-bàn sao cũng khởi diệt? - Thực ra, sanh
tử và Niết-bàn chỉ là hai pháp đối đãi nhau. Do tâm vọng
động nên chúng sanh thấy sanh tử là thật có. Vì tưởng
sanh tử là thật có nên Đức Phật phương tiện bảo là có
Niết-bàn, để chúng sanh nhàm chán sanh tử phiền não mà cầu
về Niết-bàn an lạc. Đó là dùng lá vàng dỗ con nít khóc.
Khi hiểu ra, mới thấy cả sanh tử và Niết-bàn cũng đồng
khởi diệt.
Nhìn
chung, khi chúng ta giác ngộ rằng sáu trần bên ngoài và sáu
căn bên trong đều không thật có, căn-trần tác động đong
đưa, là duyên sanh như huyễn; khi chúng ta giác ngộ rằng ngay
cả
sáu thức phân biệt cũng không thật có, thì chúng ta sẽ hiểu
rõ, căn-trần-thức chỉ là những hình bóng huyễn sanh huyễn
diệt trên nền trời tự tánh. Chính tự tánh Viên Giác là
tự thể của căn-trần-thức, nhưng vì Viên Giác là vô hình
vô tướng nên ta dễ quên, mãi chạy theo những cái hữu hình
hữu tướng. Vì do si nên chúng ta không biết rằng, chính cái
không hình tướng ấy mới là tự thể của tất cả những
cái có hình tướng. Chúng ta chấp những hình tướng kia là
thật nên khởi lòng Tham, nếu tham không được thỏa mãn thì
Sân nổi lên. Vì tham-sân-si nên cứ mãi làm chúng sanh, lẩn
quẩn trong sáu nẻo luân hồi.
Vì
Viên Giác là tự thể của tất cả các pháp, nên siêu việt
mọi ý niệm lưỡng phân, nên chiếu soi mọi pháp đều thấy
là huyễn mộng. Trong ví dụ trên, hoa đốm là trần, mắt
nhặm là căn. Căn trần đều không thật có và tự tánh Viên
Giác cũng lìa cả hai.
“Này
Thiện nam tử! Phải biết hư không chẳng phải tạm có, cũng
chẳng phải tạm không, huống gì Viên Giác tùy thuận của
Như Lai là bản tánh hư không bình đẳng !”: Ví dụ
một cái cây mọc lên từ đất. Ta bảo cây tạm có trong không
gian, vì nó chỉ sống trong một thời gian nào đó. Sau đó
nó lại tạm không, vì hết duyên thì hủy hoại. Còn hư không
thì không bị cây làm ảnh hưởng. Không vì cái cây có mặt
mà hư không tạm có, cũng không vì cây bị hoại mà hư không
tạm không. Hư không luôn luôn bất động dù các pháp lưu
chuyển, các pháp đắp đổi cho nhau trong lúc hư không vĩnh
hằng. Đức Phật dùng hư không ví cho tự tâm Viên Giác, không
vì các pháp hiện hữu hay hoại diệt, không vì thân năm uẩn
còn hay mất mà tâm Viên Giác biến đổi. Thân năm uẩn của
chúng sanh vốn là Viên Giác hằng hữu từ vô thủy đến vô
chung. Chỉ có một điều, tâm chúng sanh thấy thân năm uẩn
là sự ngăn ngại, nhưng lúc nhận ra tâm Viên Giác, ta thấy
thân năm uẩn là một thực tại nhiệm mầu! Lúc này, ta mới
hay, tất cả các pháp không ngoài tâm Viên Giác, và chính Viên
Giác làm các pháp có mặt nhiệm mầu.
Ở
đây, Đức Phật dùng hư không bất sinh bất diệt để ví
với tâm Viên Giác hằng hữu cho chúng ta dễ hiểu. Kỳ thực,
hư không cũng là một pháp, cũng được sanh ra trong Viên Giác.
Viên Giác chính là tự thể của hư không. Trong kinh Lăng Nghiêm,
Phật đã so sánh hư không với chơn tâm cũng ví như hòn bọt
sánh cùng biển cả !
“Này
Thiện nam tử! Ví như nấu kim khoáng, vàng chẳng phải do nấu
mới có. Khi đã thành vàng rồi, không trở lại làm khoáng
nữa. Dầu trải qua thời gian vô tận, tánh vàng vẫn không
biến hoại. Cho nên, ông không thể nói rằng: “Vốn chẳng
thành tựu”. Viên Giác của Như Lai cũng lại như vậy”:
Kim khoáng là vàng còn lẫn trong quặng. Ngay trong quặng đã
có vàng, không đợi đến lúc nấu mới có. Khi đã thành vàng
ròng thì không bao giờ trở lại là quặng nữa, dù trải qua
thời gian bao lâu. Tự tâm Viên Giác cũng thế. Lúc còn là
chúng sanh, tâm Viên Giác bị lẫn lộn trong tập khí vô minh
cũng như vàng còn trong quặng, nhưng không bị vô minh làm hư
hoại. Khi đã tu hành, trải qua nhiều đời kiếp, thanh lọc
dần tập khí phiền não, một lúc nào đó tâm Viên Giác hiển
bày trọn vẹn, giống như quặng đã được lọc bỏ chỉ
còn lại vàng ròng. Thành tựu giác ngộ tối thượng, vô minh
vĩnh viễn đoạn trừ, cũng như vàng ròng không khi nào trở
lại thành quặng nữa.
“Này
Thiện nam tử! Tâm Viên Giác nhiệm mầu của tất cả Như
Lai vốn không có Bồ đề và Niết-bàn, cũng không có việc
thành Phật hay không thành Phật, không phải Vọng luân hồi
hay Phi luân hồi”: Trong cảnh giới Viên Giác nhiệm
mầu, mọi danh từ đều là rỗng, vì đều mang tính chất
lưỡng phân. Gọi là Bồ đề vì còn ý niệm Phiền não, gọi
là Niết-bàn vì còn có sanh tử. Nên Viên Giác không có Bồ
đề hay Niết-bàn. Khi ta nói “thành Phật”, chỉ là để
diễn đạt một trạng thái tâm chứng tức thì, chứ không
có một ông Phật nào để thành, vì có một Phật để sanh
thì lúc nào đó sẽ có một Phật để hoại. Cho nên, Phật
bảo “không có việc thành Phật”. Tuy nhiên, nếu nói “không
thành Phật” cũng không được, vì khi nhận ra và sống viên
mãn trong tâm Viên Giác, các Ngài đã không còn là chúng sanh
vô minh nữa. Do vậy, bảo “thành” không được, mà bảo
“không thành” cũng chẳng xong. Tâm Viên Giác không hình tướng
nên không thể nói là “thành”, nhưng nó vẫn hằng hữu
nên không thể nói “không thành”. Lối lý luận này rất
chi ly và phức tạp, không thể dùng tình thức thông thường
mà hiểu cho tường tận được.
Tiếp
theo, Đức Phật lại bảo, tâm Viên Giác cũng không phải Vọng
luân hồi hay Phi luân hồi. Viên Giác không ở trong luân hồi,
vì chúng sanh vô minh đang trong luân hồi đâu có nhận ra nó.
Nếu nói Viên Giác là Phi luân hồi, tức có một cái riêng
ở ngoài luân hồi, thì cũng không đúng. Cho nên, khi lý luận
đến chỗ chân thật này, một trong 20 bộ phái của Phật
giáo là Độc-tử-bộ đã chủ trương “Phi tức Phi ly uẩn
ngã”, mà họ gọi là Bổ-đặc-già-la. Cái chơn ngã này không
phải tức ngũ uẩn, cũng không lìa ngũ uẩn. Nếu cho nó là
ngũ uẩn, ta đã nhận giặc làm con, vì ngũ uẩn là sanh diệt
còn chơn ngã là thường hằng. Nhưng nếu nói nó không phải
ngũ uẩn thì ta lại hiểu lầm là ngoài ngũ uẩn mới có chơn
ngã, tự nhiên phát sanh tâm niệm thủ xả, muốn bỏ cái này
để bắt cái kia, đồng với tâm xảo ngụy là tâm vô minh
vi tế.
“Này
Thiện nam tử! Các hàng Thanh văn viên mãn được cảnh giới
của mình, thân tâm, ngôn ngữ đều đoạn dứt, mà còn không
thể đến được Niết-bàn của tâm Viên Giác, huống
hồ dùng tâm tư duy mà đo lường cảnh giới Viên Giác của
Như Lai được sao?”: Các hàng Thanh văn đã dứt sạch mầm
mống sanh tử, tâm chìm vào chỗ lặng lẽ. Các Ngài thấy
sanh tử đã đoạn trừ, cảnh giới Niết-bàn là thật có.
Lúc này, thân như tro tàn, trí bị cùn lụt, chìm hẳn trong
si định. Vì vậy Phật bảo, hàng Nhị thừa không thể hiểu
được cảnh giới Viên Giác của Phật, huống gì tâm phàm
phu loạn động của chúng sanh, làm sao hiểu thấu?
