(Chân
thành cám-ơn TS Phạm-Vũ-Thịnh,Sydney, Australia và nhà báo Hà-Chính-Trực,
Georgia, USA đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu cũng như cung
cấp nhiều dữ kiện và tài liệu cho bài sưu-khảo này )
Phong
Kiều Dạ Bạc của Trương Kế là một trong những bài thơ
Đường lừng danh như những bài Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu,
bài Giang Hán của Đỗ Phủ...
Học
giả Trần Trọng San, trong bài bạt " Tôi bước vào cảnh giới
Đường Thi từ bến Phong Kiều qua lầu Hoàng Hạc" đã tâm
sự rằng "Phong Kiều Dạ Bạc và Hoàng Hạc Lâu là hai bài
đã in trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất trong số những
bài thơ Đường mà gia-nghiêm dùng dạy tôi học chữ Hán trong
lúc ấu thời ..." (TTS)
Trong
Nguyệt-San Y-Tế số tháng 8-2001 , một tác giả có đặt vấn
đề với chữ "Phong-Kiều" và "Sầu Miên" :
1-hai chữ Giang phong không phải là Sông với Cây Phong ( erable)
mà tên của hai cây cầu.
2-còn hai chữ "sầu miên" thì không phải là Buồn và Ngủ
mà là tên của một hòn núivà tác giả đã đặt nghi vấn
"hóa ra các Cụ Thâm Nho nhà mình đều dịch sai nghĩa Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên ?" và còn e ngại rằng " dẫu
sao thì các học giả Trung Quốc mà đọc được chữ Việt
sẽ cười thầm các cụ thâm nho nhà mình"( nguyên văn)
Do
lời kêu gọi góp ý của tác giả, chúng tôi xin mạn phép
có vài ý kiến làm sáng tỏ phần nào vấn đề " Giang Phong
và Sầu Miên nghĩa là gì ?"
ĐÔI
GIÒNG VỀ THI-SĨ TRƯƠNG-KẾ
Thi-sĩ
Trương Kế tự Ý-Tôn, thuộc thời Trung-Đường (cùng thời
với Thôi-Hộ, Mạnh Giao, Vương Kiến, Hàn Dũ ...) người Trương
Châu, tỉnh Hồ Bắc. Năm 754, Ông thi đỗ tiến-sĩ , và được
đề-cử làm Diêm thiết phán quan trong quân mạc phủ, trông
coi về việc mua bán muối và sắt. Sau đó vào đời Đường
Đại Tông, Trương Kế được vào triều làm chức Tư bộ
viên ngoại lang , rồi sau đó về Hồng Châu trông coi việc
tài-phú và mất tại tỉnh này . Suốt đời công việc chủ
yếu của Ông là mua bán, thương mại . Nhưng Ông cũng là người
đa tình, đa cảm, đa sầu, những lúc đi ngao du sơn thủy,
ngắm cảnh thiên nhiên mà tức cảnh sinh tình, và trong những
giây phút ngẫu hứng Ông làm thơ. Phong Kiều Dạ Bạc là một
bài thơ nổi tiếng của Thi sĩ Trương Kế và đã gây ra nhiều
cuộc bàn cãi văn chương nghệ thuật và địa danh lịch sử
.
NGUYÊN
VĂN BÀI THƠ và NGUYÊN TÁC CHỮ HÁN
PHONG
KIỀU DẠ BẠC
Nguyệt
lạc ô đề sương mãn thiên,
Giang
phong ngư hỏa đối sầu miên.
Cô
Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ
bán chung thanh đáo khách thuyền .
Dịch
nghĩa:
CẦU
PHONG, ĐÊM NEO THUYỀN
Trăng
lặn, quạ kêu, sương đầy trời
Cây
phong bến sông, ánh đèn chài, trước giấc ngủ buồn
Ngoài
thành Cô Tô là chùa Hàn Sơn
Nửa
đêm tiếng chuông vọng đến thuyền khách .
Dịch
thơ:
1-Tiếng
quạ kêu sương bóng nguyệt mờ
Cầu
phong đốm lửa giấc sầu mơ
Hàn
Sơn khuất bãi Cô Tô vắng
Đêm
điểm hồi chuông khách sững sờ ...
2-Nguyệt
tà, quạ lảnh lót kêu sương
Ánh
lửa cầu phong vỗ mộng thường
Bến
vắng Cô Tô thuyền lẻ bóng
Hàn
Sơn rền rĩ khách nghe chuông
3-Trăng
lặn, sương đầy, tiếng quạ kêu
Bến
phong, ánh lửa, giấc đìu hiu
Cô
Tô quạnh quẽ thuyền neo bến
Chuông
đổ Hàn Sơn vẳng tiếng đều
4-Quạ
kêu, trăng lặn, sương đầy
Bến
phong, lửa đóm, sầu say giấc hồ
Hàn
Sơn khuất bến Cô Tô
Nửa
đêm thuyền khách thẫn thờ nghe chuông ..
Hải
Đà
BÀN
VỀ ĐỊA DANH CỦA CHÙA HÀN SƠN
Chùa
Hàn-Sơn (Hàn-Sơn-Tự) ở thị trấn Cầu Phong (Phong Kiều)
, phía tây ngoài tỉnh Tô Châu. Chùa được xây vào triều-đại
nhà Lương (502-557), thời Nam Bắc triều ở Trung Quốc. Vào
thời Đường (618-907) , một vị sư nổi tiếng có tên là
Hàn-Sơn (Hanshan) đã đến trụ trì và sửa sang lại ngôi chùa
này và sau đó chùa được đặt tên là Hàn-sơn-Tự. Đây
là 1 trong 10 ngôi chùa lừng danh của Trung Quốc. Bài thơ "Phong
Kiều Dạ Bạc" (Đêm Neo Thuyền ở Cầu Phong, A Night Mooring
by Maple Bridge) của Trương Kế rất là phổ thông và được
quần chúng ưa chuộng. Bài thơ có nói về tiếng chuông chùa
thường được đánh vang lên nửa đêm, làm Hàn-Sơn-Tự thành
một địa danh được nhiều người trong và ngoài nước biết
đến. Chùa bị phá hủy bởi thời gian, thiên nhiên và chiến
tranh, nhưng cũng đã được trùng tu nhiều lần qua nhiều thời-đại.
Ngôi chùa nằm trên một khu vực rộng khoảng 45 mẫu đất
, được chia làm nhiều khu vực gồm có chánh điện, một
bờ tường hình vòng cung có nhiều tranh họa, một tháp chuông
được gọi là Tháp Phong Kiều, được coi là di-tích quan-trọng
nhất của Chùa Hàn. Cái chuông đồng được nói đến trong
bài thơ của Trương Kế thật sự đã bị thất lạc từ lâu,
và cái chuông hiện giờ đang trưng lãm được đúc vào triều
đại nhà Thanh vào năm 1906. Khi chuông được đánh lên, những
âm thanh vang vọng rền rĩ dội vào tường , xen lẫn với những
tiếng tụng kinh gõ mõ của các nhà sư đã đem lại cho người
nghe những cảm giác nghiêm trang, cung kính , tâm hồn chơi vơi
vào tận cõi hư vô. Theo truyền thuyết tôn-giáo ở Trung-Quốc
, mỗi năm người trần tục phải chịu đựng 108 nỗi ưu
phiền, khổ lụy (vexations) , và khi nghe một hồi chuông vọng
lên có thể gột rửa đi được một nỗi ưu phiền trần
ai . Hàn Sơn Tự trở thành một danh lam thắng cảnh của thế-giới
, cứ mỗi dịp Tết, ngay đêm giao-thừa sắp sửa bước qua
ngưỡng cửa năm mới, các du-khách Phật Tử thường hay ghé
thăm chùa nầy để nghe chuông chùa được dánh đến 108 lần,
và các thiện nam tín nữ kính dâng lòng thành cầu nguyện
cho sự may mắn và hạnh phúc trên đời. Tục lệ nầy đã
bắt đầu từ năm 1979 . Hiện giờ trong ngôi chùa có một
vuông đá khắc trạm trổ bài thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" của
Trương Kế.
