LỜI
TỰA
Lê
Mạnh Thát (*)
Phật
giáo là một hiện tượng văn hoá nước ngoài, truyền vào
Việt Nam vào thời Hùng Vương, khi Việt Nam còn là một nước
độc lập có chủ quyền khoảng vào thế kỷ thứ II-III trước
Công nguyên, với những Phật tử Việt Nam đầu tiên có tên
tuổi như: Chử Đồng Tử và Công chúa Tiên Dung. Vào những
năm đầu thế kỷ Công nguyên, với quá trình bành trướng
về phương Nam, các triều đại Trung Quốc đã bắt đầu xâm
lược các quốc gia người Việt ở phía Nam trong đó có Việt
Nam, mà tên thời ấy là Tây Âu Lạc Việt. Chính trong quá
trình đối phó với cuộc xâm lược bành trướng ở phương
Bắc này, Phật giáo đã trở thành một công cụ đắc lực
cho sự nghiệp đối kháng quá trình đồng hoá các lực lượng
xâm lược phương Bắc của dân tộc Việt Nam.
Phật
giáo vào thời đó được xác định như một con đường “mà
ra ngoài xã hội có thể cứu dân giúp nước, còn ở nhà có
thể thờ phụng cha mẹ và lúc ở một mình có thể dùng để
hoàn thiện bản thân”, như Mẫu Tử đã viết trong Lý Hoặc
Luận (ca.165-225?) vào cuối thế kỷ thứ II sau Tây lịch, khi
một nhà nước độc lập đầu tiên của Việt Nam mang tính
Phật giáo ra đời với nhân vật nổi tiếng Sỹ Nhiếp (136-226).
Như thế, Phật giáo Việt Nam đã được quy định vào
thời Mẫu Tử không chỉ là một đạo sống bình thường
cho từng cá nhân, mà còn là một học thuyết chính trị giúp
người Việt Nam không những giữ vững được bản sắc của
nền văn hoá mà còn giúp họ giữ vững một nước Việt Nam
độc lập có chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Chính xuất
phát từ một quy định như thế về Phật giáo, mà Phật giáo
Việt Nam đã hình thành nên những nét đặc trưng riêng biệt,
lúc tìm hiểu ta thấy nó hoàn toàn không giống Phật giáo
các nước khác. Việc tập hợp lại một số bài thơ thiền
tiêu biểu trong một ngàn năm qua, cụ thể là từ thế kỷ
thứ X – XX, nhất là trong thời Nhà Lý và thời nhà Trần
(thế kỷ X- XIV), giúp chúng ta nhận ra một số nét đặc trưng
ấy.
Nét
đặc trưng thứ nhất là đời sống của Phật giáo Việt
Nam đã được quyện chặt với đời sống chính trị
của đất nước. Điều này thật dễ hiểu vì trong lịch
sử tồn tại của mình, dân tộc Việt Nam phải thường trực
đấu tranh và thậm chí phải vũ trang đấu tranh để bảo
vệ sự tồn tại của chính mình. Cho nên, Phật giáo như một
lực lượng văn hoá của dân tộc không thể tách khỏi cuộc
đấu tranh thường trực này. Từ đó, ta không có gì phải
ngạc nhiên trước những phát biểu của các Phật tử thiền
sư Việt Nam, mang ít nhiều hơi hướng chính trị đối với
đất nước. Và bài thơ đầu tiên trong tuyển tập này là
một dạng bài thơ như thế. Bản thân vị thiền sư này đã
trực tiếp tham gia vào hoạt động chính trị, đặc biệt
trong cuộc chiến tranh Hoa - Việt đầu tiên giữa nước Việt
Nam độc lập và một triều đại đang lên ở Trung Quốc là
nhà Tống. Có thể nói đây là nét đặc trưng xuyên suốt
của nền thơ thiền Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn đầu.
Những vị thiền sư tên tuổi của giai đoạn này
đều có chung một mối quan tâm, hầu hết đều phát biểu
xoay quanh vấn đề chính trị của đất nước. Có thể mối
quan tâm của họ khác nhau, dẫn đến những phát biểu khác
nhau về vấn đề này.
Từ
những phát biểu thuần tuý và rõ ràng là chính trị như bài
Quốc Tộ của Pháp Thuận, cho đến những phát biểu trông
bên ngoài như những suy ngẫm về đạo đức hay triết lý,
cụ thể là bài Thi Đệ Tử của thiền sư Vạn Hạnh, chúng
ta thấy bàng bạc những nỗi niềm lo nghĩ về đất nước,
về vận mệnh của dân tộc, từ đó chúng vẫn hàm chứa
một nội dung chính trị nào đó. Chính nét đặc trưng đầu
tiên này sẽ quy định toàn cảnh thơ thiền của Phật giáo
Việt Nam.
Hai
lời khuyên của Quốc sư Phù Vân, tức Thiền sư Trúc Lâm,
với vua Trần Thái Tông trên đỉnh núi Yên Tử khi nhà vua
trốn hoàng cung lên đó vào tháng 4 năm 1236 vì có chuyện
bất đồng ý với Thiền sư Trần Thủ Độ, nói lên rất
rõ cái nhìn phóng khoáng cũng như quan điểm trị nước đặc
sắc của Phật giáo. “Trong núi vốn không có Phật, Phật
ở ngay trong lòng. Lòng nặng mà hiểu, đó chính là chân Phật.
Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức thành Phật,
không nhọc công tìm kiếm ở bên ngoài.” Và “Phàm là bậc
nhân quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn
của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của
mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ thì bệ hạ không về
sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ
đừng chút cao lãng mà thôi”. Trần Thái Tông đã thực hiện
triệt để lời nhắn nhủ của Quốc sư, trở nên không những
là một trong những vị vua xuất sắc của nhà Trần mà
còn là một Thiền sư trác tuyệt của thời đại, như bài
thơ thiền lung linh của ông trong tuyển tập này.
Cũng
nhờ quy định về chức năng của Phật giáo trong đời sống
dân tộc mà Mẫu Tử đề ra, những người Phật giáo Việt
Nam đã biết dừng lại đúng chỗ trong quan hệ giữa Phật
giáo và nhà nước Việt Nam. Vào thời đại của họ, có lẽ
vấn đề tách rời giữa giáo quyền và thế quyền chưa được
đặt ra một cách bức thiết. Tuy nhiên, những người Phật
giáo Việt Nam trực tiếp tham gia chính trị đầu tiên này
biết được những giới hạn của mình. Cho nên, sự tranh
chấp giữa giáo quyền và thế quyền không xảy ra một cách
đẫm máu như đã từng xảy ra ở các nơi trên thế giới.
Đây là nét đặc trưng thứ hai của nền thơ thiền Phật
giáo Việt Nam. Có lẽ họ không ý thức một cách tự giác
mà sau này các nhà viết lịch sử đã nói tới, đó là quan
hệ giữa nhà nước với nhà thờ (Phật). Nhưng có thể họ
đã thấp thoáng thấy mối quan hệ này và cố tình rời hai
thực thể đó. Giáo quyền và thế quyền là hai lĩnh vực
khác nhau. Và thực tế bản chất, giáo lý Phật giáo không
bao giờ cho phép xây dựng nên một giáo quyền. Không những
thế, đời sống Phật giáo là một đời sống khiêm cung,
đòi hỏi những người Phật tử phải tôn trọng người khác
như những vị Phật sẽ thành. Vì thế, nói đến giáo quyền
Phật giáo là điều xa lạ.
Dẫu
vậy, do những người Phật giáo đã tham gia vào đời sống
chính trị và thực tế đã nắm quyền nên dễ xảy ra tham
vọng xây dựng một giáo quyền Phật giáo, từ đó vấn đề
giáo quyền của Phật giáo phải được đặt ra. Điều may
mắn là trong lịch sử Việt Nam những nhân vật Phật
giáo trực tiếp tham gia chính trị đó không hề có một tham
vọng như thế, và họ cũng nói rõ vì sao họ không có tham
vọng.
Đối
với họ cuộc đời con người nhìn trong diễn trình vận hành
bao la của vũ trụ quá nhỏ bé và phù du. Cái vĩ đại nhất
mà con người có thể có trong diễn trình đó là ý chí vươn
lên không chút gì sợ hãi trước bất cứ thay đổi nào của
thế giới tự nhiên cũng như thế giới con người. Xuất phát
từ một nhân sinh quan như thế, Phật giáo Việt Nam đã tránh
cho mình cái hoạ tham quyền cố vị cho đến khi bị hất ra
dòng lịch sử.
Cũng
bắt nguồn từ hoàn cảnh lịch sử của đất nước như vậy,
dòng thơ thiền Việt Nam khi suy ngẫm về thân phận con
người, lúc mô tả về phong cảnh đất nước, cũng không
thoái khỏi quy định của chức năng Phật giáo nói trên. Điều
này cũng dễ hiểu vì Phật giáo đặt sự tồn vong của mình
trong sự tồn vong của dân tộc. Vì sự tồn vong của dân
tộc có liên quan đến sự tồn vong của mỗi cá thể làm
nên dân tộc đó. Cho nên, dù mục tiêu cuối cùng của đời
sống Phật giáo là sự giải thoát, tức là sự đạt đến
tự do tuyệt đối cho mỗi con người, nhưng mục tiêu đó
chỉ đạt được nhờ vào mối tương quan với các cá thể
khác trong một cộng đồng. Đây là quan điểm duyên sanh của
Phật giáo, tức quan điểm cho rằng: Mọi tồn tại chỉ tồn
tại trong tương quan với tồn tại khác. Chính quan điểm duyên
sanh cơ bản này giúp người Phật giáo có một cái nhìn bao
dung không những với chính mình mà còn đối với những người
khác và thế giới quanh mình.
Đọc
thơ thiền Việt Nam như thế sữ gợi cho ta nhiều suy nghĩ,
đặc biệt trong liên hệ với đời sống hiện đại, khi những
tiến bộ khoa học kỹ thuật đã giúp con người có một cuộc
sống gần gũi nhau mà những thế kỷ trước không bao giờ
tưởng tượng nổi. Khi đã songs gần gũi nhau, cũng vì duyên
sanh, con người cảm thấy phải có trách nhiệm đối với
đồng loại của mình cũng như đới với thế giới mình đang
sống. Việc tập hợp lại một số thơ thiền của Việt Nam
giúp người đọc có cái nhìn mới không chỉ về nền văn
hoá trong quá khứ của dân tộc Việt Nam, mà còn từ nền
văn hoá quá khứ ấy xây dựng một lối sống mới trong quan
hệ với đồng loại và với thế giới xung quanh.
