THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
 .....................................
Giảng Giải Kinh.
....
Luận
 ..............................

 
 
.
KINH VIÊN GIÁC LUẬN GIẢNG
Thích Thông Huệ
Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội 2006
Chánh văn và Lược giải

I- PHẦN CHỨNG TÍN 

       “Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Thế Tôn nhập vào thần thông Đại quang minh tạng, Tam muội chánh thọ, là nơi tất cả Đức Như Lai Quang Nghiêm trụ trì, cũng là Giác địa thanh tịnh của tất cả chúng sanh. Ở cảnh giới này, thân tâm hằng vắng lặng, bổn tế bình đẳng viên mãn khắp mười phương, tùy thuận cảnh giới bất nhị; và ở nơi cảnh bất nhị đó, hiển hiện các cõi Tịnh độ, cùng với hàng Đại Bồ tát gồm cả thảy mười muôn người cùng nhau câu hội. Tên của các vị Bồ tát đó là: Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, Bồ tát Phổ Hiền, Bồ tát Phổ Nhãn, Bồ tát Kim Cang Tạng, Bồ tát Di Lặc, Bồ tát Thanh Tịnh Huệ, Bồ tát Oai Đức Tự Tại, Bồ tát Biện Âm, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng, Bồ tát Phổ Giác, Bồ tát Viên Giác, Bồ tát Hiền Thiện Thủ.v.v... đều là những bậc thượng thủ, cùng các quyến thuộc đều nhập chánh định, đồng an trụ trong pháp hội bình đẳng của Như Lai”.

      Phần này được coi như phần tựa hay phần duyên khởi của kinh. Thông thường, trong những bản kinh Đại thừa, mở đầu có phần duyên khởi, tóm lược hết đại ý của toàn bộ kinh. Để dễ nhận được yếu chỉ của kinh, trước tiên chúng ta phải hiểu rõ phần này.

      Đại ý phần đầu này muốn nói đến tâm Viên Giác, là chỗ chúng ta không thể dùng tình thức, dùng tâm phân biệt để đo lường. Không thể dùng tình thức để nói, không thể dùng vọng tâm để nghe, nên Đức Phật và đại chúng đều phải nhập chánh định, nghĩa là phải an trụ nơi tâm Viên Giác mới có thể thuyết và nghe được kinh này. Hôm nay, nghe đến kinh Viên Giác, chúng ta cũng phải lắng sâu tâm thức, bặt hết các duyên, lắng nghe một cách tập trung và chăm chú mới hiểu được đôi phần, mới thâm nhập được tinh thần của kinh muốn nói.

      Theo thông lệ, trong các kinh Đại thừa đều có nói đến lục chủng chứng tín hay lục chủng thành tựu. Đây là sáu điều kiện để xác chứng niềm tin cho người nghe (lục chủng chứng tín), hoặc sáu điều kiện để thành tựu niềm tin (lục chủng thành tựu). Chúng ta sẽ lần lượt khảo sát sáu điều kiện này trong đoạn kinh đã dẫn ở trên.

      “Như thị ngã văn”: thường được dịch “Tôi nghe như vầy”. Thực ra, từ “như vầy” của tiếng Việt không lột tả được hết ý nghĩa của từ chữ Hán “như thị”. Nghe với trạng thái “như thị” nghĩa là không có người nghe và đối tượng nghe, nhưng lại có cái biết chiếu diệu hư minh để thể hội chỗ yếu lý, yếu chỉ của kinh. Cái nghe đó chính là văn thành tựu. Phải nghe trong trạng thái như thị mới khế hợp với pháp như thị, là pháp vượt thoát tất cả mọi khái niệm ngôn ngữ, tất cả tư lự phân biệt. Pháp đó chính là pháp tánh, là vi diệu pháp, là trung đạo đế, đệ nhất nghĩa đế, mà chúng ta không thể dùng tình thức để hiểu. Pháp như thị đó, chính là pháp thành tựu.

      “Một thời...”: Vì sao không để thời gian cụ thể ngày tháng năm nào, mà chỉ để một cách chung chung như vậy? - Chúng ta đã biết, giờ giấc ở nước này không giống ở nước khác do đặc điểm địa dư, ngày tháng dương lịch cũng khác với ngày tháng âm lịch; nên nếu đưa ra thời gian cụ thể tại Ấn Độ nơi Phật thuyết pháp, thì khi bản kinh được truyền qua các nước khác, giờ giấc sẽ bị sai lệch. Một lý do quan trọng hơn, thường từ ngữ được sử dụng trong kinh chứa đựng một triết lý rất sâu xa. Thời gian không cố định, trôi chảy như một dòng sông, thời gian là một ý niệm do vọng tưởng sinh ra nên nó không có thực thể. Do vậy, sự quy định về ngày tháng, về ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai cũng là ảo tưởng. Trong kinh chỉ ghi “Một thời...” là để đánh bạt tất cả mọi ý niệm về thời gian, để siêu vượt được thời gian. Thời ở đây, chính là thời thành tựu.

      “Đức Thế Tôn”: Dịch từ tiếng Phạn “Bà Già Bà”; có lúc gọi là Bà Già Phạm, Bạc A Phạm, Bạc Già Phạm. Thế Tôn là một trong mười hiệu của các vị Phật (Như Lai - Ứng Cúng - Chánh Biến Tri - Minh Hạnh Túc - Thiện Thệ - Thế Gian Giải - Vô thượng sĩ - Điều Ngự Trượng Phu - Thiên Nhân Sư - Phật Thế Tôn). Đức Phật là chủ pháp hội, là người đề xướng và nói lên tinh thần Viên Giác này. Ngài là bậc toàn giác, đã chứng triệt Viên Giác, nên mới có thể nói Kinh Viên Giác. Nói cách khác, Phật đã “tâm thông nên thuyết thông”. Tuy nhiên, Ngài không có ý niệm mình là người nói pháp, và các vị trong pháp hội là những người nghe pháp; bởi vì nếu có ý niệm đó, Ngài đã chấp vào tứ tướng, không phải là Phật nữa. Không có người nói pháp và không có đối tượng nghe pháp mới là chủ thành tựu.

      “...nhập vào thần thông Đại quang minh tạng, Tam muội chánh thọ, là nơi tất cả Đức Như Lai Quang Nghiêm trụ trì”: Đây là ngôn ngữ của Ấn Độ, nghe rất khó hiểu. Thần thông là gì? - Kinh A Hàm mô tả thần thông là đi xuyên vách xuyên đá, thăng thiên độn thổ..., và mọi người thường cũng hiểu như thế. Nhưng ở đây, thần thông diễn tả sự tự tại vô ngại. Đức Phật nhập vào thần thông Đại quang minh tạng, nghĩa là trí huệ lưu xuất từ tự tâm Viên Giác của đức Phật trùm khắp pháp giới. Thần thông và trí huệ lấy Như Lai tạng làm thể, tức lấy tâm Viên Giác làm thể. Cho nên, chữ “tạng” kèm theo có nghĩa là cái kho, từ đó thần thông và trí huệ được lưu xuất. “Tam muội” là chánh định, “chánh thọ” cũng là chánh định. Chánh định của Phật là đại định, tức là đi đứng nằm ngồi đều ở trong định. Chánh định này cũng là nơi quang nghiêm trụ trì của tất cả Như Lai. Quang nghiêm trụ trì là gì? . - “Quang” là hào quang, tượng trưng cho trí huệ; “Nghiêm” là trang nghiêm; “Trụ trì” là an trụ nơi tự tánh Viên Giác để giữ gìn tự tánh đó. Chỉ khi nào có trí huệ mới an trụ và giữ gìn được Viên Giác. Không chỉ riêng Phật Thích Ca mới nhập vào chánh định này, mà cả mười phương chư Phật ba đời cũng đều ở trong định ấy. Điều này nói lên sự bình đẳng của chư Phật, khi đã thành tựu Phật quả.

      Nhưng nếu nói chánh định chỉ có ở chư Phật, vậy còn chúng sanh thì sao? - Trong kinh đã nói: “...cũng là giác địa thanh tịnh của tất cả chúng sanh”. Tất cả chúng sanh đều có cái Quang-minh đó, cái tánh Viên Giác đó, nhưng vì quên và xa rời tánh Viên Giác, nhập vào trần cảnh rồi tạo nghiệp và thọ khổ. Đức Phật đã xác chứng, tánh Viên Giác là bình đẳng giữa chư Phật và chúng sanh, dù chúng sanh luân hồi trong lục đạo thì tự tánh vẫn không bao giờ mất. Chúng ta cần tin tưởng điều này một cách kiên định thì mới vững tiến trên con đường giác ngộ và giải thoát.

      “Ở cảnh giới này, thân tâm hằng vắng lặng, bổn tế bình đẳng viên mãn khắp mười phương”: Bổn tế là bờ mé khởi thủy ban đầu, nghĩa là chỗ cùng tột. Nếu thân tâm của chúng sanh đạt đến trạng thái như thị, thì thể tánh cũng tịch tịnh và bình đẳng đến tột cùng như chư Phật; chỗ này viên mãn khắp mười phương. Một hòn bọt đang trôi nổi trên biển, nếu cho cái tướng bọt đó là thật nó, thì nó xa rời biển cả; nhưng nếu nhận ra nó cũng có đủ tánh ướt như biển, thì trong khoảng sát-na, nó sẽ lấy biển làm tự thể. Chúng ta cũng vậy, chỉ là một hòn bọt trên biển chân như, với chánh báo và y báo như thế này; nhưng nếu chúng ta khéo nhận thì tự tánh Viên Giác cũng sẵn đủ ở chúng ta, bình đẳng cùng chư Phật, cho nên nói viên mãn mười phương. Chúng ta học Phật, tinh tấn tu hành, mỗi tâm niệm cũng chỉ để nhận lại cái tự tánh bản hữu của mình, mà mình đã mất đi khi khởi chấp thân tâm này là thật.

      “... Tùy thuận cảnh giới bất nhị; và ở nơi cảnh bất nhị đó, hiển hiện các cõi Tịnh độ”: Thông thường ở các bản kinh khác, đều có đề cập đến chỗ nơi Phật thuyết kinh, gọi là xứ thành tựu. Trong kinh này, phần xứ thành tựu lại nói đến một nơi chốn rất kỳ lạ, không thể xác định cụ thể ở đâu trong cõi Ta Bà này: Đức Phật khi ở trong chánh định, Ngài tùy thuận cảnh giới bất nhị, và từ cảnh bất nhị này hiện ra các cõi Tịnh độ. Như vậy, xứ thành tựu ở đây là cõi Tịnh độ. Nhưng vì sao chỉ khi ở trong bất nhị mới có thể an trú nơi Tịnh độ? - Rõ ràng Tịnh độ này là Tịnh độ của tự tâm, Tịnh độ ở tại đây và bây giờ. Chỉ khi nào chúng ta an trú vững chãi trong bất nhị pháp môn, nghĩa là tâm chúng ta không còn ở trong trạng thái lưỡng phân nhị nguyên, không còn phân biệt thiện ác, hơn thua...; thì lúc đó, dù đi đứng nằm ngồi hay nói nín động tịnh, ngay mảnh đất Ta Bà này tức khắc trở thành Tịnh độ. Tất cả sắc là sắc Phật, tất cả tiếng là tiếng Phật.

      Khi nói kinh Viên Giác, Phật ở trong trạng thái bất nhị, hiển hiện lên các cõi Tịnh độ. Nếu chúng ta cũng trong trạng thái đó, thì vọng tưởng làm sao có chỗ nảy sinh? Đầu mối của vọng tưởng là lưỡng phân, là nhị nguyên phân biệt; nếu không kẹt hai bên thì vọng tưởng không còn nơi nào gá vào, thấy - nghe - hay - biết đều ở trong Tịnh độ. Như vậy, cõi Tịnh độ này là thế giới mang tính chủ quan. Chỉ có những người đã giác ngộ mới thể nhập được. Đối với các vị ấy, tất cả pháp đều là Phật pháp, cõi Tịnh độ là từ tâm hiện. Đây chính là xứ thành tựu.

      “... Cùng với hàng Đại Bồ tát gồm cả thảy mười muôn người cùng nhau câu hội”: Chúng hội trong buổi thuyết pháp này là các hàng Đại Bồ tát, gồm tất cả mười muôn người. Bồ tát thường có hai nghĩa: là một hữu tình chúng sanh đã giác ngộ (Hữu tình giác); sau đó làm lợi ích cho chúng sanh để đạt được công hạnh viên mãn (Giác hữu tình). Các vị Đại Bồ tát trong pháp hội này là những Bồ tát tin được pháp lớn, hiểu được nghĩa lớn, phát tâm lớn, hướng đến quả vị lớn, tu hạnh lớn và chứng được đạo lớn. Các vị muốn triệt chứng Viên Giác đồng đẳng với Phật và muốn đạt đến quả vị Phật mới thôi, không bao giờ chịu ngừng ở Hóa-thành mà phải đến Bảo-sở. Đây là chúng thành tựu.