ĐÔI
LỜI DIỄN GIẢI
Như
đã biết, Phong Kiều Dạ Bạc là một trong những bài thơ
Đường nổi tiếng của Trung-Quốc và chính vì nhờ bài thơ
nầy đã được dịch ra nhiều thứ tiếng mà chùa Hàn Sơn
đã trở nên một danh lam thắng cảnh thu hút rất nhiều du-khách
ngoại quốc đến viếng thăm hằng năm.
Một
câu hỏi được đặt ra là, tại sao một bài thơ "tả cảnh
thiên nhiên" với những cảnh sắc bình thường như cây cầu
, bến nước, hàng phong, trăng tà, sương đầy trời, tiếng
quạ kêu, khách thuyền thơ v.v... mà lại nổi tiếng và được
lưu-truyền vượt thời gian và không gian ? Cái khung-cảnh "thiên
nhiên" trong bài thơ này không lãnh đạm, vô tình , mà là một
cảnh sắc trữ tình sống động, trầm lặng tịch liêu, bàng
bạc cái tâm bao la của thiên nhiên vạn vật, làm người nhìn
phải xao xuyến, đăm chiêu, rồi đắm chìm trong nỗi sầu
nhớ triền miên, trong cái buồn bát ngát hư không, quay cuồng
với muôn vàn nỗi nhớ thương : nhớ quê, nhớ nhà, nhớ gia-đình.
Con người với một tâm thức lãng mạn, chỉ còn là một
sinh-vật bé nhỏ , hữu hạn, cảm thấy cô đơn và lạc lõng
, và bị bao trùm phong tỏa trong cái vũ trụ vô chung vô thủy,
chìm ngập trong cái vô tận của màn đêm, cái bát ngát mênh
mang của sương khói vô hình, không bến bờ. Chúng ta có thể
tưởng tượng rằng thi-sĩ Trương Kế, trong một đêm trăng
mùa thu, neo thuyền tại bến nước Phong Kiều, lặng thầm
nhìn trời đất chung quanh ... Một đêm cô liêu quạnh quẽ
chỉ người và cảnh vật gợi cảm, gợi tình ... nhìn lên
màn trời đen là hình ảnh của một một mảnh trăng vàng
vọt đang từ từ lặn vào cõi vô cùng, và mờ mờ gần xa
là một màn sương khói dầy dặt quanh thuyền mà Ông tưởng
chừng hàng hàng lớp lớp sương mờ ảo hư vô đó đang tỏa
dâng đầy ắp khung trời. Những làn sương khói hư ảo đó
đã đem lại cảm giác liêu trai lành lạnh thấm dần vào cơ
thể, cảm xúc và tâm hồn của nhà thơ. Khung cảnh đêm huyền
ảo, mông lung, tịch mịch , và tiếng quạ kêu lanh lảnh như
chọc thủng màn đêm cô quạnh ... Ở gần đó là cây cầu
cong bắc ngang sông, chia cách kẻ bên này, người bên kia, và
những lá phong đỏ ối, phơ phất trong gió, và chiếc thuyền
nan neo trên sóng nước bập bềnh đã gợi lại nỗi nhớ nhà
da diết , đem lại niềm sầu cảm vô biên ... Lá phong chuyển
màu đỏ ối, như trong một câu thơ Kiều " Rừng phong thu đã
nhuộm màu quan san" , và cũng như một chiếc lá ngô đồng
rơi xuống , cơn gió heo may tha thướt... là những báo hiệu
cho một mùa thu đã trở về trên bến sông đất khách quê
người ... "Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri
thu " (Một chiếc lá ngô đồng rơi xuống, cả thiên hạ biết
mùa thu đã trở về ...). Cái độc đáo của Trương Kế là
làm cho những cảnh vật hiện hữu trở nên linh động và
có hồn ... Bên cạnh những cái "tịnh" im lặng quạnh quẽ
: trăng tàn, sương đầy, cây phong bên bến nước, chiếc thuyền
neo lại, ngôi chùa vắng vẻ ... là những cái "động" làm
bàng hoàng thảng thốt khách thơ: tiếng quạ kêu não nùng
tha thiết, ánh lửa chài leo lắt, bập bùng đem lại cho người
khách tha-phương một nỗi nhớ khôn nguôi, một xúc cảm lâng
lâng vơi đầy . Và trong cái tĩnh lặng của màn đêm đầy
sương đó , bỗng đâu rền rĩ, văng vẳng đong đưa từng
hồi chuông hư vô, vọng đến thuyền chài và khách thơ nửa
đêm, đã gây được sự cảm nhận tri-ngộ trong tâm hồn
của người thơ khiến cho cảm xúc dâng đầy, bay bổng chơi
vơi ..Trong cảnh trí buồn bã đó .... ai mà chẳng chùng lòng
....
Những
cụm từ đơn lẻ và tĩnh lặng:"trăng lặn" (nguyệt lạc),
"quạ kêu" (ô đề), "sương đầy trời" (sương mãn thiên),
đã cho ta hình tượng được cái thời-gian xảy ra: khi trời
vẫn còn đêm trước khi chạng vạng tranh tối tranh sáng ...
một thời gian của buồn bã trầm thống để tạo ra sự "sầu
miên". Và cái không gian của tĩnh vật: hàng cây phong bên bến
sông (giang phong) , ngọn lửa chài trên thuyền (ngư hỏa) ,
ngoại thành Cô tô, chùa Hàn San . Trong cái thời gian và không
gian huyền ảo , cô tịch đó đã văng vẳng tiếng chuông:
sự độc đáo của bài thơ là đưa cái âm thanh huyền hão
này vào.
Trong
2 câu thơ đầu: " Nguyệt lạc / ô đề / sương mãn thiên /Giang
phong / ngư hỏa / đối sầu miên / có 5 biểu tượng cụ thể
là những cảnh trí rời rạc nhưng đã liên kết lại thành
một biểu tượng duy nhất để dẫn dắt đến cái biểu tượng
thứ 6 mơ hồ và trừu tượng đó là sự "sầu miên" của
người nhìn cảnh .
Thêm
vào đó là cảnh một chiếc thuyền lẻ loi, neo lại dưới
chân cầu trước sự vật sầu thảm trong cõi vũ trụ mênh
mông vô thường, và âm thanh của tiếng chuông chùa ngân vang
. Cái đặc trưng của tác giả khixúc cảm thành thơ là không
tự đưa cái "ngã" , cái "tôi" của mình để nhận xét sự
việc chủ quan , mà chỉ xem mình như một "tha nhân", một người
khách thơ trên thuyền để cái tâm tự tri-ngộ với cảnh
sắc thiên nhiên một cách khách quan hơn .