Ở
đây, chúng ta nên biết qua về lối tu của Đại thừa và
so sánh với Nhị thừa. Hàng Nhị thừa chú trọng giữ gìn
giới luật và thiền định sâu xa, khi dứt sạch mọi vọng
tưởng điên đảo thì chìm vào trạng thái lặng lẽ, xả
trừ phiền não khởi tưởng Niết-bàn. Các vị cũng có trí
huệ nhờ thiền định, nhưng không phải là trí huệ tối
thượng mà là Càn huệ, tức trí huệ khô khan. Vì còn tâm
thủ xả, hết ngã chấp nhưng còn pháp chấp nên chưa phải
là giác ngộ viên mãn. Đại thừa tối kỵ trạng thái trầm
không trệ tịch này. Các Ngài chủ trương phải rõ được
cả ngã lẫn pháp đều như huyễn, từ đó tự tại đối
với các pháp, ngay động mà tịnh, ngay nơi phiền não mà được
Bồ đề, ngay sanh tử mà liễu hội Niết-bàn. Hoa sen từ bùn
nhơ nước đục mà vươn lên và tỏa hương thơm ngát, chứ
không phải mọc từ chỗ sạch sẽ thơm tho. Cũng vậy, Bồ
tát muốn gieo Phật chủng thì phải từ mảnh đất chúng sanh
mà lập đại nguyện. Bồ tát phải lấy trí tuệ làm sự
nghiệp, xem giác ngộ là mạng sống. Các Ngài cũng cần có
một thời gian yên tĩnh để trưởng dưỡng thánh thai, nhưng
sau khi tường tận sự thật, các Ngài không còn ý niệm nhị
biên phân biệt. Lúc này, động tịnh đối với các Ngài đều
như nhau, các Ngài vận dụng sức sống mãnh liệt, khởi Đại
từ Đại bi Đại nguyện đi vào các cõi, độ tận chúng sanh,
thành tựu quả Phật.
“Ví
như người dùng lửa đom đóm đốt núi Tu di, hẳn không thể
được. Dùng tâm luân hồi khởi ra cái thấy biết luân hồi
mà vào nơi biển Đại tịch diệt của Như Lai, cũng không
thể được”: Lửa đom đóm ví như Càn-huệ của Nhị
thừa hoặc tâm vọng tưởng của chúng sanh; núi Tu di chỉ
cho Viên Giác. Không thể dùng lửa đom đóm đốt núi Tu di,
cũng như không thể đem cái tâm luân hồi sanh diệt mà đo
lường cảnh giới bao la không cùng và lìa tất cả tướng
của Như Lai.
“Thế
nên ta nói: Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt, trước
hết phải đoạn trừ căn bản luân hồi từ vô thỉ”:
Căn bản luân hồi chính là những vọng tưởng điên đảo
của chúng sanh. Việc cấp thiết nhất là phải buông cho sạch
mọi chấp trước; khi tâm hư vọng dứt, chơn tâm hiện tiền.
Đây cũng là phương pháp “Biết vọng không theo” của Hòa
thượng Trúc Lâm hiện nay.
“Này
Thiện nam tử! Cái tư duy có tạo tác là từ nơi Hữu-tâm
mà khởi, đều là bóng dáng của sáu trần vọng tưởng duyên
khí, cũng như không hoa, chẳng phải tâm thể chân thật”:
Tư duy có tạo tác, tức dùng tâm phan duyên theo bóng dáng sáu
trần mà khởi ra tư duy.Chúng sanh đều sống bằng Hữu-tâm,
tức vọng tưởng lăng xăng khi sáu căn tiếp xúc với sáu
trần. Gặp sắc khởi theo sắc, phân biệt đẹp xấu; gặp
tiếng khởi theo tiếng, phân biệt hay dở..., đều là những
thói quen từ nhiều đời, duyên lự theo các pháp mà khởi
tâm phân biệt, nên gọi là “vọng tưởng duyên khí”. Đó
không phải là tâm thể chân thật, chỉ như hoa đốm trong
hư không.
“Dùng
tâm tư duy này biện biệt cảnh giới của Phật cũng giống
như hoa đốm mà kết thành quả trong hư không, vọng tưởng
xoay vần, thì không thể được”: Hoa đốm sanh ra trong
hư không, rồi kết thành quả, đó là những hình ảnh tưởng
tượng chớ không thật có. Cũng vậy, nếu dùng tâm tư duy
suy xét về cảnh giới Viên Giác, chẳng khác nào không hoa
kết thành không quả, chỉ là vọng tưởng trong vọng tưởng
mà thôi.
“Này
Thiện nam tử! Tâm phù động hư dối, nhiều xảo kiến, không
thể thành tựu được Viên Giác phương tiện. Ông phân biệt
như vậy, không phải là vấn đề chủ yếu”: Tâm
sanh diệt hư giả khởi lên những cái thấy biết không chân
thật, chẳng phải là phương tiện để cầu được Viên Giác.
Đức Phật kết luận như vậy và quở nhẹ Bồ tát Kim Cang
Tạng, đưa ra ba điều nghi hoặc ấy, không phải là vấn đề
chánh để đem ra hỏi ở đây. Thật ra, đây cũng chỉ là
lời quở giả vờ, vì ngài Kim Cang Tạng chỉ vì chúng sanh
nên mới thưa hỏi Phật như thế, để nhờ sự giải bày
của Phật khiến chúng sanh đời mạt được niềm tin vững
chắc.
“Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên mà nói
kệ rằng:
Kim
Cang Tạng nên biết,
Tánh
tịch diệt Như Lai
Chưa
từng có thủy chung”.
Phật
dạy, tánh Viên Giác chưa từng có bắt đầu và cũng chưa
bao giờ kết thúc. Thấy có bắt đầu và kết thúc là thấy
theo sự tướng của các pháp bên ngoài, còn tánh tịch diệt
của Như Lai thì chưa từng có chung có thủy.
“Nếu
dùng tâm luân hồi
Tư
duy thêm rối rắm
Chỉ
đến bờ luân hồi
Không
vào được biển Phật”.
Dùng
tâm vọng tưởng đảo điên mà suy nghĩ về tâm Viên Giác
chỉ càng thêâm lẩn quẩn rối rắm, nhiều lắm chỉ đến
được bờ mé của luân hồi chứ không thể vào biển chân
như của Phật được.
“Ví
như nấu kim khoáng
Vàng
chẳng nấu mới có.
Dù
xưa nay là vàng,
Nhờ
nấu mới thành tựu”.
Vàng
ở trong quặng đã có sẵn, không phải sau khi nấu mới có
vàng. Tuy nhiên, vàng phải nhờ tinh luyện mới thành được
vàng ròng. Chúng sanh cũng vậy, bản lai đã là Phật, không
phải sau khi tu mới là Phật. Nhưng nếu không trải qua thời
gian tu hành miên mật, bào mòn dần tập khí phiền não nhiễm
ô, thì muôn đời cũng cứ mãi là chúng sanh mà thôi. Vì vậy,
không có gì mâu thuẫn giữa hai câu nói của Phật “Chúng
sanh bản lai đã là Phật” và “Ta là Phật đã thành, chúng
sanh là Phật sẽ thành”.
“Một
khi đã thành vàng,
Không
trở lại làm khoáng”.
Khi
đã tinh luyện thành vàng ròng, không bao giờ trở lại làm
khoáng nữa. Chúng sanh cũng thế, khi vô minh phiền não đã
đoạn trừ, viên thành Phật đạo, không bao giờ trở lại
làm chúng sanh.
“Sanh
tử và Niết-bàn
Phàm
phu cùng chư Phật
Đồng
là tướng không hoa”.
Nhận
ra và sống viên mãn với tự tâm thanh tịnh, chúng ta thấy
vạn pháp đều bình đẳng vì tự tánh đều là không. Cả
sanh tử - Niết-bàn hay chúng sanh và chư Phật, mọi danh từ
đều chỉ là đối đãi, đều như hoa đốm trong hư không.
“Tư
duy còn huyễn hóa
Huống
chi các hư vọng
Nếu
liễu ngộ tâm này
Sau
mới cầu Viên Giác”.
Tâm
thức phân biệt, khởi sanh khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần,
chỉ là hư giả. Tâm hư vọng, khởi lên cái thấy biết hư
vọng, làm sao biện biệt được Viên Giác. Cho nên, trước
tiên phải liễu ngộ tự tánh rồi mới có thể thành tựu
đạo nghiệp.
Ở
đây, chúng ta cần lưu ý một điều rất quan trọng. Trong
chương này, Đức Phật đã dùng rất nhiều ví dụ để làm
sáng tỏ ba câu hỏi của Bồ tát Kim Cang Tạng, và để đại
chúng tin chắc rằng, tâm Viên Giác hằng hữu ở mỗi chúng
sanh. Chúng ta học Phật đáo cùng cũng chỉ để vén mở một
chân trời đại tự do và khám phá được bí mật của kiếp
sống. Dù sử dụng bất cứ phương tiện tu hành nào, mục
đích cao tột của chúng ta cũng là nhận ra và thể nhập tâm
Viên Giác của chính mình. Nếu quên đi mục đích này, muôn
kiếp tu hành cũng uổng công vô ích mà thôi. Biết bao người
xuất gia nhưng lại hành tà pháp ngay trong ngôi Tam Bảo, lại
còn hướng dẫn người khác tu theo, thật chẳng khác gì một
kẻ mù dẫn theo một đám người mù, tất cả cùng rơi xuống
hố. Cổ đức đã nói: “Người chánh mà hành pháp tà thì
tà cũng trở thành chánh. Người tà mà hành pháp chánh thì
chánh cũng trở thành tà”. Như vậy, người tu trước tiên
phải có đủ chánh kiến, chánh tín; phải chuẩn bị cho mình
một kiến văn đầy đủ, một cái thấy biết như thật. Và
đến khi nào mình đạt đến trạng thái tương đối thanh
tịnh cùng một niềm vui trong đời tu, mình mới có thể giúp
người khác đi vào chánh đạo.