(*)
Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu
Phật học Vạn Hạnh, hiện ở TP. Hồ Chí Minh
FOREWORD
Le Manh That (*)
Buddism
is a cultural phenomenon that spread to Vietnam from another country
during the Hung King period in the second anh third century BCE, when Vietnam
was an independent, sovereign state. The earliest Buddism, Chu Dong Tu
anh princess Tien Dung, are well known. In the beginning of the first century
in the Common Era, following a long – term Southern wxpansionist policy,
Chinese dynasties began to invade many Viet nations, including Vietnam,
whose names were then Tay Au anh Lac Viet. It was in the very process to
counter this Northern expansionist aggression that Buddhism had become
for the Vietnamese people an effective vehicle in the resistance against
assimilation and conquest from the North.
At
that time Buddhism was defined as a path that could “in society save
the people and help the country, at home respect and honor the parents,
and when living alone perfect oneself”, as Mau Tu (MouTzu) wrote in Ly
Hoac Luan (ca.165-225CE ?) at the end of the second century when Vietnam`s
first independent govenmet imbued with Buddhism that had been laid down
in the time of Mau Tu wasn`t just an ordinary way of life for individuals,
but also a political doctrine to assist the Vietnamese to not only uphold
their cultural identity but also preserve their indepndent country with
sovereignty and terrtorial integrity. It is precisely because of an origin
determined by these factors that Vietnamese Buddhism had developed
with its unique characteristics that, upon close examination, are distinct
from the many forms of Buddhism in other countries. The collection
of a number of representative Zen poems during the one thousand years,
from the 10th to the 20th century, esp. those of the Ly and Tran dynasties
(the 10th to the 14th centry), will help us uncover these characteristics).
One
of the first distinctive characteristics is the fact that the life of Vietnamese
Buddhism had been strongly merged with the political life of the nation.
This is easy to understand because in the hostory of their existence, the
Vietnamese have to continuously struggle, even resorting to armed struggle,
in order to defend their very survival. For that reason, Buddhism, as the
cultural force of its people, could not separate itself from this constant
battle. We are, therefore, not surprised at statements made by Vietnamese
Buddhists cum Zen masters that carry whiffs of political connotations regarding
the country. Such is the first poem in this Collection. This Zen master
personally took part in political activities, esp. in the first Vietnam
– China war between an independent Vietnam and the rising Chinese dynasty
of Sung. We can say that this is a penetrating feature that characterizes
Vietnamese Zen poetry in its beginning stage.
These
eminent Zen masters shared the same concerns, mainly about the political
status of the country. The nature of their concerns might be different,
leading to different views on the issue. From expressions that are purely
and clearly political, such as the poem “The Nation`s Destiny” of Phap
Thuan, to others that appear from the outside as involving thoughts on
dthics or philosophy, specirilally the poem “Advice to Disciples” by
Zen master Van Hanh, we can find the unmistakable worry about the country
and the fate of its people, which inevitably embodies a political content.
This very first character will determine the overall picture of Vietnamese
Zen poetry.
When
king Tran Thai Tong fled from the royal citadel to Yen Tu mountain in April
1236 because of a major disagreement with Prime Minster Tran Thu Do, National
Teacher Phu Van, aka Zen master Truc Lam, gave him two advices. These highlight
the open attitude and the distinctive Buddhist approach to govenance. “There
is no Buddha in the mountain, the Buddha resides in our heart. The heart
stills to understand, that`s the real Buddha. If your Majesty sees
that Mind, your Mjesty will become the Buddha. There is no need to seek
it outside.” And, “A ruler of the land has to take the people`s wishes
to be his wishes, to take the people`s hearts to be his heart. Now that
the people wish to ask you to return, your Majesty ha no choice but to
return! Your Majesty, however, should not neglect the study of the sutras.”
Tran Thai Tong had carried out these advices scrupulously, and later became
not only of the most illutrious kings of the Tran dynasty, but also an
outstanding Zen master, as seen in the brilliance of his poem in this collection.
It`s
also thanks to the determination of the function of Buddhism in national
life which Mau Tu had broached that Vietnamese Buddhists knew where to
stop in the relation between Buddhism and the State of Vietnam. In their
time, the problem of the separation of religious power and temporal
power had not been urgently posed. Those Vietnamese Buddhists who had first
taken part in political activeties then had already known their limits.
For that reason, the contest between religious and temporal in Vietnam
had never become bloodied as it did in other parts of the world. This is
the second distinctive characterstic of Vietnamese Zen poetry. Perhaps
they did not consciously perceive this issue, which later historians identified,
as the relatien between Church and State. But they might have vaguely recognized
this relation, and made an effort to separate these two realities. Religious
power and temporal power belong to two distinct domains. From its very
nature, Buddhist doctrine never allows the establishment of religious power.
More than that, Buddhist life emphasizes humility and respectfulness, which
require Buddhists to see others as Buddha – to – be. Therefore, to
talk about religious power in Buddhism is alien to its core.
Nevertheless,
as the Buddhists had participated in the political life and in fact wielded
power, it was easy to breed the ambition of building a Buddhist religious
power, which necessitated posing it as an issue. It`s fortunate that in
Vietnamese history, those Buddhist personages directly engaged in politics
had never held such an ambition, and also explained the reason they didn`t.
To them, human life in the infinite process of the universe is too miniscule
and ephemeral. The most majestic thing human beings could achieve in that
process is the will to aspire higher, to be fearless in the face of all
the vicissitudes in the natural as well as the human world. Originating
from such an outlook, Vietnamese Buddhism had a voided the calamity of
greedily clinging to power until being expelled forcefully from the movements
of history.
Originating
from the same historical background, the current of Vietnamese Zen poetry,
in its contemplation on the human condition, or in its depiction of the
country`s landscapes, could not escape from the above – defined function
of Buddhism. This is easy to see because Buddhism put its survival with
in the context of the people`s survival because the survival of the people
is directly related to the survival od each indiviual belonging to the
group. Therefore, even if the ultimate objective of the Buddhist life is
enlighetenment, i.e. the attainment of absolute individual freedom, such
an objective could only be achieved through the relationship with other
individuals within the community. This is based on the Buddhist view of
co – dependent relations, which says that “All existences exist only
in relotions to other existences.” It is this very fundamental co –
dependent view that allows Buddhists to have a tolerant and compassionate
attitude, not only vis – a` - vis oneself but also to other indiduals
and the world.
If
we read Vietnamese Zen poetry in this manner, it will offer us many ideas
for modern life when the world of science and technology has joined people
in such slose connections that arw unthinkable in centuries. When living
closely together, because of the co- dependent relations, people are bound
to feel responsibility for their fellow human beings as well as the world
they live in. The collection of a volume of representative Vietnamese Zen
poems helps the reader realize a new understanding not only the past culture
of the Vietnamese people, but also from that past culture build a new way
of life in relations with our fellow beings and the world.
(*)
Le Manh That, Vice Rector. Van Hanh Institute of Buddhist Research, Ho
Chi Minh City.
TIỂU
SỬ CÁC TÁC GIẢ
POETS’ BIOGRAPHICAL
NOTES
1.
Pháp Thuận (915 – 990)
Thiền
sư họ Đỗ, không rõ quê quán. Tài cao học rộng, có công
lao giúp vua Lê Đại Hành (941 - 1006) nhưng không nhận phong
thưởng, rất được vua kính trọng, thường gọi là Đỗ
Pháp Sư. Tác phẩm chính là “Bồ Tát hiệu sám hối văn”
đã thất truyền, chỉ còn lại bài thơ “Quốc Tộ”.
1.
Phap Thuan (915 – 990)
The
Zen master Phap Thuan was born in 915. His natvive village and give name
remain unknown. He belonged to the tenth generation of the Vinitaruci School
of Vietnamese Zen Buddhism, which was founded in 580 in the Red River Delta
by the Indian monk Vinitaruci. Recognized for his deep knowledge and understanding
of the world, Phap Thuan served as an advisor to King Le Dai Hanh (941
- 1006). This poem is the only poem of the author to survive.
2.
Khuông Việt (930 – 1011)
Tên
thật là Ngô Chân Lưu, dòng dõi Ngô Thuận Đế, quê làng Cát
Lợi, huyện Thường Lạc. Thuộc thế hệ thứ tư dòng Thiền
Vô Ngôn Thông. Được vua Đinh Tiên Hoàng mời hội kiến và
phong làm Tăng Thống, rồi được ban chức Đại Sư (971). Tiếp
tục được vua Lê Đại Hành mời dự vào những việc hệ
trọng của triều đình. Mất ngày 15 tháng hai năm Thuận Thiên
thứ hai (1011), thọ 82 tuổi.
2.
Khuong Viet (933 - 1011)
Zen
master Khuong’s Viet given name was Ngo Chan Luu. He was born in 933
in Cat Low village, Thuong Lac district. He startes out studing Confucianism,
but later decided to become a monk. He belonged to the fourth generation
of the Wall Meditation School of Vietnamese Zen Buddhism, which was fouded
un 820 by the Chinese master Vo Ngon Thong (? - 826) (Wo Yen Tong). By
the age of forty, Khuong Viet was widely noted for his proficiency in Zen.
King Dinh Tien Hoang (970 - 979) bestowed upon him the title “Khuong
Viet The Great Teacher,” and appointed him head of the nation’s Buddhist
organization – the Supreme Patriarch. Under King Le Dai Hanh (941 -
1005), he served as advisor. The Farewell poem, two couplets and a song
are all that remain of his writings.
3.
Vạn Hạnh (? - 1018)
Thiền
sư họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp, lộ Bắc Giang. Xuất
gia năm 21 tuổi, dày công tu đạo, rất có uy tín trong xã hội,
góp nhiều kế sách giúp vua Lê Đại Hành. Thiền sư có công
giúp Lý Công Uẩn lên ngôi Thái Tổ Nhà Lý (1010 – 1028), lập
nên một triều đại ảnh hưởng Phật giáo sâu sắc. Được
tôn là Quốc Sư.
3.
Van Hanh (? – 1018)
Zen
MasterVan Hanh was born in Co Phap village, Bac Giang province. His given
name and birth date remain uncertain. As a young student he mastered all
three philosophies – Confucianism, Taoism, and Buddhism. But it was to
Buddhism that he grew particularly devoted. At the age of 21, he foined
the Luc To temple and belonged to the 12th generation of the Vo Ngon Thong
(Wall Meditation) school. He was a valued advisor to King Le Dai Hanh,
and was instrumental in the founding of the Ly dynasty. King Ly Thai To
(1010 - 1028) appointed him Nationl Teacher. He was widely admired for
his grasp of the political realities and the task of national building.