      Như vậy, lục chủng thành tựu chúng ta đã khảo sát qua. Nếu khéo nhận, chúng ta đã thấy rõ tinh thần Bát Nhã ở đây. Cho nên, ngay ở lục chủng thành tựu, chúng ta đã thấy diễn tả đầy đủ về Trung đạo đế, Đệ nhất nghĩa đế rồi.

      “... đều là những bậc thượng thủ, cùng các quyến thuộc đều nhập chánh định”: Tên của các vị Bồ tát đã kể trong phần này đều là hàng Bồ tát cỡ lớn. Mỗi vị đều có một số quyến thuộc đi theo, và tất cả pháp hội đều nhập vào chánh định. Số quyến thuộc này là đồ chúng của Bồ tát, vì mỗi vị Bồ tát khi hóa đạo ở phương nào cũng có đồ chúng vây quanh, các Ngài đi đâu cũng đưa họ đi theo. Ở đây có hai điểm đặc biệt cần lưu ý: Một là, trong pháp hội rất thanh tịnh này, người nói pháp là Đức Phật Thích Ca, người nghe pháp là các hàng Bồ tát cỡ lớn. Nhưng dù vậy, vẫn còn rất đông quyến thuộc của Bồ tát cũng được tham dự; điều này khiến chúng ta tin tưởng rằng, nếu chúng ta thành tâm lắng lòng nghe và học kinh Viên Giác, thì chúng ta cũng có phần. Điểm đặc biệt thứ hai, khi Phật nói kinh này có mười muôn Đại Bồ tát đến tham dự, mỗi Bồ tát lại đem theo nhiều quyến thuộc. Như vậy, số thính chúng đông không thể tính được, thì Đức Phật sẽ dùng phương tiện gì để mọi người đều nghe Ngài một cách rõ ràng? - Chúng ta nên biết, kinh Đại thừa thường có những hình ảnh, những lối diễn đạt rất giàu tưởng tượng khi mô tả về pháp giới thanh tịnh bất khả tư nghì, không thể dùng tình thức, sự hiểu biết thông thường mà xét lường được. Đây là tinh thần “núi Tu Di nằm trong hạt cải” hay “mười phương thế giới nằm gọn trên đầu ngọn cỏ”.

      “Đồng an trụ trong pháp hội bình đẳng của Như Lai”: Câu này có hai ý nghĩa: Thứ nhất, trong pháp hội của Phật, tất cả mọi người đều bình đẳng, không phân biệt giai cấp, không có sự khác nhau giữa “nước mắt cùng mặn và máu cùng đỏ”. Lời thuyết pháp của Phật như một trận mưa, tùy theo loại cỏ cây lớn nhỏ mà được thấm nhuần khác nhau. Tùy trình độ tu tập, tùy căn tánh của mỗi người trong pháp hội mà có sự thâm hiểu khác nhau, còn bản ý của Phật chỉ là bình đẳng. Đây là ý nghĩa trên sự tướng. Ý nghĩa thứ hai, là lấy tánh Viên Giác làm chỗ y cứ để nói kinh, để người học kinh thể nhập được. Người nói kinh và người học kinh đều lấy tánh Viên Giác làm tự thể, đây là chỗ bình đẳng giữa Phật và chúng sanh, cũng là ý nghĩa về lý tánh.

      Tóm lại, trong pháp hội kinh Viên Giác này, Phật là người nói, hội chúng là người nghe đều là hàng Bồ tát cỡ lớn và quyến thuộc của các Ngài, nhưng không có hàng Nhị thừa câu hội. Chúng ta nên biết, các vị A--la-hán và Duyên Giác không lấy Viên Giác làm chỗ sở chứng. Kinh Viên Giác lại là một bản kinh chuyển tiếp mạnh mẽ từ Tiểu thừa sang Đại thừa để mở đường cho Nhất thừa, nên đi thẳng vào chỗ hạnh nguyện và chỗ sở tu của Bồ tát mà phá cái sở tu và hạnh Nhị thừa. Kinh này khác kinh Pháp Hoa, dù cũng là kinh điển Đại thừa, vì Pháp Hoa thì đưa cả ba thừa quy về Nhất thừa (Hội tam quy nhất), nên Bồ tát, Thanh Văn và Duyên Giác đều là thính chúng trong pháp hội này. Điều này cho thấy, tùy theo căn cơ trình độ của người nghe, mà người thuyết giảng nên nói pháp cho phù hợp. Bởi vì pháp lớn có triết lý rất uyên thâm, mà khi đi vào lý luận thì người có căn cơ nhỏ nghe như khô khan lắm, không thấu hiểu được. Đó cũng là lý do vì sao khi mới học Phật, chúng ta cần học những bài căn bản trước, sau đó mới đến những kinh điển cao siêu, từ đó chúng ta mới bắt nhịp được những điều sâu mầu trong giáo lý tối thượng của đạo Phật. 


 II- CHƯƠNG VĂN THÙ

Trước khi đi vào phần chính yếu của bản kinh, chúng ta cần biết những mức độ giác ngộ, để có một khái niệm chung về các cấp bậc tu chứng. Từ đó, chúng ta có thể tự biết mình đang đến đâu trên đường tu, tránh sự lầm lẫn đôi khi tai hại, làm chướng ngại cho chúng ta khi học Phật. Thật ra, giác ngộ tột cùng thì không có thứ lớp, nhưng đi trên đường, kể cả con đường đưa đến giải thoát, bước trướùc phải khác bước sau. Trong Thiền tông, lúc đầu có tiểu ngộ, tỉnh ngộ, giải ngộ; sau đó đến đốn ngộ (đại ngộ), triệt ngộ và cuối cùng là chứng ngộ. Ở đây, chúng ta cũng cần tìm hiểu ba cấp bậc giác ngộ theo Giáo tông: Bản giác, Thủy giác và Cứu cánh giác. 

Bản giác: Là sự giác ngộ sẵn đủ ở mọi chúng sanh, dù là chúng sanh hạ đẳng, ở Phật không thêm mà ở chúng sanh cũng không bớt. Có điều, chúng sanh lại quên đi tự tánh Viên Giác của mình, mãi chạy theo trần cảnh mà lăn lộn trong sáu nẻo luân hồi (bối giác hiệp trần); còn Phật đã bỏ trần cảnh để sống trong pháp giới thanh tịnh (bối trần hiệp giác) nên Ngài là Bậc giác ngộ viên mãn. Kinh Viên Giác cũng nhằm khơi dậy cái bản giác này ở mỗi chúng sanh, để mỗi chúng sanh tự hồi phục cái chức năng xa xưa của mình.

Thủy giác: Thủy là mới, Thủy giác là sự giác ngộ mới đạt được. Chúng ta học Phật, hành trì theo Phật chính là để đạt được thủy giác; người xuất gia bao nhiêu năm tam thường bất túc, quay lưng với ngũ dục cũng để đạt được cái thủy giác này. Cho nên, tinh thần thủy giác là tinh thần cần phải ôm ấp, thao thức, sống chết với nó. Nếu không có thao thức thì không bao giờ có cái thấy biết thâm sâu. Ngài Linh Vân suốt ba mươi năm ấp ủ nỗi niềm thao thức, một hôm thấy hoa đào nở, thủy giác được phát hiện :

Tam thập niên lai tầm kiếm khách
Kỷ hồi lạc diệp kỷ trừu chi
Tự tùng nhất kiến đào hoa hậu
Trực chí như kim bất cánh nghi”.

Tạm dịch :

“Ba chục năm qua tầm kiếm khách
Bao hồi lá rụng với cành trơ
Từ khi chợt thấy hoa đào nở
Mãi đến hôm nay hết bóng ngờ”.

Thủy giác là một ánh hào quang chiếu diệu hư minh, ở đó không có người thấy và đối tượng thấy, không có người biết và đối tượng biết. Khi cái biết và cái bị biết ở trong trạng thái như thị, tức thời ánh bình minh giác ngộ bừng lên. Từ đó về sau, ánh giác đó đi vào cuộc đời để nhiêu ích cho muôn loài. Cho nên, đối với chúng ta, hồi phục chức năng thủy giác là một điều tối hệ trọng, là ý nghĩa cao cả của một đời tu; còn tham thiền tịnh lự, thu nhiếp thân tâm, tu tập chỉ quán... đều chỉ là những phương tiện để đạt được mục đích kia. Thiền định như một diễn trình, giác ngộ như điểm cuối cùng của diễn trình đó. Người tu đạt được định, dù sâu cách mấy mà chưa giác ngộ, cũng vẫn mới ở Hóa thành chứ chưa phải là Bảo sở.

Một số người tu, không lầm phương tiện với cứu cánh, nhưng lại lầm ở chỗ xem chức vụ, quyền hành trong đạo là mục đích của đời mình. Đây là điều vô cùng tai hại. Ai cũng biết, ý nghĩa của xuất gia là xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia. Ở đây, ý niệm ban đầu của họ lại là đạt được một lợi ích nào đó thuộc thế gian, thì thử hỏi, làm sao trong bao nhiêu năm còn lại mà có thể giác ngộ được? Trong khi người học đạo cần cầu sự hiểu biết tối thượng, phải thao thức tìm tòi nghiên cứu, lắng sâu tâm thức để sẵn sàng cho ánh giác phát sinh, họa may mới có phần tương ưng. Đàng này, ý niệm tu học là để đạt được một cái gì của thế tục, thì đã sai lạc vào ngõ rẽ rồi.

Vì vậy, người xuất gia phải có ý chí mạnh mẽ, tấm lòng thiết tha mong sáng được việc lớn. Nhiếp tâm thiền định, buông vọng tưởng, an trú trong hiện tại, thực hiện chánh niệm..., đó là phương tiện. Còn sự giác ngộ tối thượng, đó mới là cứu cánh. Chỉ khi nào chúng ta thực chứng, mới có thể tác động lên tâm thức của người khác một cách hiệu quả. Nếu chỉ có định mà không có huệ, ấy gọi là si-định. Khi Lục tổ Huệ Năng nghe giảng đến đoạn “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, Bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài không trụ vào các pháp mà đồng thời ánh giác chiếu diệu cùng khắp, định và huệ đồng thời phát sinh. Đây gọi là Định - Huệ đẳng trì, tức định tức huệ, chính là định của tự tánh và huệ của tự tánh. Tinh thần Tối thượng thừa là như thế.

Khi thủy giác phát sinh, ta sẽ nhận ngay trong một sát-na chứa đựng được vĩnh hằng, núi Tu Di nằm trong hạt cải. Ý niệm về thời gian và không gian tự nhiên tiêu dung. Ta mới thấy, thời gian và không gian chỉ là con đẻ của vọng tưởng, mà thân tâm của ta, kể cả các pháp bên ngoài, đều sản sinh từ thời gian và không gian; lâu nay chúng ta lầm chấp cho tất cả đều là thật nên cứ quanh quẩn trong rừng vô minh. Bây giờ, ánh giác bừng lên, vô minh sẽ vĩnh viễn lui bóng; một ngọn đèn thắp lên, ngôi nhà muôn đời tối tăm tức thời được chiếu sáng. Cuộc đời ta bắt đầu chuyển đổi, bên ngoài ta vẫn giống người thường, nhưng bên trong chứa đựng sự phi thường. Đức Phật cũng là một con người, cũng ăn uống sinh hoạt như bao người khác, nhưng vì Ngài đã ở trong tự tánh Viên Giác nên không còn phiền não, đời sống của Ngài an lạc và biểu hiện ra sáu căn thanh tịnh, lặng lẽ.

* Cứu cánh giác: Khi đã có thủy giác, chúng ta vẫn phải tiếp tục con đường tu hành, nhưng tu bằng cách vô công dụng hạnh để đạt đến cứu cánh giác. Điều này có nghĩa là, khi phục hồi được thủy giác, chúng ta phải hành Bồ tát đạo trong nhiều đời nhiều kiếp để viên mãn công hạnh, thành tựu Phật quả. Cho nên, chúng ta đừng tưởng các vị Thiền sư, khi đã kiến tánh liền được như Phật. Kiến tánh chỉ là chánh nhơn tu hành, là nhận ra Phật tánh của mình đồng đẳng với Phật, để mình có một niềm tin kiên định, rồi từ đó về sau tinh tiến tu hành, gột sạch tập khí cho đến giác ngộ viên mãn.

