Hoàng
Hạc Lâu của Thôi Hiệu và Phong Kiều Dạ Bạc của Trương
Kế là hai trong những bài thơ Đường tuyệt tác và lừng
danh không chỉ ở Trung quốc.
Riêng
ở Việt Nam, theo Hải Đà Vương Ngọc Long phổ biến trên
mạng thì học giả Trần Trọng San đã tâm sự trong bài bạt
"Tôi bước vào cảnh giới Đường Thi từ bến Phong Kiều
qua lầu Hoàng Hạc" như sau:
"Phong
Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài đã in trong tôi
ấn tượng sâu đậm nhất trong số những bài thơ Đường
mà gia nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong lúc ấu thời..."
Qua
đó chúng ta có thể cảm nhận được vị trí của thơ Đường,
đặc biệt của hai bài thơ này trong nền giáo dục ... thơ
ở nước ta mấy trăm năm về trước.
Bài
Hoàng Hạc Lâu nói về tâm trạng của một lữ khách phương
xa ghé vào lầu Hoàng Hạc, nhớ điển tích xưa mà buồn cho
cảnh lầu cao nhưng nay hoang vắng và tuy cảnh trí chung quanh
rất nên thơ (hàng cây soi bóng bên bờ, những thảm cỏ xanh
mướt phía xa xa) nhưng nhìn lại dòng sông phủ khói sóng khi
chiều về, lữ khách tha hương không khỏi chạnh lòng nhớ
về quê cũ. Như vậy, dù cảnh nên thơ nhưng trong niềm thương
nhớ quê nhà, hai câu kết của bài thơ đã để lại trong
lòng người đọc một cảm giác buồn man mác.
Hoàng
Hạc Lâu
Thôi
Hiệu
Tích
nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ
Thử
địa không dư Hoàng hạc lâu
Hoàng
hạc nhất khứ bất phục phản
Bạch
vân thiên tái không du du
Tình
xuyên lịch lịch Hán Dương thụ
Phương
thảo thê thê Anh Vũ châu
Nhật
mộ hương quan hà xứ thị
Yên
ba giang thượng sử nhân sầu
Bản
dịch Trần Dương Hân
Lầu
Hoàng Hạc
Hạc
vàng nay đã xa vời
Lầu
cao Hoàng Hạc bên trời chơ vơ
Hạc
bay bay mãi chẳng chờ
Theo
vầng mây trắng, muôn đời còn bay
Cỏ
xanh Anh Vũ mướt dày
Hàng
cây soi bóng bên này Hán Dương
Chiều
về chạnh nhớ cố hương
Sông
vương khói sóng người vương nỗi lòng
Ngược
lại, bài Phong Kiều Dạ Bạc tuy mở đầu cũng với một nỗi
buồn man mác của một lữ khách trước cảnh trời ảm đạm
(trăng lặn, quạ kêu, sương phủ đầy trời, …) nhưng dường
như đã được "đánh thức" bằng tiếng chuông chùa từ xa
vọng lại. "Dường như" vì tác giả đã viết: tiếng chuông
chùa chỉ vang vọng đến thuyền.
Phong
Kiều Dạ Bạc
Trương
Kế
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền
Bản
dịch Trần Dương Hân
Đêm
ở Phong Kiều
Quạ
kêu sương phủ trăng tà
Bến
phong le lói lửa chài buồn tênh
Chùa
Hàn San xa thị thành
Nửa
đêm vẳng tiếng chuông thanh đến thuyền
Bài
thơ tuy chỉ bốn câu nhưng có hai phần rõ rệt và chừng như
chẳng liên quan với nhau vì ý thơ không liên tục. Sau hai câu
đầu tả cảnh ảm đạm khi đêm về, câu ba chỉ nhắc khơi
khơi là chùa Hàn Sơn ở phía ngoài thành Cô Tô. Và cuối cùng
câu bốn đã nói lên cái "ngộ" của tác giả !
Ngày
trước, người Trung quốc có câu “Thượng hữu thiên đàng,
hạ hữu Tô Hàng” nghĩa là “Trên trời có thiên đàng, dưới
đất có Tô Châu và Hàng Châu”. Tuy vậy, việc chỉ nhắc
địa điểm chùa Hàn Sơn nằm ở phía ngoài thành Cô Tô mang
dụng ý "cảnh đêm ảm đạm hay cảnh phố phường náo nhiệt
đã cách xa rồi" và giờ đây, vào lúc nửa đêm có tiếng
chuông "cảnh tỉnh" vẳng đến thuyền.