Một
điều nữa cũng không kém phần quan trọng: Chúng ta đọc trong
Thiền sử, kể chuyện các Ngài khi ngộ đạo rồi thấy mọi
pháp đều là tự tánh thanh tịnh của mình, từ đó chúng
ta cũng bắt chước các Ngài, nhận tất cả cảnh vật bên
ngoài đều là tâm ta, thì coi chừng nhận lầm Viên Giác. Chỉ
khi nào chúng ta thực sự kiến tánh, mới thấy rõ ràng mọi
pháp đều trong trạng thái nhất như, đều lấy Viên Giác
làm gốc. Lúc đó, chúng ta mới có thể thỏng tay vào chợ,
mới làm lợi ích cho muôn loài. Còn nếu chưa nhận ra tâm
Viên Giác mà vội vàng làm thầy thiên hạ, đã không giúp
ích được cho ai mà còn tạo thêm nghiệp chướng cho mình.
VI- CHƯƠNG
DI LẶC
Trong
chương này, Bồ tát Di Lặc là nhân vật chính. Theo truyền
thuyết của nhà Phật, Bồ tát Di Lặc đang cư ngụ trong nội
viện cung trời Đâu Suất. Khi giáo pháp của Phật Thích Ca
không còn hiện diện trên cõi Ta Bà này, Ngài sẽ được bổ
xứ về đây, thị hiện thành Phật dưới cội cây Long Hoa
và tuyên dương chánh pháp. Là một vị Đại Bồ tát, chỉ
sinh về cõi Ta Bà lần cuối cùng rồi thành Phật, nên Ngài
được gọi là “Bồ tát Nhất sanh bổ xứ”.
Nụ
cười của Bồ tát Di Lặc là một điều tâm đắc cho nhiều
người học Phật. Hình thức khác với nụ cười mỉm bí
ẩn của Ngài Ca Diếp khi Đức Phật đưa cành hoa tại hội
Linh Sơn, nụ cười của Ngài Di Lặc rất hồn nhiên, rất
vui tươi và rất phóng khoáng. Vì sao Ngài có được nụ cười
đó? - Vì Ngài đã đạt đến mức độ thường hỷ và thường
xả. Bồ tát là vị Tổ của Duy thức học, chủ trương “Vạn
pháp duy thức biến”, tất cả pháp đều do thức mà biến
hiện. Khi liễu ngộ được mọi sự mọi vật đều sinh khởi
từ thức tâm phân biệt, thì ra tất cả đều là huyễn ảo
không thực. Đối với mọi cảnh ngộ thịnh suy thăng trầm
của cuộc đời, Ngài tự tại với tất cả. Nhờ vui (Hỷ)
mà Ngài thường Xả, và nhờ Xả nên Ngài thường vui; Hỷ
và Xả vừa làm nhân vừa làm quả cho nhau.
Một
nét đặc biệt khác của hình tượng Bồ tát Di Lặc là cái
bụng rất to, tượng trưng tâm hồn Ngài bao dung độ lượng
vô bờ. Thường thì có hiểu mới có thương, có thông cảm
với người thì mới thương được người đó. Ở đây, Ngài
chuyển cái hiểu phàm tục thành trí huệ siêu việt, và chuyển
cái thương phàm tục thành tình thương bao la, nên Ngài có
cuộc sống vui tươi cởi mở. Dù ai sầu bi khổ não đến
đâu, nhìn hình tượng Ngài cũng có thể sanh tâm hoan hỷ.
Cho nên, người ta gọi mùa xuân bất diệt là “Xuân Di Lặc”.
Lúc
bấy giờ, Bồ tát Di Lặc ở trong đại chúng, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải
ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức Đại
bi Thế Tôn! Ngài đã rộng vì hàng Bồ tát mà mở ra cái kho
tàng bí mật, khiến cho cả đại chúng thâm ngộ được luân
hồi, phân biệt được tà chánh; hay thí cho chúng sanh đời
mạt pháp được Đạo-nhãn-vô-úy, đối với Đại Niết-bàn
sanh lòng tin quyết định, không còn trở lại theo cảnh giới
luân hồi mà khởi lên kiến chấp điên đảo nữa.
Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp
muốn dạo chơi nơi biển Đại tịch diệt của Như Lai, phải
làm sao đoạn trừ được căn bản luân hồi? Trong các cõi
luân hồi có bao nhiêu loài chúng sanh? Có bao nhiêu cấp bậc
tu theo đạo Bồ đề của Phật? Các Bồ tát khi vào trần
lao độ chúng sanh, phải thiết lập bao nhiêu phương tiện
giáo hóa?
Cúi
mong Đức Bất-xả-cứu-thế-đại-bi khiến tất cả Bồ tát
và chúng sanh đời mạt pháp, những người tu hành được
con mắt trí huệ trang nghiêm thanh tịnh, chiếu diệu nơi tâm
và cảnh, viên ngộ được tri kiến vô thượng của Như Lai
!”
Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Di Lặc rằng: “Lành thay!
Lành thay! Này thiện nam tử! Các ông mới có thể vì Bồ tát
và chúng sanh đời mạt pháp mà thỉnh hỏi Như Lai về ý nghĩa
thâm áo bí mật vi diệu, khiến cho các Bồ tát mắt huệ được
sáng tỏ, và cho các chúng sanh đời mạt pháp hằng đoạn
được luân hồi, tâm ngộ được thật tướng, đủ Vô sanh
nhẫn. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Di Lặc vui mừng vâng theo lời dạy của Phật,
cùng cả đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe.
“Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ mé vô thỉ,do có các
thứ ân ái và tham dục, nên mới có luân hồi. Tất cả chúng
sanh trong thế giới như Noãn sanh, Thai sanh, Thấp sanh, Hóa sanh
đều nhơn nơi dâm dục mà thành tánh mạng. Phải biết, Ái
là căn bản của luân hồi. Do có các Dục trợ giúp Ái phát
sinh, thế nên khiến cho sanh tử nối tiếp nhau. Dục nhơn Ái
mà sanh, Mạng nhơn Dục mà có. Chúng sanh ái luyến mạng sống,
rồi trở lại nương Dục làm gốc. Ái dục là nhơn, Ái mạng
là quả.
Do
nơi cảnh dục khởi lên các điều thuận nghịch. Cảnh trái
với tâm ưa thích thì sanh chán ghét, tạo nhiều thứ nghiệp,
nên sanh ra Địa ngục, Ngạ quỉ. Biết Dục đáng chán, mới
thích cái Đạo-chán-nghiệp, bỏ ác vui với thiện, nên hiện
ra cõi Trời và Người. Lại vì biết các Ái đáng chán ghét,
nên bỏ Ái ưa Xả; rồi lại tươi nhuận gốc Ái, mới lần
lần hiện ra quả lành tăng thượng hữu vi. Đó đều là luân
hồi, không thành được Thánh đạo. Thế nên, chúng sanh muốn
thoát khỏi sanh tử, tránh khỏi vòng luân hồi, trước tiên
phải đoạn tham dục và khát ái.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát biến hóa thị hiện ở thế gian chẳng
phải do gốc Ái, chỉ vì lòng từ bi muốn chúng sanh bỏ Ái,
nên mượn các sự tham dục mà vào nơi sanh tử.
Nếu
tất cả chúng sanh đời mạt pháp bỏ được các dục và
trừ đi khát ái, hằng đoạn luân hồi, cần cầu cảnh giới
Viên Giác của Như Lai, thì ở nơi tâm thanh tịnh liền được
khai ngộ.
Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh do gốc tham dục mà phát
huy vô minh, hiện ra năm tánh sai biệt, rồi nương vào hai thứ
chướng mà hiện ra có sâu cạn. Hai chướng là gì? - Một
là Lý chướng, ngăn ngại Chánh-tri-kiến; hai là Sự chướng,
làm tiếp tục sanh tử luân hồi. Năm tánh là gì? - Này thiện
nam tử! Nếu hai chướng ấy chưa đoạn trừ, thì chưa thành
Phật. Nếu các chúng sanh bỏ được tham dục, trước trừ
được Sự chướng mà còn chưa đoạn được Lý chướng,
thì chỉ có thể ngộ nhập được cảnh giới Thanh văn và
Duyên giác, chứ chưa thể an trụ trong cảnh giới Bồ tát.
Này
Thiện nam tử! Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp, muốn
dạo chơi nơi biển Đại Viên Giác của Như Lai, trước tiên
phải phát nguyện siêng đoạn được hai chướng. Hai chướng
đã nép phục rồi, liền được ngộ nhập cảnh giới Bồ
tát. Nếu Sự-Lý chướng hằng đoạn dứt, liền ngộ nhập
Viên Giác nhiệm mầu của Như Lai, đầy đủ đạo Bồ đề
và Đại Niết-bàn.
Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều chứng Viên Giác, gặp
thiện tri thức rồi, y nơi Nhơn địa pháp hạnh của vị đó
đã thực hành mà tu tập, liền có Đốn và Tiệm. Nếu gặp
được con đường tu hành chơn chánh Vô Thượng Bồ đề của
Như Lai, căn cơ của họ vốn không lớn nhỏ, đều thành Phật
quả. Nếu chúng sanh tuy cầu bạn tốt mà gặp người tà kiến,
chưa được chánh ngộ, như thế gọi là Ngoại đạo chủng
tánh. Sự lỗi lầm ấy là do thầy tà, không phải lỗi ở
chúng sanh. Đó gọi là năm tánh sai biệt của chúng sanh.