Khi ấy, ở trong đại chúng, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức Đại Bi Thế Tôn! Mong Ngài vì pháp chúng đến trong hội này mà nói về nhơn địa pháp hạnh thanh tịnh bổn khởi của Như Lai; và nói về hàng Bồ tát ở trong Đại thừa phát tâm thanh tịnh xa lìa các thứ bệnh, có thể khiến chúng sanh mạt thế ở đời vị lai cầu pháp Đại thừa, không rơi vào tà kiến”. Nói xong, năm vóc gieo xuống đất, lập đi lập lại như vậy ba lần.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì các Bồ tát mà thưa hỏi pháp hạnh ở nơi nhơn địa của Như Lai, và vì tất cả chúng sanh đời mạt cầu pháp Đại thừa, được chánh trụ trì, chẳng lạc tà kiến. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói”.

Khi ấy, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi vui mừng vâng theo lời dạy, cùng đại chúng lắng tâm nghe kỹ.

“Này Thiện nam tử! Đấng Pháp vương vô thượng có môn Đại Đà La Ni, gọi là Viên Giác, lưu xuất ra tất cả pháp thanh tịnh, chơn như, Bồ đề, Niết bàn và pháp Ba-la-mật để dạy bảo hàng Bồ tát. Tất cả nhơn địa bổn khởi của Như Lai đều y vào Viên-chiếu thanh tịnh giác tướng này mà hằng đoạn vô minh, mới thành Phật đạo.

Thế nào là Vô minh? -Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay,bị nhiều thứ điên đảo giống như người mê, thấy bốn phương đổi chỗ, vọng nhận tứ đại làm tướng của tự thân, sáu trần duyên ảnh làm tướng của tự tâm, khác nào người bị con mắt nhặm thấy hoa đốm lăng xăng trong hư không và mặt trăng thứ hai.

Này Thiện nam tử! Trong hư không thật ra không có hoa, nhưng vì bệnh mà vọng chấp đó thôi. Bởi do vọng chấp, nên chẳng những lầm tự tánh của hư không này, mà còn lầm trong hư không thật sanh ra hoa. Do đây mà vọng có sự lưu chuyển trong sanh tử, nên gọi là vô minh.

Này Thiện nam tử! Vô minh này chẳng thật có tự thể. Như người nằm mộng, khi mộng chẳng phải không, đến lúc tỉnh giấc thì rõ ràng không có gì cả. Như các hoa đốm diệt trong hư không, không thể nói nhất định có chỗ diệt. Vì sao? - Vì vốn không có chỗ sanh vậy. Tất cả chúng sanh vốn ở trong thể vô sanh mà lại vọng thấy có sanh có diệt, thế nên nói là lưu chuyển sanh tử.

Này Thiện nam tử! Như Lai khi còn nhơn địa tu nơi Viên Giác, biết là không hoa liền không bị lưu chuyển, cũng không có thân tâm để thọ nhận sự sanh tử kia. Chẳng phải tạo tác nên không, mà bổn tánh vốn không. Cái tri giác kia cũng giống như hư không, biết cái hư không tức là tướng không hoa, nhưng cũng không thể nói nó không có tánh Tri giác. Có - Không đều trừ sạch, đó gọi là Tùy thuận Tịnh giác.

Vì cớ sao? - Bởi vì tánh hư không, vốn thường bất động, trong Như Lai tàng không có sinh diệt, không có tri kiến, nên tánh nó như pháp giới cứu cánh viên mãn cùng khắp mười phương.

Ấy gọi là Nhơn-địa-pháp-hạnh. Bồ tát nhơn đây, ở trong Đại thừa phát tâm thanh tịnh; chúng sanh đời mạt nương vào đây tu hành chẳng rơi vào tà kiến”.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng :

Văn Thù ông nên biết!
Tất cả Đức Như lai,
Từ nơi Bổn-nhơn-địa,
Đều dùng trí huệ giác, 
Liễu đạt được vô minh. 
Biết nó như không hoa,
Liền được khỏi lưu chuyển.
Lại như người trong mộng,
Khi tỉnh không thấy gì. 
Biết rõ như hư không, 
Bình đẳng không động chuyển.
Biết khắp mười phương cõi,
Liền được thành Phật đạo,
Các huyễn diệt không nơi, 
Thành đạo cũng không được,
Vì bổn tánh viên mãn.
Bồ tát ở trong này, 
Hay phát tâm Bồ đề,
Chúng sanh ở đời mạt,
Nương đây khỏi tà kiến! 

Vì sao Ngài Văn Thù xuất hiện trước tiên trong số 12 vị Bồ tát? - Chúng ta nên biết, Bồ tát Văn Thù tượng trưng cho Căn-bản-trí, Chơn-trí, Thật-trí. Căn-bản-trí là vô ngôn vô ngữ, nhưng từ chỗ vô ngôn này mà hiểu được tất cả ngôn ngữ. Chủ yếu của kinh Viên Giác cũng là nói đến Căn bản trí. Đức Phật tùy theo sự thưa thỉnh của Ngài Văn Thù, liền đi thẳng vào vấn đề không quanh co, không thứ lớp. Đức Phật muốn chỉ thẳng cho hàng Bồ tát và chúng sanh nhận ra tự tâm Viên Giác của chính mình, mà trong kinh gọi là Nhơn-địa pháp-hạnh của Như Lai. Trước nhận ra tánh Viên Giác, sau đó khởi tu, mới có thể viên thành Phật đạo. Như vậy, ta thấy rõ kinh Viên Giác đúng là thuộc Đốn giáo Đại thừa, mà chương Văn Thù có thể nói là căn bản cho toàn thể bản kinh.

Khi ấy, ở trong đại chúng, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi liền từ chỗ ngồi đứng dậy”: Bồ tát Văn Thù ở trong đại chúng đứng dậy có ý nghĩa là, từ nơi nhất thể thanh tịnh vô ngôn ngữ mà Căn-bản-trí khởi lên diệu dụng. Đại chúng ở đây gồm bậc Đại Bồ tát và quyến thuộc của các Ngài, nên nói “đại chúng” là biểu hiện sự thanh tịnh. Lại nữa, người nói pháp là Phật, nơi nói pháp là cõi Tịnh độ, nên cũng là những hình ảnh tượng trưng của nhất thể thanh tịnh. Bồ tát Văn Thù, vì các hàng Bồ tát và chúng sanh đời mạt, nên khởi đại trí, đại bi, đại nguyện, đứng dậy thưa hỏi Phật chánh nhơn tu hành; đây biểu hiện cho diệu dụng của tự tánh Viên Giác.

“... đảnh lễ dưới chân Phật”: Theo quan niệm thông thường, đỉnh đầu là chỗ tôn quý, còn chân là nơi tiện. Lấy cái quý đảnh lễ cái tiện, nói lên ý nghĩa quý tiện không hai, đây là lý bất nhị, từ trí Viên Giác tức trí thể phóng xuất ra.

Đi quanh bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng”: Trong 32 tướng tốt của Phật có một tướng là tóc của Ngài xoắn về bên phải; do vậy, bên phải được xem là chiều thuận. “Đi quanh bên phải” ám chỉ sự tùy thuận pháp tánh. “Ba vòng” tiêu biểu cho thời gian tu ba đại A-tăng-kỳ kiếp của các vị Bồ tát, từ lúc nhận ra tánh Viên Giác đến khi viên thành Phật quả. Đây là con số tượng trưng, nói lên sự lâu xa đến vô lượng kiếp của các vị Bồ tát, khi tự giác rồi phải nguyện đi vào trong lục đạo để giáo hóa chúng sanh (giác tha), thì mới viên mãn được giác hạnh.

Đức đại bi Thế Tôn! Mong Ngài vì pháp chúng đến trong hội này mà nói về nhơn-địa pháp-hạnh thanh-tịnh bổn-khởi của Như lai”: Pháp chúng ở đây gồm các đại Bồ tát cùng quyến thuộc. Bổn khởi là tâm phát khởi đầu tiên, tức Bồ đề tâm. Bồ đề tâm chỉ ở hàng Bồ tát Đại thừa mới có. Ý Bồ tát Văn Thù muốn thỉnh Phật nói rõ chánh nhơn tu hành của Như Lai, để chỉ bày chân lý và để làm tiêu chuẩn phát tâm cho các Bồ tát Đại thừa.

“... Và nói về hàng Bồ tát ở trong Đại thừa phát tâm thanh tịnh xa lìa các thứ bệnh”: Các Bồ tát ở trong Đại thừa là những bậc Bồ tát không thích tiểu pháp, muốn được chỉ thẳng pháp rốt ráo để đạt quả vị Phật. “Phát tâm thanh tịnh” là y nơi nhơn địa pháp hạnh của Phật mà phát tâm Bồ đề. “Các bệnh” ám chỉ những điều chướng ngại trên đường tu, sinh ra từ kiến giải và từ việc tu hành không đúng chánh pháp. Đây là vấn đề thứ hai mà Ngài Văn Thù muốn hỏi Phật, những Bồ tát Đại thừa đã phát tâm thanh tịnh, phải làm thế nào để xa lìa các thứ bệnh, để đạt được cứu cánh viên mãn.

... Có thể khiến chúng sanh mạt thế ở đời vị lai cầu pháp Đại thừa, không rơi vào tà kiến”: Ngài Văn Thù không những vì pháp chúng đương thời, mà còn vì chúng sanh ở đời sau để thưa hỏi Phật. Điều này cho thấy tâm từ của Ngài thật là thắm thiết. 

Nói xong, năm vóc gieo xuống đất, lập đi lập lại như vậy ba lần”: Năm vóc là trán, hai bàn tay và hai đầu gối. Ngài Văn Thù lạy Phật và thưa thỉnh Phật như vậy ba lần.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Văn Thù Sư Lợi rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì các Bồ tát mà thưa hỏi pháp-hạnh ở nơi nhơn địa của Như Lai, và vì tất cả chúng sanh đời mạt cầu pháp Đại thừa, được chánh trụ trì, chẳng lạc tà kiến. Ông hãy lắng nghe, Ta sẽ vì ông mà nói”: Đây là lời hứa khả của Đức Phật để giải đáp câu hỏi của Bồ tát Văn Thù. “Lành thay! Lành thay !” là lời khen ngợi của Đức Phật, nhắc lại hai lần để tăng sức mạnh cho lời khen, vì điều Ngài Văn Thù thưa thỉnh rất khế cơ và khế lý. Chữ “Chánh trụ trì” có hai nghĩa: Theo nghĩa thứ nhất, Trụ là trụ pháp vương gia (an trụ trong nhà pháp vương), Trì là trì Như Lai tạng (giữ gìn kho báu Như Lai). Nghĩa thứ hai là thực hành theo chánh pháp để an trụ và giữ gìn tự tánh Viên Giác. Chỉ có chánh trụ trì mới khỏi rơi vào tà kiến.

Khi ấy, Bồ tát Văn Thù Sư Lợi vui mừng vâng theo lời dạy, cùng đại chúng lắng tâm nghe kỹ”: Ngài Văn Thù và toàn thể đại chúng đều bặt hết các duyên, dồn hết tâm lực vào việc lắng nghe lời Phật dạy. Đây chính là nghe theo ý nghĩa lóng thần nghe pháp, không có người nghe và đối tượng được nghe. 

Này Thiện nam tử! Đấng Pháp vương vô thượng có môn Đà-la-ni, gọi là Viên-Giác”: Câu đáp đầu tiên của Đức Phật đã đi thẳng vào vấn đề cốt tủy của giáo lý Tối thượng thừa, không quanh co, không thứ lớp. “Pháp vương” là vua pháp, vì Đức Phật làm chủ được muôn pháp, đối với các pháp được tự tại. “Vô thượng” vì quả vị này là Phật vị, không có quả vị nào hơn nữa. Đức Phật ngộ được Viên Giác nên giới thiệu môn Đại Đà-la-ni gọi là Viên Giác. Trong kinh điển Đại thừa thường nhắc đến từ “Đà-la-ni”. Đại Đà-la-ni, Trung-hoa dịch là Đại Tổng Trì. Đại là lớn; Tổng là nhiếp thu, trùm chứa tất cả các pháp, không có pháp nào ở ngoài nó; Trì là giữ gìn. Như vậy Đại Đà-la-ni tức Viên Giác, tổng nhiếp và gìn giữ tất cả các pháp, là chỗ tựa của muôn sự muôn vật. Chúng sanh và mọi sự vật đều sẵn đủ tự tánh Viên Giác này, vì nếu không có tánh Viên Giác, tất cả không thể hiện hữu. Khi giác ngộ được tánh Viên Giác và tu hành viên mãn, sự hiểu biết của ta sẽ trùm khắp mười phương. Bồ tát Quán Thế Âm nhờ có Đại Đà-la-ni này nên ứng hóa thiên thủ thiên nhãn, tùy tâm lượng của chúng sanh mà hiện thân cứu độ. Có thể nói, Đại Đà-la-ni này tổng nhiếp tám vạn bốn ngàn Đà-la-ni như Văn trì Đà-la-ni, Ngữ trì Đà-la-ni... Tất cả các bậc đã đoạn hoặc chứng chơn, tức các quả vị nằm trong những Đà-la-ni, nếu chưa nhận ra tự tánh bản hữu của mình tức tánh Viên Giác, thì chưa phải là viên mãn giác ngộ.

