Một
ngôi chùa, một tiếng chuông chùa qua hồn thơ của thi nhân
mà trở nên bất hủ. Bài thơ của Trương Kế sẽ còn sống
mãi trong lòng Phật tử với chùa Hàn Sơn và tiếng chuông
chùa. Hôm nay, đến Tô Châu thả hồn trong chùa Hàn Sơn đầy
hương khói và tĩnh lặng tôi mới thấu hiểu điều đó. Kỳ
diệu thay thơ ca và Phật giáo giao hòa tự bao giờ và tự
bao đời trên cõi đời này!
Đối
với người Việt Nam yêu thích thơ Đường những địa danh
Trung Hoa như lầu Hoàng Hạc, Thái Hồ, Cô Tô, bến Tầm Dương,
bến Phong Kiều và chùa Hàn Sơn trở nên thân quen. Chuyện
kể rằng hôm ấy sư thầy trụ trì chùa Hàn Sơn đêm đã
khuya lắm rồi mà vẫn còn thao thức vì không làm được hai
câu cuối bài thơ thất ngôn tứ tuyệt. Cũng đêm hôm đó
chú tiểu trong chùa không sao chợp mắt. Biết được tâm trạng
của sư thầy, chú tiểu xin phép đọc hầu hai câu mà chú
làm trong đêm không ngủ. Sư thầy vui lắm, vì tình cờ mà
hai thầy trò trong đêm nay đã làm được một bài thơ. Sư
thầy truyền cho chú tiểu lên thắp hương, thỉnh chuông để
tạ ơn Phật tổ đã giúp cho hai thầy trò ngẫu nhiên làm
được một bài thơ xứng ý. Tình cờ sao, đêm ấy dưới
khoang thuyền đậu ở bến Phong Kiều thuộc thành Cô Tô thi
sĩ Trương Kế, người đất Thượng Châu, Hồ Bắc, đang nằm
và không sao ngủ được. Trương Kế không ngủ được vì
nhiều lẽ nhưng có nguyên do là ông đang làm một bài thơ
mà “bí” không tìm được tứ thơ của hai câu cuối. Trong
không gian mùa thu, đêm đã khuya, trăng đã ta, lại thêm tiếng
quạ kêu, sương lạnh rơi khắp trời, thì bất ngờ thay Trương
Kế nghe được tiếng chuông chùa Hàn Sơn vẳng đến. Tiếng
chuông chùa đêm khuya trong trẻo, ngân vang đã lay động tâm
hồn u sầu, mất ngủ của thi sĩ. Cảm xúc đó đã giúp cho
Trương Kế sáng tác một bài thơ lưu truyền xưa nay - bài
“Phong Kiều dạ bạc” (Đêm đậu thuyền bến Phong Kiều):
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang
phong như hỏa đối sầu miên.
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền.
Tản
Đà dịch :
Trăng
tà, chiếc quạ kêu sương,
Lửa
chài, cây bến, sầu vương giấc hồ.
Thuyền
ai đậu bến Cô Tô,
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San.
Bài
thơ thất ngôn tứ tuyệt vẻn vẹn chỉ 28 chữ mà nói lên
bao điều về đạo và đời. Hai câu đầu nói về cảnh mùa
thu ở một bến vắng dưới cầu Phong (Phong Kiều) buồn lạnh
và cô đơn. Đó là cảnh nhà thơ chấm phá vài nét bằng ngôn
từ mà thành một bức tranh có màu sắc, đường nét và âm
thanh. Nội dung toát lên qua hai câu thơ này là cảnh buồn,
người buồn. Và đúng như Nguyễn Du đã nói “Người buồn
cảnh có vui đâu bao giờ.” Hai câu sau là nói về đạo. Đạo
ở đây là đạo Phật được hiện lên ở một địa danh
(là Hàn Sơn tự - chùa Hàn Sơn) và một danh từ (chung thanh
- tiếng chuông chùa). Câu thơ giản dị, không điển tích mà
làm cho người đọc cảm xúc về một ngôi chùa Hàn Sơn ở
ngoại thành Cô Tô, gần bến Phong Kiều và một tiếng chuông
chùa trong đêm khuya thanh vắng. Nhà thơ Quách Tấn đã xúc
cảm bài thơ này của Trương Kế mà làm bài thơ “Đêm thu
nghe quạ kêu” trong đó có câu:
Trời
bến Phong Kiều sương thấp thoáng,
Sông
thu Xích Bích nguyệt mơ màng.