BÀN
VỀ ÂM THANH TRONG BÀI THƠ
Theo
một truyền thuyết kể lại , trong một đêm trăng ở bến
Phong Kiều, có một chiếc thuyền dạo mát đậu lơ lửng trên
sông, trong đó có một nhà Sư và đệ tử trụ trì tại Chùa
Hàn Sơn . Nhà Sư ngẫu hứng ngâm nga 2 câu thơ:
"Sơ
tam sơ tứ nguyệt mông lung
Bán
tự ngân câu bán tự cung"
(Mồng
ba mồng bốn trăng mờ
Nửa
dường móc bạc nửa như cung trời)
Chú
tiểu thấy hay quá mới làm tiếp hai câu sau :|
"Nhất
phiến ngọc hồ phân lưỡng đoạn
Bán
trầm thủy để bán phù không"
(Một
bình ngọc trắng chia hai
Nửa
chìm đáy nước nửa cài từng không)
Khi
về chùa đã nửa đêm rồi, Nhà Sư đánh chuông lên để xin
cảm tạ Đức Phật về sự hoàn thành bài thơ tứ tuyệt
kể trên . Tiếng chuông này đã vọng đến bến sông mà gần
đó có chiếc thuyền của Trương Kế, gợi ý nên câu cuối
của bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc" Dạ bán chung thanh đáo khách
thuyền"(trích trang http://www.geocities.com/SoHo/Study/1080/index.html)
Như
vậy "âm thanh" của tiếng chuông chùa nửa đêm chính là nét
đặc thù, biệt điệu của bài thơ nầy .
Các
tác giả Trung-Hoa Cao Hữu Công - Mai Tổ Lân trong sách nói về"Nghệ
Thuật Ngôn Ngữ Thơ Đường" (do Trần Đình Sử và Nguyễn
Khắc Phi dịch) có bàn luận về đặc trưng của âm thanh trong
nghệ-thuật thơ Đường. Thính giác được cảm nhận thông
thường từ những biểu hiện do nhạc khí hoặc vật thể
tạo ra tiếng, những sinh vật phát ra tiếng chẳng hạn như
"nhân ngữ" (người nói) , "mã tiêu" (ngựa hí) , "điểu minh"
(chim hót) . "Thanh" là biểu tượng của thính giác : chung thanh
(tiếng chuông), tuyền thanh (tiếng suối), thủy thanh (tiếng
nước) , lãng thanh (tiếng sóng) , trạo thanh (tiếng chèo) v.v...).
Bài
thơ "Phong Kiều Dạ Bạc" đã nổi tiếng là nhờ tác-giả
đã đưa tiếng chuông chùa vào câu cuối, đã gây ra sự bàn
cải sôi nỗi, về thời gian và không gian . Hai danh từ ghép
"Chung + Thanh" đã làm cho cái biểu tượng "thính giác" của
sự nghe được tăng cao và gây một ấn tượng sâu đậm hơn
. Chính cái âm-thanh của tiếng chuông rền rĩ này đã làm
lay động được màn cô liêu tịch mịch, để diễn tả được
nỗi lòng "sầu miên" của khách thuyền (tha nhân) mà cũng chính
là người thơ . Từ những nhận thức về sự vật, phong cảnh
chung quanh, của một thế giới ngoại cảnh khách quan, từ
đó để dẫn dắt đến và khuấy động tư-duy và nhận thức
của người thơ để đưa đến cái cảm giác vô hình trừu
tượng , tình và cảnh đã gắn bó với nhau một cách mật
thiết và hài hòa, qua kỹ thuật điêu luyện xử dụng ngôn
ngữ thơ chắt lọc, lựa chọn và cô động trong một bài
thơ chỉ có 4 câu và 28 chữ, nhưng đã nói lên được cái
nghệ thuật sống động, cái tâm hồn thư thái, quan niệm
nhân sinh, tư duy phóng khoáng, đa dạng và phong phú, làm cho
người đọc cảm thấy một sự đồng tâm, đồng điệu kết
giao giữa tình và cảnh. Cái âm thanh huyền diệu của tiếng
chuông chùa trong bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc chẳng khác cái
âm thanh của chiếc sáo gió vi vút mấy tầng không trong một
câu thơ bất hủ của Đỗ Phủ :
"Lạc
nhật lâu đài nhất địch phong" (chiều tàn, mặt trời khuất,
trên lâu đài, có tiếng sáo gió vút lên cao )....
VÀI
CẢM NGHĨ VỀ CÁCH DỊCH THƠ ĐƯỜNG
Chúng
tôi xin trích dẫn vài dòng trong bài tham-luận "DỊCH LÀ ĐỐI
THOẠI" của Nhà thơ và dịch giả Khương-Hữu-Dụng " Cám
dỗ thứ nhất rủ rê ta quá nệ vào "nghĩa" . Thơ không phải
có "nghĩa" mà còn có "chữ" , mà "chữ" trong câu thơ đều
có giấy chứng minh riêng do nhà thơ cấp . Chính diện mạo
riêng cũng như bố cục riêng của chữ tạo thành sức sống
trường kỳ của câu thơ . Chỉ tập trung vào "nghĩa" mà quên
"chữ" sẽ cho ta một bản dịch tưởng là đúng cực kỳ ,
nhưng mà sai ghê gớm vì người dịch đã vô tình mắc trọng
tội giết chết bài thơ để cung cấp cho ta một cái "xác",
giống thì giống thật, nhưng không có "hồn" ..."(KHD).
Mặt
khác, một học giả Trung-Hoa cho rằng việc dịch thơ cần
phải dưạ trên ba yếu tố căn bản và thiết yếu là " Tín
, Đạt, Nhã".
"Tín"
là đòi hỏi phải trung-thành với nguyên-bản của bài thơ,
cần nghiền ngẫm chu-đáo kỹ lưởng, tìm hiểu lai lịch gốc
tích, ý nghĩa của từng từ ngữ, cũng như điển tích của
từ ngữ thơ , để cảm nhận nét hay vẻ đẹp của bài thơ
gốc .
"Đạt"
là đòi hỏi chính xác và thành đạt như bài thơ gốc, đúng
như tư duy và cảm nghĩ, ý tưởng của tác giả bài thơ .
"Nhã"
nghĩa là trang-nhã, đẹp và hay, đọc bài thơ dịch cần có
âm điệu, đọc lên gây sự rung cảm sâu xa cho người đọc
.
Nhưng
nếu theo đúng khuôn mẫu, phép tắc của ba yếu tố "Tín,
Đạt, Nhã" thì e rằng việc dịch thơ sẽ khó khăn vô cùng
....Cho nên dịch thơ đôi khi cũng cần sự phóng khoáng, cởi
mở và không phải gò bó theo đúng khuôn phép, tuy nhiên tránh
việc làm lệch lạc "ý" của bài thơ gốc , nghĩa là phải
lựa chọn chữ để đem được cái "ý tưởng" , "tâm hồn"
và "thần sắc'' vào bài thơ dịch, để độc giả khi đọc
bài thơ đó tự-nhiên có cảm tưởng biết ngay cái nguồn
gốc của bài thơ dịch là từ đâu ... Chứ không thể thêm
thắt bừa bãi để biến thành "dịch" là "phản" thì thật
là bất công và vô tâm đối với tác-giả bài thơ gốc .