Này
Thiện nam tử! Bồ tát chỉ dùng sức đại bi phương tiện
mà vào thế gian, dạy bảo cho người chưa ngộ, cho đến thị
hiện nhiều thứ hình tướng, cảnh giới thuận nghịch, cùng
họ đồng sự, khiến họ được thành Phật, ấy đều do
nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ.
Nếu
tất cả chúng sanh đời mạt pháp đối với Đại Viên Giác
mà khởi tâm tăng thượng, phải phát đại nguyện thanh tịnh
của Bồ tát. Khi phát đại nguyện, nên nói như vầy: Con nguyện
ngày nay trụ nơi Viên Giác của Phật, cầu Thiện tri thức,
không gặp ngoại đạo và hàng Nhị thừa, y nguyện tu hành,
đoạn dần các chướng. Các chướng đã hết, nguyện được
viên mãn, được lên Pháp điện thanh tịnh giải thoát, và
chứng Đại Viên Giác thành diệu trang nghiêm”.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên nên nói
kệ rằng :
“Di Lặc, ông nên biết!
Tất
cả các chúng sinh
Không
được Đại giải thoát
Đều
do nơi tham dục
Đọa
lạc trong sanh tử.
Nếu
đoạn được ái dục
Và
cả tham, sân, si,
Không
nhơn tánh sai biệt,
Đều
được thành Phật đạo.
Hai
chướng hằng tiêu diệt
Cầu
thầy được chánh ngộ,
Tùy
thuận nguyện Bồ tát,
Nương
nhờ đại Niết-bàn.
Các
Bồ tát mười phương
Đều
vì nguyện Đại-bi
Thị
hiện vào sanh tử.
Người
hiện tại tu hành
Và
chúng sanh đời mạt
Siêng
đoạn các ái kiến
Liền
về Đại Viên Giác”.
Bồ
tát Di Lặc vì lòng từ bi, muốn chúng sanh thâm ngộ căn nguyên
của luân hồi, cũng như phương cách giải thoát sinh tử, nên
đặt ra bốn câu hỏi, thỉnh Phật chỉ dạy.
“Lúc
bấy giờ, Bồ tát Di Lặc ở trong đại chúng, liền từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu bên phải
ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức Đại
bi Thế Tôn! Ngài đã rộng vì hàng Bồ tát mà mở ra kho tàng
bí mật, khiến cho cả đại chúng thâm ngộ được luân hồi,
phân biệt được tà chánh; hay thí cho chúng sanh đời mạt
pháp được Đạo-nhãn-vô-úy, đối với Đại Niết-bàn sanh
lòng tin quyết định, không còn trở lại theo cảnh giới luân
hồi mà khởi lên kiến chấp điên đảo nữa”: Kho
tàng bí mật chính là tâm Viên Giác Đức Phật đã giảng
ở những chương trước. Đạo-nhãn-vô-úy là con mắt thấy
được đạo, không còn cái gì làm cho sợ hãi nữa. Đại
Niết-bàn ở đây, phân biệt với Niết-bàn Hóa thành của
Nhị thừa, chỉ cho tâm Viên Giác. Trong lời mở đầu, Bồ
tát Di Lặc tán thán Đức Phật đã vì các hàng Bồ tát mà
khai thị về tâm Viên Giác của Như Lai, cùng những phương
tiện thâm nhập tự tâm ấy. Khi đại chúng đã thông hiểu
về tự tánh thanh tịnh sẵn đủ của chính mình, tự nhiên
mọi pháp đều thông; từ đó thâm ngộ luân hồi, phân biệt
được tà chánh, đạt đến quả vị Tu-đạo, có được Đạo-nhãn-vô-úy.
Một khi nhận ra tự tâm, đại chúng có niềm tin vững chắc
đối với Đại Niết-bàn, không còn rơi vào vòng luân hồi
sanh tử và có kiến chấp điên đảo về tất cả các pháp
nữa.
“Bạch
Đức Thế Tôn! Nếu các Bồ tát và chúng sanh đời mạt pháp
muốn dạo chơi nơi biển Đại-tịch-diệt của Như Lai, phải
làm sao đoạn trừ được căn bản luân hồi? ”: Đây
là câu hỏi thứ nhất. Vì trong chương Kim Cang Tạng ở trước,
Đức Phật dạy muốn thoát khỏi luân hồi, trước tiên phải
đoạn trừ căn bản luân hồi, nên Bồ tát Di Lặc thỉnh Phật
dạy cho phương pháp đoạn trừ. “Biển Đại-tịch-diệt”
chỉ cho tâm Viên Giác. Khi hằng sống với tự tâm, ý niệm
Luân hồi hay Giải thoát đều không còn, nên vào cõi sinh tử
như dạo hoa viên. Bồ tát ở trong chánh định dạo chơi khắp
chốn - gọi là Du hí tam muội - nơi nào cũng là biển Đại-tịch-diệt
của Như Lai.
“Trong
các cõi luân hồi có bao nhiêu loài chúng sanh? ”: Câu
thứ hai, Bồ tát hỏi có bao nhiêu loài chúng sanh đang ở trong
các cõi luân hồi, và cảnh giới tương ứng của các loài
ấy như thế nào?
“Có
bao nhiêu cấp bậc tu theo đạo Bồ đề của Phật”:
Đây là câu hỏi thứ ba, những vị tu hành theo đạo Bồ đề
của Phật có mấy bậc khác nhau?
“Các
Bồ tát khi vào trần lao độ chúng sanh, phải thiết lập bao
nhiêu phương tiện giáo hóa?”: Câu hỏi thứ tư nhắm
vào việc lợi sanh. Bồ tát khi đã thâm ngộ Viên Giác, phải
lập hạnh vào các cõi trần giáo hóa chúng sanh. Với mục
đích ấy, Bồ tát phải thiết lập bao nhiêu phương tiện?
“Cúi
mong Đức Bất-xả-cứu-thế-đại-bi khiến tất cả Bồ tát
và chúng sanh đời mạt pháp, những người tu hành được
con mắt trí huệ trang nghiêm thanh tịnh, chiếu diệu nơi tâm
và cảnh, viên ngộ được tri kiến vô thượng của Như Lai
!”:
Khi có mắt trí huệ, tâm và cảnh được chiếu soi thông suốt.
Ta không còn nhận giặc làm con, tức nhận vọng tâm là mình;
ta thấy rõ sự sanh khởi, tồn tại và hủy diệt của từng
tâm niệm và liễu ngộ tự thể của chúng. Đối với cảnh,
ta biết rõ tất cả đều “duy thức sở biến, duy tâm sở
hiện”, không có gì là thật có. Từ đó viên ngộ tri kiến
vô thượng của Như Lai.
“Nói
lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, thỉnh đi thỉnh lại
từ đầu đến cuối như vậy ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Di Lặc rằng: “Lành thay!
Lành thay! Này thiện nam tử! Các ông mới có thể vì Bồ tát
và chúng sanh đời mạt pháp mà thỉnh hỏi Như Lai về ý nghĩa
thâm áo bí mật vi diệu, khiến cho các Bồ tát mắt huệ được
sáng tỏ và các chúng sanh đời mạt pháp hằng đoạn được
luân hồi, tâm ngộ được thật tướng, đủ Vô-sanh-nhẫn.
Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói”.
Khi
ấy, Bồ tát Di Lặc vui mừng vâng theo lời dạy của Phật,
cùng cả đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe”: Khi
chúng sanh đời mạt pháp đoạn được luân hồi, e rằng sẽ
rơi vào cảnh giới Niết-bàn trầm không thủ tịch của Nhị
thừa, nên Phật nói thêm “tâm ngộ được thật tướng”.
Theo Pháp Bảo Đàn Kinh, Thật tướng là Vô tướng. Vì không
có tướng nên không sinh không diệt, không đến không đi.
Đó là tâm Viên Giác, cũng là Như Lai trong tinh thần “Vô
sở tùng lai diệc vô sở khứ” (không từ đâu đến cũng
không đi về đâu).
“Vô
sanh nhẫn” nói cho đủ là Vô-sanh-pháp-nhẫn. Tiếp
xúc với sáu trần mà tâm còn khởi phân biệt đẹp-xấu hay-dở,
là chưa nhẫn được đối với trần cảnh. Vô sanh pháp nhẫn
là khi nội tâm bất động đối với tất cả các pháp. Theo
Giáo tông, phải từ Bồ tát Sơ-địa trở lên mới đạt được
điều này.
Ở
đây Phật muốn nói, không phải từ bỏ phiền não mới được
Niết-bàn, mà chỉ cần giác ngộ thật tướng, tức tự tâm
Viên Giác, là trong sanh tử mà thấy Niết-bàn. Thật ra, người
tu chúng ta cũng phải đối diện với tất cả các pháp. Nhưng
khi đạo lực chưa mạnh, định lực chưa vững, tâm còn biến
động, thì phải tránh bớt duyên. Khi nào ngay trong động mà
vẫn bất biến, ta sẽ tùy duyên mà sống.
“Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ mé vô thỉ, do có các
thứ ân ái và tham dục, nên mới có luân hồi”: Ân
ái chỉ riêng tình yêu nam nữ. Tham dục là nói chung ngũ dục:
Tài, sắc, danh, thực, thùy (tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng,
ăn uống, ngủ nghỉ) hoặc Sắc, thinh, hương, vị, xúc (hình
tướng, âm thanh, mùi hương, cảm giác ở lưỡi, xúc chạm
ở thân). Trong đó, tình cảm nam nữ là mãnh liệt nhất; nó
có thể giúp con người tự hoàn thiện hay thành công trong
cuộc sống nếu gặp tình yêu chân chính. Ngược lại, con
người cũng có thể bị sa đọa, thân bại danh liệt nếu
vướng mắc vào một tình yêu tội lỗi. Nhưng dù tình cảm
ấy tốt đẹp, cao thượng cách mấy, nó cũng là một ràng
buộc, ngăn ngại và có thể làm bít lấp con đường giải
thoát.