“... lưu xuất ra tất cả pháp thanh tịnh, Chơn như, Bồ đề, Niết bàn và pháp Ba-la-mật để dạy bảo hàng Bồ tát”: Đây là một đặc tính quan trọng của tánh Viên Giác. Vì sao từ Viên Giác có thể lưu xuất tất cả các pháp thanh tịnh, Chơn như, Bồ đề, Niết bàn và các pháp Ba-la-mật? - Bởi vì mọi từ ngữ đều lưu xuất từ trí giác của Đức Phật, khi Phật giác ngộ Viên Giác là đã hiểu rõ tường tận tất cả pháp môn. Một người tu theo Đại thừa, nếu giác ngộ tự tánh Viên Giác thì sức sống của họ là kinh nghiệm thực chứng, nội chứng, không ai có thể chiếm hữu. Thiền Đốn ngộ đi thẳng vào chỗ tâm chứng này mà không qua ngôn ngữ; rồi từ chỗ chứng ngộ đó mà hiện thành sức sống mãnh liệt, truyền bá cho chúng sanh. Một mặt nói bất lập văn tự, mà mặt khác, văn tự ngữ ngôn của Thiền tông lại nhiều hơn các tông phái khác.

Chủ ý của Đức Phật ở đây, là giới thiệu cho đại chúng trong pháp hội và cho chúng sanh đời mạt phải nhận ra tự tánh Viên Giác của chính mình, từ đó làm chỗ y cứ chánh nhơn tu hành, từ đó khởi tu lục độ Ba-la-mật. Thế nào là lục độ Ba-la-mật? Ba-la-mật là tiếng Phạn, Trung-hoa dịch là Đáo bỉ ngạn, nghĩa là qua bờ kia, từ bờ mê của phàm phu nhảy một bước qua bờ giác ngộ của Phật. Lục độ gồm Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Nếu lục độ mà không có Ba-la-mật thì không còn mang ý nghĩa rốt ráo của Đại thừa, vì tinh thần Ba-la-mật làm nên tinh thể của Bồ tát đạo, lập nên đại nguyện độ sanh của Bồ tát, là pháp tu của Bồ tát Đại thừa. Có thể nói, Ba-la-mật là mật hạnh, là đại hạnh của Bồ tát dù là Bồ tát thuận hạnh hay nghịch hạnh. Bởi vì sao? - Vì ý nghĩa Ba-la-mật là phải đạt đến vô trú, vô trước, vô nhiễm, vô chấp; lấy chỗ vô sở đắc, vô sở hữu mà hành đạo. Việc độ sanh của Bồ tát là việc làm không kể công, không chấp tứ tướng (ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả); làm như bóng nhạn qua sông, dù ảnh hiện dưới nước nhưng nhạn không có ý lưu dấu, cũng như nước không có tâm giữ ảnh:

Nhạn quá trường không
Ảnh trầm hàn thủy
Nhạn vô di tích chi ý
Thủy vô lưu ảnh chi tâm.

Đây chính là hành vô hành.

Tất cả nhơn địa bổn khởi của Như lai đều y vào Viên chiếu thanh tịnh giác tướng này mà hằng đoạn vô minh, mới thành Phật đạo”: Không những hàng Bồ tát truyền trao các pháp lưu xuất từ tánh Viên Giác, mà ngay chánh nhơn tu hành của Đức Phật cũng đều y vào tánh Viên Giác này để hằng đoạn vô minh. Vậy việc đoạn vô minh của Phật khác với chúng sanh ở chỗ nào? - Đức Phật nhận ra tánh Viên Giác trước, sau đó mới tu, nghĩa là tu từ bên trong tu ra. Ngộ rồi mới tu, giác ngộ tự tánh rồi mới đoạn vô minh nên vô minh hằng dứt mà không tái khởi. Đây cũng là tinh thần của Thiền Đốn ngộ, kiến tánh khởi tu hay đốn ngộ tiệm tu. Còn chúng ta, chưa nhận ra tự tánh của chính mình, nên đường tu hành thường bị lui sụt, vô minh phiền não cứ còn hoài.

Thế nào là vô minh? ”: Vô minh được hiểu theo nhiều cách. Có nơi nói Vô minh là không nhận ra thực tướng của vạn pháp; có nơi nói Vô minh là chấp lầm thân ngũ uẩn cho là thật. Ở đây, Phật giải thích :

Này Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay, bị nhiều thứ điên đảo giống như người mê, thấy bốn phương đổi chỗ, vọng nhận tứ đại làm tướng của tự thân, sáu trần duyên ảnh làm tướng của tự tâm”: Phật giảng, căn bản vô minh là do chúng sanh từ vô thủy, bị nhiều thứ điên đảo làm quên bản giác, chạy theo trần cảnh, giống người mê lầm lối đi. Hình ảnh được mượn để diễn tả vô minh là hình ảnh của một người bị lầm phương hướng, giống người đi trên thuyền thấy bờ chạy, mây bay lại tưởng trăng dời. Đây là cái thấy lầm nên gọi là điên đảo.

“Thấy bốn phương đổi chỗ”: Bốn phương ám chỉ tứ đại: đất - nước - gió - lửa. Phật bảo chúng sanh mê lầm, vọng nhận tứ đại là tôi, của tôi, tự ngã của tôi. Đây là cái vô minh thứ nhất. Thật ra, tứ đại năng tạo (đất, nước, gió, lửa bên ngoài) hay tứ đại sở tạo (đất, nước, gió, lửa trong thân), đều chỉ là duyên sinh giả hợp. Thân này được tạo ra là do vay mượn từ tứ đại bên ngoài, chứ có gì là thật mình đâu?

Vô minh thứ hai là vọng nhận sáu trần duyên ảnh làm tướng của tự tâm. Chúng ta hãy tự xét, có phải cái tâm ưa suy nghĩ lăng xăng là duyên từ bóng dáng của sáu trần không? Khi ta thấy sắc, cái sắc đó lưu ảnh trong tâm, rồi khởi lên yêu ghét; khi nghe tiếng, tiếng đó cũng lại lưu ảnh trong tâm... Những danh tự tướng đã qua, trở thành những hạt giống bên trong tâm, và chúng ta vọng nhận những hạt giống sinh diệt đó là thật tâm mình. Kỳ thực, chúng chỉ là những cái bên ngoài tác động vào tâm thức rồi lưu ảnh, chúng là sinh diệt.

Như vậy, thân là do tứ đại tạo nên, tâm là bóng dáng của sáu trần, nên không có tứ đại thì không có thân, không có sáu trần thì không có tâm. Thử hỏi, thân tâm này là của ai? Trong nhà Thiền có một công án “Ngã thị thùy? ” - Ta là ai?. Khi nào chúng ta hiểu được mình là ai, lúc đó ta sẽ thấy tánh Viên Giác hiện ra lồ lộ. Tuy nhiên, có một điều cần lưu ý, nếu cho rằng tánh Viên Giác là đối tượng để thấy hiểu, thì đó không phải là tự tánh của mình. Bởi vì, tánh Viên Giác không phải là một đối tượng nhận biết, mà là chủ thể của cái biết, nó chính là tự thân của cái biết. Cho nên, đem cái Biết để biết lại cái Biết, là một điều lầm lẫn lớn.

“... khác nào người bị con mắt nhặm thấy hoa đốm lăng xăng trong hư không và mặt trăng thứ hai”: Hoa đốm trong hư không là một hình ảnh rất hay để diễn tả sự thấy biết lầm lẫn của chúng sanh, mà dường như bộ kinh Đại thừa nào cũng có đề cập đến. Một hình ảnh khác, là mặt trăng thứ hai. Thật ra, trong hư không đâu có hoa đốm, và trên bầu trời chỉ có một mặt trăng; do vì mắt nhặm nên thấy lầm. Muốn không thấy lầm, phải trị bệnh ở mắt. Hoa đốm tự mất, mặt trăng thứ hai tự mất khi mắt hết bệnh. Vậy chúng có thật sanh không? – Chúng chưa từng sanh, nên cũng chưa từng diệt. Đó chỉ là huyễn sanh, huyễn diệt, vì thực chất chúng chưa từng sanh diệt, do mắt bệnh mà thấy chúng có sanh có diệt đó thôi. Cũng vậy, thân tâm của chúng ta là duyên hợp giả có, chỉ là huyễn sanh huyễn diệt. Các Ngài khi đã giác ngộ, thấy rõ lẽ này nên sống trong cuộc đời như chơi, làm Phật sự như chơi và lúc chết cũng chỉ như chơi. Lối sinh hoạt hư hư thực thực đó lại là biểu hiện của một sức sống mãnh liệt, trào dâng, mà chỉ những Bồ tát Đại thừa mới có được.

Này Thiện nam tử! Trong hư không thật ra không có hoa, nhưng vì bệnh mà vọng chấp đó thôi. Bởi do vọng chấp, nên chẳng những lầm tự tánh của hư không này, mà còn lầm trong hư không thật sanh ra hoa. Do đây mà vọng có sự lưu chuyển trong sanh tử, nên gọi là vô minh”: Ở đây, Phật chỉ ra ba điều lầm của chúng sanh: thứ nhất là vọng chấp có hoa thật; thứ hai, vì vọng có hoa đốm mà quên cái tự tánh của hư không; thứ ba, lầm trong hư không thật có hoa sanh ra. Cũng vậy, từ vô thủy đến nay, chúng sanh vọng chấp thân tứ đại này là thật có, tâm vọng tưởng lăng xăng này là thật có, mà quên đi tự tánh Viên Giác của chính mình. Từ đó, vọng có sự lưu chuyển trong sanh tử, vì vọng chấp có thực sanh thực diệt. Ấy gọi là vô minh.

Này Thiện nam tử! Vô minh này chẳng thật có tự thể. Như người nằm mộng, khi mộng chẳng phải không, đến lúc tỉnh giấc thì rõ ràng không có gì cả”: Vì vô minh không có tự thể, nên khi trực nhận tánh giác, tức khắc vô minh biến mất mà không nói phải tu như thế nào. Ví như người nằm mộng, trong giấc mộng thấy người cảnh đều thật, đến khi thức dậy thì hoàn toàn không có gì cả. Như vậy, vô minh và giác ngộ chỉ cách nhau một sát na, như khi nằm mộng so với lúc tỉnh giấc. Bồ tát Quán Thế Âm, do tỉnh cơn trường đại mộng, soi thấy năm uẩn đều không, nhờ trí tuệ Bát nhã, đã vượt qua được mọi khổ ách. Từ đó, Ngài thị hiện các ứng hóa thân để cứu độ muôn loài.