Theo thiển ý của chúng tôi , các địa-danh (danh từ riêng
của tên, họ, địa điểm ....) nên giữ đúng nguyên văn,
như thành Cô Tô, chùa Hàn Sơn, hoặc nếu cần để bài dịch
đúng âm điệu và thi-pháp thì có thể nói một cách khái
quát như "thành" hoặc "bến" (Cô Tô) , hay chùa (Hàn Sơn). Chứ
một địa-danh như Chùa Hàn Sơn mà dịch là "Núi Lạnh" (Cold
Mountain) thì không hiểu rằng có "phản bội" ngôn-từ nguyên-bản
hay
không
?
Thơ
không phải là ngôn ngữ của "khoa học" (một cộng với một
là hai ) mà thơ là nguồn tinh-khôi của cảm nhận và ý tưởng
hòa đồng, và từ sự vật cụ thể để dẫn dắt đến cái
trừu tượng bao la khó diễn tả, không thể sờ, mó, ngửi
... mà chỉ cảm nhận bằng tâm hồn và cảm xúc . Thơ là
một ngôn ngữ của trực quan , có sức truyền cảm mãnh liệt
. Sở dĩ chúng tôi xin nêu ra vài quan-điểm về sự dịch thơ
để tìm một giải đáp có thể chấp nhận trong việc tìm
hiểu và giải thích ý nghĩa những từ ngữ "sầu miên" và
"phong kiều"
"SẦU
MIÊN" CÓ PHẢI TÊN CỦA NGỌN NÚI HAY KHÔNG ?
Trong
Nguyệt San Y Tế số tháng 8-2001, tác giả bài viết đã đặt
nghi vấn : "Hay là chỉ tại vì chữ Nho không có lối viết
hoa khác với lối viết thường để phân biệt danh từ thường
(nom commun) với danh từ tên (nom propre) nên các cụ Thâm Nho
nhà mình đã hiểu lầm? "( nguyên văn)
Để
hiểu rõ "sầu miên" không phải là danh từ riêng, không phải
là tên của một ngọn núi, tưởng chừng cũng nên nhắc lại
sơ lược diễn tiến cấu tạo chữ Hán.
Hán
tự có nguồn gốc lâu đời như lịch sử Trung Hoa. Khởi thủy
người ta phỏng vẽ lại hình tượng các vật để làm chữ,
gọi là đơn tự. Lấy ví dụ hình ô vuông là chữ khẩu (cái
miệng ).
Khi
nền văn hóa tiến triễn, nhu cầu chữ viết gia tăng, những
chữ mới được thiết lập thêm bằng nhiều cách như vẽ
thêm nét hay ghép những chữ đã có với nhau, để có nhiều
đơn tự mới. Lấy ví dụ như chữ khẩu nói trên, nếu thêm
chữ thập, tức là dấu cọng, vào ở giữa để chia ô vuông
ra làm bốn phần, thì hóa ra chữ điền có nghĩa là thửa
ruộng hoặc là ghép 3 chữ khẩu gần nhau thì ra chữ phẩïm
nghĩa là giá tri, tốt xấu.
Sựï
thêm thắt sáng tạo này đươc hệ thống thành từng bộ.
Các bộ chữ này được đặt tên như Kim, Mộc, Thủy, Thổ,
Hỏa, vân vân... để tiện cho việc thiết lập và tra khảo.
Văn
minh tiếp tục tiến lên, nhiều đơn tự được kết lại
thành từ ngữ hay chữ kép, nhằm đáp ứng nhu cầu diễn đạt
ý tưởng của con người. Khác loài thú, homo sapiens có khối
chất xám biết suy tư , biết cái thú vị của Cầm, Kỳ, Thi,
Họa...
Chữ
Hán qua tiến trình sáng tạo như vậy trở thành một ngôn
ngữ lớn, có đầy đủ các từ chung (commun), từ riêng (propre),
từ đơn , từ kép . Chỉ có điều là chữ Hán không phân
biệt chữ hoa chữ thường như lối viết của chữ Việt hay
Anh, Pháp ngữ, mà người ta thường phải dùng lối viết hoa
để phân biệt một danh từ riêng.
Nhưng
đừng vội kết tội cho cái sự kiện đó là nguyên nhân gây
ra việc dùng chữ Hán bị hiểu lầm ý nghĩa giữa danh từ
riêng hay chung bởi hai lẽ:
Lẽ
thứ nhất : Hán văn có nhiều đơn từ đồng âm nhưng dị
nghĩa vàdị tự, nghĩa là có nét chữ viết hoàn toàn khác
biệt và dĩ nhiên khác nghĩa. Lấy ví dụ như chữ HÀN có
nghĩa là lạnh, đây là một từ chung, khác với chữ HÀN là
Triều Tiên, và đây là một danh từ riêng, không thể lầm
lẫn qua nét viết. (Hán Việt tự điển, NVK, quyển thượng,
trang 353).
Lẽ
thứ hai: Như đã nói Hán văn có từ ngữ , chữ kép, để
định rõ trường hợp một danh từ riêng. Hãy lấy ngay ví
dụ chữ hàn , tựï nó là đơn tự, chỉ có nghiã chung, nhưng
khi Thi Sĩ Trương-Kế gieo vần thơ, Ông đã kết hợp với
chữ sơn và chữ tự, thì Hàn Sơn Tự biến thành danh từ
riêng, chỉ tên của một ngôi chùa.
Qua
nhận xét về cách viết của Hán tự và căn cứ vào các nguyên
bản chữ Hán của bài thơ, cùng tra cứu nhiều tựï điển
chữ Hán, chúng tôi, một lần nữa, không ngần ngại đồng
ý với các dịch giả Đông Tây Kim Cổ rằng "sầu miên" trong
bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc không phải là danh từ riêng, không
chỉ tên của một ngọn núi, trừ khi Thi Sĩ họ Trương tái
thế, cầm bút mực gieo lại vần thơ làm sao cho có thêm chữ
"sơn" hay "san" đi kèm , thì sầu miên sơn hay sầu miên san,
lúc ấy mới đúng là một danh từ riêng chỉ tên một hòn
núi.
Tưởng
cũng nên nói thêm về chữ SẦU ở đây, đã được tra xét
trong sách vở, không có một đơn tự nào đồng âm dị nghĩa
hay dị tự với nó. Dẫu rằng Sầu mang ý nghĩa trừu tượng
, nhưng qua quá trình thành lập chữ, người xưa cũng đã sáng
kiến gài vào đó chữ Tâm có hình vẽ và ý nghĩa thực tế
của một quả tim với bộ đồ lòng quen thuộc trong lục phủ
ngũ tạng của con người . Thì ra, từ gốc rễ , chữ nghĩa
cũng cần có sự giao lưu để diễn đạt ý và để có thể
nói rằng thực tế và trừu tượng là hai yếu tố như hình
với bóng bất khả phân ly, trừ khi vạn vật đắm chìm trong
u tối.
(
Trích Sưu Khảo của Vương-Huệ trong http:// phanchautrinhdanang.com
)
Và
trong thơ văn cho rằng cái cụ thể bắt buộc phải đối với
cụ thể, nghe chừng như nghịch nhĩ ...