“Từ
mé vô thỉ”: có nghĩa là đã từ lâu xa, từ bao giờ
cho đến bây giờ. Đức Phật bảo, từ xưa đến nay, chúng
sanh vì các thứ ân ái và tham dục nên mãi lăn lộn trong vòng
luân hồi sinh tử. Đây là lời mở đầu cho câu trả lời
phần thứ nhất.
“Tất
cả chúng sanh trong thế giới như Noãn sanh, Thai sanh, Thấp
sanh, Hóa sanh đều nhơn nơi dâm dục mà thành tánh mạng. Phải
biết, Ái là căn bản của luân hồi”: Phật đề cập
đến bốn loài chúng sanh là Noãn, Thai, Thấp, Hóa, chúng ta
có thể hiểu theo hai cách, tùy biểu hiện bên ngoài hay bên
trong. Biểu hiện bên ngoài gồm có :
- Noãn
sanh: Loài sanh bằng trứng như gà, vịt, chim...
-
Thai sanh: Loài sanh ra con như người, chó, mèo...
-
Thấp sanh: Loài sanh chỗ ẩm thấp như trùn đất, rít...
- Hóa
sanh: Loài sanh bằng biến hóa như tằm biến thành bướm, lăng
quăng thành muỗi... Cả các loài chúng sanh ở cõi Trời, Ngạ
quỉ, Địa ngục cũng thuộc Hóa sanh.
Biểu
hiện bên trong tức bốn cách sinh khởi của tâm niệm, nhà
Thiền gọi là Chúng sanh tâm:
- Noãn
sanh: Những hạt giống tâm thức còn ẩn sâu trong A-lại-da
thức, chưa có tác dụng hiện thời. Cũng có thể coi đây
là những ý niệm bâng quơ, chưa có hình thù rõ rệt.
- Thai
sanh: Những niệm khởi có hình tướng rõ rệt, biểu hiện
nơi tâm thức. Đây là những tư tưởng phân biệt đẹp xấu
hay dở, hoặc những tình cảm buồn vui thương ghét, mà chúng
ta thường cho là tâm của mình.
- Thấp
sanh: Sự ẩm ướt ở đây chỉ cho nước tham ái. Khi tình
cảm nổi lên sẽ kích thích các tuyến dịch tương ứng tiết
ra nước (nước mắt, nước mũi, tinh dịch…). Loài thấp
sanh ở đây chỉ những niệm phát sanh từ tham ái, chúng gây
nên sự ray rứt, quằn quại trong tâm hồn.
- Hóa
sanh: Những tâm niệm biến hóa sanh diệt, từ niệm này tiếp
nối sang niệm khác không dừng. Chúng bất chợt biến hiện
tùy duyên, không có tính chất nhất định.
Chúng
ta có khi tự hỏi, con người nhiều tình cảm có tư tưởng
vọng động đã đành, vì sao những chúng sanh khác, kể cả
loài hạ đẳng, cũng bị chi phối bởi dục tính? - Đó là
do nghiệp lực thúc đẩy. Tùy nghiệp lực nặng nhẹ mà phải
mang thân tướng xấu tốt, ở trong cảnh giới ác hay lành;
và cũng do nghiệp lực nên có tánh âm-dương, phát sanh dâm
dục. Không phải chỉ có loài hữu tình mà cả vô tình cũng
có âm-dương. Từ sự kết hợp giữa âm và dương của từng
loài chúng sanh mới thành chủng tánh và sanh mạng của loài
ấy. Như vậy, hễ còn nằm trong vòng hiện tượng sinh diệt
mà quên đi bản giác, thì hữu tình và vô tình đều không
thoát khỏi luật âm dương. Khi liễu ngộ tự tâm Viên Giác,
thì mới hay âm-dương đều là tương đối, tất cả đều
không ngoài tâm; và chính vọng tâm điên đảo đã tạo nghiệp
thành có thân nam hay nữ, còn Phật tánh sẵn đủ thì đâu
có hình tướng sai thù. Do vậy, các Bồ tát khi vào các cõi
để độ sanh, đâu ngại gì hình tướng xuất gia hay tại
gia, nam hay nữ, cứ tùy duyên mà thị hiện.
Hai
chữ “Dục” và “Ái” ở đoạn này có ý nghĩa khác ở
trên. Dục có nghĩa hẹp hơn, là lòng ưa thích kết hợp nam
nữ. Ái có nghĩa rộng, yêu mến cái ta và những cái thuộc
về ta, danh từ Phật pháp gọi là Ái ngã và ngã sở. Ái là
một trong mười hai nhân duyên, từ Ái mới có Thủ, Thủ lại
làm duyên cho Hữu. Từ Hữu mới có Sanh, Lão, Tử tiếp nối
lưu chuyển không dừng. Cho nên Phật nói “Ái là căn bản
của luân hồi”.
Không
những Ái chi phối cõi Dục giới (tức sáu cõi Trời Dục
và các cõi Người, A-tu-la, Súc sanh, Ngạ quỉ, Địa ngục),
mà còn ảnh hưởng cả hai cõi Trời Sắc và Vô Sắc. Từ
Sơ thiền trở lên, các vị đã có niềm vui do thiền định,
không còn dục tính nam nữ nên gọi là Ly dục-ly bất thiện
pháp, tức lìa mọi thứ dục và mọi pháp ác. Tuy nhiên, các
vị lại đắm luyến vào cảnh giới sở chứng của mình,
đó cũng là một dạng tế vi của Ái, vì vậy chưa thoát khỏi
luân hồi.
“Do
có các Dục trợ giúp Ái phát sinh, thế nên khiến cho sanh
tử nối tiếp nhau. Dục nhơn Ái mà sanh, Mạng nhơn Dục mà
có. Chúng sanh ái luyến mạng sống, rồi trở lại nương Dục
làm gốc. Ái dục là nhơn, Ái mạng là quả”: Trong
câu đầu, các Dục có nghĩa là Ngũ dục, khiến chúng sanh
tham ái. Đây là chất kích thích làm Ái sinh khởi, nên bảo
Dục trợ giúp cho Ái phát sinh, từ đó tạo nên vòng luân
hồi nối tiếp mãi, không bao giờ dừng.
Trong
câu kế, “Dục nhơn Ái mà sanh, Mạng nhơn Dục mà có”,
Dục lại có ý nghĩa là sự dâm dục của nam nữ. Nam nữ
thương yêu nhau mới phát sanh việc dâm dục, từ đó thọ
thai thành thân mạng khác. Khi có thân mạng, sẽ có sự ái
luyến đối với mạng sống, ái luyến thân mình và yêu người
khác phái, trở lại có dục vọng tiếp nối, đời đời không
cùng. Như vậy, vì có Ái mới có Dục, do có Dục mới có
Mạng, có Mạng rồi sẽ có sự yêu mến thân mạng, cho nên
nói “Ái dục là nhơn, Ái mạng là quả”. Ta thấy, Đức
Phật đã trực tiếp giải đáp câu thứ nhất của Bồ tát
Di Lặc, chính Ái là căn bản luân hồi.
“Do
nơi cảnh Dục khởi lên các điều thuận nghịch. Cảnh trái
với tâm ưa thích thì sanh chán ghét, tạo nhiều thứ nghiệp,
nên sanh ra Địa ngục, Ngạ quỉ. Biết Dục đáng chán, mới
thích cái Đạo-chán-nghiệp, bỏ ác vui với cái thiện, nên
hiện ra cõi Trời và Người”: Đến đây bắt đầu
trả lời câu thứ hai, Phật bảo, trong các cõi luân hồi,
có ba thứ chủng tánh: Ác chủng tánh, Thiện chủng tánh và
Bất động tánh. Những cảnh dục hợp với tâm ưa thích gọi
là “điều thuận”, trái với tâm ưa thích là “điều nghịch”,
nên nói, do nơi cảnh dục mà khởi lên những điều thuận
nghịch. Cảnh trái với tâm ưa thích thì sanh chán ghét, từ
đó tạo thành nghiệp ác, bị đọa vào các đường khổ như
Địa ngục, Ngạ quỉ - Ác chủng tánh hình thành và gây hậu
quả. Nếu biết các dục đáng chán, một lòng tu theo Đạo
chán bỏ ác nghiệp và siêng tu Thiện nghiệp, đó là Thiện
chủng tánh, sẽ sanh về những cõi lành như Trời, Người.
“Lại
vì biết các Ái đáng chán ghét, nên bỏ Ái ưa Xả; rồi lại
tươi nhuận gốc Ái, mới lần lần hiện ra quả lành tăng
thượng hữu vi”: Đây nói đến Bất động tánh, do
Thiền định mà đạt được, thuộc các cảnh giới Sắc và
Vô sắc, nghĩa là từ Sơ thiền, Nhị thiền trở lên, đến
Phi Phi tưởng xứ. Các vị bỏ luôn nghiệp lành mà ưa trạng
thái buông xả, nội tâm bất động, an lạc trong thiền định.
Nhưng ở cõi Sắc giới vẫn còn có thân, cõi Vô sắc giới
còn có tâm; mà đã còn thân và tâm thì vẫn còn Ái, nên quả
lành hiện ra đó vẫn còn thuộc pháp hữu vi.