Only five of his poems survive.
4.
Lý Thái Tông (1028 - 1054)
Vua
Lý Thái Tông tên là Phật Mã, huý Đức Chính, sinh ngày 26
tháng 6 năm Canh Tý (1000) tại châu Cổ Pháp, lộ Bắc Giang.
Lên ngôi năm 1028, ở ngôi 27 năm, mất ngày 1 tháng Mười năm
Giáp Ngọ (1054)
4.
King Ly Thai Tong (1028 - 1054)
King
Ly Thai Tong virth name was Duc Chinh. He was vorn in 1000 in the village
of Co Phap, Bac Giang Province, the eldest son of King Ly Thai To (974
- 1028). Under his rule the country was prosperous and peaceful. He was
intelligent, well versed in martial arts, interested in music, academic
studies, and poetry. He was especially devoted to Buddhism. He paid gread
attention to the welfare of the people and devised policies for general
economic development. He ordered the compilation of the Book of the Criminal
Code to be the basis for the nation’s legal saytem. Unfortunately, that
was lost. Only two poems and two royal proclamations survive.
5.Cứu
Chỉ (? – c. 1059 - 1065)
Thiền
sư Cứu Chỉ, không rõ năm sinh, quê đất Phù Đàm, Châu Minh,
nổi tiếng học sâu, biết rộng. Xuất gia, vào chùa Cảm Ứng,
núi Ba Sơn. Sau, đến tu chùa Quang Minh núi Tiên Du. Được triều
đình trọng vọng, vua Lý Thánh Tông thân tới chùa thăm viếng
nhiều lần. Khoảng những năm 1054 – 1058 Tể tướng Dương
Đạo Gia lập chùa Diên Linh trên núi Long Đột mời Sư về
trụ trì. Mất trong khoảng những năm Chương Thánh Gia Khánh
(1059 - 1065)
5.
Cuu Chi (? – c. 1059 - 1065)
Zen
master Cuu Chi or Dam Cuu Chi was born in Phu Dam village, Chu Minh district,
Bac Ninh province. His familly name and exact date of birth remain unknown.
As a young student, he was said to have declared that “Confucius, Mo
Tsu are biased on Yes; Lao Tsu, Chuang Tzu are biased on No. The world’s
small schemes cannot bring about freedom. Only Buddhism, biased on neither
Yes or No, can end the cycle of birth and death, but it will require the
utmost self – discipline and offorts.”Cuu Chi studied with the great
Zen master Dinh Huong at Cam Ung pagoda and belonged to the seventh generation
of the Vo Ngon Thong (Wall Meditation) school. King Ly Thai Tong three
times asked him to make a visit to the capital, and three times he diclined.
To meet him the king made several trips to his temple. This is his only
poem to survive.
6.
Viên Chiếu (999 - 1090)
Thiền
sư tên Mai Trực, quê Phúc Đường, huyện Long Đàm. Là anh
của bà Linh Cảm Thái Hậu (thân mẫu của Lý Thái Tông). Thông
minh, hiếu học, qua nhiều năm nghiên cứu sâu sắc Thiền học,
có nhiều tác phẩm giá trị, được vua Lý Nhân Tông rất
mực tôn trọng. Mất tháng Chín năm Canh ngọ. (1090), thọ 92
tuổi.
6.
Vien Chieu (999 - 1091)
Zen
master Vien Chieu’s was born Mai Truc in Phuc Duong village, Long Dam
district in 999. He was Queen Linh Cam’s nephew. As a child he was intelligent
and studious. He followed Zen master Dinh Huong on Ba Tieu Mountain and
belonged to the seventh generation of the Vo Ngon Thong school. After three
years he appeared to have gained enlightenment. He had a great talent for
elucidating the dharma, which attracted a large number of disciples in
the capital. He was also a great poet, and wrote poems to expound the practices
of Buddhism. His four major works were lost, except for a few excerpts
from one in Thien Uyen Tap Thap Anh (Collection of Outstanding Zen Masters).
This is the only poem of his that survives.
7.
Ngộ Ấn (1020 – 1088)
Thiền
sư tên là Đàm Khí, người làng Kim Bài, đất Tư Lý, giỏi
chữ Hán và Phạn. Nghiên cứu tinh tường hai kinh Viên Giác
và Pháp Hoa. Dựng đạo tràng tại chùa Long Ấn trên núi Ninh
Sơn, phù Thiên Ứng. Mất ngày 14 tháng 6 năm Quảng Hữu thứ
tư (1088), thọ 69 tuổi.
7.
Ngo An (1020 – 1088)
Zen
master Ngo An’s given name was Dam Khi. He was born in 1020 in Tu Ly
village, Kim Bai district. He began as a student of Confucianism. Unusually
well versed in San krit, at the age of 19, he devoted himdelf to Buddhism,
studying with Monk Quang Tri at Quan Dinh pagoda. Later he moved to a temple
on Ninh Son Mountain in Ung Thien district. He belonged to the eighth generation
of the Vo Ngon Thong school. Only one of his poems survives.
8.
Diệu Nhân (1041 – 1113)
Ni
sư họ Lý, tên là Ngọc Kiều, con gái đầu của Phụng Càn
Vương (em vua Lý Nhân tông, tên là Lý Nhật Trung). Được vua
Lý Thánh Tông đem vào cung nuôi dạy từ nhỏ rồi gả chồng
cho. Sau khi chồng mất, xuống tóc đi tu, thọ giáo với Thiền
sư Chân Không, được thầy đặt đạo hiệu Diệu Nhân. Ngày
Một tháng Sáu năm Quí Tỵ (1113) ngồi kiết già mà tịch,
thọ 72 tuổi.
8.
Dieu Nhan (1041 – 1113)
Zen
master Dieu Nhan was born in 1041 in Phu Dong village, Tien Du district.
The daughter of Phung Can Vuong, King Ly Thanh Tong’s brother, she was
raised by the king in the royal palace. When she came of age the king gave
her in marriage to a highland tribal chief in Chan Dang (Vinh Phu Province
today). After her husband passed away, Dieu Nhan joined the Buddhist order,
studied with Zen master Chan Khong, and later became Head of the 17th generation
of the Vinitaruci school. She was also recognized as one of the two most
distinguishes woman poets of the time. The above poem is the only one extant
today.
9.
Chân Không (1046 – 1100)
Thiền
sư họ Vương, tên Hải Thiềm, người làng Phù Đổng, huyện
Tiên Du, mồ côi sớm, nhưng ham học. Năm 18 tuổi, đến nghe
giảng kinh Pháp Hoa tại chùa Tịnh Lự, núi Đông Cứu, bắt
đầu tỏ ngộ, đến tu ở núi Từ Sơn, nghiên cứu Thiền
học. Được vua Lý Nhân Tông vời vào cung giảng kinh. Tuổi
già, về quê dựng chùa Bảo Cảm. Mất ngày Một tháng Mười
Một năm Canh Thìn (1100) hưởng dương 55 tuổi.
9.
Chan Khong (1046 – 1100)
Zen
master Chan Khong’s given name is Vuong Hai Thiem. He was born in 1045
in Phu Dong village, Tien Du district. As a child he was an avid reader.
At the age of 10, he went on a pilgrimage to all the major temples and
decided to become a monk, belonging to the 16th generation of the Vo Ngon
Thong school. Later he settled on Tu Son Mountain, spending twenty years
deepening his practices. His reputation sgread far and wide. King Ly Nhan
Tong (1072 - 1128) invited him to give dharma talks on the Lotus sutra
to a royal audience. Leaders and cultural icons of the time such as Marshall
Ly Thuong Kiet, Minister Doan Van Kham, and others all held him in high
respect and great affection. The only works of his which still remain in
existence are a farewell poem and record of a few conversations with students.
10.
Mãn Giác (1052 – 1096)
Thiền
sư họ Lý, tên Trường, người đất Lũng Triều, làng An Cách.
Sớm nổi tiếng, được vua Lý Nhân Tông tuyển vào cung và
được ban hiệu là Hoài Tín. Sau, từ quan, đến giáo Thiền
sư Quang Trí thuộc dòng Vô Ngôn Thông, chùa Quán Đảnh, chuyên
tâm nghiên cứu kinh sách, tu đạo đến bậc lãnh tụ của
thiền môn lúc bấy giờ. Được vua Lý Nhân Tông cùng Linh
Nhân Hoàng Thái Hậu rất trọng đãi, mời đến ở chùa bên
cạnh cung Cảnh Hưng để tiện việc học hỏi Phật pháp.
Được vua phong chức Nhập Nội Đạo Tràng Tứ Tử Đại Sa
Môn. Mất ngày 30 tháng Mười Một năm Bính Tý (1096).
10.
Man Giac (1052 – 1096)
Zen
master Man Giac’s given name was Ly Truong. He was born 1052 in Lung
Trieu Village, An Cach area. Widely known as a great cholar while still
young he was inducted into the royal hosehold by King Ly Nhan Tong. He
soon decided, however, to become a monk, and left the court to travel up
and down the country, seeking out friends of similar bent. He gathred obout
him a great number of disciples, and became one of the most prominent monks
of the 8th generation of the Vo Ngon Thong School. This is the second school
of Vietnamese Zen Buddhism, which was founded by the Chinese monk Vo Ngon
Thong. This poem is the only by the author that remains extant.
11.
Từ Đạo Hạnh (c. 1100)
Thiền
sư họ Từ, tên Lộ, người làng An Lãng (?), không rõ năm
sinh. Được Thiền sư Sùng Phạm ở chùa Pháp Vân khai ngộ.
Sau, đến trụ trì chùa Thiền Phúc núi Phật tích. Nổi tiếng
tài cao và y thuật siêu việt. Mất vào khoảng năm 1100 (có
bản chép năm Đinh Dậu, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh
thứ 8, tức năm 1117). Cuộc đời Thiền sư có nhiều giai đoạn
huyền bí.
11.
Tu Dao Hanh (c. 1100)
The
Zen mastrer Tu Lo, or Tu Dao Hanh, belongs to the 12th generation of the
Vinitaruci School. There is no racord of his native village or his given
name. He resided in Thien Phuc pagoda (popularly called Chua Thay) on Phat
Tich Mountain, Quoc Oai Province. He was known to practice Tantrism and
became an almost legendary figure in the national folklore. Only four of
his poems are still in existence. The above is one of the most popular
and often quoted.
12.
