Phiên
âm
Thơ
Trần Nhân Tông
Đề
Cổ Châu hương thôn tự
Thế
số nhất sách mạc,
Thời
tình lưỡng hải ngân.
Ma
cung hồn quản thậm,
Phật
quốc bất thăng xuân.
Dịch
nghĩa:
Đề
chùa làng hương Cổ Châu(1)
Số
đời hoàn toàn mờ mịt,
Tình
người đổi thay qua đôi mắt(2).
Khi
cung ma bị quản chặt,
Thì
cõi Phật tràn ngập màu xuân.
Dịch
thơ:
Số
đời mờ mịt cả,
Tình
trong đôi mắt trong.
Cung
ma nếu quản chặt,
Cõi
Phật xuân không cùng.
Trần
Lê Văn dịch
Chú
thích:
(1)
Đầu đề do chúng tôi thêm. Theo Thánh đăng ngữ lục thì
tháng Mười năm Mậu Thân (1308) Trần Nhân Tông được tin
công chúa Thiên Thụy ốm nặng bèn từ Yên - Tử về thăm.
Đến ngày 15 tháng Mười âm lịch, sau khi dặn dò xong, Nhân
Tông lại trở về Yên - Tử. Giữa đường ông nghỉ lại
trong một ngôi chùa làng ở hương Cổ Châu, sáng hôm sau trước
khi lên đường ông đề bài kệ này lên vách chùa để ngỏ
ý mình. Sự việc Nhân Tông từ Yên - Tử về thăm công chúa
Thiên Thụy lúc bà sắp mất. Đại Việt sử ký toàn thư cũng
có chép.
(2)
Đôi mắt (hải ngân). Trong thơ của Tô Thức có câu: Đống
hợp ngọc lâu hàn khởi lật; Quang giao ngân hải huyễn sinh
hoa. Các nhà chú giải giảng rằng: Kinh của Đạo giáo gọi
xương vai là ngọc lâu và mắt là ngân hải. ở đây có lẽ
chính là ngân hải nhưng vì niêm vận, tác giả phải đổi
ngược lại thành hải ngân chăng?
Phiên
âm:
Quỹ
Trương Hiển Khanh xuân bính
Giá
chi vũ bãi thí xuân sam,
Huống
trị kim triêu tam nguyệt tam.
Hồng
ngọc đòi bàn xuân thái binh,
Tòng
lai phong tục cựu An Nam.
Dịch
nghĩa
Tặng
bánh ngày xuân cho
Trương
Hiển Khanh (1)
Múa
giá chi (2) xong, thử tấm áo ngày xuân (3),
Huống
nữa hôm nay lại gặp tiết mồng ba tháng Ba (4).
Bánh
rau (5) mùa xuân, như ngọc hồng bày đầy mâm,
Đó
là phong tục của nước An Nam xưa nay.
Dịch
thơ:
Múa
giá chi rồi, thử áo xuân,
Hôm
nay, hàn thực, buổi thanh thần.
Bánh
rau đầy đặn như hồng ngọc,
Nước
Việt, tục này theo cổ nhân.
Trần
Lê Văn dịch
Chú
thích:
(1)
Trương Hiển Khanh: tức Trương Lập Đạo sang sứ nước ta
hai lần. Lần thứ nhất vào năm 1265 để "tuyên dụ" chiếu
chỉ của vua Nguyên (Trần Thái Tông đã làm thơ tiễn trong
dịp này). Lần thứ hai, vào năm 1291 (dưới triều Trần Nhân
Tông) nhằm dụ nước ta quy phụ và bắt Nhân Tông thân sang
chầu. Nhưng do kết quả ba lần chiến thắng oanh liệt của
nhân dân ta, do thái độ mềm mỏng nhưng kiên quyết của vua
tôi nhà Trần, Hiển Khanh đã phải có thái độ kính nể.
Trong bài thơ họa đáp với vuaTrần, Hiển Khanh đã viết:
An
Nam tuy tiểu văn chương tại.
Vị
khả khinh đàm tỉnh để oa.
Nghĩa
là:
Nước
An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương.
Chưa
thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng.
(2)
Múa giá chi: Việt âm thi tập chú: giá chi vũ vốn là thác
bạt vũ, người ta chép lầm thành quen. Có thể giá chi vũ
Nhân Tông nói ở đây là một điệu múa cổ của dân tộc
ta chăng?
(3)
Thử tấm áo xuân: có lẽ cũng là tên một điệu múa.
(4)
Mồng ba tháng Ba là tiết thanh minh, trong ngày đó nhân dân
ta thường đi tảo mộ và ăn tết bằng các loại bánh, phổ
biến nhất là bánh trôi, bánh chay...
(5)
Bánh rau (thái bính): ở đây có thể là bánh khúc.
Phiên
âm:
Nguyệt
Bán
song đăng ảnh mãn sàng thư
Lộ
trích thu đình dạ khí hư.
Thụy
khởi châm thanh vô mịch xứ,
Mộc
tê hoa thượng nguyệt lai sơ.
Dịch
nghĩa:
Trăng
Bóng
đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường,
Móc
rơi trên sân thu, hơi đêm thoáng mát.
Tỉnh
giấc không biết tiếng chày nện vải ở nơi nào,
Trên
chùm hoa quế trăng vừa mọc.
Dịch
thơ:
Đèn
song chếch bóng, sách đầy giường,
Đêm
vắng sân thu lác đác sương.
Thức
dậy tiếng chày đâu chẳng biết,
Trên
cành hoa quế nguyệt lồng gương.
Đào
Phương Bình dịch
Tiếp
theo Trang 3
Đọc
Thêm:
Nghiên
Cứu Trần Nhân Tông
Bình
Giảng Bài Thơ Phú của Đức Vua Trần Nhân Tông, HT. Thích
Quảng Liên
Tổng
Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam Tập 1, Lê Mạnh Thát
Tổng
Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam Tập 2, Lê Mạnh Thát
Tổng
Tập Văn Học Phật Giáo Việt Nam Tập 3, Lê mạnh Thát