“Đó
đều là luân hồi, không thành được Thánh đạo”:
Tất cả các chủng tánh nêu trên đều chưa xuất ly tam giới
nên vẫn còn trong vòng luân hồi sanh tử, không phải là Thánh
đạo.
“Thế
nên, chúng sanh muốn thoát khỏi sanh tử, tránh khỏi vòng luân
hồi, trước tiên phải đoạn tham dục và khát ái”: Đức
Phật đúc kết hai câu trả lời ở trên để chỉ rõ, muốn
giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, điều tiên quyết là phải
tận trừ tham dục và khát ái. Tham dục là trợ duyên, khát
ái là cội gốc. Tâm tham ái giống như người đang khát mà
thèm nước, nên gọi là “khát ái”.
Học
đến đây, chúng ta thấy thấm thía vô cùng. Tất cả chúng
ta, ai cũng do ân ái tham dục nên mới sanh ra trên cõi đời
này, phải chịu nhiều sầu bi khổ não. Do trùng trùng duyên
khởi từ tinh cha huyết mẹ cùng thần thức tạo ra kiếp người,
đó là vì nghiệp lực đời trước. Trót tạo nghiệp nên
phải chịu quả khổ luân hồi, bây giờ có duyên biết được
chánh pháp, chúng ta phải làm sao chuyển được cái nhân ân
ái tham dục ở kiếp này. Vì có duyên nên chúng ta đã biết
mình có bản thể thanh tịnh thường nhiên, giờ phải gắng
công tu tập để hồi phục lại bản thể ấy. Người xuất
gia nguyện thường độc hành thường độc bộ, hy sinh những
thú vui trần tục, bỏ hết những tình cảm hạn hẹp gia đình,
hiến trọn đời mình cho Phật pháp. Muốn làm tròn bản nguyện,
chúng ta phải có một ý chí kim cương và luôn luôn cầm trong
tay thanh gươm trí huệ, lấy định lực làm thức ăn, lấy
an lạc nội tâm làm sức sống, họa may mới thoát khỏi lưới
ái dục. Nếu chúng ta sống tầm thường như người đời,
buông mình theo những thú vui vật chất, thì ái dục sẽ thừa
cơ hội trổi dậy, chúng ta dễ bị thối chí ngã lòng, uổng
một đời tu.
Kinh
Niết-Bàn có nói: “Nhơn ái sanh ưu, nhơn ưu sanh bố. Nhược
ly tham ái, hà ưu hà bố”. (Nhơn ái sanh lo, vì lo sanh sợ.
Nếu lìa được tham ái thì còn gì lo và sợ). Khi có yêu thích
thì lo không được, khi được rồi lại sợ mất. Nếu tham
ái đoạn trừ thì có gì khiến ta lo sợ, ta sẽ giải thoát
khỏi phiền não và giải thoát luôn vòng sanh tử luân hồi.
Tuy
nhiên, chúng ta cũng đừng hiểu lầm rằng Ái dục là nguyên
nhân đầu tiên của luân hồi sanh tử. Nếu nói có nguyên
nhân đầu tiên thì tự nhiên sẽ có câu hỏi, trước nguyên
nhân ấy là gì? Trong kinh, Phật bao giờ cũng nói “vô thỉ
vô chung”, không có bắt đầu cũng không có kết thúc. Khi
liễu ngộ được tự tánh, chúng ta mới hiểu thì ra cái gọi
là đầu tiên hay cuối cùng chỉ có trong ảo tưởng điên
đảo, thấy mọi vật qua lăng kính lưỡng phân. Ở đây cũng
vậy, chúng ta cũng chỉ cần biết nguyên nhân chính của luân
hồi là ái dục, và phải đoạn trừ nguyên nhân ấy nếu
muốn được giải thoát.
“Này
Thiện nam tử! Bồ tát biến hóa thị hiện ở thế gian chẳng
phải do gốc Ái, chỉ vì lòng từ bi muốn chúng sanh bỏ Ái,
nên mượn các sự tham dục mà vào nơi sanh tử”: Đức
Phật giải nghi cho chúng ta: Nhiều người thấy Bồ tát cũng
có cha mẹ, gia đình nên nghĩ các Ngài vẫn còn ái dục, còn
trong vòng sinh tử. Thật ra, các Ngài thị hiện vào các cõi
là do nguyện lực độ sanh, chớ không phải vì nghiệp lực
như chúng sanh mà thọ tinh cha huyết mẹ.
“Nếu
tất cả chúng sanh đời mạt pháp bỏ được các dục và
trừ đi khát ái, hằng đoạn luân hồi, cần cầu cảnh giới
Viên Giác của Như Lai, thì ở nơi tâm thanh tịnh liền được
khai ngộ”: Đức Phật bắt đầu trả lời câu hỏi
thứ ba của Bồ tát Di Lặc: Tu theo đạo Bồ đề của Phật
có bao nhiêu đẳng cấp? Ở đoạn này nói về các hàng thượng
thượng căn đốn đoạn đốn ngộ, một mặt đoạn trừ ái
dục là căn bản luân hồi, mặt khác mong cầu cảnh giới
Viên Giác, thì từ nơi tâm thanh tịnh ấy liền được khai
ngộ mà không qua đẳng cấp nào cả. Đây cũng là tinh thần
Đốn giáo Đại thừa của kinh. Tuy nhiên, phần nhiều chúng
sanh đời mạt pháp đều thuộc hàng trung-hạ căn, nên từ
hai chướng mà biểu hiện ra năm tánh sau đây:
“Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh do gốc tham dục mà phát
huy vô minh, hiện ra năm tánh sai biệt, rồi nương vào hai thứ
chướng mà hiện ra có sâu cạn”: Năm tánh của chúng
sanh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Bất định và Ngoại
đạo tánh. Từ gốc tham dục sẵn có mà phát huy vô minh, hiện
ra năm tánh. Năm tánh này sai biệt không đồng nhau do hai thứ
chướng là Phiền não chướng và Sở tri chướng.
Có
thể chúng ta sẽ thắc mắc: Vì sao Phật cũng gọi Bồ tát
là “chúng sanh”? Thật ra, chúng sanh có ba ý nghĩa:
- Phàm
phu còn vô minh, lưu chuyển trong luân hồi sanh tử.
-
Các hàng Bồ tát còn biến dịch sanh tử, nên đối với Phật
quả, các vị này vẫn còn là chúng sanh.
-
Các hình tướng do nhiều pháp hợp lại mà có. Trong ý nghĩa
này, Báo thân và Ứng hóa thân của Phật cũng được gọi
là chúng sanh, vì do công đức và trí huệ tập hợp lại mà
thành.
“Hai
chướng là gì? - Một là Lý chướng, ngăn ngại Chánh tri
kiến; hai là Sự chướng, làm tiếp tục sanh tử luân hồi”:
Lý chướng là chỉ cho Sở tri chướng, do chấp pháp mà có.
Chấp có sanh tử thật, có Niết-bàn thật, nên sự thấy biết
chưa thấu triệt, tột cùng, làm chướng ngại Chân trí, nên
Phật bảo “Lý chướng ngăn ngại Chánh tri kiến”. Sự chướng
tức Phiền não chướng, do chấp ngã mà có. Chấp ngã là Si,
do Si mới có Tham, nếu lòng tham không được thỏa mãn thì
sanh Sân. Tham-Sân-Si dấy khởi gây chướng ngại sự giải
thoát, làm sanh tử tiếp nối không cùng.
“Năm
tánh là gì? - Này Thiện nam tử! Nếu hai chướng ấy chưa
đoạn trừ, thì chưa thành Phật. Nếu các chúng sanh bỏ được
tham dục, trước trừ được Sự chướng mà chưa đoạn được
Lý chướng, thì chỉ có thể ngộ nhập được cảnh giới
Thinh văn và Duyên giác, chứ chưa thể an trụ trong cảnh giới
Bồ tát”: Trước tiên nói về hai tánh Thinh văn và Duyên
giác, thường được gọi là Nhị thừa tánh. Các vị ấy
xả được tham dục do đã phá ngã chấp, rồi khởi tưởng
Niết-bàn. Nhưng kỳ thực, đó chỉ là Hóa thành chớ chưa
phải Niết-bàn rốt ráo, vì chưa phá được pháp chấp; nên
nói trừ được Sự chướng mà chưa đoạn Lý chướng. Cảnh
giới của các vị, nếu tu theo Tứ đế là Thinh văn tánh,
nếu tu theo Mười hai nhân duyên là Duyên giác tánh, cả hai
đều chưa thể an trụ trong cảnh giới Bồ tát.
“Này
Thiện nam tử! Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp, muốn
dạo chơi trong biển Đại Viên Giác của Như Lai, trước tiên
phải phát nguyện siêng đoạn được hai chướng. Hai chướng
đã nép phục rồi, liền được ngộ nhập cảnh giới Bồ
tát”: Đây nói đến Bồ tát tánh, là tánh thứ ba
trong năm tánh của chúng sanh. Muốn dạo chơi nơi biển Đại
Viên Giác của Như Lai, tức muốn cầu Viên Giác, chúng sanh
phải qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu là phát nguyện siêng
đoạn phiền não chướng và sở tri chướng, nhưng hai chướng
chỉ mới nép phục chứ chưa đoạn tận. Đây là quá trình
từ chúng sanh tiến lên Phật vị, nên gọi là ngộ nhập cảnh
giới Bồ tát.