Không Lộ (c. 1119)
Thiền
sư họ Dương, không rõ năm sinh, người làng Nghiêm Quang, quận
Hải Thanh, vốn làng chài lưới. Trong khoảng niên hiệu Chương
Thánh Gia Khánh (1059 - 1065) vân du khắp nơi, rồi tu chùa Hà
Trạch (?), rồi về quê nhà lập chùa Nghiêm Quang, kế thừa
dòng Vô Ngôn Thông thuộc thế hệ thứ 9.
12.
Khong Lo (c. 1119)
The
Zen master Khong Lo, or Duong Khong Lo was born in Hai Thanh Vilage, Nam
Ha Province. Belonging to a family that had fishermen for many generations,
he joined the Buddhist order and became part of the 9th generation of the
Vo Ngon Thong School. He devoted his time to the practice of both Zen and
Tantrism. Known for his preference for a simple and unattached life, he
took to the road, often visiting the moast remote temples and landscapes
in the company of another fomous poet, Zen master Giac Hai. Only two of
his poems are still extant.
13.
Khánh Hỷ (1067 – 1142)
Thiền
sư họ Nguyễn, người làng Cổ Giao, quận Long Biên. Vốn theo
học Thiền Sư Bản Tịch ở chùa Chúc Thánh (?). Khoảng những
năm 1133 – 1138 được vua Lý Thần Tông (1128 - 1138) vời
vào cung thuyết giảng đạo Thiền, được phong chức Tăng
Lục, rồi trăng chức Tăng Thống.
13.
Khanh Hy (1067 – 1142)
Zen
master Khanh Hy’s family name was Nguyen. He was born in 1067 in Co Giao
Village. He studied with Monk Ban Tich at Chuc Thanh pagoda, and became
the head of the 14th generation of the Vo Ngon Thong school. He was a monk
of great intelligence and quick wit, and often consulted about national
affairs by King Ly Than Tong (1128 - 1137). The King appounted him administrative
head of the nation’s Buddhist organization, the Supreme Patriach. His
works were lost, except for one extant poem.
14.
Kiều Trí Huyền (1070 - 1130)
Tương
truyền Thiền sư sống cùng thời với Thiền sư Từ Đạo
Hạnh. Từng mở đạo tràng ở Thái Bình, đón Thiền sư Từ
Đạo Hạnh tới đàm đạo về thiền học. Tung tích bí ẩn,
không được rõ lắm.
14.
Kieu Tri Huyen (c. 1100)
Kieu
Tri Huyen was a Zen master who was a contemporary of Tu Dao Hanh. Well
known for his vast knowledge, he often exchanged views with Tu Dao Hanh
on the subject of Zen. He opened a school in the Thai Binh area (Tan Hung
prefect, in today Thai Binh Province). No information remains regarding
his date and place of birth, and his background. Only one of his poems
survives.
15.
Tịnh Không (1091 - 1170)
Thiền
sư họ Ngô, người huyện Phúc Châu, Trung Quốc, thuộc thế
hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Xuống phương Nam năm
30 tuổi, ở chùa Khái Quốc, phủ Thiên Đức, tìm thấy học
đạo. Sau, theo học Thiền Sư Đạo Huệ ở Tiên Du rồi trở
lại chùa Khai Quốc mở đạo tràng. Mất năm Chánh Long Bảo
Ứng thứ 8 (1170) thọ 80 tuổi.
15.
Tinh Khong (1091 - 1170)
Ngo
Tinh Khong was born in Phuc Chau (in today’s phuc Kien province), China.
At the age of thirty, he came to Khai Quoc pagoda, Thien Duc prefect. According
to Thien Uyen Tap Anh (Collection of Outstanding Zen Master), he initially
followed an ascetic practice, eating very little – a grain of sesame
seed or corn a day. One day, when he by chance had a converastion with
another monk on the dharma body and the dharma eye, he realized that he
was far from enlightenment. Following this monk’s advice, he studied
with Monk Dao Hue in Tien Du moutain. After three years he received approval
from his teacher, and returned to Khai Quoc pagoda to teach. His reputation
grew far and wide. Extant are only a few records of conversations he had
with students.
16.
Minh Trí (? – 1196)
Thiền
sư họ Tô người làng Phù Cẩm (?) trụ trì chùa Phúc Thánh,
thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Tư chất
thông tuệ, tinh thông nhiều kinh sách, nổi tiếng tài thuyết
giảng, được gọi là Minh Trí. Mất năm Bính Thìn, niên hiệu
Thiền Tư Gia Thuỵ thứ 11 (1196).
16.
Minh Tri (?- 1196)
Zen
master Minh Tri’s family name was To. He was born in Phu Cam village.
His date of birth remains unknown. His intial dharma name was Thien Tri.
He was the abbot of Phuc Thanh pagoda and belonged to the tenth generation
of the Vo Ngon Thong school. Later he studied with Zen master Dao Hue.
Because of his vast understanding of the sutras, esp. the Lotus sutra,
his teacher changed his dharma name to Minh Tri (Shining Wisdom). Only
two of his poems survive.
17.
Quảng Nghiêm (1121 – 1190)
Thiền
sư họ Nguyễn, người đất Đan Phượng, thuộc thế hệ thứ
11 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Theo học người câu là Bảo Nhật,
sau đến chùa Phúc Thành thụ giáo với Thiền Sư Trí Thiền,
rồi trụ trì chùa Thánh Ân ở Siêu Loại. Được Thượng
Thư Bộ Binh Bằng Giáng Tường mời về trụ trì chùa Tịnh
Quả, mở đạo tràng. Có đệ tử xuất sắc nhất là Thiền
Sư Thường Chiếu. Mất rằm tháng Hai năm Canh Tuất, niên hiệu
Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5.
17.
Quang Nghiem (1121 – 1190)
Zen
master Quang Nghiem’s family name was nguyen. He was born in 1121 in
Dan Phuong village. He started out studying with his uncle, Monk Bao Nhat,
then followed Monk Tri Thien (mostly another name of Zen master Minh Tri
above) at Phuc Thanh pagoda. After he had gained enlightenment, he became
abbot of Thanh An pagoda, in Sieu Loai village. Minister Phung Giang Tuong
later invited him to come to Tinh Qua pagoda. Only one of his poems survives.
18.
Thường Chiếu (? - 1203)
Thiền
sư họ Phạm, người làng Phù Ninh. Làm quan ở cung Quảng Từ
thời vua Lý Cao Tông (1176 - 1210). Từ quan, xuất gia, theo học
thầy Quảng Nghiêm, được thầy truyền tâm ấn. Sau đến
trụ trì chùa Lục Tố, làng Dịch Bảng, phủ Thiên Đức,
thuộc thế hệ thứ 12 dòng Vô Thông Ngôn. Mất ngày 24 tháng
9 năm Quí Hợi, niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ 2 (1203).
18.
Thuong Chieu (? - 1203)
Thuong
Chieu’s family name is Pham. He was born in Phu Ninh village. Under the
reign of Le Cao Tong, he had been appointed to a high position. He resigned
from office to study with Zen master Quang Nghiem at Tinh Qua pagoda. After
he had gianed a deep understangding of the dharma, he was invited to be
the abbot Luc To temple in Dich Bang Village, Thien Duc prefect. He belonged
to the 12th generation of the Vo Ngon Thong school. His work was lost,
wxcept for two poems.
19.
Tịnh Giới (? – c. 1200 – 1207)
Thiền
sư họ Chu, tên Hải Ngung, người đất Mão Hương, Ngung Giang.
Tu đạo năm 26 tuổi, đi vân du nhiều nơi, cuối cùng được
nối dòng pháp phái của Thiền sư Bảo Giác, chùa Viên Minh,
thuộc thế hệ thứ 10 dòng thiền Vô Ngôn Thông. Sau đến
trụ trì chùa Quốc Thanh, chuyên tu khổ hạnh. Được vua Lý
Cao Tông (1176 – 1210) trọng vọng, gọi là Thầy. Mất năm
Đinh Mão, niên hiệu Trị Bình Long Ứng thứ 3 (1207).
19.
Tinh Gioi (? – c. 1200 – 1207)
The
Zen master Tinh Gioi’s given name was Chu Hai Ngung. He was reportedly
boen in Giang Mao, but exactly where and when is not known. From a poor
peasant family, he initially pursued the study of Confucianism. At the
age of 26, he became a novice at Quoc Thanh Pagoda where he was fomous
for his talent of praying and divining the weather. He was often asked
by kings of the Ly dynasty to perform the rituals. Only two of his poems
survive.
20.
Trần Thái Tông (1218 - 1277)
Vua
tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sinh 16 tháng 6 năm
Mậu Dần (1218). Vốn quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường.
Là vị vua đầu tiên của Nhà Trần, có công đưa xã hội
Việt Nam bước dần vào giai đoạn thịnh vượng, cũng là
người lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân
Mông Cổ lần thứ nhất (1257). Nhường ngôi cho con, lên làm
Thái Thượng Hoàng năm 1258. Mất ngày Một tháng Tư năm Đinh
Sửu, niên hiệu Bảo Phù thứ năm (1277).
20.
Tran Thai Tong (1218 - 1277)
Tran
Thai Tong’s given name was Tran Canh. He was born in 1218 at the end
of the Ly dynasty. Tran Thu Do, his uncle, prepared the ground for his
marriage to Queen Ly Chieu Hoang, who later abdicated to make him the founder
of the Tran dynasty in 1226. He commanded the armies and defeated the first
Mongolian invasion of Vietnam in 1257. Learned in both Confucianism and
Buddhism, he ruled the country wisely and authored several profound works
on Buddhism, the most fomous of which is Khoa Hu Luc (Instructions on Emptiness),
a Zen manual. A prodigious writer, he left behind a substantial number
of works. However, only a small part of those survive.
21.
Tuệ Trung Thượng Sỹ (1230 – 1291)
Tuệ
Trung Thượng Sỹ tên là Trần Tung, con trai Trần Liễu, anh
ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cậu ruột vua Trần
Nhân Tông. Trực tiếp tham gia cầm quân chống giặc trong cả
3 cuộc đại phá quân Mông Cổ (1257- 58/1285/1287 -88). Ông từng
theo học Thiền sư Tiêu Dao, một người nổi tiếng cuối triều
Lý. Sau những cuộc chiến, ông tiếp tục tu Phật, nhưng tu
tại nhà chứ không xuất gia, trở thành một nhà thiền học
lớn có nhiều ảnh hưởng trong xã hội với khuynh hướng
phá vỡ khuôn phép giáo điều của tu giới thời bấy giờ.
Được Thượng Hoàng Trần Thánh Tông rất kính trọng và vua
Trần Nhân Tông tôn làm thầy.