Như các hoa đốm diệt trong hư không, không thể nói nhất định có chỗ diệt. Vì sao? - Vì vốn không có chỗ sanh vậy”: Chính vì “không có chỗ sanh” này mà trong Trung-quán-luận, từ đầu đến cuối đều phủ nhận không sanh tử cũng không Niết-bàn, không phiền não cũng không Bồ đề... Tưởng chừng tinh thần “Bát-bất Trung-đạo” này, cái phá của Bát nhã này, là phủ định một cách tột cùng; nhưng đàng sau cái phủ định tột cùng đó lại mở ra một chân trời mới lạ. Cái đó vượt ngoài ngôn ngữ, ngoài ý thức suy luận. Bởi thế, nhiệm vụ của các kinh điển Bát nhã là phá tất cả mọi chấp trước, dù là chấp có Niết-bàn; để ý thức phân biệt chia chẻ, vọng tưởng vọng niệm của mình bặt dứt, tự nhiên tánh Viên Giác hiện tiền! làm sao đến được chỗ này? - Chỉ khi nào chúng ta bặt hết duyên lự, một niệm tương ưng, thì vĩnh viễn ta ở ngay tại đây và bây giờ. Vĩnh viễn ở trong sát na hiện tại, ta sẽ thấy các pháp chưa từng sanh diệt, sẽ hiểu rõ được tinh thần vô sanh. Ngài Thần Hội Hà Trạch nói: “Vô niệm niệm ấy tức niệm chân như, vô sanh sanh ấy tức sanh thật tướng”. Vô niệm không phải là diệt niệm, mà liễu được vọng niệm không thật, ngay đó bặt hết dấu vết, ngay đó tức niệm chân như. Vô sanh cũng không phải là hủy hoại các pháp, mà ở nơi sanh nhận ra vô sanh, ngay nơi tướng mà lìa tướng tức sanh thật tướng. Đây là tinh thần sống động, huyền diệu của Phật giáo Đại thừa, biết pháp tánh hằng hữu này là động nên ngay nơi động mà ngộ, ngay nơi động mà làm lợi ích cho chúng sanh. Các Ngài ở nơi sự vận hành của vọng tưởng, ngay trong dòng sinh diệt của vọng tưởng mà ngộ, chứ không phải đè bẹp hay xả trừ vọng tưởng. Nếu đè bẹp vọng tưởng, tức hiểu lầm pháp tánh là tĩnh; an thân lập mạng trong đó là rơi vào nước chết. Nhà Thiền gọi đó là hang quỷ, là động Sa-tăng để cốt cảnh tỉnh người tu khỏi rơi vào cái tịch tĩnh của Niết-bàn Hóa-thành mà thối chí độ sanh. Cho nên, đó là lý do Đại thừa không chấp nhận lối hiểu, lối tu, và lối hành đạo của Tiểu thừa. Vì Tiểu thừa hiểu pháp tánh là tĩnh nên tự nhiên sanh tiêu cực, chết chìm ở nơi chỗ tĩnh lặng ấy. Còn Đại thừa biết pháp tánh là động nên không diệt trừ pháp hữu vi, cũng không nhập vào vô vi (Bất tận hữu vi, bất trụ vô vi). Nhân cách của Bồ tát Đại thừa thể hiện đại lực, đại từ, đại nguyện, vĩnh viễn ở trong sanh tử mà độ chúng sanh, vĩnh viễn ở trong sanh tử mà thực chứng Niết-bàn.

Tất cả chúng sanh vốn ở trong thể vô sanh mà lại vọng thấy có sanh và diệt, thế nên nói là lưu chuyển sanh tử”: Thỉnh thoảng trong tư tưởng vút cao của kinh điển Đại thừa có nói: “Chúng sanh đã thành Phật” - Đã thành chứ không phải sẽ thành. Nghe vậy, tự dưng mình thấy thương mình làm sao! Mầm mống Phật đã có sẵn đó, chỉ vì một niệm bất giác mà thành chúng sanh, cũng như biển cả vì có gió nên sóng nổi dậy. Vì nhận sóng là mình nên quên mất biển cả. Có thể nói “Sóng đã là nước”, chỉ cần sóng nhận ra nó chính là nước, vậy đã đủ rồi. Cho nên các Ngài nói, không cần giở chân mà Phật độ mười phương hiện ra trước mắt. Nếu mê, thấy có sanh diệt thật thì lưu chuyển trong ba cõi sáu đường. Khi ngộ, thấy rõ ràng sống chết chỉ có trong ảo tưởng; từ đó dứt muôn duyên, bặt hết mọi ý niệm phân biệt chia chẻ, ở trong pháp môn bất nhị thì bất cứ đâu cũng là cõi Tịnh độ.

Này Thiện nam tử! Như Lai khi còn Nhơn địa tu nơi Viên Giác, biết là không hoa liền không bị lưu chuyển, cũng không có thân tâm để thọ nhận sự sanh tử kia”: Đây là câu quan trọng nhất trong chương này, cũng là quan trọng nhất trong toàn bộ bản kinh. “Tri thị không hoa tức vô lưu chuyển, diệc vô thân tâm thọ bỉ sanh tử”. Câu này chỉ rõ chánh nhơn tu hành của Phật, là pháp tu đốn ngộ.

Nhơn địa tu nơi Viên Giác của Như Lai là chỉ cần biết tất cả pháp như hoa đốm giữa hư không, liền không bị lưu chuyển trong sanh tử. Ở đây, Phật chỉ sử dụng một chữ Biết. Chúng ta có ai Biết được như vậy không? Chúng ta biết là biết bằng khái niệm, bằng suy lý, bằng tư duy, bằng phân biệt, nên cái biết đó vẫn ở bên ngoài. Cái Biết của đức Phật là biết bằng trực giác, ở đó không có cái biết và cái bị biết, biết không qua trung gian suy luận. Một niệm giác khởi lên, vô minh nghìn kiếp tức khắc lui bóng, và vĩnh viễn ở trong tự tánh của mình. Nhà Thiền gọi đó là kiến tánh.

Liên hệ đến Thiền Kinh Niệm Xứ, chúng ta cũng thấy toàn bộ kinh đều chỉ sử dụng cái Biết, gọi là Tuệ tri. Trong bốn lĩnh vực thân, thọ, tâm, pháp, Đức Phật đều dạy phải tuệ tri. Ngầm ý trong kinh muốn nói đến cái Thường Biết tức Căn bản trí, nhưng vì Tứ Niệm Xứ thuộc kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy, nên không sử dụng từ này. Như vậy, rõ ràng là Nhơn địa của Như Lai rất đơn giản, tựu trung chỉ cần Biết mọi pháp đều như huyễn, thế thôi. Còn tám vạn bốn ngàn pháp môn của Phật đều chỉ là phương tiện, tùy trình độ căn cơ của mỗi người mà chọn pháp tu thích hợp cho mình.

Chẳng phải tạo tác nên không, mà bổn tánh vốn không”: “Không” ở đây không phải do tạo tác mà thành không, mà là Tánh Không, Chơn Không. Đây là cái không của trực giác Bát Nhã, thấy tận nguồn các pháp nhận ra Tánh Không của muôn sự muôn vật. Tánh Không này không phải do phân tích mà thành không, chính nhờ trực giác thấy thẳng tánh các pháp là không. Tạm nói nhờ trực giác mới thấy được Tánh Không, nhưng kỳ thực, Tánh Không cũng chính là trực giác. Bởi vì nó dung hợp giữa cái biết và cái bị biết. Cho nên nói “Bổn tánh vốn không”. Cái tinh thần “Vô nhất vật” đó không phải do tạo tác mà ngộ được, chỉ khi ánh bình minh giác ngộ lóe lên thì tự nhiên thấu suốt được tự tánh của muôn pháp. Lục Tổ đã dạy: “Tự tánh vốn tự tịnh, Tự tánh vốn tự định”, tự định và tự tịnh vốn là cái định tịnh của tự tánh.

Cái tri giác kia cũng giống như hư không, biết cái hư không tức là tướng không hoa, nhưng cũng không thể nói nó không có tánh Tri Giác. Có - Không đều trừ sạch, đó gọi là Tùy-thuận Tịnh- giác”: Thông thường chúng ta hiểu, có một “cái không” và có một “cái tri giác về cái không đó”, như vậy phân biệt một cái bị biết là “cái không” và cái hay biết là “cái tri giác...” Hiểu như vậy là lầm. Cái tri giác này thật ra như hư không, nên nó cũng là không. Cái hư không là không, mà cái biết được hư không ấy cũng là không. Nói cách khác, “tánh không” là không, mà cái “biết được tánh không” cũng là không luôn. Năng không mà sở cũng không. Điều này có nghĩa là “Cứu cánh là không”, chủ thể không, đối tượng không, năng tri không, sở tri không, tất cả rốt ráo đều là không.

Tuy nhiên, nếu rốt ráo đều là không thì Phật muốn nói lên điều gì? Chúng sanh thường hay chấp một bên, khi nghe bảo “Không” thì chấp vào đoạn diệt, nên đức Phật đã khẳng định về tự thể của thân tâm và của tất cả các pháp: “...nhưng cũng không thể nói nó không có tánh tri giác”. Nghĩa là, cứu cánh đều không, nhưng cái tánh tri giác đó luôn luôn hằng hữu, gọi là liễu liễu thường tri. Khi Ngài Huệ Khả trình với Tổ Bồ đề Đạt Ma: “Con đã bặt hết các duyên”, Tổ bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài thưa: “Rõ ràng thường biết, nói không thể đến”. Tổ ấn chứng cho Ngài: “Ông đã như thế, ta cũng như thế”, bởi vì Ngài rốt ráo đều không nhưng vẫn còn một cái “rõ ràng thường biết, nói không thể đến ”. 

Một điều nữa cần nhấn mạnh: Khi có vọng tưởng ta gọi là Có; khi không vọng gọi là Không. Còn cái biết Có - Không đó, cái chủ thể biết đó mà không sanh tâm chấp vào cái biết, thì luôn luôn hằng hữu. Đó là tánh tri giác. Như vậy, nếu không chấp vào có và không có vọng tưởng, cũng không chấp vào cái biết Có - Không mà luôn luôn duy trì cái tự tánh Thường Biết, đó gọi là Tùy thuận Tịnh Giác hay Tùy thuận Viên Giác. Hiện nay, Hòa thượng Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm xiển dương Thiền tông Việt nam. Ngài cũng có chủ đích là đi thẳng vào tự tánh. Còn “Biết vọng không theo” là phương tiện tu hành. Khi không còn lầm vọng tưởng thì sẽ nhận ra được tự tánh kia, không nghi ngờ.

Vì cớ sao? - Bởi vì tánh hư không vốn thường bất động, trong Như Lai tàng không có sanh diệt, không có tri kiến”: Ở đây chúng ta có thấy mâu thuẫn không? Lúc nãy Phật bảo “Có tánh tri giác”, bây giờ lại nói “không có tri kiến”. Ta thấy rõ, ngôn ngữ của loài người thật khó để diễn tả cái chân lý tột cùng này. Chúng ta nên hiểu đoạn này có nghĩa là, trong kho Như Lai không có cái thấy biết sanh diệt, nhưng vẫn có cái thấy biết không sanh diệt. Phật đôi khi dùng thể phủ định để khẳng định thực tại tối hậu; và lúc nói có lúc nói không là để trừ cái bệnh chấp trước của chúng sanh mà thôi.

“... nên tánh nó như pháp giới cứu cánh viên mãn cùng khắp mười phương”. Tự tánh như pháp giới, trùm khắp mười phương, không có giới hạn. Ví như một đợt sóng nổi trên mặt biển, nếu nhận ra mình là nước thì ngay đó, nó chính là biển cả. Tánh ướt là tự thể chung của tất cả các đợt sóng, dù chúng đang ở phương nào, vì vậy nói “cùng khắp mười phương”.

Một điểm đặc biệt cần lưu ý: Khi một vị đã giác ngộ, tự thể của vị ấy đồng với tự thể của mười phương chư Phật, nhưng cái biết của vị ấy không phải đồng với cái biết của tất cả. Tuy rằng đồng đẳng với Chư Phật về tự tánh, nhưng mỗi vị lại có cái biết đặc thù; ngược lại, tuy mỗi người ở trong bản vị của người ấy, nhưng một chỗ lại dung nhiếp được tất cả chỗ. Ví dụ, nhiều ngọn đèn cùng để trong phòng, ánh sáng tuy là một nhưng mỗi ngọn đèn mỗi khác. Đây là tinh thần Tất cả là một, một là tất cả. Cho nên, trong cái riêng có cái chung, mà trong cái chung cũng có cái riêng, ai giác ngộ thì đồng với chư Phật, ai chưa giác ngộ thì vẫn là chúng sanh thôi.

“Ấy gọi là Nhơn-địa pháp-hạnh. Bồ tát nhơn đây, ở trong pháp Đại thừa phát tâm thanh tịnh; chúng sanh đời mạt nương vào đây tu hành chẳng rơi vào tà kiến”: Kết thúc lời giải đáp, Đức Phật dạy rằng: Nhơn-địa pháp-hạnh của Như Lai là tự tánh Viên Giác sẵn đủ của chính mình. Bồ tát y cứ vào đó làm nhơn để phát tâm thanh tịnh, đó là chánh nhơn tu hành. Chúng sanh đời mạt cũng y nơi giác tướng thanh tịnh này mà khởi tu, như thế sẽ không rơi vào tà kiến. 

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng :

Văn Thù, ông nên biết!
Tất cả Đức Như Lai
Từ nơi Bổn-nhơn-địa
Đều dùng trí huệ giác
Liễu đạt được vô minh”.