“Nếu
Sự - Lý chướng hằng đoạn dứt, liền ngộ nhập Viên Giác
nhiệm mầu của Như Lai, đầy đủ Đạo Bồ đề và Đại
Niết-bàn”: Giai đoạn thứ hai, cả Sự chướng và
Lý chướng đã đoạn diệt. Sự chướng tức Phiền não chướng
đoạn trừ thì giải thoát khỏi sanh tử, đầy đủ Đại
Niết-bàn tức Niết-bàn tối thượng. Lý chướng tức Sở
tri chướng đoạn tận nghĩa là đầy đủ Đạo Bồ đề.
Bồ tát tu hành viên mãn đến chỗ cứu cánh, gọi là ngộ
nhập Viên Giác nhiệm mầu của Như Lai.
“Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều chứng Viên Giác, gặp
Thiện tri thức, rồi y nơi Nhơn địa pháp hạnh của vị đó
đã thực hành mà tu tập, liền có đốn và tiệm.Nếu gặp
được con đường tu hành chơn chánh Vô thượng Bồ đề của
Như Lai, căn cơ của họ vốn không lớn nhỏ, đều thành Phật
quả”: Đức Phật nói về tánh thứ tư là Bất định
tánh. Những chúng sanh này đã biết mình có sẵn tánh Viên
Giác, muốn cầu Thiện tri thức chỉ dạy con đường tu tập
để ngộ nhập tự tánh. Tùy theo sự giáo hóa của thầy mà
căn cơ của họ trở thành lớn hay nhỏ, đốn hay tiệm. Nếu
gặp con đường chơn chánh Vô thượng Bồ đề, thì đều
được viên thành Phật quả. Điều này cho thấy vị thầy
rất quan trọng, cho nên những người phát tâm cầu Phật đạo,
phải thật cẩn trọng khi lựa chọn thầy bạn.
“Nếu
chúng sanh tuy cầu bạn tốt mà gặp người tà kiến, chưa
được chánh ngộ, như thế gọi là Ngoại-đạo-chủng-tánh.
Sự lỗi lầm ấy là do thầy tà, không phải lỗi ở chúng
sanh”: Tánh thứ năm là Ngoại đạo chủng tánh, chỉ
cho những chúng sanh muốn tu hành mà không may gặp người tà
kiến. Bao nhiêu công phu tu tập lại theo tà pháp nên không
thể vào được chánh đạo.
Chúng
ta thấy, các hạng thuộc Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát tánh,
tuy căn cơ không đồng nhưng đều là chánh ngộ, nên vẫn
có ngày viên mãn Phật quả. Ngược lại, hạng Ngoại đạo
chủng tánh lại trái ngược với chánh nhơn thành Phật, nên
càng tu càng xa rời chánh đạo. Trên thế giới hiện nay có
rất nhiều giáo phái, nhiều người lãnh đạo tự xưng mình
là Phật, là Bồ tát để lôi kéo tín đồ, đưa họ vào đường
tà, không biết ngày nào thoát ra được. Đó là do người
có tâm cầu đạo nhưng không có chánh kiến, gặp phải tà
sư nên đi lầm vào con đường hiểm ác, chứ không phải do
ý muốn của họ.
“Đó
gọi là năm tánh sai biệt của chúng sanh”: Đức Phật
kết luận về năm tánh sai biệt. Sự sai biệt này căn cứ
vào sự đoạn trừ hai chướng và vào nhơn duyên thầy bạn,
không phải căn cứ vào chủng tử có sẵn của mỗi chúng
sanh.
“Này
Thiện nam tử! Bồ tát chỉ dùng sức Đại bi phương tiện
mà vào thế gian, dạy bảo cho người chưa ngộ, cho đến thị
hiện nhiều thứ hình tướng, cảnh giới thuận nghịch, cùng
họ đồng sự, khiến họ được thành Phật, ấy đều do
nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ”. Ở đoạn này,
Đức Phật trả lời câu hỏi thứ tư của Bồ tát Di Lặc,
Bồ tát khi vào trần lao độ chúng sanh, phải thiết lập bao
nhiêu phương tiện giáo hóa. Phật dạy, Bồ tát vào thế gian
độ sanh chỉ dùng tâm đại bi làm chủ, còn phương tiện
giáo hóa thì có nhiều, tùy căn cơ trình độ của chúng sanh:
hoặc dùng lời nói dạy bảo, hoặc thị hiện các thứ hình
tướng, hoặc tu theo thuận hạnh hay nghịch hạnh, hoặc cùng
chúng sanh đồng sự để nhiếp hóa. Tất cả phương tiện
đều chỉ có một mục đích, xuất phát từ đại nguyện
của Bồ tát: giúp cho chúng sanh trọn thành Phật quả.
Trong
nhà Thiền có truyền tụng một bài thơ rất hay, trong đó
có hai câu:
“
Tóc
bạc đầy đầu lìa hang núi
Đêm
tối xuyên mây vào xóm làng”.
“Tóc
bạc đầy đầu” chỉ cho người đã có kinh nghiệm tu chứng
rất sâu, nhưng vì đại bi đại nguyện, các Ngài phải rời
chỗ an vui giải thoát tuyệt cùng (hang núi) là Đại Niết-bàn,
lăn lộn vào chốn trần lao. “Đêm tối” ám chỉ cảnh giới
chúng sanh vô minh; các Ngài xuyên mây vô minh vào xóm làng ngũ
dục lục trần để giáo hóa chúng sanh. Thực ra, các Ngài
đã đạt được Du hí Tam muội, vào các chốn trần lao như
dạo chơi trong hoa viên, không bị bụi trần làm ô nhiễm,
như hoa sen từ trong bùn nhơ mà vươn lên, tỏa hương thơm
ngát.
“Nếu
tất cả chúng sanh đời mạt pháp đối với Đại Viên Giác
mà khởi tâm tăng thượng, phải phát đại nguyện thanh tịnh
của Bồ tát”: Tâm tăng thượng là tâm luôn tăng tiến
và hướng thượng, ngày càng lớn rộng, không bao giờ ngừng
nghỉ cần cầu quả vị Phật. Khi đã khởi tâm tăng thượng,
chúng sanh phải phát đại nguyện thanh tịnh của Bồ tát.
“Khi
phát đại nguyện, nên nói như vầy: Con nguyện ngày nay trụ
nơi Viên Giác của Phật, cầu Thiện-tri-thức, không gặp ngoại
đạo và hàng Nhị thừa, y nguyện tu hành, đoạn dần các
chướng. Các chướng đã hết, nguyện được viên mãn, được
lên pháp điện thanh tịnh giải thoát, và chứng Đại Viên
Giác thành diệu trang nghiêm”: Đây là lời phát nguyện,
nguyện chỉ thành Phật chứ không thành Thanh văn, Duyên giác
hay Quyền thừa Bồ tát. Nguyện gặp Thiện tri thức chỉ dạy
cho chánh pháp tu hành, không gặp cả Nhị thừa lẫn ngoại
đạo. Khi phát đại nguyện rồi, phải y theo nguyện khởi
tu, lần lần đoạn trừ các chướng. Khi các chướng đã diệt
tận, liền được giải thoát; lúc nguyện viên mãn, liền
được trang nghiêm, cho nên Phật bảo “Được lên pháp điện
thanh tịnh giải thoát, và chứng Đại Viên Giác thành diệu
trang nghiêm”.
“Bấy
giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa trên nên nói
kệ rằng :
Di
Lặc, ông nên biết!
Tất
cả các chúng sanh
Không
được Đại giải thoát
Đều
do nơi tham dục
Đọa
lạc trong sanh tử.
Nếu
đoạn được ái dục
Và
cả tham-sân-si,
Không
nhơn tánh sai biệt,
Đều
được thành Phật đạo.
Hai
chướng hằng tiêu diệt
Cầu
thầy được chánh ngộ,
Tùy
thuận nguyện Bồ tát,
Nương
nhờ Đại Niết-bàn.
Các
Bồ tát mười phương
Đều
vì nguyện Đại bi
Thị
hiện vào sanh tử.
Người
hiện tại tu hành
Và
chúng sanh đời mạt
Siêng
đoạn các ái kiến
Liền
được Đại Viên Giác”.
Thế
nào là “ái kiến”? - Mê sự gọi là Ái, mê lý gọi
là Kiến. Mê sự là Phiền não chướng, mê lý là Sở tri chướng.
Phiền não chướng ngăn lấp Niết-bàn, Sở tri chướng ngăn
lấp trí huệ. Hành giả đoạn trừ được cả hai chướng
này, liền trở về với Đại Viên Giác của chính mình.
Ở
đây, chúng ta cần hiểu rõ tinh thần của Bồ tát. Bồ tát
luôn luôn vận dụng đạo đức vô hành để nhập thế độ
sanh. Vì sao gọi là “đạo đức vô hành”? Đây là công
hạnh của một vị Bồ tát, giáo hóa tất cả chúng sanh mà
không kể công, không tính toán.Làm tất cả mà không thấy
có người làm, có đối tượng làm và có pháp để làm. Vì
làm mà không kể công nên kết quả không thể nghĩ bàn. Bỏ
tất cả nên được tất cả, đó là điều kỳ diệu. Đạo
đức vô hành của Bồ tát là vận dụng trí tuệ xuất trần
của mình giúp ích cho chúng sanh, giống như mặt trời chan
rải ánh sáng, đem lại sự sống cho muôn loài; làm với tâm
hoàn toàn thanh tịnh, vô sở cầu. Nếu có hoài bão thì đó
là mong sao cho chúng sanh bớt khổ được vui, cuối cùng giải
thoát khỏi luân hồi. Vì vậy, Bồ tát mới có thể đầy
đủ phước báo và trí huệ, tiến đến Phật vị. Nếu chỉ
có huệ mà không có phước thì chỉ thành A la hán. Nếu có
phước mà không có huệ thì chỉ là chúng sanh có nhiều phước
báo mà thôi. Kinh nói “Phước huệ trang nghiêm phương tác
Phật”, phước và huệ trang nghiêm mới làm Phật được.