21.
Tue Trung Thuong Sy (1230 – 1291)
Tue
Trung Thuong Sy’s given name was Tran Tung. He was born in 1230, the
elder brother of the greal Marshal, Tran Hung Dao. He led resistance against
three Mongolian invasions, in 1257 – 58/1285/1287 – 88. At the end
of the later war, he served for a short time as a province governor, but
then retired to his beloved Duong Chan Trang (Nurture Truth Farmsted) and
devoted himself to the practice of Buddhism. He became the teacher of King
Tran Nhan Tong , who later founded the Bamboo Grove School of Zen, the
first genuinely Vietnamese – inspired branch of Buddhism. A lay practitioner,
Tue Trung Thuong Sy was widely acknowledged as an enlightened spirit, free
from tradition – bound rituals and dogmas. His writings were collected
by his senior students into the collection Thuong Sy ngu Luc (Recorded
Sayings of The Eminet Tue Trung)
22.
Trần Thánh Tông (1240 - 1290)
Vua
tên là Trần Hoảng, con trưởng của vua Trần Thái Tông, sinh
ngày 25 tháng Chín năm Canh Tỵ (1240), lên ngôi tháng hai năm
Mậu Ngọ (1258), ở ngôi 21 năm. Cùng với con là vua Trần Nhân
Tông lãnh đạo thắng lợi hai cuộc đại chiến chống quân
Mông Cổ (1285 và 1288), sau đó đi tu, chuyên tâm nghiên cứu
đạo Phật và viết sách. Thơ ông giàu chất chữ tình, kết
hợp tinh thần tự hào về đất nước và dân tộc với tình
yêu cuộc sống an bình, phong độ ung dung, phóng khoáng. Mất
ngày 25 tháng Năm năm Canh Dần (1290)
22.
Tran Thanh Tong (1240 - 1290)
Tran
Thanh Tong’s given name was Tran Hoang. He was born in 1240, the eldest
son of King Tran Thai Tong (1218 - 1277). He ascended the throne in 1258.
a wise and outstanding strategist, he selected and promoted people of ability
to positions of high authority without regard to origin and bockground,
and was the first to rely on the common people as the principal line of
national defense. He helped organizen the Dien Hong conference, bringing
together all the nation’s elders to ask for their advice on how to deal
with a national security threat from the North. Because of this action,
he had the whole nation united behind him. He and his son Tran Nhan Tong
led the nation in the successful defense against the two Mongolian invasions
of 1285 and 1288. Once the country regained peace, he abdicated and devoted
the rest of his life to the practice of Buddhism and writing. An outstanding
poet, he combined the high style of Chinese poetry with the popular rhythm
of the folk lyric, creating poems of exquisite sensibility imbued with
the equanimity and profundity of a Zen master. His works were lost, except
for seven poems.
23.
Trần Nhân Tông (1258 - 1308)
Vua
tên là Trần Khâm, con đầu của vua Trần Thánh Tông, sinh ngày
11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (1258). Lên ngôi năm Kỷ Mão (1279),
hai lần trực tiếp lãnh đạo thành công hai cuộc đại chiến
chống quấn Mông Cổ (1285 và 1288), và giữ yên bờ cõi
ở biên giới phía Tây và phía Nam. Nổi tiếng là ông vua anh
hùng vừa khoan hoà, nhân ái, vừa gần dân, thân dân. Ông còn
là một nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc thời bấy giờ. Nhường
ngôi cho con năm 35 tuổi (1293), chuyên tâm nghiên cứu Phật
học, là vị Tổ thứ nhất của Thiền Phái Trúc Lâm, được
tôn là Giác Hoàng Điều Ngự. Mất ngày 3 tháng 11 năm Mậu
Thân (1308) trong am Ngoạ Vân trên núi Yên Tử.
23.
Tran Nhan Tong (1258 – 1308)
Tran
Nhan Tong’s given name was Tran Kham. He was born in 1258. After his
father voluntarily abdicated in 1279, he ascended the throne, becoming
one of the most illustrious kings of the Tran dynasty. Known for and wide
for his compassion and peacefulness, he used the system od national examinations
to search for talents to serve the welfare of the vountry. He was instrumental
in the organizing of the two most unique conferences in Vietnam’s history
– the Dien Hong conference of all of the country’s elders and the Binh
Than conference of all military commanders, which helped forge the nation’s
will agianst foreign threats. In 1293 Tran Nhan Tong abdiceted in favor
of his son, and devoted the rest of his life to the practice of Buddhism.
He traveled far and wide, all the way to Chiem Thanh, a country that bordered
Vietnam on the South and was often at odds if not at war with Vietnam.
To secure a long – term peace, he arranged for a marriage between the
Chiem Thanh king and one of his daughters – Princess Huyen Tran. In 1298
he became a monk and settled in Yen Tu Mountain. When he was not meditating
in Yen Tu, he went barefooted around the country, giving lectures and organizing
studies of the Buddhist dharma. He became the founder of the Truc Lam School
of Zen (Bamboo Forest School), the first school of Vietnamese – created
Zen Buddhism. One of the most brilliant kings and philosophers, he remains
the polestar of Vietnamese traditional culture. His influence has reached
across seven centuries. Both Zen master Thich Thanh Tu and Thich Nhat Hanh
consider themselves to be his spiritual descendants and both try, each
in his own way, to revive the tradition of the Bamboo Forest school. Tran
Nhan Tong was a prodigious author, but only 31 of his poem and a few other
short pieces remain in existence.
24.
Pháp Loa (1284 - 1330)
Tên
thật là Đồng Kiên Cương, người làng Cửu La, huyện Chí
Linh, châu Nam Sách, sinh ngày 2 tháng 5 năm Giáp Thân (1284). Khoảng
năm Hưng Long thứ 12 (1304) xin theo Trần Nhân Tông học đạo,
trở thành người học trò xuất sắc, được trao y bát và
trở thành vị tổ thứ hai của dòng thiền Trúc Lâm.
24.
Phap Loa (1284 - 1330)
Phap
Loa’s given was Dong Kien Cuong. He was born in 1284 in Cuu La village,
Chi Linh district, Nam Sach county. A precocious child, he showed early
interest in Buddhism. When Tran Nhan Tong came to visit the Nam Sach area
in 1304, they met by chance, and the founder of the Bamboo Forest school
of Zen accepted him as his disciple. To mark this special encounter, the
king gave him the dharma name “Thien Lai” (Auspicious Arrival). When
Thien Lai proved to be an outstanding student, Tran Tong was so impressed
that he changed Kien Cuong’s name to Phap Loa and appointed him his successor.
Phap Loa excelled as an organizer, builder, compiler of commemtaries on
the dharma, and expounder of doctrines. His works, unfortunately, unfortunately,
are lost, except for three poems and a few excerpts from his writings.
25.
Huyền Quang (1254 – 1334)
Thiền
sư tên thật là Lý Đạo Tái, người hương Vạn Tải, châu
Nam Sách, lộ Lạng Giang, sinh năm Giáp Dần (1254). Học giỏi,
đỗ cả thi hương, thi hội, được bổ làm việc trong Viện
Nội Hàn của triều đình, tiếp sư Bắc triều, nổi tiếng
văn thơ. Từ chức đi tu, xin theo Trần Nhân Tông lên Trúc Lâm
rồi sau thành vị tổ thứ 3 của dòng Thiền này.
25.
Huyen Quang (1254 – 1334)
Huyen
Quang’s give name was Ly Dao Tai. He was born in 1254 at Van Tai village,
Nam Sach district, Lang Giang Province. Recognized in childhood as a great
literary talent, he easily passed the regianal examination in 1274, and
a year later, was the first laureate of the third examination (equivalent
to the docter degree). He was appointed to serve in the court, but after
a short time decided to leave to become a monk. King Tran Nhan Tong, founder
of the Bamboo Forest School, took him under his wing. He later became the
Third Patriarch of the School. He is considered one of the great poets
of the era. Twenty – four of his poems have been found.
26.
Trần Thì Kiến (?-?)
Người
làng Cự Xạ, huyện Đông Triều, phủ Tân Hưng, là môn khách
của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, được vua Trần Nhân
Tông bổ chức An phủ sứ phủ Thiên Trường, sau đổi sang
phủ Yên Ninh. Năm 1297 được bổ chức Đại An Phủ Kinh Sư,
chuyên về tư pháp. Thăng đến chức Hành Khiển Gián Nghị.
Nổi tiếng ở đức thanh liêm, công bằng và tài biênj luận
trong xử kiện.
26.
Tran Thi Kien (? - ?)
Tran
Thi Kien was born in Cu Xa Village, Dong Trieu district. The dates of his
birth and death remain unknown. Recmmended to King Tran Nhan Tong by Marshall
Tran Hung Dao, he was appointed to various administrative posts. He was
fomous as a judge of great integrity and sagacity, and for his ability
to foretell events using the I - Ching. King Tran Minh Tong (1276
- 1320) wrote a poem praising his legal acumen. None of his writings survives,
except for this one poem, which was attributed to him in later 1940s.
27.
Trương Hán Siêu (? – 1354)
Ông
là người làng Phúc Thành, huyện Yên Ninh, lộ Trường Yên,
tự là Thăng Phủ, hiuệ Độn Tẩu, không rõ năm sinh. Vốn
là môn khách của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, được
tiến cử và được vua Trần Anh Tông bổ chức Hàn Lâm Học
Sỹ. Giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới các triều từ
Anh Tông (1293 - 1314) và Dụ Tông (1341 - 1370). Là một nhân vật
nổi tiếng, một danh nho đương thời. Có tư tưởng tôn Nho,
nhưng về già thì lại sùng Phật.
27.
Truong Han Sieu (? – 1354)
Truong
Han Sieu was born in Phuc Thanh Village, Yen Nninh district. The date of
his birth remains unknown. Recommended by Marshell Tran Hung Dao, he held
high positions under the reign of King Tran Minh Tong and Tran Du Tong.
In 1353, he led an expedition to defend Hoa Chau (today Thanh Hoa province).
The following year, he submitted his resignation due to ill health. He
die before returning to the capital. In recognition of his outstanding
service, king Tran Du Tong posthumously awardede him the honoraty title
Thai Bao (the third highest dignitary). Truong Han Sieu was famous for
his integrity, wide knowledge, and wise counsel. Initially he favored Confucianism
over Buddhism. Only towards the end of his life did he changed his mind
and embraced Buddhism. His extant works are three prose pieces and four
poems. A major record of the Tran dynasty’s Statues and Tegulations (10
volums) and a book of law code both jointly compied with Nguyen Trung Ngan
were also lost.