Bài
viết của tác giả (NSYT 8-01) có đề-cập đến một đoạn
nhận xét của Mai-Nguyệt trong bài Đi tìm Di Tích Lịch Sử
Bách Việt Qua Thi Ca Kim Cổ Hoa Việt của học giả Hương Giang
TVK rằng : 2 chữ Sầu Miên là tên hòn núi lớn đối diện
với bến Phong Kiều, là cầu bắc ngang sông có trồng nhiều
cây phong, tức là hai cảnh trí cụ thể vật chất mới đối
diện (opposite) với nhau được, chớ một vật cụ thể không
thể đối diện với sự ngủ buồn vô hình dung (và sự dẫn
chứng bằng ... một bức tranh màu...)
Thiết
tưởng một vật cụ-thể đối diện với một cụ thể chỉ
là một dẫn chứng có tính-chất khoa-học vật thể khô khan,
chứ không phải là một dẫn chứng và diễn giải áp dụng
cho ngôn ngữ Thơ nữa . Còn đâu là "tức cảnh sinh tình" ...."
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ....." . Chúng ta hãy
tưởng tượng ở một bến sông, với mùa thu có gió heo may,
một chiếc thuyền lơ lửng bên một cây cầu với những cành
cây phong khẳng khiu, lá đỏ rụng buồn xơ xác, một đốm
lửa chài chập chờn leo lắt ... thì chắc chắn không cần
phải có một tâm hồn thi-nhân mới cảm thấy bâng khuâng
xao xuyến để mà "sầu miên " được hay sao ? Và nếu hòn
núi đó không có cái tên "Sầu Miên" và có một cái tên khác
sáng chói hơn, rực rỡ hơn ....chẳng hạn như ngọn núi có
tên "bồng tiên" (bồng lai tiên cảnh ,một nơi chốn, cỏ cây
xanh tươi tốt, đàn ca vui vẻ) hoặc có cái tên thật bi đát
như "trường miên" (ngủ luôn = chết) v.v.." thì hỏi thử nhà
thơ Trương Kế có đem tên hòn núi đó vào thơ hay không ???
Nếu
chúng ta lạc lõng vào thế giới Thơ, thì có lẽ không ai bắt
buộc "cụ thể" không được đi đôi với "trừu tượng",
chúng ta thử đọc 4 câu thơ thể loại mới sau :
"Đối
diện đêm là núi sầu bất tận
Chỗ
tim tôi, máu chảy ngược khơi nguồn
Nơi
yên vắng chốn đi về ẩn mật
Tình
lênh đênh trên sóng nhớ, biển cuồng "
Những
chữ "núi , sóng , biển " là những chữ "cụ thể" nhưng đã
đem lại cho người đọc tưởng tượng và hình dung được
những cái "trừu tượng" như "sầu" chất ngất như "núi",
nỗi "nhớ" vời vợi như sóng cao và cái "cuồng" nhiệt mênh
mang, bập bềnh, và triền miên như biển rộng .
Cũng
như trong một bài Đường-thi Y CHÂU CA của Vương-Duy có 4
câu:
"Thanh
phong minh nguyệt khổ tương tư
Đãng
tử tùng nhung thập tải dư
Chinh
nhân khứ nhật ân cần chúc
Quy
nhạn lai thì số phụ thư "
"Trăng
thanh, gió mát, muôn trùng nhớ
Chinh
chiến mười thu vắng bóng chàng
Một
thuở người đi còn nhắn lại
Nhạn
về xin gửi cánh thư sang"
Hải
Đà phỏng dịch
Những
hình ảnh cụ thể như Trăng (thấy được) , Gió (cảm nhận
được) đã đưa đến một sự "trừu tượng" là "khổ tương
tư" (nhớ nhau da diết) . Một đêm trăng giữa trời đêm mênh
mông bát ngát và cơn gió hiu hiu thổi làm chạnh lòng tê tái
người thiếu phụ nhớ chồng đi lính đồn xa một cách tha
thiết và trữ tình, trong một trạng thái "tương tư ", nếu
cụ thể đối với cụ thể, thì chẳng lẽ phải đem ra một
giả-thuyết là có trăng thanh, gió mát, trên một con sông có
tên là "Tương Tư " ? Những hình ảnh trong bài thơ Phong Kiều
Dạ Bạc : chiếc cầu quạnh quẽ với hàng cây phong cô liêu,
lập lòe ánh lửa chài , mà chẳng mang lại sự sầu cảm nhập
vào cõi mơ của người "đối" diện với những cảnh vật
buồn não nuột và hiu hắt này hay sao ?
Theo
Hán-Việt Tự-Điển của Đào-Duy-Anh Chữ "Đối" có nhiều
nghĩa như :đáp laiï, ứng với (cùng với) , thành đôi (cặp
đôi), bằng ngang nhau, hợp với, xoay về ...Từ ngữ Hán rất
phong phú và đa dạng trong việc giải thích cái nghĩa, cần
phải dựa vào nguyên văn cả bài thơ, ví dụ có những thành
ngữ hán-việt như : "Đối hoa huy lệ" = trước cành hoa mà
gạt nước mắt ( đa sầu đa cảm vì nhìn cánh hoa), "Đối
thiên phát thệ" = đối với trời nói lên lời thề (người
có niềm đau riêng)....
Trong
bài thơ "Nguyệt Hạ Độc Chước" (Dưới Trăng Uống Rượu
Một Mình) của Lý-Bạch , có 4 câu như :
Hoa
gian nhất hồ tửu
Độc
chước vô tương thân
Cử
bôi du minh nguyệt
Đối
ảnh thành tam thân ....
Giữa
hoa một bầu rượu
Khề
khà chỉ mình ta
Nâng
ly mời trăng tỏ
Với
bóng nữa thành ba
(Chữ
"đối" có nghĩa là "cùng, với" , giữa 2 cái cụ thể là "ta,
trăng" cùng với cái trừu tượng là "bóng")
Dẫn
chứng ngọn núi "Sầu Miên" bằng bức tranh ....cũng chỉ là
sản phẩm tưởng tượng của người họa sĩ mà thôi vì "Tranh
chỉ là ... Thơ không lời ". Thành Cô Tô trong câu thơ thứ
3 cũng chính là một dãy núi rồi . Trong 4 câu thơ ngắn ngủi
và nổi tiếng này nếu Trương Kế đem hết vào 4 địa-danh
cụ thể đối chọi với nhau thì đâu còn cái cảm xúc chân
thành của "hồn" thơ nữa !
Cũng
bàn về sự vật cụ có thể dẫn dắt đến cái trừu tượng
là sự tưởng tượng , chúng ta hãy thưởng ngoạn hai câu
thơ của Đỗ Phủ như trăng lồng nước, như bóng trong gương
sau đây , thực mà hư, hư mà thực:
"Hương
vụ vân hoàn thấp
Thanh
huy ngọc tí hàn"
(Sương
thơm mây thẫm ướt
Ánh
xanh ngọc lạnh lẽo"
Mới
đọc ta chúng ta chỉ nghĩ đây là những hình ảnh cụ thể,
đâu có gì thâm thúy và sâu sắc, nhưng thật ra nhà thơ Đỗ
Phủ đã dùng hình ảnh cụ thể chỉ để nêu lên cái hình
ảnh "trừu tượng" khác ẩn hiện trong trí tưởng tượng
của ông mà thôi là hình ảnh "mây" là "tóc mây" , hình ảnh
"ngọc" là "tay ngọc" của hiền-thê Ông trong một đêm nhìn
trăng nhớ chồng đi xa .