Cho nên, Bồ tát vĩnh viễn ở trong luân hồi, vĩnh viễn lăn
lộn vào các cõi để độ sanh, và cũng vĩnh viễn an trụ
trong Đại Niết-bàn. Nhà Thiền có câu :
Trúc
ảnh tảo giai trần bất động
Nguyệt
luân xuyên hải thủy vô ngân.
Tạm
dịch :
Bóng
trúc quét sân trần chẳng động
Vầng
trăng xuyên biển nước không chao.
“Bóng
trúc” là ý-sanh-thân của Bồ tát, các Ngài đi vào trần
lao nhưng không làm động một mảy trần, ăn cơm mà miệng
không dính một hạt gạo, mặc áo mà không dính một tấc
tơ. Bóng trúc quét lên sân không làm bụi dưới đất bị
động, Bồ tát ở trong trần độ sanh mà tâm không một chút
nhiễm nhơ. Vầng trăng in bóng trên mặt biển, thấy dường
như trăng xuyên xuống biển sâu nhưng không làm nước biển
chao động, như Bồ tát làm an lạc cho chúng sanh nhưng hững
hờ với tất cả. Vì hững hờ nên có chí xung thiên, đôi
khi dám phiêu lưu, dọc ngang trời đất, dám làm dám chịu.
Bồ tát lấy trời đất làm nhà, bốn biển đều là anh em,
khi thì du sơn ngoạn thủy, lúc an trụ ở một trú xứ cố
định. Các Ngài hiểu rằng, hành pháp độ sanh mới viên mãn
Phật quả. Có Bồ tát dạy bảo, chúng sanh mới biết đường
tu hành; ngược lại, chúng sanh là đối tượng cần thiết
cho Bồ tát tròn bản nguyện Giác tha. Các Ngài thấy rõ, mình
không phải là người ban ơn và chúng sanh là kẻ chịu ơn,
nên khớp với tinh thần Ba-la-mật là vô trú, vô trước, vô
nhiễm. Chính Ba-la-mật là đại hạnh, là mật hạnh của Bồ
tát.
Lại
nữa, Bồ tát luôn chuẩn bị cho mình một trí tuệ siêu xuất.
Từ trí tuệ đó, các Ngài không phân biệt ta và người, nên
phát triển lòng từ bi tự nhiên. Với lòng từ bi, các Ngài
vận dụng mọi phương tiện thiện xảo, tùy căn cơ, tùy hoàn
cảnh mà cứu giúp chúng sanh một cách hiệu quả nhất. Có
thể nói, trí tuệ siêu xuất, lòng từ bi vô hạn và phương
tiện thiện xảo, ba yếu tố này dựng lập nên công hạnh
của Bồ tát và sinh hoạt nhịp nhàng trong nhân cách của các
Ngài.
VII- CHƯƠNG
THANH TỊNH HUỆ 
Lúc
bấy giờ, Bồ tát Thanh Tịnh Huệ ở trong đại chúng, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, nhiễu
bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức
Đại bi Thế Tôn! Ngài đã vì chúng con mà rộng nói những
điều bất tư nghì như thế, là điều chưa từng thấy, là
điều chưa từng nghe. Chúng con hôm nay nhờ Phật khéo dạy
bảo mà thân tâm cảm thấy thơ thới, được nhiều lợi ích.
Nguyện Ngài vì tất cả pháp chúng đến trong pháp hội này,
trùng tuyên lại tánh Viên mãn giác Pháp Vương của tất cả
chúng sanh, của các bậc Bồ tát và của Như Lai Thế Tôn đã
chứng đã đắc, khác nhau như thế nào; khiến cho chúng sanh
đời mạt pháp, khi nghe được Thánh giáo này mà tùy thuận
khai ngộ thứ lớp chứng nhập”. Nói xong, năm vóc gieo xuống
đất, thỉnh đi thỉnh lại từ đầu đến cuối như vậy
ba lần.
Bấy
giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Thanh Tịnh Huệ rằng: “Lành
thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì
chúng sanh đời mạt pháp, thưa hỏi Như Lai về tiệm thứ
sai biệt. Nay ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói”. Khi
ấy, Bồ tát Thanh Tịnh Huệ vui mừng vâng theo lời dạy của
Phật, cùng cả đại chúng chú tâm mà nghe.
“Này
Thiện nam tử! Tự tánh Viên Giác chẳng phải là tánh, mà
tánh vẫn có, theo các tánh khởi, không thủ không chứng. Ở
trong thật tướng, thật không có Bồ tát và chúng sanh.
Vì
cớ sao? - Vì Bồ tát và chúng sanh đều là huyễn hóa. Khi
huyễn hóa diệt, không còn người thủ chứng. Thí như con
mắt không tự thấy con mắt, tánh tự bình đẳng, không có
người bình đẳng. Bởi vì chúng sanh mê mờ điên đảo, chưa
thể trừ diệt tất cả huyễn hóa, ở trong công dụng hư
vọng đối với cái đã diệt và cái chưa diệt mà liền có
sự sai biệt. Nếu đạt được chỗ tùy thuận tịch diệt
của Như Lai, thì thật không có tịch diệt và người tịch
diệt.
Này
Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp đến nay,
do vọng tưởng về ngã và ái ngã, từng không tự biết niệm
niệm sanh diệt, nên khởi ra sự yêu ghét, đam mê ngũ dục.
Nếu gặp được bạn lành dạy bảo khiến khai ngộ tánh Viên
Giác thanh tịnh, hiểu ra được sự sanh diệt, liền biết
cái sanh ra này, tánh tự lao lự. Nếu lại có người hằng
đoạn lao lự, tự nhiên đạt được pháp giới thanh tịnh,
thì tịnh-giải kia làm cho chướng ngại, nên đối với Viên
Giác mà không được tự tại. Đây là phàm phu tùy thuận
Viên Giác.
Này
Thiện nam tử! Tất cả Bồ tát bị kiến giải làm ngăn ngại,
tuy đoạn được Giải ngại, nhưng còn trụ ở Kiến giác,
nên bị Giác ngại làm ngại mà không được tự tại. Đây
là những Bồ tát chưa nhập địa tùy thuận Viên Giác.
Này
Thiện nam tử! Có chiếu có giác đều là chướng ngại, thế
nên Bồ tát thường giác mà không trụ, chiếu và người chiếu
đồng thời vắng lặng. Thí như có người tự chặt đầu
mình, khi đầu đã bị chặt thì không còn thấy có người
chặt đầu nữa. Vậy cho nên, khi dùng tâm ngại tự diệt
các ngại, khi ngại đã đoạn thì không còn thấy có người
diệt ngại. Kinh giáo như ngón tay chỉ mặt trăng, nếu đã
thấy trăng, biết rõ mục tiêu được chỉ, không còn lầm
ngón tay là mặt trăng nữa. Bao nhiêu ngôn thuyết của Như
Lai khai thị cho Bồ tát cũng lại như thế. Đây là Bồ tát
đã nhập địa tùy thuận Viên Giác.
Này
Thiện nam tử! Tất cả chướng ngại đều là cứu cánh giác.
Chánh niệm-thất niệm, có gì là không giải thoát; thành pháp
hay phá pháp đều là Niết-bàn; trí huệ ngu si chính là Bát
nhã; pháp do Bồ tát và ngoại đạo thành tựu đều là Bồ
đề; vô minh - chơn như cảnh giới không khác; Giới-Định-Huệ
và Dâm-Nộ-Si đồng là phạm hạnh; Quốc độ và chúng sanh
đồng một pháp tánh; Địa ngục - Thiên cung đều là Tịnh
độ; Hữu tánh - Vô tánh đều thành Phật đạo; tất cả
phiền não rốt ráo là giải thoát. Pháp giới hải huệ chiếu
rõ các tướng giống như hư không. Đây là Như Lai tùy thuận
Viên Giác.
Này
Thiện nam tử! Chỉ những Bồ tát và chúng sanh đời mạt
pháp, trong tất cả thời không khởi vọng niệm, đối với
các vọng tâm cũng chẳng trừ diệt; trụ nơi cảnh vọng tưởng
mà không thêm hiểu biết; đối với chỗ không hiểu biết,
không cần biện minh chân thật. Các chúng sanh kia, nghe pháp
môn này mà tin hiểu thọ trì, không sanh lòng kinh sợ. Đó
gọi là Tùy thuận Viên Giác.
Này
Thiện nam tử! Các ông nên biết rằng, các chúng sanh như thế,
đã từng cúng dường trăm ngàn muôn ức hằng hà sa chư Phật
và Đại Bồ tát, gieo trồng căn lành lớn nhiều đời. Phật
gọi người ấy đã thành tựu Nhất-thiết-chủng-trí”.
Lúc
bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này nên
nói kệ rằng:
“Thanh Tịnh Huệ nên biết!
Tánh
Viên mãn Bồ đề
Không
thủ cũng không chứng
Không
Bồ tát, chúng sanh.
Khi
giác cùng chưa giác
Thứ
lớp có khác nhau
Chúng
sanh do Giải-ngại
Bồ
tát chưa lìa giác
Nhập
địa hằng tịch diệt
Không
trụ tất cả tướng
Đại
giác đều viên mãn
Gọi
là khắp tùy thuận.<