Tiếng
chuông chùa có "đến" với lữ khách hay nói cách khác, khách
trên thuyền cũng như chúng sinh có "ngộ" được cảnh đời
qua tiếng chuông hay không thì còn do cái "duyên" của từng
người.
Đây
có lẽ là chỗ đắc ý nhất của tác giả: Tiếng chuông chùa
không vang vọng đến người mà chỉ đến thuyền !
Mặt
khác, cũng vì hai phần rõ rệt của bài thơ này mà từ mấy
trăm năm nay dân gian vẫn còn truyền tụng một giai thoại
về bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc như sau.
Chuyện
kể rằng, sau một ngày làm việc ở Tô châu, thương gia và
cũng là nhà thơ Trương Kế neo thuyền nghỉ ở bến Phong Kiều.
Cảm xúc trước cảnh buồn ảm đạm của một đêm trăng
mờ, nhà thơ ngẫu hứng làm nên hai câu:
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên
Đến
đây, nhà thơ "bí"…
Cùng
lúc đó, Sư Ông trụ trì chùa Hàn Sơn vì không ngủ được
nên đang đi dạo trong khuôn viên chùa. Ngẩng nhìn trời đêm,
tứ thơ chợt đến và Sư ông buột miệng:
Sơ
tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán
tự ngân câu bán tự cung
Đến
đây, Sư Ông cũng "bí" luôn.
Chú
tiểu đang ngủ chợt thức dậy vì phải đi … tè. Vừa ra
khỏi mái hiên nhà dưới, chú tiểu thấy Sư Ông đang đứng
lặng trong vườn, vẻ mặt đăm chiêu. Hỏi ra mới hay Sư Ông
đang "bi" nguồn thơ.
Phải
giải quyết việc trước mắt nên chú tiểu đi ra sau vườn
và … thoải mái. Bất chợt chú nhìn thấy một nửa bóng
trăng dưới hồ (vũng ?) nước sau chùa và xuất khẩu thành
thơ:
Nhất
phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán
trầm thủy để bán phù không
Chạy
ngay đến bên Sư Ông, chú tiểu bạch thầy xin được đọc
lại cả bốn câu:
Sơ
tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán
tự ngân câu bán tự cung
Nhất
phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán
trầm thủy để bán phù không
Bản
dịch Trần Trọng San
Mồng
ba mồng bốn trăng mờ
Nửa
dường móc bạc nửa như cung trời
Một
bình ngọc trắng chia hai
Nửa
chìm đáy nước nửa cài từng không
Nghe
xong, Sư Ông rất hoan hỉ và dạy chú tiểu thỉnh một hồi
chuông để tạ ơn Phật Tổ đã tạo cơ duyên cho hai thầy
trò hoàn tất bài thơ tứ tuyệt dù lúc đó đã nửa đêm.
(Nhà chùa chỉ thỉnh chuông công phu vào buổi sáng sớm vào
khoảng 4-5 giờ sáng chứ không có lệ thỉnh chuông khuya.)
Chính
tiếng chuông chùa nửa đêm này đã vọng đến bến Phong Kiều
nơi nhà thơ Trương Kế vẫn đang còn … "bí" nguồn thơ.
Hoan
hỷ thay, tiếng chuông "cảnh tỉnh" này đã làm cho nhà thơ
"ngộ" và thể hiện qua hai câu kết
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền
và
đã làm nên nét đặc thù của bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc.
Tháng
7.2007
Trần
Dương Hân
Bài
Đọc Thêm:
Thơ
Hàn Sơn Thập Đắc
Bài
Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Đến
Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Thiền
Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên
Đọc
Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ
Trở
Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long
Đôi
Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường
Trao
Đổi Thêm Về Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc, Hà Quảng
Chùa
Hàn Sơn Trong Hồn Thơ Trương Kế, Hồ Sĩ Hiệp
Hoàng
Hạc Lâu và Phong Kiều Dạ bạc, Trần Dương Hân