Chư Phật mười phương ba đời đồng nhau ở chỗ y vào tự tánh Viên Giác mà tu. Nhờ tánh Viên Giác mà thông suốt, tức liễu đạt được vô minh. Liễu vọng, vọng tức chơn - Chúng ta cần hiểu chỗ này thật tường tận. “Liễu vọng” nghĩa là hiểu được bản chất của vọng tưởng bằng trực giác Bát Nhã. Vọng là cái bị biết, cái liễu được vọng là cái hay biết. Khi cái hay biết bằng ánh trực giác đi thẳng vào cái bị biết, lúc vọng tưởng khởi lên diệt xuống mà ánh trực giác nhập một vào vọng tưởng, ngay cuộc vận hành của vọng tưởng mà nắm bắt được thực thể chân thật huyền diệu nằm ngay đó, thì tự nhiên vọng tức chơn, cái bị biết nằm ngay nơi cái biết, không cần trừ dẹp gì nữa cả. Tinh thần liễu vọng là tinh thần nhất như giữa cái biết và cái bị biết, là tinh thần của Thiền Đốn ngộ.

Biết nó như không hoa, 
Liền được khỏi lưu chuyển.
Lại như người trong mộng, 
Khi tỉnh không thấy gì.
Biết rõ như hư không, 
Bình đẳng không động chuyển.
Biết khắp mười phương cõi,
Liền được thành Phật đạo”.

Ở đây, chúng ta càng thấy rõ cái Biết trong kinh điển Đại thừa khác xa với cái Biết của Tiểu thừa. Đây là cái Biết trùm khắp muôn pháp, khắp mười phương cõi, theo tinh thần liễu nghĩa của Đại thừa.

Các huyễn diệt không nơi
Thành đạo cũng không được,
Vì bổn tánh viên mãn”.

Nghe có vẻ mâu thuẫn, phải không? - Tại sao Phật bảo thành đạo cũng không được? - Thông thường, chúng ta hiểu thành đạo là có một cái đạo để thành, có một quả vị Phật để chứng. Nhưng nếu có một cái đạo để thành thì đó là cái đạo tương đối, vì có thành là có hoại. Cho nên, nếu trong kinh có từ “thành đạo”, cũng chỉ là tạm dùng từ ngữ để chỉ cho sự nhận lại Diệu tâm Viên Giác của chính mình, cái Diệu tâm sẵn có mà bấy lâu mình quên. Tự tánh vốn tự đầy đủ, trước quên tự tánh chạy theo trần cảnh nên là chúng sanh, nay nhận lại tự tánh Viên Giác thì thấy viên mãn đồng như chư Phật. Vì vậy, nói “không thành đạo” có nghĩa là ở đây không có người thành đạo và cũng không đạo để thành.

Bồ tát ở trong này,
Hay phát Tâm Bồ đề.
Chúng sanh ở đời mạt, 
Nương đây khỏi tà kiến! ”

Vì sao trong nhân cách của các vị Bồ tát, thường nói đến phát Tâm Bồ đề? - Tâm Bồ đề của một vị Bồ tát là tâm cần cầu sự giác ngộ tối thượng, và sau đó giáo hóa chúng sanh (Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh). Người phát Tâm Bồ đề là làm sống dậy một khát vọng nồng cháy mong đạt đến chân lý tuyệt đối, trong đó có sự thao thức một cách nhiệt thành và miên trường, không gián đoạn. Người phát Tâm Bồ đề, dù chưa giác ngộ viên mãn, nhưng ít ra cũng có một lần nhận được tự tánh của mình, để có một niềm tin mãnh liệt rằng tất cả chúng sanh, dù là động vật hạ đẳng, cũng đều có Phật tánh như nhau. Từ niềm tin đó, Bồ tát nguyện cứu độ chúng sanh muôn loài, bình đẳng không phân biệt. Đây chính là nhân cách, là tinh thể của Bồ tát Đại thừa, bởi giác ngộ này là giác ngộ tột cùng, công hạnh này là đại hạnh, mật hạnh. Kinh điển Đại thừa dựng lên hình ảnh các vị Bồ tát khuếch đại tự do; chúng sanh càng đau khổ, Bồ tát càng lăn xả vào cuộc đời để cứu độ chúng sanh cùng khắp pháp giới chứ không bao giờ nhập Niết-bàn. Bồ tát nhiều đời gieo duyên giáo hóa chúng sanh càng nhiều, thì quyến thuộc vây quanh càng đông đảo.

Nếu xét về nội dung, Tâm Bồ đề có ba đặc tính quan trọng. Một là ý chí hiến dâng. Hai là tình thương rộng lớn. Ba là trí tuệ siêu việt. Ý chí hiến dâng là tinh thần phụng sự không biết mỏi mệt, hiến dâng cả cuộc đời mình cho đại cuộc, vì đại cuộc mà tu hành: Đây là Đại hùng, Đại lực. Tình thương rộng lớn là tình thương ban rãi cho muôn loài chúng sanh một cách bình đẳng, không hạn cuộc, không phân biệt: Đây là Đại từ, Đại Bi. Trí tuệ siêu việt là giác ngộ tánh Viên Giác, nhận ra Phật tánh thường trụ và y đó tu hành; Bồ tát siêu việt tất cả nhị kiến, tất cả ý niệm lưỡng phân, tất cả thời gian và không gian: Đây là Đại giác ngộ.

Một điều chúng ta cần nhớ, sự giác ngộ tối thượng không bao giờ có được nhờ tiệm tu, mà chỉ có thể nhận ra cái chân thường trong một chớp mắt, một sát-na. Giác ngộ là thành quả của trực giác chớ không phải của suy luận, của ý thức diễn tiến từ từ. Khi nào ý thức còn có chỗ bám, là còn trở ngại trên con đường giác ngộ tối thượng, đó chỉ tạo thành những khái niệm hời hợt bên ngoài sự vật mà thôi. 

Học kinh văn Đại thừa, chúng ta thấy nhân cách của Bồ tát rất khác với tinh thần của kinh A-Hàm. Tiểu thừa nhấn mạnh vào quả A-la-hán, hành giả nhất tâm diệt dục và diệt bản ngã để cầu giải thoát cho riêng mình. Bồ tát Đại thừa một mặt nỗå lực hướng về sự giác ngộ tuyệt đối; mặt khác luôn luôn sẵn sàng hy sinh bản thân để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Hạnh nguyện của Bồ tát, vì vậy mênh mông hơn, sự giác ngộ cao tột hơn, và ý chí siêu xuất hơn các bậc A-la-hán. Cho nên, nói đến sự giác ngộ của Bồ tát là Đại giác ngộ, nói về ý chí là Đại ý chí, nói về tình thương và hạnh nguyện độ sanh là Đại Từ, Đại Bi, Đại Nguyện. Chúng ta học kinh Đại thừa, nên lấy đó làm nền tảng soi rọi vào tâm thức của mình, mới có thể hiểu được ý nghĩa sâu mầu của kinh và yếu chỉ của Thiền tông.

Một điều nữa, chúng ta nếu để ý sẽ thấy Đức Phật thường đề cập đến các hình ảnh huyễn, mộng, bóng trong gương... Chủ yếu của Phật cho chúng ta hiểu rằng, sống là sống trong huyễn mộng, chết cũng là chết trong huyễn mộng, mà khi tỉnh giấc mới biết sống chết chỉ là giấc mộng đêm qua, chỉ có trong ảo tưởng. Tất cả các pháp đều là không, vì nó không có tự thể. Khoa học hiện đại đã đi vào bản chất cực vi của vật thể, đã chứng minh rằng muôn vật không có tính đồng nhất, mà là tập hợp của những cấu trúc khác tạo thành. Đạo Phật đã đi trước khoa học rất xa, vì từ 2500 năm trước, Phật đã thuyết lý duyên sinh, và kinh điển Đại thừa đã lấy đó xây dựng tinh thần huyễn mộng đối với tất cả các pháp.

Tóm lại, chương Văn Thù chúng ta vừa khảo sát là chương quan trọng nhất trong kinh Viên Giác. Trong chương này có hai điểm đặc biệt cần lưu ý: Một là nói về Nhơn địa pháp hạnh của Như Lai để làm tiêu chuẩn, làm chánh nhơn tu hành đạt giác ngộ tối thượng. Hai là, nói về các hàng Bồ tát phát Bồ đề tâm, và cả chúng sanh đời mạt, phải làm sao xa lìa các thứ bệnh, không rơi vào tà kiến. Hai điểm này bao quát hết ý nghĩa của các chương sau, nên hiểu được chương Văn Thù, chúng ta có thể hiểu được phần căn bản của toàn bộ kinh Viên Giác vậy.


III- CHƯƠNG PHỔ HIỀN 

      Lúc bấy giờ, Bồ tát Phổ Hiền ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, quỳ dài chắp tay mà bạch Phật rằng: “Đức Đại bi Thế Tôn! Nguyện Ngài vì các chúng Bồ tát đến trong hội này và tất cả chúng sanh tu theo Đại thừa trong thời mạt pháp, một khi nghe đến cảnh giới Viên Giác thanh tịnh này, làm sao tu hành? 

      Bạch Đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh kia biết được các pháp là huyễn, thân tâm cũng huyễn, thì làm sao dùng huyễn trở lại tu huyễn? Nếu tánh của các huyễn tất cả đều diệt, thì không có thân tâm, vậy ai tu hành? Vì sao lại nói tu hành như huyễn? Nếu các chúng sanh không chịu tu hành, thì đối trong sanh tử thường ở trong huyễn hóa mà chưa từng rõ biết cảnh giới như huyễn, vậy làm sao khiến cho tâm vọng tưởng được giải thoát? Mong Ngài vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp mà bày ra phương tiện thứ lớp tu tập, khiến các chúng sanh hằng lìa các huyễn”. Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, lập đi lập lại như vậy ba lần.

      Khi ấy, Đức Thế Tôn bảo Bồ tát Phổ Hiền rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì các hàng Bồ tát và chúng sanh đời mạt, tu tập như huyễn Tam muội của Bồ tát, phương tiện tiệm thứ khiến các chúng sanh được lìa các huyễn. Ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói”. Lúc ấy, Bồ tát Phổ Hiền hết sức vui mừng, vâng theo lời dạy và cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe.

      “Này Thiện nam tử! Tất cả các thứ huyễn hóa của chúng sanh đều sanh trong Diệu tâm Viên Giác của Như Lai, giống như hoa đốm từ hư không mà có. Huyễn hoa tuy diệt, nhưng tánh của hư không vẫn không hoại.

      Huyễn tâm của chúng sanh lại nương vào huyễn mà diệt. Các huyễn diệt hết, giác tâm cũng chẳng động. Y nơi huyễn mà nói là giác thì cũng gọi là huyễn. Nếu nói có giác, vẫn chưa lìa huyễn; nhưng nói không có giác, cũng lại như vậy. Thế cho nên huyễn diệt được gọi là bất động.

      Này Thiện nam tử! Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt, cần phải xa lìa tất cả cảnh giới hư vọng huyễn hóa. Do vì cái tâm-xa-lìa thường được giữ gìn vững chắc, nên cái tâm như-huyễn đó cũng phải xa lìa luôn. Xa lìa là huyễn, cũng lại xa lìa; lìa cái xa lìa huyễn cũng phải xa lìa. Khi đến chỗ không còn xa lìa được, tức trừ hết các huyễn. Ví như cọ cây lấy lửa, hai khúc cây nương vào nhau, lửa phát sanh đốt cháy cây, cây hết lửa tắt, tro bay khói mất. Dùng huyễn tu huyễn cũng như thế, các huyễn tuy hết nhưng không rơi vào đoạn diệt. 

      Này Thiện nam tử! Biết được huyễn thì lìa huyễn, không cần có phương tiện gì cả. Lìa huyễn liền gọi là giác, không cần thứ lớp tu tập. Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt phải y nơi đây tu hành, như vậy mới có thể hằng lìa các huyễn”.

      Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn trùng tuyên lại nghĩa này mà nói kệ rằng:

      “Phổ Hiền, ông nên biết!
      Tất cả các chúng sanh 
      Huyễn vô minh vô thủy
      Đều từ tâm Viên Giác 
      Chư Như Lai kiến lập.
      Giống như hoa hư không 
      Nương không mà có tướng
      Hoa trong không dù diệt
      Hư không vẫn bất động.
      Huyễn từ các Giác sanh
      Huyễn diệt, Giác viên mãn
      Giác tâm vốn bất động.
      Nếu các Bồ tát kia
      Và chúng sanh đời mạt
      Thường hay xa lìa huyễn,
      Khi các huyễn đều lìa
      Như trong cây sinh lửa,
      Cây hết lửa lại tắt.
      Giác thì không thứ lớp
      Phương tiện cũng như thế”. 

      Sau khi nghe Phật khai thị cảnh giới Viên Giác cho hàng đốn cơ đốn ngộ (chương Văn Thù), Bồ tát Phổ Hiền, với hạnh nguyện lớn, với lòng từ bi vô hạn, e rằng những chúng sanh căn cơ thấp kém sẽ khó lãnh hội để ngộ nhập cảnh giới này. Vì vậy, Ngài thưa hỏi Phật, cầu pháp phương tiện tiệm thứ để chúng sanh nương vào đó tu hành.