Vì
yêu bài thơ “Phong kiều dạ bạc” của Trương Kế nên tôi
không thể quên ngôi chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa ngân
nga và đầy sức lay động của nó. Vì lẽ đó trong thời
gian ở Thượng Hải tôi quyết định đến Tô Châu để thăm
chùa Hàn Sơn, bến Phong Kiều và tìm hiểu một địa danh đã
đi vào lịch sử, đi vào văn học - Chùa Hàn Sơn.
Chùa
Hàn Sơn xây dựng ở phía tây Xương Môn, Tô Châu - thị trấn
Phong Kiều bên sông Đại Vân Hà, thuộc tỉnh Giang Tô ngày
nay. Theo sách “Bách thành yên thủy” ghi chép về văn hiến
địa phương thì chùa Hàn Sơn được xây dựng giữa những
năm Thiên Giám Tiêu Lương (502-519) thời Nam Triều. Như vậy,
chùa Hàn Sơn có lịch sử hơn 1500 năm tên cũ của chùa là
Diệu Lợi Phổ Minh tháp viện. Vì ở gần bên Phong Kiều nên
chùa còn có tên là Chùa Phong Kiều (Phong Kiều tự). Thời
Đường (618-907) Phật giáo thịnh hành, chùa chiền mọc lên
như nấm, sư sãi đông đúc nên chùa Hàn Sơn trở nên quan
trọng. Tương truyền rằng hai vị cao tăng đời Đường là
Hàn Sơn và Thập Đắc đã đến trụ trì ở chùa này nên
đặt tên là chùa Hàn Sơn tự. Đầu thời Thái Bình Thiên
Quốc (976-984), thời Bắc Tống (960-1127) Tiết đô sứ quân
Trung Ngô là Tôn Thừa Hiệu cho xây dựng lại Phật tháp. Vào
năm Gia Hựu (1056-1063) vua Tống Nhân Tông ban cho chùa tên là
Phổ Minh thiền viện. Năm Thiệu Hưng thứ 4 (1134) chùa Hàn
Sơn lại đựơc trùng tu và bảo quản kỹ. Cuối đời Nguyên
chùa bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Năm Hồng Vũ (1368-1398)
đời Minh chùa lại được trùng tu lại. Năm Hàm Phong thứ
10 (1860) đời Thanh cả vùng Phong Kiều, Tô Châu gặp nạn binh
hỏa, nhà điện, lầu gác, cửa chùa biến thành tro bụi. Năm
Quan Tự thứ 32 (1906) tuần phủ Tô Châu là Trần Quí Long quyên
góp tư liệu, tu sửa, đúc chuông, làm lầu gác và chùa viện
dần dần khang trang, qui mô to lớn. Năm Tuyên Thống thứ 23
(1910) tuần phủ Trình Đức Toàn, bố chính sứ lục Trung Kỳ
lại tu sửa, mở rộng, làm thêm đại điện, hành lang nên
chùa trở nên mới mẻ, đẹp đẽ và trang nghiêm như ngày
nay.
Từ
năm 50 về sau, chùa Hàn Sơn trải qua nhiều lần tu sửa. Năm
1963 chùa Hàn Sơn đựơc thành phố Tô Châu (tỉnh Giang Tô)
công nhận là đơn vị bảo vệ văn vật. Năm 1982 ngôi chùa
có lịch sử lâu đời này được công nhận là di tích văn
hóa của tỉnh Giang Tô.
Sân
chùa nằm ở hướng đông, chiếm diện tích 6 vạn m2, hai phía
Đông - Tây có tường cửa, Đại Hùng Bảo điện, Hàn Thập
điện,
Tàng Kinh lâu và Pháp Minh phổ viện. Phía Bắc chùa có Sương
Chung các, La Hán đường, Hàn Thập tuyền, Hàn Thập đình,
Phương Trượng thư trai và Tăng xá. Phía Nam có Phong Giang lâu,
Hoằng Pháp đường, Phòng chuông, lầu chuông. Năm 1996 Ngọc
Tháp Bảo Minh xây mới, làm thành 5 cấp bốn mặt lầu gác
theo kiểu kiến trúc đời Đường nguy nga, hùng tráng , trở
thành tiêu chuẩn mới của chùa Hàn Sơn. Trong chùa trưng bày
la liệt bản bia thư pháp của các danh gia từ đời Tống,
Minh về sau như : Nhạc Phi, Trương Tức Chi, Đường Diễn,
Văn Trưng Minh, Dũ Việt, Khang Hữu Vi và cả những bức tranh
tượng, các sư tăng Hàn Sơn và Thập Đắc do La Sính và Trịnh
Văn Trác sáng tác, làm tăng thêm cảnh quan của chùa. Trên
lầu chuông treo chiếc chuông rất lớn đúc từ đời Thanh.