28.
Trần Quang Triều (1286 – 1325)
Ông
còn có tên là Nguyên Đạo, Nguyên Thụ, hiệu là Cúc Đường
Chủ Nhân và Võ Sơn Ông. Sinh năm Giáp Ngọ (1286) người hương
Tức Mặc, Phủ Thiên Trường. Là con trai cả của Trần Quốc
Tảng, cháu nội Trần Quốc Tuấn, và là vợ vua Trần Anh Tông.
Được nhà Trần biệt đãi, phong tước Văn Huệ Vương, làm
quan trong triều. Sau cáo quan về am Bích Động (Đông Triều)
ở ẩn, lập ra thi xã Bích Động. Mất năm Ất Sửu (1325)
28.
Tran Quang Trieu (1286 – 1325)
Tran
Quang Trieu was born in 1286 at Tuc Mac village, Thien Truong district,
now in Ha Nam Ninh province. A nephew of the great Marshal Tran Hung Dao
and brother in law of King Tran Anh Tong, he was well appointed in the
court. He excelled in both literary and military fields, leading troops
to pacify the border area. After the death of his wife, he asked to be
allowed to retire to his retreat of Bich Dong near Quynh Lam Pagoda, in
Quang Ninh Province. There, with his colleagues, he founded the Bich Dong
Poetry Group. In 1324 King Tran Minh Tong asked him to return to the Court.
Unfortunately, he died shortly thereafter. His sudden departure stunned
his friends, who edited his poems posthumously into the Cuc Duong Collection.
Of that collection, only 11 poems remain in existence.
29.
Nguyễn Trung Ngạn (1289 – 1370)
Nguyễn
Trung Ngạn sinh năm 1289 tại làng Thọ Hoàng, huyện Thiên Thi,
tỉnh Hưng Yên. Năm 15 tuổi ông đã có trong tay bằng tiến
sĩ. Ông phò tá Vua Trần Minh Tông trong các chiến dịch bình
định vùng Đà Giang và dẹp loạn ở Lào. Ông là một nhà
thơ lỗi lạc với nhiều bài thơ được tuyển chọn trong
các tuyển tập thơ sau này. Ông cũng là một nhà thông thái
về pháp luật. Ông và Trương Hán Siêu đã soạn thảo cuốn
bộ luật Hình Thư hiện không còn giá trị. Hiện chỉ còn
80 bài thơ của ông còn được lưu truyền tới ngày nay.
29.
Nguyen Trung Ngan (1289 – 1370)
Nguyen
Trung Ngan was born in 1289 in Tho Hoang village, Thien Thi district, Hung
Yen province. He obtained his doctoral degree at the age of 15. He assisted
King Tran Minh Tong in the campaigns to pacify the Da Giang area and the
unrest in Laos. He was a great poet whose many poems were selected in later
antholonies. He was also a well – known legal sholar, who together with
Truong Han Sieu compiled a book of Vietnamese criminal clde (Hinh Thu),
which no longer exists. Only 80 of his powms survive.
30.
Trần Nguyên Đán (1325 – 1390)
Trần
Nguyên Đán sinh năm 1325 tại làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc,
tỉnh Nam Định. Thuộc dòng dõi vua chúa, ông là cháu của
nhà quân sư lỗi lạc Trần Quang Khải và là ông ngoại của
danh nhân văn hoá Nguyễn Trãi sau này. Ông là mẫu người hoà
hợp giữa động và tĩnh của nền văn hoá cổ truyền Việt
Nam, xem trọng Khổng Giáo, Lão Giáo và Phật Giáo như nhau.
Năm 1385 ông từ chức về ở ẩn tại vùng Côn Sơn, tỉnh
Hải Dương. Hiện chỉ còn 50 bài thơ của ông được lưu
truyền tới ngày nay.
30.
Tran Nguyen Dan (1325 – 1390)
Tran
Nguyen Dan was born in 1325 in Tuc Mac village, My Loc district, Nam Dinh
province. A member of the royal family, he was nephew of the geat strategist
Tran Quang Khai and maternal grandfather to the coming great cultural icon
Nguyen Trai. He represented that unique man of action and contemplation
of traditianal Vietnamese culture who was equally at home in Confucianism,
Taoismm, and Buddhism. In 1385 he resigned his post, and ruturned to live
in obscurity in the Con Son area, Hai Duong province. Only fifty one of
his poems ramain extant.
TÁC
GỈA VÀ TÁC PHẨM
Nguồn:
Bộ
Văn Hoá TT và DL
Thơ
thiền Lý Trần in trên giấy dó
Sáng
19.05.2005, tại Thư viện khoa học tổng hợp TP.HCM, nhà thơ
Nguyễn Duy phối hợp cùng Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn đã
khai mạc triển lãm “Thơ thiền Lý Trần in trên giấy dó”
và giới thiệu tập sách “Thơ thiền Lý Trần” do nhà thơ
Nguyễn Duy chủ biên. Tới dự lễ khai mạc có bà Nguyễn Thế
Thanh, Phó giám đốc Sở Văn hóa – Thông tin TP.HCM cùng đông
đảo các văn nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, các cơ quan thông tấn
báo chí cùng bạn bè thân hữu của nhà thơ.
Thơ
thiền Lý Trần là công trình công phu của nhà thơ Nguyễn
Duy cùng nhóm cộng tác trong bắt đầu từ năm 2000, đặc biệt
là sự đóng góp của hai nhà thơ ở nước ngoài là ông Nguyễn
Bá Chung và nhà thơ Mỹ Kevin Bowen cho phần dịch sang tiếng
Anh. Tác phẩm chọn lọc 30 bài thơ thiền tiêu biểu trong kho
tàng thi ca gần 1000 năm của dân tộc. Ngoài việc sưu tầm,
biên soạn, dịch thơ, Nguyễn Duy còn tự mình chụp những
bức ảnh minh họa rất độc đáo, in đậm dấu ấn thiền,
để minh họa cho các bài thơ.
Từ
ngày tuyên bố không làm thơ nữa, Nguyễn Duy đã dồn tất
cả tâm huyết và tài năng của mình cho việc sưu tầm và
phổ biến những tinh hoa văn hóa của cha ông để lại. Không
đơn giản là sưu tầm và in ấn, ông còn muốn lưu giữ những
tác phẩm vô giá ấy dưới những hình thức trang trọng hơn
cách thức truyền thống, đó là giữ gìn tinh hoa cổ bằng
chính những vật liệu quý hiếm nhất mà cha ông đã sáng
tạo ra, in thơ trên giấy dó là một trong những tìm tòi và
thể hiện thành công của ông cùng con trai và nhóm cộng sự.
Phát
biểu tại lễ khai mạc, ông Lê Văn Tròn, Giám đốc Tổng
ty Văn hóa Sài Gòn bày tỏ sự khâm phục công sức lao động
lặng lẽ của nhà thơ Nguyễn Duy cùng nhóm cộng sự, ông
nói: “Tác phẩm “Thơ Thiền Lý Trần” in trên giấy dó
khổ lớn (1,1mx 0,8m), một loại giấy được những người
thợ Việt Nam tài hoa sản xuất bằng phương pháp thủ công
và hầu như không tương thích với bất kỳ một loại máy
in thông thường nào, đã được hoàn thành bằng tâm, tài
và sức của nhà thơ Nguyễn Duy và nhóm cộng tác, không hề
nhận bất cứ một sự tài trợ nào khác”.
Nguyễn
Duy cho biết, ông có dự định sẽ cộng tác với Nhà xuất
bản Văn hóa Sài Gòn thực hiện một tủ sách về những tinh
hoa của văn hóa Việt Nam mà tập sách “Thơ thiền Lý Trần”
là cuốn mở đầu. Trong lời tựa cho tập sách, TS Lê Mạnh
Thất viết: “Việc tập hợp lại một số bài thơ thiền
tiêu biểu của Nguyễn Duy giúp người đọc có cái nhìn mới
không chỉ về nền văn hóa trong quá khứ của dân tộc Việt
Nam mà còn từ nền văn hóa quá khứ ấy xây dựng một lối
sống mới trong quan hệ với đồng loại, với thế giới xung
quanh”. Đây quả là một nhận xét đúng mực cho những nỗ
lực của Nguyễn Duy và nhóm cộng sự trong suốt 5 năm qua.
Triển
lãm sẽ mở của đến hết ngày 25.05.2005, ngơời yêu thơ
cổ có thể mua tập sách in rất đẹp này cùng chữ ký của
nhà thơ Nguyễn Duy ngay tại triển lãm, giá bán: 250 ngàn đồng.
T.P
Nguyễn
Duy triển lãm "Thơ Thiền"
Món quà dâng
tặng Thăng Long 995 tuổi
Sau
TP Hồ Chí Minh, Văn Miếu - Quốc Tử Giám ngày 9-10 là nơi
nhà thơ Nguyễn Duy triển lãm tập sách Thơ thiên Lý - Trần
in bằng ba thứ tiếng Hán - Việt - Anh trên giấy dó. TS. văn
học Đào Tuấn Ảnh có cuộc trò chuyện với nhà thơ Nguyễn
Duy.
*
Nghe nói anh rất vất vả để chuẩn bị cho cuộc triển lãm
thơ đặc biệt này?
-
Vâng, tôi phải chở từ trong miền nam ra hai tấn thơ, gồm
sách thơ, lịch thơ, 70 khung kính thơ khổ lớn và suốt tuần
qua các thành phần ban tổ chức cùng bạn bè đã phải làm
việc tối tăm mặt mũi, với mong muốn cuộc triển lãm này
thật sang trọng và "hoành tráng".
*
Với những cuộc triển lãm thơ từ gần chục năm nay phải
chăng anh đã khiến cho nghệ thuật tạo hình, các họa sĩ
mất vị thế độc tôn trong trò chơi "sắp đặt" (installation)
của họ?
-
Sắp đặt không mới đối với nghệ thuật tạo hình và sân
khấu thế giới. Song đối với nghệ thuật ngôn từ nó hoàn
toàn mới lạ.
Đổi
mới ngôn ngữ luôn là một nhu cầu nội tại của nghệ thuật;
"sắp đặt" cũng là một dạng đổi mới đó.
Với
sự trợ giúp của các loại ngôn ngữ đồ vật, hình thể,
họa sĩ và nhà văn muốn làm nổi bật và phong phú thêm ngôn
ngữ đặc trưng của loại hình nghệ thuật của mình, chuyển
tải được tinh thần, tư tưởng của tác phẩm.