Từ
những sự thể nhỏ bé ở trong cái không gian bao la của vũ
trụ ( bầu trời đầy sương xem như cõi vô tận), nhờ có
một tâm hồn thơ, một tinh thần ung dung tự tại, thi-nhân
mới có thể cảm nhận và chiêm nghiệm và từ đó đưa đến
và hình thành những câu thơ vi diệu và độc đáo , chi phối
mãnh liệt tâm hồn người đọc, và dẫn dắt người đọc
thơ đi "dạo" chơi giữa cái lâng lâng vô cùng ... mà không
hề hay biết ...
"Thiên
địa vô cùng cực, nhân mệnh nhược triêu sương (Tống Ưng
Thị của Tào Thực )
(Đất
trời vô cùng tận, kiếp người tựa sương mai)
Một
đặc trưng khác của thơ Đường là "thiên, địa, nhân" nối
kết và liên hợp và con người chỉ muốn hòa nhập, gắn
bó mật thiết vào không gian và thời gian diễn tả trong bài
thơ mà chúng tôi đã đề cập ở trên .
Nếu
cụ thể phải đối với cụ thể thì làm sao nẩy sinh ra những
câu thơ rất là trừu tượng và mơ hồ từ những cảnh trước
mặt như :
"Tôn
lý ngộ phong vũ
Song
tiền động ba đào"
(Trong
chén rượu gặp gió mưa
Trước
cửa sổ động sóng dữ)
hoặc
những ẩn dụ hay ám chỉ mơ hồ:
"Thuyền
tại hải thượng canh vân"
(Thuyền
cày trên biển cả)
Đi
vào cõi thơ là những bước chân hụt hẫng chênh vênh giữa
tịnh và động, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa xác
thực và mơ hồ......
"GIANG
PHONG" CÓ PHẢI LÀ TÊN CỦA HAI CÂY CẦU ?
Cũng
trong bài viết của tác giả trong NS Y-Tế 8-2001, có đề cập
đến một đoạn văn của Thi Sĩ Tiểu Quỳnh : "theo lời thuật
lại của các tăng-lão của chùa này thì hai chữ "giang phong"
trong câu "Giang Phong ngư hỏa đối sầu miên ", chữ Giang chỉ
Giang-Thôn-Kiều và chữ Phong chỉ Phong-Kiều là hai cầu ở
phía Đông và Tây , nay vẫn còn, bắt qua con kinh trước chùa,
cách xa nhau lối 100 thước, đều là cầu vồng cao, dưới
cầu có một hang để ghe thuyền qua lại " (tác giả dẫn chứng
bài "Đàm Cổ Luận Kim Hàn-Sơn-Tự" viết trong tạp chí Trung-Hoa
Kiến-Thiết số 6-1983) .
Theo
một tài liệu khác, dưới đề mục Những Sự Kiện và Giai-Thoại
Cũ đã bàn về sự kiện là có hai cây cầu ở Giang Phong (Maple
River) đối diện với chùa Hàn-San. Ở phía Bắc là Cầu Phong
= Phong Kiều (Maple bridge) và phía Nam là Cầu Làng = Thôn Kiều.
Sự khác biệt giữa hai chữ phong (maple) và thôn (village) đã
đưa đến sự diễn-giải khác nhau về bài thơ nầy . Nhiều
ý-kiến khác nhau , nhưng đến nay cũng chưa có một kết luận
cụ-thể nào cả. Hơn nữa, tác giả Wang Zhi-fang trong một
cuốn sách luận bàn về Thơ có trích lời của tác-giả Yang-Xiu
: Thành phố cổ Giang Tô (SuZhou), nơi có ngôi chùa Hàn-San,
trong thuyền tôi nghe tiếng chuông chùa như trong bài thơ đường
của Trương Kế . Như vậy có người bàn rằng có sự khác
biệt về nơi chốn (không gian) là ở gần thành Cô To â(by
the city) hay ngoại thành Cô Tô (outside the city) . Nhiều sự
giải thích khác nhau, nhưng cũng không ảnh hưởng gì đến
bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc đã được quần chúng chập nhận
là đúng như bản ghi ở trên ."
(Past
Events and Anecdotes - Various Versions of The Poem "Night Anchorage at
Maple Bridge: The fact is that there are two bridges over the Maple River
opposite to Han Shan Temple. The northern one is Maple Bridge and the southern
one Village Bridge. The difference between "maple" and "village" would
produce different interpretation of the poem. As opinions vary, no unanimous
conclusion can be drawn thus still. Furthermore, Wang Zhi-fang quoted in
his "On Poetry" what was said by O Yang-xiu "There is ‘By the ancient
suzhou city lies Han Shan Temple, At midnight I hear in my boat its bell’
composed by a Tang poet." Then there is also difference between "by the
city" or "outside the city". Various versions as there have been, anyway,
they still make no influence upon the generally accepted one at present.)
(trích
dẫn :http://www.sz.js.cn/english/culture/custom/past/past15.htm)
Lẽ
đó, theo những tài liệu và dữ kiện mô tả dẫn thượng,
về địa lý địa danh, thi sĩ Tiểu Quỳnh đã dẫn chứng
rằng có hai cây cầu ở gần chùa Hàn Sơn là rất đúng, và
thật ra tên của hai cây cầu nầy là "Phong Kiều" và"Thôn
Kiều"; nhưng mặt khác, chữ"Giang Phong" theo cái nghĩa trong
bài Phong Kiều Dạ Bạc mà các học-giả nhà Nho Việt Nam gọi
là "dòng sông có cây phong " (bến phong) rất là chính xác đúng
ý đúng nghĩa, duy chỉ còn vấn đề mà người ta thường
bàn cải là tác-giả Trương Kế khi cảm tác bài thơ nầy
là nằm trên thuyền ở bến "Phong Kiều" hay " Thôn Kiều" mà
thôi (không có cầu nào gọi là "Giang Thôn Kiều" ). Nhưng dù
ở cầu nào chăng nữa thì cái gợi cảm của bài thơ không
phải là địa-danh của cây cầu mà chính là những hàng cây
phong lá đỏ úa báo hiệu một mùa thu chuyển mùa (thời-gian
của bài thơ) và tiếng chuông chùa ngân vang nửa đêm. Cái
người ta bàn cãi là bàn cãi về đề tựa của bài thơ là
"Phong Kiều Dạ Bạc" hay "Thôn Kiều Dạ Bạc" mà theo quần
chúng cũng như các nhà nghiên cứu văn-học-sử Trung Quốc
thì họ vẫn chấp nhận cái nơi chốn không gian đúng của
bài thơ nầy là ở bến Phong Kiều mà thôi. Sỡ dĩ có sự
tranh cãi vì chữ Phong (cây phong có tên khoa-học Liquidambar
formosana ) .... và chữ Thôn (làng) trong chữ Hán nét viết gần
giống nhau, chữ khắc trên đá do sự xoi mòn của thời gian
nên bộ chữ bên phải hơi bị mờ nên mới có sự "tam sao
thất bổn" gây ra ngộ nhận nầy ....