      Ý nghĩa của hai chữ Phổ Hiền là gì?

Phổ là khắp, nghĩa là hóa độ chúng sanh cùng khắp pháp giới; Hiền là địa vị tu chứng của Ngài, đã gần đến bậc Đại Thánh. Ở địa vị tu chứng này mà còn thưa hỏi Phật về phương tiện thứ lớp tu hành, rõ ràng là Ngài vì chúng sanh đời mạt. Chúng ta thấy ở chương Văn Thù, đặt nặng về Trí chứng, còn chương Phổ Hiền đặt nặng ở Hạnh tu. Trí -Hạnh cùng tiến thì Vô thượng Bồ đề mới có thể viên thành. Đây là lý do khiến hai chương Văn Thù và Phổ Hiền đi liền nhau, mở đầu toàn bộ bản kinh Viên Giác. 

      Phổ Hiền là tiêu biểu cho Hậu-đắc-trí, Phương-tiện-trí, Quyền-trí. Đó là chỉ cho Đại bi, Đại hạnh, Đại nguyện. Hậu-đắc-trí là trí tuệ phát sanh sau khi đã giác ngộ, khởi phát diệu dụng của tự tánh đi vào thế giới sai biệt để hóa độ tất cả chúng sanh. Bồ tát Phổ Hiền có mười đại nguyện, đầy đủ ý nghĩa tự lợi và lợi tha, luôn luôn mong Tam Bảo thường còn ở thế gian để tất cả chúng sanh đều có nơi nương tựa. Thật ra, mỗi Bồ tát sơ phát tâm đều phải thực hành mười đại nguyện đó, và bất cứ ai, nếu nhận rõ tự tánh Viên Giác của mình và tu theo Đạo Bồ tát, thì đều là Bồ tát Phổ Hiền.

Như đã nói, Bồ tát Văn Thù tượng trưng cho Đại-trí, còn Bồ tát Phổ Hiền tượng trưng Đại-hạnh. Văn Thù cỡi sư tử, mang ý nghĩa là, một người khi nhận ra tự tánh Viên Giác, người đó có thể rống tiếng rống sư tử, chinh phục được tất cả tà ma ngoại đạo, giống như sư tử là chúa sơn lâm, khi cất tiếng thì muôn loài cầm thú đều khiếp sợ. Phổ Hiền cỡi voi trắng sáu ngà, voi là thú to lớn tượng trưng hạnh nguyện lớn; sáu ngà tượng trưng lục độ - hình ảnh này thể hiện đại hạnh đại nguyện của Bồ tát Đại thừa là Lục độ Ba-la-mật. Như vậy, Giác ngộ và Hạnh nguyện là hai điểm nổi bật trong nhân cách của một Bồ tát, là trọng tâm tu hành của một hành giả nếu muốn thành tựu giác ngộ tối thượng. Bồ tát luôn luôn phối hợp tình thương với trí tuệ và điều hòa được trí tuệ với tình thương. Không bao giờ các Ngài có trí tuệ rồi mà lại an nhiên hưởng niềm vui giải thoát cho riêng mình, các Ngài khi nào cũng muốn đem đại trí tuệ đó nhiêu ích cho chúng sanh. Chính nhờ đại trí mới phá sạch căn bản vô minh, và nhờ đại hạnh mới viên mãn Phật quả. Cho nên, trong Phật giáo Bắc tông tức Phật giáo Đại thừa, sau khi thọ giới Tỳ kheo, còn thọ 58 giới Bồ tát để bắt đầu làm một Bồ tát sơ phát tâm, hành trì theo hướng lợi mình - lợi người. 

      Một điều cần lưu ý, văn kinh Đại thừa rất giàu tượng trưng, những hình ảnh trong đó luôn là biểu tượng hóa, thần thánh hóa. Nếu chỉ chấp vào văn tự để hiểu một cách thật thà trên sự tướng, chúng ta không thể nào nắm bắt được cái cốt lõi của đoạn kinh. Vì vậy, khi học đến chương này, ta nên hiểu vì sao Bồ tát Phổ Hiền xuất hiện thưa thỉnh Phật dạy về pháp Như huyễn, để làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Chúng ta nên hiểu vì sao mỗi khi làm được một công đức nào dù nhỏ, chúng ta cũng phải hồi hướng cho chúng sanh muôn loài. Tinh thần Tứ hoằng thệ nguyện cũng mang nội dung tự lợi - lợi tha như thế. Có thể nói, giáo pháp của kinh điển Đại thừa là nhằm xác định tinh thể của Bồ tát - đó là lý tưởng tôn giáo và đời sống hiến dâng, là Bồ tát đạo và Bồ tát hạnh của các Ngài.

      Ở đây, chúng ta cũng cần có một nhận định rõ ràng về sự giải thoát và mục đích tu hành của Tiểu thừa và Đại thừa. Sự giải thoát của các vị A-la-hán chỉ bằng Đức Phật về phương diện tiêu cực, mà không thể so sánh nổi về mặt tích cực. Tại sao nói như vậy? - Các văn kinh bảo rằng, những vị A-la-hán sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc làm đã xong, không còn thọ thân sau; nhưng quả vị của các Ngài chỉ như người vừa trả nợ xong mà chưa phải là một nhà đại phú. Các Ngài đối với trần thế đã xong nợ nần, không còn bị trần tục làm hệ lụy, các Ngài đã vượt thoát mọi khổ trược của thế gian. Nhưng các Ngài chưa đủ phước đức như Phật nên không bằng Phật ở chỗ công hạnh lợi tha để viên mãn Phật quả. Đối với Bồ tát Đại thừa, khởi đầu các Ngài phải trực nhận ra Chơn tâm Phật tánh của mình, từ đó trải qua nhiều đời nhiều kiếp giáo hóa chúng sanh, cho đến ngày thành tựu quả vị Phật. Khi giác ngộ tự tánh, các Ngài lập nhiều phương tiện thiện xảo, tùy trình độ căn cơ của mỗi chúng sanh mà sử dụng pháp phương tiện thích ứng. Điều này giải thích vì sao trong kinh Viên Giác có đến 11 vị Bồ tát thưa hỏi Phật về những phương tiện độ sanh, từ Bồ tát Phổ Hiền trở đi. Những phương tiện thiện xảo ấy phát xuất từ tâm đại bi; và tâm đại bi này lại phát xuất từ trí tuệ Bát-Nhã. Như vậy trí - bi và phương tiện cùng sinh hoạt nhịp nhàng trong nhân cách của một Bồ tát.

      “Lúc bấy giờ, Bồ tát Phổ Hiền ở trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên phải ba vòng, quì dài chắp tay mà bạch Phật rằng”: Đây là nghi thức chung trước khi muốn thưa hỏi Phật, ở mỗi chương đều giống nhau.

      “Đức Đại-bi Thế-Tôn! Nguyện Ngài vì các chúng Bồ tát đến trong hội này và tất cả chúng sanh tu theo Đại thừa trong đời mạt pháp, một khi nghe đến cảnh giới Viên Giác thanh tịnh này, làm sao tu hành? ”: Bồ tát Phổ Hiền, sau khi nghe Phật giảng về cảnh giới Viên Giác thanh tịnh, vì các Bồ tát trong pháp hội và vì chúng sanh đời mạt, nên thưa hỏi Phật về phương pháp để chứng ngộ cảnh giới này. Đặc biệt, Ngài chú trọng Hạnh Đại thừa, nên dùng từ “Chúng sanh tu theo Đại thừa trong đời mạt pháp”.

      “Bạch Đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh kia biết được các pháp là huyễn, thân tâm cũng huyễn thì làm sao dùng huyễn trở lại tu huyễn? Nếu tánh của các huyễn tất cả đều diệt, thì không có thân tâm, vậy ai tu hành? Vì sao lại nói tu hành như huyễn? Nếu các chúng sanh không chịu tu hành, thì đối trong sanh tử thường ở trong huyễn hóa mà chưa từng rõ biết cảnh giới như huyễn, vậy làm sao khiến cho tâm vọng tưởng được giải thoát? Mong Ngài vì tất cả chúng sanh đời mạt pháp mà bày ra phương tiện thứ lớp tu tập, khiến các chúng sanh hằng lìa các huyễn. Nói lời ấy rồi, năm vóc gieo xuống đất, lập đi lập lại như vậy ba lần”: Đoạn này diễn tả 3 điều thắc mắc của Bồ tát Phổ Hiền:

      1- Chúng sanh tu theo Đại thừa nghe nói đến cảnh giới Viên Giác thanh tịnh, biết tất cả các pháp đều là huyễn, đến thân tâm này cũng là huyễn. Nhưng khi tu hành là tu trên ba nghiệp Thân-khẩu-ý, nghĩa là nương vào thân tâm mà tu. Thân tâm đã huyễn thì hạnh tu cũng huyễn, vậy làm sao dùng thân tâm huyễn để tu cái hạnh huyễn?

2- Nếu tu hành đến khi tất cả huyễn tánh đều dứt, biết thân tứ đại giả hợp và tâm duyên ảnh sáu trần đều không có. Thân tâm đã không thì lấy ai tu hành? Tu hành không thể được, tức không có vấn đề tu; tại sao còn nói tu hành như huyễn?

3- Chúng sanh xưa nay không chịu tu hành, thường lưu chuyển trong sanh tử huyễn hóa mà không biết đó là cảnh huyễn. Tâm đã lạc vào trong vọng tưởng, khi nghe bảo “thân tâm như huyễn, tu hành như huyễn”, vọng tưởng càng ngày càng thêm mà không dụng công tu tập. Như vậy, làm thế nào để được giải thoát? 

Sau khi nêu lên ba thắc mắc, Bồ tát Phổ Hiền thiết tha cầu Phật chỉ dạy phương tiện thứ lớp để chúng sanh đời mạt nương vào đó tu hành, xa lìa được các huyễn. Lòng thiết tha thưa thỉnh ấy thể hiện bằng hình ảnh năm vóc gieo xuống đất và lập lại lời thưa hỏi ba lần.

      “Khi ấy, Đức Thế-Tôn bảo Bồ tát Phổ Hiền rằng: “Lành thay! Lành thay! Này Thiện nam tử! Các ông mới có thể vì các hàng Bồ tát và chúng sanh đời mạt, tu tập Như huyễn Tam muội của Bồ tát, phương tiện tiệm thứ khiến các chúng sanh được lìa các huyễn. Ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói”. Lúc ấy Bồ tát Phổ Hiền hết sức vui mừng, vâng theo lời dạy và cùng đại chúng lắng sâu tâm thức mà nghe”: Đây là lời khen và hứa khả của Đức Phật đối với Ngài Phổ Hiền, chủ yếu sẽ giảng về Như huyễn Tam muội của Bồ tát. Vậy Như huyễn Tam muội là gì? 

Tam muội được dịch là Chánh định hay Chánh thọ; Như huyễn có nghĩa là tất cả các pháp đều huyễn nhưng luôn luôn ở trong Như tánh. Như huyễn tam muội là ở trong chánh định mà quán triệt được lý Như huyễn của tất cả các pháp; lại vẫn ở trong chánh định mà hiện làm biết bao việc như huyễn để độ chúng sanh. Lý Như huyễn rất sâu mầu, không thể tư duy hay quán sát mà hiểu được. Nếu chúng ta còn thấy có tâm năng quán và cảnh sở quán, còn phân biệt cái biết và cái bị biết, thì chúng ta không thể nào thẩm thấu được nghĩa lý sâu xa này.

      Chúng sanh thường chấp trước vào các pháp, thấy các pháp đều thật. Cho nên, một trong những khí giới tuyệt hảo để hủy diệt sức mạnh của sự chấp trước này, là tuyên bố rằng tất cả các pháp đều như mộng, sương, điện chớp... Đó là lý do Phật nói về lý Như-huyễn. Như huyễn không có nghĩa là từ chối thế giới hiện thực, mà nhìn thấy thế giới bằng tri kiến như thật. Khi quán chiếu các pháp một cách sâu xa, hiểu muôn sự muôn vật đều là duyên sinh giả hợp, chúng ta thấy rõ các pháp không phải là chính nó, mà do vay mượn những thứ không phải nó để tạo thành. Đến mức độ cao hơn, chúng ta thấy đương thể đã là không, các pháp hiển hiện nhưng không có thực thể, đó là cái thấy bằng trực giác Bát-Nhã. Cho nên, khi nói lý Như Huyễn, Đức Phật muốn phát khởi trong tâm chúng sanh một tri kiến như thật. Khi ánh bình minh giác ngộ bừng lên, thế giới sẽ hiện bày toàn bộ sự thật trước mắt ta, tự nhiên ta thể nhập Như huyễn Tam muội.