Riêng
đối với triển lãm - sắp đặt thơ thiền tôi muốn sử
dụng ngôn ngữ cảnh vật, đồ vật để thể hiện tinh thần
cơ bản của thiền học nước Việt: đó là sự gần gũi
với đời, với người.
Riêng
nhà Thái Miếu và không gian Văn Miếu - Quốc Tử Giám tự
nó đã là một không gian "sắp đặt" lý tưởng , đầy chất
thơ, ở đó giữa thơ và đời sẽ không còn ranh giới.
Tôi
sẽ không "gây rối" thêm cho cảnh sắp đặt tự nhiên này
ngoài điểm nhấn cho nó là những cây thang tre có kích cỡ
khác nhau (khác với thúng mủng, chum vại trong các cuộc triển
lãm - sắp đặt Thơ Nguyễn Duy những lần trước).
*
Sau lần "tìm về cội nguồn" này anh đã "ngộ" ra được điều
gì?
-
Tôi đã tiếp thu được tinh thần cơ bản của các vị liệt
tổ liệt tông truyền qua những áng thơ bất hủ: hãy học
làm một người bình thường, biết sống thanh thản. Với
mỗi con người, bất kỳ ở địa vị nào, đều cần một
tấm lòng. Tấm lòng đó thấm sâu vào những bài thơ tưởng
chừng như chỉ mang ý nghĩa chính trị, ví như bài Quốc tộ
của thiền sư Pháp Thuận (915-990):
Bời
bời vận nước quấn mây
Trời
nam mở lượng đó đây thái bình
Thiền
tâm thấm tận triều đình
Thì
nhân gian dứt đao binh đời đời
Nói
đến đây lại nhớ Trịnh Công Sơn, mà không hiểu sao tôi
cảm thấy sáng tác của anh thấm đẫm tinh thần nhà Phật.
Một
trong những lời ca của anh Sơn luôn đi theo tôi, đó là: Sống
trong đời cần có một tấm lòng, để làm gì em biết không?
Để gió cuốn đi...
(Thể
thao và Văn Hóa)
Nguyễn
Duy
Tiềm
lực còn đang ngái ngủ
"Văn
học VN thường bị cho là ít tầm tư tưởng. Tôi muốn đưa
ra một minh chứng ngược lại. Vua Trần Thánh Tông có câu
thơ làm tôi thấy sởn gai ốc: 'Một sớm bỗng thấy hết
được khuôn mặt của mẹ/ Thì ra khuôn mặt ấy chỉ có một
nửa' (bản dịch nghĩa)", nhà thơ Nguyễn Duy nói về tham vọng
đưa thơ ra với thế giới.
- Nhà
văn không cần bạn đọc, bạn đọc không cần nhà văn, còn
Hội Nhà văn thì không cần cả hai, thế tại sao ông còn bay
ra đây dự Đại hội?
- Chỉ
là một cách nói để chỉ một thực trạng. Còn tôi, vẫn
cần bạn đọc, cần gặp bạn văn. "Một công đôi việc",
đây còn là để tranh thủ ra mua thêm ít giấy dó, cho tập
sách - ảnh Thơ Thiền Lý - Trần đang làm.
- Cuốn
sách đã làm tới đâu?
- Mới
là bản mẫu: một cuốn in ngang khổ 30x40 cm, còn cuốn nữa,
in dọc, khổ 81x111 cm, dự tính để làm triển lãm, và in túc
tắc cho khách "VIP". Lại còn phải làm thêm một loạt cuốn
khổ 25x25 cm nữa để phát hành đại trà. Triển lãm sẽ mở
vào tháng 5 tại TP HCM và tháng 10 tại Hà Nội.
- Không
ít thi phẩm trong số đó từng được dịch rất hay, vì sao
ông có ý định dịch lại bằng lục bát?
- Lục
bát thì dễ thuộc, dễ nhớ.
- Từ
thơ thiền bước ra "chợ văn", chợ đời, ông thấy thế nào?
- Một
ý thiền dạy ta: Cái phi thường nhất của con người là làm
một người bình thường. Trong khi, nhiều người lại cố
làm một người phi thường.
- Những
"cú độc chiêu" trong làm sách, làm lịch... có ý nghĩa thế
nào với ông?
- Trong
khi chưa viết được cái gì mới thì đi làm những việc khác
có ích hơn, vừa kiếm tiền giúp vợ con, đó là để làm
người bình thường đấy thôi.
- "Những
việc khác" ở ông tới đây còn là gì?
- Thơ
Thiền Lý - Trần (kèm bản dịch tiếng Anh) thực ra mới chỉ
là chặng đầu trong chuỗi "âm mưu" này: đi trọn 10 thế kỷ
thơ thiền bao gồm 3 bộ: Lý - Trần, Lê - Nguyễn, từ sau Nguyễn
tới nay. Tập Lý - Trần đang cố ra thêm bản tiếng Pháp và
sắp tới, sẽ là tiếng Nga, Nhật, Đức... Rồi còn dự định
đưa thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát,
Nguyễn Bỉnh Khiêm... lên giấy dó.
- Vậy
mà không ít nhà văn VN hiện nay lại bị cho là toàn viết
những cái làng nhàng, ít tầm tư tưởng... Ông nghĩ sao?
- Tôi
nhớ, nhà văn Kim Lân từng nói: "Ngày xưa, chúng tôi (Kim Lân,
Nguyên Hồng...) thấy mình lớn lắm, thậm chí là nhất, thế
mà viết còn chưa ra gì. Huống hồ bây giờ các anh chị chưa
viết mà đã thấy mình nhỏ như con kiến, thế thì làm sao
mà ra được tác phẩm lớn?".
- Nhiều
đề tài thế sự đang bị bỏ ngỏ. Nhưng Nguyễn Duy đã nhiều
lần chứng minh: thơ thế sự cũng có thể làm lớn, làm hay...
- Ôi,
tôi thì viết không từ một cái gì. Thế nên bây giờ mới
hết sạch cái để viết đây. Trong số những bài tôi đã
làm, có thể có một vài bài hay, nhưng giờ nếu tôi làm,
thì chưa chắc có một câu hay một từ hay, như thế chưa thể
bắt đầu viết lại được. "Lúc này ta làm thơ cho nhau/ Đưa
đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt/ Ta ca hát quá nhiều về tiềm
lực/ Tiềm lực còn ngủ yên...".
- Thế
"tiềm lực ngủ yên" từ hồi ấy đến giờ sao?
-
Tiềm lực mới từ từ thức dậy, nhưng đang... ngái ngủ.Theo
Lao Động
22/08/2005
08:28:43 (GMT+7) - Tin Vietbooks
Người
Việt Nam đầu tiên in thơ trên giấy dó
Giữa
tháng 5-2005, lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện một cuộc
triển lãm. Quyển sách thơ thiền Lý - Trần là quyển sách
thơ lớn nhất Việt Nam với kích thước: cao 1,11m; rộng 0,81m
do nhà thơ Nguyễn Duy chủ biên và thực hiện, Nhà Xuất bản
Văn hóa Sài Gòn cấp giấy phép xuất bản.
Cuốn
sách thơ - ảnh đã tập hợp 30 bài thơ thiền tiêu biểu trong
thời kỳ Lý - Trần thế kỷ X-XIV, được in trên chất liệu
giấy dó - loại giấy làm bằng thủ công của các người
thợ tài hoa Việt Nam - giúp người đọc nhận ra một số
nét đặc trưng của Phật giáo trong đời sống văn hóa Việt
Nam.
Cuốn
sách được thực hiện bằng tâm - tài - sức của nhà thơ
Nguyễn Duy và nhóm cộng tác với ông.
Những
cuộc triển lãm thơ đầu tiên
Tháng
12-1997 ở thành phố Hồ Chí Minh đã diễn ra cuộc triển lãm
nghệ thuật về thơ đầu tiên của Việt Nam do nhà thơ Nguyễn
Duy tổ chức. Hồi ấy, Nguyễn Duy đã chép thơ của ông lên
thúng, mẹt, mành và rất nhiều đồ dùng dân dã khác. Sang
năm 1998, lần đầu tiên ở Việt Nam có một nhà thơ đã dùng
mấy chiếc ô tô để chuyển thúng, mẹt, điếu cày… của
mình ra Hà Nội để tiếp tục cuộc triển lãm. Tiếp đến
năm 2000, ông lại một lần nữa trở thành người đầu tiên
của Việt Nam đem thơ ra nước ngoài triển lãm. Cuộc triển
lãm diễn ra tại Boston - Hoa Kỳ.
Cũng
trong năm 2000, Nguyễn Duy nảy ra ý định táo bạo làm một
quyển thơ thiền thời Lý - Trần bằng giấy dó. Ông mua giấy
về và nhờ các bạn làm trong ngành in in cho, nhưng tìm mọi
cách vẫn không sao in được, vì giấy dó từ xưa đến nay
hầu như chỉ dùng để viết chữ nho, vẽ tranh thủy mặc
hoặc in các bản khắc gỗ. Riêng ảnh thì chưa in được trên
giấy dó. Ý nghĩ in thơ trên giấy dó cứ thôi thúc ông.
Dịp
may đến với Nguyễn Duy khi ông gặp được họa sĩ David Thomas
- một cựu chiến binh Mỹ đã qua lại Việt Nam nhiều lần
và đang in quyển sách ảnh về Hồ Chí Minh bằng giấy dó.
Nguyễn Duy hết sức ngạc nhiên và có ý nghĩ, giấy dó là
một chất liệu đặc biệt của Việt Nam, trong khi người
thực hiện thành công việc in trên giấy dó là người nước
ngoài mà không phải là người Việt Nam. Với ý nghĩ đó,
Nguyễn Duy đã nhờ Thomas hướng dẫn tìm mua máy in để
in giấy dó. Sau khi được hướng dẫn cặn kẽ, Nguyễn
Duy lập tức mua một máy in ở Boston mang về nước. Nhưng
khi về đến Việt Nam, ông mới biết loại máy in ông đã
mua do một hãng công nghệ thông tin của Mỹ chế tạo
được bán rất nhiều trên thị trường Việt Nam.
Hành
trình làm thơ in trên giấy dó
Giấy
dó là một chất liệu vô cùng độc đáo. Giấy được những
người thợ làm bằng phương pháp thủ công, không dùng xút,
không dùng hóa chất cho nên độ bền của giấy rất cao. Màu
sắc của giấy có màu vàng nhạt, nên những văn bản được
viết trên giấy này mang phong cách cổ xưa rất đặc trưng.