(Another
difference is between "maple" and "village". When inscribing the poem "Night
Anchorage At Maple Bridge", Yu Yue wrote in its postscript, "Originally,
there was the poem of ‘Night Anchorage At Maple Bridge’ written by
Wen Dai-zhao. While so long as it was, the characters have become dim.
In 1906, the minister Zhong Cheng had several pillars built in the temple
and entrusted me to make the inscription." At the back of the slabstone
there is also an appendix---the poem ‘Night Anchorage At Maple Bridge’
of Zhang Ji in Tang dynasty has been enjoying great popularity. )
Thêm
MỘT
BÀI THƠ nói về Chùa Phong Kiều
Vào
đời Tống, có thi-sĩ Tôn-Định khi đi ngang qua bến Phong Kiều
này cũng cảm hứng làm một bài thơ cũng với nội dung tương
tự như thế :
QUÁ
PHONG KIỀU TỰ
Bạch
thủ trùng lai nhật mộng trung
Thanh
sơn bất cải cựu thời dung
Ô
đề nguyệt lạc kiều biên tự
Ỷ
trẩm do văn bán dạ trung
(Tôn
Định - Đời Tống)
GHÉ
QUA CHÙA PHONG KIỀU
Tay
trắng hoàn tay giấc mộng suông
Cảnh
xưa sắc núi mãi xanh cùng
Quạ
kêu, trăng lặn, bên chùa vắng
Tựa
gối, đêm nằm, vẳng tiếng chuông
(Hải
Đà phỏng dịch)
BẢN
DỊCH ANH NGỮ CỦA VĂN-THI-SĨ TRUNG HOA TRÊN LIÊN MẠNG
1-
NIGHT MOORING AT MAPLE BRIDGE
The
moon descends, and crows cry in the frost-filled sky.
I
gaze at the riverside maples and fisherman's light in melancholy sleeplessness,
Then,
outside the town of Suzhou, the night bell of Han Shan Temple,
Reaches
as far as my boat.
(http://www.apec2001fm.gov.cn/suzhou/e-suzhou/suzhou.htm)
2-
ANCHORING AT NIGHT BY THE FENGQIAO BRIDGE
The
moon sets and crows crow in a frosty sky,
the
fisherman dozes off by his fishing light at the Feng Bridge;
the
bell in Hanshan Temple on the outskirts of Suzhou chimes,
and
arrives the passenger boat at midnight
(http://www.shanghai-rr.com/e-shrr/surround%20areas/main-3.htm)
3-
A NIGHT'S MOORING AT THE MAPLE LEAF TREE
Moon
sets, crows cry and frost fills all the sky;
By
maples and boat lights, I sleepless lie.
Outside
Suzhou Hanshan Temple is in sight;
Its
ringing bells reach my boat at midnight.
(http://www.chinapage.org/poet.html)
4-
OVERNIGHT STAY AT FENG QIAO
The
moon goes down and in frost-filled air rings crow's cry,
Sleepless,
in the shadow of riverside maples, I stare at the fisherman's lantern.
Away
from the town of Suzhou stands Han Shan Temple,
The
chime of its mid-night bell reaches as far as my boat."
(http://202.84.17.73/english/temple12.htm
-Xinhua News Services)
5 MOORING
FOR THE NIGHT AT FENGQIAO BRIDGE
The
moon goes down, crows cry under a frosty sky,
Dimly
lit fishing boats' neath maples sadly lie.
Beyond
the Suzhou walls the Temple of Cold Hill
Rings
bells, which reach my boat, breaking the midnight still.
(http://www.chinatour1.com/Jiangsu.htm
-Jiangsu)
6-
NIGHT-MOOR AT MAPLE BRIDGE
Moon
set, crows caw, frost fills the sky
River
maples, fishing fires, drowsing in sorrow
Outside
Gusu City, the Cold Mountain Temple
At
the midnight bell, arrives the visitor's boat
(Zhang
Ji)
7-
A NIGHT-MOORING NEAR MAPLE BRIDGE
While
I watch the moon go down, a crow caws through the frost;
Under
the shadows of maple-trees a fisherman moves with his torch;
And
I hear, from beyond Suzhou, from the temple on Cold Mountain,
Ringing
for me, here in my boat, the midnight bell.
(Witter
Bynner)
Ngoài
1 bản dịch của tác-giả người Mỹ (bản dịch số 7), các
bản dịch khác kể trên (6 bản) đều của các văn-thi-sĩ
Trung Quốc, người bản xứ và chắc chắn là thông-hiểu ngọn
ngành gốc tích ngôn ngữ của họ, giới thiệu phong cảnh
du-lịch của ngôi Chùa Hàn Sơn (Cold Mountain = Núi Lạnh ?) này,
chúng tôi không thấy có một bản dịch nào đã đề cập
và giải thích "hai cây cầu" hoặc một ngọn núi có tên là
"Sầu Miên" như trong bài "Giang Phong và Sầu Miên" đã đăng
trên NSYT 8-01.
Có
một ghi chú cần phải nhắc đến là trong China The Beautiful
: Readers' Discussions, Comments & Inquiries - Subject : A Night-Mooring
Near Maple Bridge, thi-sĩ Julian Yiu không đồng-ý với câu số
hai của bài dịch 3 Under the shadows of maple-trees a fisherman moves
with his torch, có nêu ra một giả thuyết chưa được chứng
minh là có ngọn núi tên là "Sầu Miên" Và trong trường hợp
nầy có thể dịch là The Maples leaves are red as fire; I sleep facing
the Sau Min mountain. Nhưng chính thi-sĩ Julian Yiu đã đề-nghị
và thích câu dịch này hơn The Maples leaves are red as fire; I sleep
with loads of sadness. (I prefer this interpretation as it is more poetic
- Julian Yiu) . Ngọn núi có tên là Sầu Miên chỉ là một giả
thuyết tưởng tượng, không nghiêm chỉnh và lịch sử và
địa-lý Trung-Hoa không ghi chú tên ngọn núi này ngoài tên
ngọn núi Hàn Sơn ( được dịch là Cold Mountain ?), là nơi
danh-lam thắng cảnh đã thu-hút rất nhiều du-khách ngọai quốc
đến thăm viếng hàng năm .