Tiếng của chiếc chuông lớn này mỗi lần vang lên làm chấn
động tâm hồn mọi người. Hàng năm, cứ đến đêm trừ
tịch, chùa Hàn Sơn đến cử hành nghi thức “nghe tiếng chuông
đón mừng năm mới” (Thính chung thanh nghênh tân niên) mọi
người khắp nơi tụ tập đông đúc, trang nghiêm lắng nghe
108 tiếng chuông chùa để giã từ năm cũ và nghênh đón năm
mới.
Chùa
Hàn Sơn cũng là chứng tích lịch sử thể hiện mối bang giao
hữu hảo giữa nhân dân hai nước Trung – Nhật. Ngay từ năm
Trung Nguyên thứ 20 (804,) thời Đường Đức Tông, cao tăng
Nhật Bản là Không Hải Đại Sư vượt biển đến Trung Hoa
để cầu pháp đã ghé qua Tô Châu và lưu lại ở chùa Hàn
Sơn. Hiện nay trong Đại Hùng Bảo Điện có treo đầu núm
chuông đồng do Sơn Điền Hàn Sơn người Nhật Bản năm Minh
Trị thứ 38 (1905) đúc tặng. Trong La Hán đường và Hoằng
Pháp đường có hai bức tượng đồng Quan Am Bồ Tát và Không
Hải do đoàn thể hữu hảo Nhật Bản tặng chùa.
Văn
hóa, kinh tế và du lịch của Thành phố Tô Châu không ngừng
phát triển. Hơn 10 năm trở lại đây cảnh quan Phong Kiều
và chùa Hàn Sơn không ngừng thay đổi và mang lại một bộ
mặt mới. Khu du lịch Hàn Sơn tự bao gồm Cổ Vận Hà, cổ
trấn Phong Kiều, Phong Kiều, cầu Giang Thôn, cửa Thiết Linh,
vườn Phong Kiều và toàn bộ Khu Chùa Hàn Sơn hấp dẫn du
khách thập phương trong và ngoài nước.
So
với các chùa khác đời Đường, chùa Hàn Sơn không phải
chùa lớn. Nhà Đường thành lập năm 618 thì chùa Hàn Sơn
đã có trước đó gần 100 năm. Chùa Hàn Sơn ở Tô Châu thuộc
tỉnh Giang Tô còn Trương Kế là người Hồ Bắc. Không hiểu
nguyên do nào Trương Kế từ Hồ Bắc đến Tô Châu, tỉnh
Giang Tô và đêm đó ngủ dưới thuyền ở bến Phong Kiều
? Câu chuyện kể trên chỉ là truyền thuyết nhưng đúng là
Trương Kế là người có thiện cảm với chùa Hàn Sơn và
đặc biệt là tiếng chuông chùa Hàn Sơn trong đêm khuya thanh
vắng.
Chùa
Hàn Sơn và bài thơ “Phong kiều dạ bạc” đã gắn liền
với tên tuổi của nhà thơ đời Đường Trương Kế. Nhà
thơ sinh và mất năm nào không rõ, chỉ biết ông tự Ý Tôn,
người Tương Châu (nay là Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc). Có
thuyết nói ông là người Nam Dương (nay là huyện Nam Đăng
- tỉnh Hà Nam). Năm Thiên Bảo 12 (753) đời Đường ông đậu
tiến sĩ. Vào khoảng những năm Đại Hưng (766-779) ông làm
Kiểm hiệu tư bộ viên ngoại lang ở Hồng Châu (nay là Nam
Xương, tỉnh Giang Tây). Có lẽ ông chết vào cuối thời Đại
Lịch? Cao Trọng Vũ, người đồng thời với Trương Kế trong
“Trung Hưng giang khí tập” nói rằng: “Ông ta làm văn, không
gọt dũa trang sức, cùng với bạn bè thi đậu anh tú đương
thời, thể thơ mới mẻ, mang phong cốt của kẻ có đạo”.