      Một câu hỏi đặt ra: Chúng ta quán chiếu thấy rõ các pháp do duyên sinh, ta biết chúng không thật. Nhưng trong cuộc sống đời thường, khi trần cảnh kéo lôi, sao ta vẫn thấy có thật và vẫn bị dính mắc buộc ràng? - Bởi vì tập khí nhiều đời vẫn còn, chúng ta lại chưa hoàn toàn thẩm thấu lý Như huyễn nên vẫn thấy các pháp thực sanh thực diệt. Vì vậy, dù đã biết đã hiểu về tự tánh không của tất cả các pháp, nhưng phải tu nhiều đời nhiều kiếp mới có thể hoàn toàn thấu triệt và thâm nhập Như huyễn tam muội. 

      “Này Thiện nam tử! Tất cả các thứ huyễn hóa của chúng sanh đều sanh trong Diệu tâm Viên Giác của Như Lai, giống như hoa đốm từ hư không mà có. Huyễn hoa tuy diệt, nhưng tánh của hư không vẫn không hoại”: Đoạn này có ý nghĩa rất sâu xa. Tất cả huyễn hóa của chúng sanh đều sanh trong Diệu tâm Viên Giác của Như Lai. Chúng ta có thể tin điều này không? Khi đưa cây viết lên, tất cả chúng ta đều thấy cây viết - cây viết này sinh trong Diệu tâm Viên Giác của Như Lai. Khi đánh một tiếng chuông, tất cả chúng ta đều nghe - tiếng chuông này cũng sanh trong Diệu tâm Viên Giác của Như Lai. Như vậy, cái thấy và cái nghe đó đều nằm trong tâm Viên Giác.

      Khi ấn vào mắt, ta thấy có hoa đốm loạn xạ trong hư không; khi bỏ tay ra, hoa đốm biến mất. Hoa đốm ấy sanh ra từ đâu? - Từ hư không mà sanh, rồi cũng diệt trong hư không. Nhưng hoa đốm dù sanh dù diệt, hư không vẫn bất động. Cũng vậy, tất cả các pháp tức sáu trần, sáu căn cho đến thức tâm phân biệt, là những thứ huyễn hóa của chúng sanh, đều sanh từ Diệu tâm Viên Giác của Như Lai. Thật ra, phải nói là “Tâm Viên Giác Như Lai” chứ không là “Tâm Viên Giác của Như Lai”, vì đó chính là Diệu tâm ở mỗi chúng ta vậy. Nếu không có Diệu tâm này, chúng ta sẽ đồng như gỗ đá vô tri vô giác. Cho nên, ta phải nhân nơi những huyễn hóa này mà nhận ra tâm Viên Giác của chính mình.

      “Huyễn tâm của chúng sanh lại nương vào huyễn mà diệt”: Tâm chúng ta sanh rồi diệt, buồn - thương - giận - ghét thay đổi không ngừng, đó là huyễn tâm, nương nơi sáu trần mà khởi sinh. Là huyễn tâm nên huyễn sinh, mà huyễn sinh thì phải huyễn diệt.

      “Các huyễn diệt hết, giác tâm cũng chẳng động”: Giác tâm chính là cái Thường biết, là cái liễu liễu thường tri. Khi tiếp xúc với sáu trần sanh tâm phân biệt, nhưng nếu chúng ta biết là huyễn thì tự nhiên nó diệt. Tuy các huyễn tận diệt mà cái biết về các huyễn - tức cái giác tâm ấy, vẫn luôn bất động.

      “Y nơi Huyễn mà nói là Giác thì cũng gọi là Huyễn”: Giờ đến một tầng sâu hơn. Khi tôi thấy sắc, tôi biết sắc này là huyễn. Như vậy có cái huyễn bị biết và có cái giác hay biết. Cái giác này cũng là một danh từ rỗng, cũng gọi là huyễn (huyễn giác).

      “Nếu nói có Giác, vẫn chưa lìa Huyễn”: Đây là tầng nhận định thứ ba. Nếu nói tôi có một cái giác tâm để giác được cảnh huyễn và giác huyễn, vừa khởi niệm vi tế ấy, thì cái biết đó cũng vẫn là huyễn.

      “Nhưng nói không có Giác, cũng lại như vậy”: Nói có Giác là chấp có, thành sai. Còn nếu nói không có Giác là chấp không, vậy đồng với gỗ đá, thế nên cũng lầm luôn.

      “Thế cho nên huyễn diệt được gọi là bất động”: Danh từ tạm dùng là Huyễn thân - Huyễn tâm - Huyễn cảnh... Khi các huyễn đã diệt, tôi biết tôi đang ở trong trạng thái bất động. Chỉ thầm biết vậy thôi mà không khởi niệm, vì vừa khởi niệm mình được bất động thì lập tức bất động trở thành động rồi. Hiểu thấu đáo điều này thì khi tọa thiền, chúng ta mới buông được một cách triệt để. Nếu tri vọng mà còn phân biệt năng sở, lấy cái vọng-hay-biết buông cái vọng-bị-biết, rồi chấp vào cái hay biết đó thì vọng cứ còn hoài. Khi buông vọng ta thấy yên, nhưng còn có một cái cứ lom lom nhìn vào cái yên đó - giống như có một người gác cửa - rồi tự nhận đó là cái năng-tri, thì cái năng-tri lại thành sở-tri mất rồi! Cho nên, khi ngồi thiền, chỉ ngồi để mà ngồi, biết tất cả mà không khởi niệm. Lúc này không thể diễn tả được phải dụng công như thế nào, vì không phải tình trạng dụng công, cũng không phải tình trạng không dụng công. Chỉ tạm gọi là trạng thái Biết rõ mà thôi.

      “Này Thiện nam tử! Tất cả Bồ tát và chúng sanh đời mạt, cần phải xa lìa tất cả cảnh giới hư vọng huyễn hóa”: Đức Phật tiếp tục nói về lý Như huyễn và nhấn mạnh vấn đề xa lìa (viễn ly) tất cả cảnh giới hư vọng. Đây bắt đầu phá chấp tầng thứ nhất.

      “Do vì cái tâm xa lìa thường được giữ gìn vững chắc, nên cái tâm như huyễn đó cũng phải xa lìa luôn”: Đức Phật phá thêm một tầng nữa. Đây là lối công phá của Bát Nhã, phá hết lớp này đến lớp khác. Tinh thần Bát Nhã là phá sạch trơn, phá đến tận cùng những chấp trước của chúng sanh: chấp có, chấp không, chấp vừa có vừa không, chấp chẳng có chẳng không..., đến 20 cách phá. Chúng ta khi tọa thiền, biết vọng liền buông; nhưng khi hết vọng lại chấp cái không vọng cho là tánh mình. Buông hết cái này thì chấp vào cái khác, sợ khi buông bỏ hết, mình không còn gì. Chính nỗi sợ đó làm chúng ta bị vướng mắc, không bao giờ buông được sạch trơn. Nhà Thiền chủ trương, phải buông đến độ mình cảm thấy như mình đang rớt trong hư không; lúc ấy cứ để cho chết một lần, rồi sẽ sống lại trong sự vĩnh hằng. Đó gọi là “Tuyệt hậu tái tô”. 

      Ở đây, Đức Phật dạy rằng, khi chúng ta xa lìa được các cảnh và xa lìa luôn cái tâm năng biết về các cảnh đó, thì chúng ta lại chấp vào cái tâm xa lìa ấy cho là thật. Vì cho là thật nên giữ gìn vững chắc. Thật ra, tâm xa lìa ấy cũng chỉ là huyễn, nên cũng phải xa lìa luôn.

     “Xa lìa là huyễn, cũng lại xa lìa; lìa cái xa lìa huyễn cũng phải xa lìa”: Chúng ta phải biết cái niệm xa lìa đó là huyễn, nên cần xa lìa nó. Cho đến cái tâm lìa cái xa lìa huyễn, tức còn có một cái để lìa xa nữa, cái đó cũng là huyễn, vì thế cũng phải xa lìa luôn. Đoạn này quá chi ly nên rất khó hiểu. Có thể nói một cách khác: Vọng là huyễn, cái biết vọng cũng là huyễn nên cần buông bỏ, cái biết buông bỏ đó cũng là huyễn nên phải buông luôn.

      Tóm lại, trong đoạn này chủ yếu Đức Phật muốn nói Cái tâm năng biết về các pháp, tâm này là huyễn, gọi là năng huyễn, còn các pháp bị biết là sở huyễn. Sở huyễn buông, Năng huyễn cũng phải buông: Đó là tầng thứ nhất. Khi lìa cái Năng huyễn - Sở huyễn, ta còn một cái biết về sự xa lìa này; cái biết này cũng phải buông bỏ: Đó là tầng thứ hai. Đến niệm vi tế về cái tâm xa lìa này, ta lại phải buông luôn; cứu-cánh-huyễn vì vậy cũng lìa sạch trơn: Đó là tầng thứ ba. Đến lúc ta thấy-nghe-hay-biết rõ ràng mà không còn một niệm nào đối với các pháp, là lúc “rõ ràng thường biết” mà đã “bặt hết các duyên”. Các pháp lúc này luôn luôn hiện hữu trong trạng thái như thị, nhưng trong ta không có thêm một cái hay biết nào, một cái buông trừ nào; tuy ta ở chỗ động mà vẫn bất động, thản nhiên giữa các pháp. Lúc này năng-huyễn, sở-huyễn, tâm-xa-lìa-huyễn, đến cứu-cánh-huyễn đều buông một cách sạch sẽ tận cùng. Đây là lúc mà “Ba mươi năm sau, sãi tôi thấy núi vẫn là núi, sông vẫn là sông”, là tầng thứ tư.

      “Khi đến chỗ không còn xa lìa được, tức trừ hết các huyễn”: Đây là đến chỗ vô sở ly, tức vô sở đắc, thì trừ được hết các huyễn. Ở đây, để minh họa cho rõ ý này, Đức Phật lấy ví dụ :

      “Ví như cọ cây lấy lửa, hai khúc cây nương vào nhau, lửa phát sanh đốt cháy cây, cây hết lửa tắt, tro bay khói mất”: Đức Phật phân biệt bốn giai đoạn: Giai đoạn một là hai khúc cây cọ vào nhau phát sinh ra lửa, ý muốn nói căn và trần tác động với nhau sanh ra thức tâm phân biệt. Căn là Năng huyễn, trần là Sở huyễn, thức tâm phân biệt là cái biết được huyễn. Lửa phát dụ cho sự xa lìa huyễn cảnh. Giai đoạn hai là cây cháy hết, dụ cho huyễn tâm được xa lìa, tức là sự buông bỏ cái biết về sự xa lìa. Giai đoạn ba là tro bay, dụ cho sự buông bỏ luôn cái biết về sự xa lìa huyễn tâm và huyễn cảnh, tức là cái mà Phật gọi là “lìa cái xa lìa huyễn”. Cuối cùng là khói mất ở giai đoạn bốn, dụ cho việc ly huyễn đến toàn triệt rốt ráo, đến chỗ không còn xa lìa được nữa. Bốn giai đoạn này tương ứng với bốn tầng cấp xa lìa đã giảng ở trên.

      “Dùng huyễn tu huyễn cũng như thế, các huyễn tuy hết nhưng không rơi vào đoạn diệt”: Căn là huyễn, trần cảnh là huyễn, cái biết căn trần huyễn cũng là huyễn, lìa cái biết này cũng là huyễn, đến sự lìa cái biết về cái biết huyễn đó cũng phải lìa luôn. Các huyễn bây giờ đã tận diệt, nhưng không phải cuối cùng không còn gì cả, mà ánh bình minh giác ngộ, cái liễu liễu thường tri sẽ xuất hiện, gọi là Tự tánh thường biết. Vì vậy không rơi vào đoạn diệt. Chư Phật và chư Bồ tát đã và đang đi trên đường giác ngộ, cốt để đạt đến chỗ này.

      “Này Thiện nam tử! Biết được huyễn thì lìa huyễn, không cần có phương tiện gì cả. Lìa huyễn liền gọi là Giác, không cần thứ lớp tu tập”: Đây là câu chỉ đạo toàn bộ chương Phổ Hiền - Tri huyễn tức ly, bất tác phương tiện; Ly huyễn tức giác, diệc vô tiệm thứ - Đức Phật giảng về lý Như huyễn theo tinh thần Đốn ngộ, dành cho các bậc thượng căn nhận ra bằng trực giác Bát Nhã. Khi biế