NHỮNG
BÀI THƠ DỊCH VIỆT NGỮ CỦA CÁC THI-SĨ MUÔN PHƯƠNG
Bản
dịch Tản Đà :
Trăng
tà tiếng quạ kêu sương
Lửa
chài cây bến sầu vương giấc hồ
Thuyền
ai đậu bến Cô Tô
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San
Bản
dịch Trần Trọng Kim :
Quạ
kêu trăng lặn sương rơi
Lửa
chài cây bãi đối người nằm co
Con
thuyền đậu bến Cô Tô
Nửa
đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn
Bản
dịch Ngô-Tất-Tố:
Quạ
kêu sương tỏa trăng lui
Đèn
chài cây bến đối người nằm khô
Chùa
đâu trên núi Cô Tô
Tiếng
chuông đưa đến bên đò canh khuya
Bản
dịch Phạm-Vũ Thịnh - (Sydney 16/11/1996)
Đêm
Neo Bến Phong Kiều
Trăng
tà quạ rúc trời đầy sương
Cây
im lửa đóm người nằm suông
Cô
Tô bến lặng đêm già nửa
Chùa
cổ Hàn Sơn vẳng tiếng chuông
Trăng
tà quạ rúc trời sương
Cây
im lửa đóm nằm suông hững hờ
Nửa
đêm neo bến Cô Tô
Hàn
Sơn vẳng tiếng chuông chùa buồn tênh
Bản
dịch Vương Uyên
Bài
1:
Trăng
khuất quạ kêu trời phủ sương
Lửa
chài bến nước cõi sầu vương
Cô
Tô đêm vắng thuyền ai đậu
Tĩnh
lặng Hàn San vọng tiếng chuông
Bài
2:
Trăng
tàn sương phủ quạ kêu
Lửa
chài, bến nước, dệt thêu mộng sầu
Cô
Tô tĩnh mịch đêm thâu
Hàn
San chuông điểm thuyền câu lặng tờ
Bản
dịch Ngọc Ẩn - (Tokyo 2001)
Quạ
kêu, trăng lặn, sương mù
Đêm
nằm không ngủ, cây ru lửa chài
Cô
Tô đậu chiếc thuyền ai
Nửa
đêm vọng tiếng chuông dài Hàn Sơn
Bản
dịch Bùi Khánh Đản:
Trăng
lặn sương mờ nghe tiếng quạ
Lửa
chài cây ánh giấc chưa yên
Cô
Tô bên mái Hàn sơn tự
Đêm
muộn chuông ngân vẳng đến thuyền
Bản
dịch Trần Trọng San :
Quạ
kêu trăng lẩn sương trời
Buồn
hiu giấc ngủ lửa chài bến phong
Đêm
Cô Tô vẳng tiếng chuông
Chùa
Hàn Sơn đến thuyền sông Phong Kiều
Bản
dịch Nguyễn Thế Nữu:
Quạ
kêu, trăng lặn, trời đầy sương
Phong
bến, lửa chài, sầu mộng vương
Chùa
ngoại thành Tô, trên núi Lạnh
Nửa
đêm thuyền khách nằm nghe chuông
Bản
dịch Đinh-Vũ-Ngọc :
BAN
ĐÊM ĐẬU THUYỀN Ở BẾN PHONG KIỀU
Quạ
kêu, Sương phủ, Trăng thâu
Lửa
chài, Cây bến lặng sầu trong mơ
Cô
Tô, Chùa vắng khuya mờ
Tiếng
chuông tìm viếng khách thơ trong thuyền
Bản
dịch Ngô-Văn-Phú:
ĐÊM
ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU
Quạ
kêu, trăng xế ngang đầu
Lửa
chài cây bến gối sầu ngủ mơ
Thuyền
ai ngoài bến Cô Tô
Nửa
đêm lạnh tiếng chuông chùa Hàn san ....
Bản
dịch Lê-Nguyễn-Lưu:
Sương
mờ, quạ giục ánh trăng phai
Cây
bến sầu mơ ngọn lửa chài
Ngoài
ngõ Cô Tô chùa núi Lạnh
Nửa
đêm chuông vọng tới thuyền ai
Bản
dịch Ái Cầm:
THUYỀN
ĐẬU BẾN PHONG KIỀU
Quạ
kêu trăng khuyết trên cành sương
Đốm
lửa hắt hiu giữa đêm trường
Cô
Tô thuyền đỗ sầu in bóng
Hàn
Sơn Chùa vọng tiếng chuông ngân
Trăng
khuyết trên cành sương quạ kêu
Lửa
chài sông quạnh bến cô liêu
Cô
Tô thuyền đậu trong đêm vắng
Chuông
Hàn Sơn động sóng đìu hiu
Bản
dịch Nguyễn Khuê:
Trăng
lặn quạ kêu trời phủ sương
Lửa
chài cây bến giấc sầu vương
Chùa
Hàn ngoài ải Cô Tô vắng
Thuyền
khách đêm khuya vẳng tiếng chuông
Bản
dịch KD:
Trời
sương, trăng lặn, quạ kêu luôn
Ngủ
đối cầu phong lửa cá buồn
Thuyền
đậu thành Tô chùa núi Lạnh
Nửa
đêm chuông nện tiếng boong boong
Bản
dịch Nguyễn Hà:
Tiếng
nhạn kêu sương, nguyệt cuối trời
Bờ
phong sầu hắt lửa thôn chài
Hàn
sơn chuông vẳng Cô tô lại
Khuya
khoắt lay thuyền động giấc ai
Bản
dịch Nguyễn Hùng Lân:
Trăng
tà quạ gọi sương lên
Bờ
cây chài lửa đôi bên giấc sầu
Chùa
Hàn San giữa đêm thâu
Tiếng
chuông thành ngoại đưa vào thuyền nhân
KẾT
LUẬN:
Bằng
những dữ kiện và tài liệu mô tả dẫn thượng mà cụ thể
nhất là những bài thơ dịch qua Anh-ngữ của các thi-dịch-giả
Trung Quốc đối chiếu với những bài dịch Việt-ngữ của
các thi-dịch-giả Việt Nam, chúng ta hiểu được phần nào
ý nghĩa của hai chữ Giang Phong và Sầu Miên trong bài Đường
thi Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế .
Nhừng
nghi vấn:
-hai
chữ "Giang phong" không phải là Sông với Cây Phong ( erable)
mà tên của hai cây cầu.
-hai
chữ "sầu miên" thì không phài là Buồn và Ngủ mà là tên
của một hòn núi
đã
dựa trên một giả thuyết tưởng tượng được mô tả như
thiếu nghiêm chỉnh , không những trái với căn bản Hán tự,
lịch sử địa lý Trung hoa mà còn ngược lại với đặc trưng
Thiên Địa Nhân cũng như cái Tịnh, cái Động của Đường
thi trong tinh thần thơ không phải là ngôn ngữ của "khoa học"
(một cộng với một là hai ) mà thơ là nguồn tinh-khôi của
cảm nhận và ý tưởng hòa đồng...
Các
học giả của Trung Quốc mà đọc được chữ Việt chắc
chắn phải thán phục các nho gia Việt Nam chúng ta đã hiểu
rành mạch xuất xứ và ý nghĩa của bài Phong Kiều Dạ Bạc
nên đã tài tình và dịch đúng nghĩa đúng ý như những văn-thi-sĩ
bản xứ Trung Hoa đã dịch bài thơ này ra Anh-ngữ .
Hải
Đà ( tháng 8 năm 2001)
Người
Gửi Bài: Thanh Tâm
Bài
Đọc Thêm:
Thơ
Hàn Sơn Thập Đắc
Bài
Thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế
Đến
Hàn San Tự Để Tìm Hiểu Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc
Thiền
Sư Nhất Hạnh Nói Về Bài Thơ Trên
Đọc
Lại Phong Kều Dạ Bạc, Trần Long Hồ
Trở
Lại Với Phong Kiều Dạ Bạc, Hải Đà Vương Ngọc Long
Đôi
Bạn Chùa Hàn Sơn, Duyên Trường
Trao
Đổi Thêm Về Bài Thơ Phong Kiều Dạ Bạc, Hà Quảng
Chùa
Hàn Sơn Trong Hồn Thơ Trương Kế, Hồ Sĩ Hiệp
Hoàng
Hạc Lâu và Phong Kiều Dạ bạc, Trần Dương Hân