Thơ của ông phần lớn làm ra đều do ngẫu hứng, tác phẩm
có “Trương Từ bộ thi tập”. Mùa đông năm Thiên Bảo 14
(755) An Lộc Sơn nổi loạn, Trương Kế lánh nạn xuống miền
Nam và phiêu bạt ở vùng vùng Giang Hoài (sông Trường Giang
- Hoàng Hà) và đi qua vùng Ngô Trung. Ông đã từng leo lên Thành
Lâu, cúi xuống nhìn cánh đồng với tâm hồn đầy xúc cảm.
Theo sách “Tự trị thông giám” thì mùa đông năm đầu Nguyên
Niên (760) vùng Giang Hoài xảy ra phản loạn, Tô Châu bị vây
hãm. Bài “Phong Kiều dạ bạc” có thể Trương Kế sáng
tác trong thời gian này. Đó là đêm mùa thu ông nằm dưới
thuyền lẻ loi đậu ở bến Phong Kiều. Với cảnh ấy, người
ấy và tâm hồn cảm xúc với đạo Phật mà Trương Kế đã
tạo nên bài thơ bất hủ. “Phong Kiều dạ bạc” được
coi là “Thiên cổ tuyệt xướng” (bài ca tuyệt vời ngàn
xưa) và “Phong Kiều vãn chung” (tiếng chuông chiều Phong
Kiều) trở thành “Ngô Trung tuyệt cảnh” (cảnh đẹp tuyệt
vời của đất Ngô Trung). Từ đời Tống trở về sau, bài
“Phong Kiều dạ bạc” của Trương Kế được lưu truyền
rộng rãi và đựơc coi là thi phẩm ngơi ca đạo Phật hay
nhất đời Đường và hậu thế. Địa danh Phong Kiều - Cô
Tô , Hàn Sơn tự và tiếng chuông chùa trở thành hấp dẫn,
nhân loại thế gian từ bao đời. Bài thơ thất ngôn tứ tuyệt
“Phong Kiều dạ bạc” trở thành một đề tài tranh luận.
Có người cho rằng hai câu thơ đầu “Nguyệt lạc ô đề
sương man thiên, giang phong ngư hỏa đối sầu miên” thì các
chữ “ô đề” và “sầu miên” không phải là “tiếng
quạ kêu” và “giấc ngủ buồn” mà là chỉ địa danh thôn
“Ô Đề” và núi “Sầu Miên” ở gần chùa Hàn Sơn. Đầu
đề bài thơ không phải là “Phong Kiều dạ bạc” mà là
“Dạ bạc Trùng giang” (Trùng giang đêm đậu thuyền) v..v…
Có sự rắc rối như thế bởi người đọc đời sau quá yêu
thích bài “Phong Kiều dạ bạc” và xúc cảm với chùa Hàn
Sơn cùng với tiếng chuông chùa trong đêm thanh vắng mà suy
đoán như thế. Đúng là ở phụ cận trấn Cô Tô, không xa
chùa Hàn Sơn có thôn Ô Đề và có núi mang tên Sầu Miên nhưng
các địa danh này đều có sau khi bài thơ ra đời. Một ngôi
chùa, một tiếng chuông chùa qua hồn thơ của thi nhân mà trở
nên bất hủ. Bài thơ của Trương Kế sẽ còn sống mãi trong
lòng Phật tử với chùa Hàn Sơn và tiếng chuông chùa. Hôm
nay, đến Tô Châu thả hồn trong chùa Hàn Sơn đầy hương
khói và tĩnh lặng tôi mới thấu hiểu điều đó. Kỳ diệu
thay thơ ca và Phật giáo giao hòa tự bao giờ và tự bao đời
trên cõi đời này!
(Viết
từ Thượng Hải)
Bài
Đọc Thêm:
Thơ
Hàn Sơn Thập Đắc
Bài
Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Đến
Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Thiền
Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên
Đọc
Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ
Trở
Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long
Đôi
Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường
Trao
Đổi Thêm Về Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc, Hà Quảng
Chùa
Hàn Sơn Trong Hồn Thơ Trương Kế, Hồ Sĩ Hiệp
Hoàng
Hạc Lâu và Phong Kiều Dạ bạc, Trần Dương Hân