Đây cũng là loại giấy rất khó in vì nó không tương thích
với bất cứ loại máy in nào. Đặc biệt là in ảnh lại
càng khó hơn nữa. Nhưng khi những bài thơ và hình ảnh được
in trên giấy dó lại rất có hồn.
Năm
2001, Nguyễn Duy đã trở thành người đầu tiên của Việt
Nam in lịch trên giấy dó. Cũng vào năm này, ông bắt đầu
bắt tay vào thực hiện quyển thơ trên giấy dó với kích
thước lớn: “Thơ thiền Lý - Trần”. Ban đầu, ông vác
máy ảnh đi khắp nơi, chụp những hình ảnh về chùa vì phần
lớn thơ thời Lý - Trần là của các thiền sư. Xuất phát
điểm của Nguyễn Duy từ Trúc Lâm Yên Tử, nhưng sau khi đỉnh
Yên Tử về thì bị tông xe. Suốt 3 năm dưỡng thương vì
tai nạn giao thông, Nguyễn Duy vẫn dịch thơ và lang thang chụp
ảnh với khoảng 5.000 tấm, trong đó chỉ chọn được hơn
100 tấm ưng ý.
Về
phần nội dung, Nguyễn Duy mất gần 5 năm để hoàn thành.
Cuốn thơ mang tên “Thơ thiền Lý - Trần” do nhà thơ Nguyễn
Duy chủ biên, điều hành chung và trực tiếp thực hiện in
ấn, với sự tham gia của hai giáo sư trường Đại học Massachusetts
(Hoa Kỳ): Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung (phần Anh ngữ). Phần
Hán văn do Giáo sư Nguyễn Huệ Chi hiệu đính, học giả Lê
Mạnh Thát viết lời tựa. Nội dung chủ yếu dựa vào 3 tập
văn thơ Lý - Trần (do giáo sư Nguyễn Huệ Chi chủ biên), nhưng
tuyển chọn mỗi tác giả 1 bài và là những bài tiêu biểu
nhất. Toàn bộ hình ảnh minh họa là ảnh của Nguyễn Duy
về cảnh vật, thiên nhiên Việt Nam.
Nhà
thơ Nguyễn Duy đuợc xem là đã có một bước đột phá ngoạn
mục khi thực hiện thành công quyển thơ thiền Lý - Trần
in trên giấy dó. Bởi giấy dó là một chất liệu không dễ
in. Máy in nhỏ không thể in được, rất may ông mua được
một máy in khổ lớn. Nguyễn Duy cho biết, chỉ riêng bìa quyển
sách, ông đã phải in hỏng mất 5 bìa mới hoàn thành (giá
700.000đồng/bìa). Thiết bị chụp ảnh cũ kỹ nhưng vẫn phải
dùng, tuy ông biết chất lượng hình ảnh sẽ bị hạn chế.
Đối với việc làm ảnh, quét ảnh chất lượng cao… phải
thuê người làm với một khoản chi phí không nhỏ. Nặng ký
hơn là chi phí các chuyến bay khứ hồi chụp ảnh vào Nam ra
Bắc và các tuyến hành trình đường bộ. Giá thuê thiết
kế mỹ thuật cũng là cả vấn đề (500.000đồng/trang). Nguyễn
Duy cùng con mình đành tự mua máy và thiết kế, chế bản
sách tại nhà, vừa làm vừa sửa mất 3 tháng ròng.
Giá
trị vật chất có thể tính toán được, nhưng với quyển
thơ thiền Lý - Trần, giá trị tinh thần là lớn hơn cả.
Đó là thời gian, tâm, trí và tài lực làm việc của tác
giả và nhóm cộng tác không thể tính toán bằng giá trị
vật chất mà là một tài sản tinh thần quý giá. Nói như
lời tựa quyển thơ thiền của tiến sĩ Lê Mạnh Thát - Phó
Viện trưởng Viện nghiên cứu Phật học Vạn Hạnh - TP.HCM:
“Việc tập hợp lại một số thơ thiền tiêu biểu của
Việt Nam giúp người đọc có cái nhìn mới không chỉ về
nền văn hóa trong quá khứ của dân tộc Việt Nam, mà còn
từ nền văn hóa quá khứ ấy xây dựng một lối sống mới
trong quan hệ với đồng loại và thế giới xung quanh”.
Dự
kiến sắp tới, Nguyễn Duy sẽ làm hai cuốn thơ thiền còn
lại, lần lượt giới thiệu những bài thơ với những tác
gia tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn
Du (phần thơ chữa Hán), Hồ Xuân Hương… cho tới Hồ Chí
Minh. Và không chỉ hạn chế ở tam ngữ, các quyển thơ thiền
còn lại sẽ được dịch đa ngữ: Pháp, Đức, Nga, Nhật,
v.v.. tùy theo khả năng cộng tác của nhóm biên dịch. Đây
sẽ là dịp để những người yêu thơ thưởng thức những
bài thơ thiền độc đáo trên giấy dó, một chất liệu đặc
thù do người thợ thủ công Việt Nam chế tạo.
Nguyễn
Duy và cuốn thơ thiền khổng lồ
Đó
là một tập thơ gồm 30 bài của 30 thi sĩ là các vị hoàng
đế, đại thần, thiền sư, ni cô, nhà tư tưởng... được
nhà thơ Nguyễn Duy tuyển từ kho báu hơn 400 năm của văn học
Lý - Trần và được Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn chọn
làm sản phẩm "mở hàng" của mình vào sáng 17/5/2005.
Kích
cỡ sách thuộc loại Guinesss Việt Nam: 80x110 cm, mỗi bài thơ
được dựng từ 2 đến 3 trang gồm: nguyên tác chữ Hán, phiên
âm - dịch nghĩa và dịch thơ quốc ngữ, dịch nghĩa và
dịch thơ Anh ngữ. Từng trang có ảnh nền, ảnh minh họa,
là tác phẩm của Nguyễn Duy.
Trong
việc biên dịch có sự cộng tác của giáo sư Nguyễn Huệ
Chi (hiệu đính phần Hán học) cùng nhà thơ Mỹ Kevin Bowen
và nhà thơ Việt kiều nhiều năm nghiên cứu thiền học Nguyễn
Bá Chung. Đầu sách có tiểu luận Đọc thơ Thiền Việt Nam
của học giả Lê Mạnh Thát, Phó viện trưởng Viện Nghiên
cứu Phật học Vạn Hạnh. Tổng cộng quyển sách dày 80 trang
giấy dó cộng với 80 trang lót nền bằng giấy cao cấp Galgo.
Mỗi trang sách là một trang mỹ thuật tổng hợp, từ tinh
túy thi ca và tư tưởng của tiền nhân cùng hình ảnh mọi
miền đất nước: gốc tùng đại thụ hơn 700 năm tuổi, một
góc đình xưa, một mái chùa cổ, một chiếc lá rơi, một
bông cỏ may bên đường, một con ong, cái kiến...
Nguyễn
Duy đã nhiều lần triển lãm thơ mình, và ông từng nghĩ đến
Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn
Bỉnh Khiêm... Nhưng ông còn nghĩ đến cái gốc sâu xa hơn,
thơ Việt thời Lý-Trần. Do sự thái bình thịnh trị lâu dài
của hai triều đại này mà tinh hoa thi ca mang bản sắc văn
hóa và tinh thần triết học thuần Việt phát triển rất rực
rỡ. Thời sinh viên còn lưu lại trong trí nhớ Nguyễn Duy bài
tứ tuyệt Ngôn hoài của thiền sư Không Lộ, với hai câu
ám ảnh: Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh / Trường
khiếu nhất thanh hàn thái hư (Đôi khi thượng đỉnh
núi hoang / Buông dài một tiếng hú vang lạnh trời - Nguyễn
Duy dịch). Khi lần giở lại từng trang cổ thi, ông càng nhận
ra đây còn là một túi khôn thâm hậu mà cha ông ta đã đúc
kết, như lời nhắn hậu thế của ông vua thi sĩ Trần Nhân
Tông (1258-1308) trong bài Cư trần lạc đạo: Nhà ta châu báu
thiếu gì / Vô tâm với cảnh biết khi nào thiền (Nguyễn Duy
dịch).
Cuối
năm 2001, sau cuộc triển lãm thơ trên giấy dó tại Hà Nội,
Nguyễn Duy âm thầm hành hương lên đỉnh Yên Tử, nơi phát
tích của Trúc Lâm Thiền Phái. Rủi thay, chỉ mấy ngày sau,
khi về đến Sài Gòn, một tai nạn xe làm ông gãy một chân
và bể đầu gối, phải mổ để nẹp xương. Khi bắt đầu
bước thấp bước cao với cây nạng, ông lại mò lên Yên
Tử và rong ruổi khắp nơi, chụp hàng ngàn bức ảnh để
chọn lại hơn trăm bức cho quyển sách này.
Những
tờ giấy dó ngoại khổ, ông phải đặt riêng tận Bắc Ninh.
Việc ông chọn lục bát làm thể thơ duy nhất để dịch thơ
thiền Lý - Trần là một quyết định bản lĩnh, đã khiến
ông tốn nhiều thì giờ và công sức. Tất cả tiền nong để
làm việc này cho đến bây giờ đều do ông tự lo. Cũng đã
có doanh nghiệp nước ngoài đánh tiếng muốn tài trợ, nhưng
ông từ chối. Ông nói, đây là công việc dựng bàn thờ tổ,
không thể nhờ cậy người ngoài.
Sau
TP.HCM, có thể cuốn sách sẽ góp mặt tại lễ hội 995 năm
Thăng Long - Hà Nội (1010-2005). Và Nguyễn Duy còn hy vọng nó
sẽ được giới thiệu ở nước ngoài.
Nguyễn
Trọng Tín
(Thanh
Niên)
Bài
Liên Quan:
Teachings
from Ancient Vietnamese Zen Masters, Translated and Commented by Nguyen
Giac (sách)
The
Wisdom Within Teachings and Poetry of the Vietnamese Zen Master Tue Trung
Thuong Si (1230-1291). Translated and Commented by Nguyen Giac (sách)
Kệ
Thị Chứng của Thiền sư Vạn Hạnh
Mười
Sáu Bài Thơ của Thiền Sư Huyền Quang, Nhất Hạnh dịch
Câu
chuyện Huyền Quang và cách đọc thơ thiền, Đỗ Văn Hỷ
Thơ
Văn Trần Nhân Tông
Thơ
Văn Trần Thái Tông
Thơ
Lê Thị Ỷ Lan và Lý Ngọc Kiều (Diệu Nhân)
11-14-2007
12:23:34